Để xác định được các biểu hiện đặc trưng của BĐKH tác động như thế nào đến quá trình trồng cây cà phê đối tượng cà cây cà phê vối – Robusta ở Tây Nguyên, luận văn đưa ra vấn đề cần giải
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SAU ĐẠI HỌC
NGHIÊM THÙY LINH
ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU
ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ TỚI CÂY CÀ PHÊ Ở TÂY NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
HÀ NỘI – 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SAU ĐẠI HỌC
NGHIÊM THÙY LINH
ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU
ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ TỚI CÂY CÀ PHÊ Ở TÂY NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Chuyên ngành: BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Mã số: Chương trình đào tạo thí điểm
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Ngô Đức Thành
HÀ NỘI – 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này công trình nghiên cứu do cá nhân tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Ngô Đức Thành, không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác Số liệu và kết quả của luận văn chưa từng được công bố ở bất kì một công trình khoa học nào khác
Các thông tin thứ cấp sử dụng trong luận văn là có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đầy đủ, trung thực và đúng qui cách
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực và nguyên bản của luận văn
Học viên
Nghiêm Thùy Linh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy hướng dẫn luận văn của tôi, PGS TS Ngô Đức Thành, đã truyền đạt kiến thức, tạo mọi điều kiện, động viên và giúp đỡ tôi hoàn thành tốt luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô của lớp Biến đổi Khí hậu Khóa 2 – Khoa Sau đại học – Đại học Quốc Gia Hà Nội đã cung cấp cho tôi những kiến thức quí báu, những lời khuyên chân thành và niềm say mê nghiên cứu khoa học trong quá trình học tập Tôi cũng xin chân thành cảm ơn toàn thể các thầy cô giáo trong khoa Khí tượng Thủy văn và Hải dương học đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, nhiệt tình giúp đỡ và hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện luận văn
Xin cảm ơn Khoa Sau Đại học – Trường Đại học Quốc Gia Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn bạn bè và gia đình đã luôn bên tôi, cổ vũ và động viên tôi những lúc khó khăn để có thể vượt qua và hoàn thành tốt luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 06 năm
2016
Nghiêm Thùy Linh
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT i
DANH MỤC CÁC BẢNG iii
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ iv
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ CÂY CÀ PHÊ VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 3
1.1 Tổng quan về cây cà phê 3
1.1.1.Giới thiệu về cây cà phê 3
1.1.2.Yêu cầu sinh thái của cây cà phê 7
1.1.3.Ảnh hưởng của điều kiện môi trường đến sinh lý ra hoa đậu quả của cà phê 11 1.2 Biểu hiện ảnh hưởng của biến đổi khí hậu tới sự phát triển của cây cà phê 13
1.2.1 Sương muối: 13
1.2.2 Tác động của ENSO đến thời tiết, điều kiện ngoại cảnh trồng cây cà phê 14
1.3 Những nghiên cứu trên thế giới 15
1.4 Những nghiên cứu trong nước 21
CHƯƠNG II: ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC TÂY NGUYÊN, SỐ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.1 Đặc điểm khu vực Tây Nguyên 26
2.2 Nguồn số liệu quan trắc 29
2.3 Phương pháp đánh giá cho thời kỳ quá khứ 31
2.3.1 Mục tiêu nghiên cứu 31
2.3.2 Phương pháp nghiên cứu 32
CHƯƠNG III: ĐÁNH GIÁ VỀ SỰ THAY ĐỔI KHÍ HẬU TẠI KHU VỰC TÂY NGUYÊN 37
3.1 Đánh giá mức độ BĐKH ở Tây Nguyên 37
Trang 63.1.1 Yếu tố nhiệt độ 37
3.1.2 Yếu tố lượng mưa – độ ẩm 41
3.1.3 Biến đổi của một số yếu tố khí hậu cực trị 48
3.2 Đánh giá ảnh hưởng của BĐKH tới cây cà phê vối 53
KẾT LUẬN 59
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
BĐKH Biến đổi khí hậu
BRT Boosted Regression Trees – Cây hồi quy nâng cao
CIAT International Center for Tropical Agriculture – Trung tâm Nông
nghiệp nhiệt đới Quốc tế CFT Cool Farm Tool – Công cụ tính toán khí thải nhà kính trực tuyến
ENSO El Niño Southern Oscillation – Dao động Nam El Niño
GCM Global Climate Model – Mô hình khí hậu toàn cầu
GIS Geographic Information System – Hệ thống thông tin địa lý
GIZ The Deutsche Gesellschaft Für Internationale Zusammenarbeit – Tổ
chức hợp tác Quốc tế Đức GLM Generalized Linear Models – Mô hình tuyến tính tổng quát
HadCM Hadley Centre Coupled Model – Mô hình lõi kép Hadley
ICC International Coffee Council – Hội đồng Cà phê Thế giới
ICO International Coffee Organization – Tổ chức Cà phê Thế giới
IPCC Intergovernmental Panel on Climate Change - Ủy ban liên chính
phủ về Biến đổi Khí hậu IUCN International Union for Conservation of Nature – Liên minh Bảo
tồn Thiên nhiên Quốc tế NOAA National Oceanic and Atmospheric Administration – Cục Quản lý
Đại dương và Khí quyển Hoa Kỳ RegCM Regional Climate Model – Mô hình khí hậu khu vực
Trang 8SOI Southern Oscillation Index – Chỉ số Dao động Nam
SPI Standardized Precipitation Index – Chỉ số tiêu chuẩn mƣa
UNESCO United Nations Educational, Scientific and Cultural Organization –
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc USDA United States Department of Agriculture – Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1: Sản lượng cà phê vối của 10 quốc gia đứng đầu thế giới 4
Bảng 2: Danh mục các trạm quan trắc số liệu được lựa chọn 30
Bảng 3: Các đợt ENSO trong giai đoạn 1952 – 2011 34
Bảng 4: Tổng hợp các yếu tố ảnh hưởng tới cây cà phê vối 35
Bảng 5: Lượng mưa cực đại vào tháng mùa khô giai đoạn 1979-2012 43
Bảng 6: Số ngày nắng nóng >35oC tại các trạm 51
Bảng 7: Quá trình phát triển của cây cà phê vối 54
Bảng 8: Sự khác biệt lượng mưa của các năm từ 2004-2012 58
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 1: Bản đồ phân bố các khu vực trồng cà phê trên thế giới - 3
Hình 2: Cây cà phê chè - 5
Hình 3: Cây cà phê vối - 6
Hình 4: Cây cà phê mít - 7
Hình 5: Bản đồ hành chính Tây Nguyên - 26
Hình 6: Bản đồ phân bố đất ở Tây Nguyên - 27
Hình 7: Mạng lưới trạm khí tượng khu vực Tây Nguyên - 31
Hình 8: Các khu vực trồng cà phê ở Việt Nam năm 2014 - 33
Hình 9: Biến trình nhiệt năm trạm Buôn Ma Thuột - 38
Hình 10: Biến trình nhiệt năm trạm Đăk Mil - 38
Hình 11: Chuẩn sai (so với thời kỳ 1979-2012) của nhiệt độ trung bình năm, tháng 1, tháng 7 và các đường xu thế tuyến tính của chuẩn sai nhiệt độ trung bình tháng 1 và tháng 7 trạm Buôn Ma Thuột 1979-2012 - 39
Hình 12: Chuẩn sai (so với thời kỳ 1979-2012) của nhiệt độ trung bình năm, tháng 1, tháng 7 và các đường xu thế tuyến tính của chuẩn sai nhiệt độ trung bình tháng 1 và tháng 7 trạm Buôn Hồ 1982-2012 - 40
Hình 13:Chuẩn sai (so với thời kỳ 1979-2012) của nhiệt độ trung bình năm, tháng 1, tháng 7 và các đường xu thế tuyến tính của chuẩn sai nhiệt độ trung bình tháng 1 và tháng 7 trạm Pleiku 1979-2012 - 41
Hình 14:Chuẩn sai (so với thời kỳ 1979-2012) của nhiệt độ trung bình năm, tháng 1, tháng 7 và các đường xu thế tuyến tính của chuẩn sai nhiệt độ trung bình tháng 1 và tháng 7 trạm Ayunpa 1979-2012 - 41
Hình 15: Trung bình lượng mưa tại các trạm khí tượng Tây Nguyên - 42
Hình 16: Lượng mưa trung bình tháng 12 – tháng 2 giai đoạn 1979-2012 (mm) - 44
Hình 17: So sánh lượng mưa trung bình trong hai giai đoạn phát triển của cây cà phê vối - 45
Hình 18: Độ ẩm cực tiểu trung bình của Tây Nguyên (1979 -2011) (%) - 46
Hình 19: Độ ẩm trung bình lúc 13h (1979-2011) (%) - 47
Trang 11Hình 20: Nhiệt độ cực đại trung bình tại các trạm tiêu biểu - 48
Hình 21: Nhiệt độ Tx các tháng trong năm tại 6 trạm - 49
Hình 22:Nhiệt độ Tm các tháng trong năm tại 6 trạm - 50
Hình 23: Số ngày mưa lớn ở trạm Ayunpa, Buôn Hồ, Buôn Ma Thuột - 53
Hình 24: Năng suất cà phê cả nước 1990-2012 (tạ/ha) - 55
Hình 25: Năng suất cà phê Tây Nguyên 2000-2012 (tạ/ha) - 56
Hình 26: So sánh các giá trị nhiệt độ Tây Nguyên 2000-2012 (oC) - 57
Trang 12MỞ ĐẦU
Trong vài thập kỷ gần đây, các hoạt động của con người đã và đang góp phần làm tăng đáng kể nồng độ các khí nhà kính trong khí quyển, từ đó làm tăng nhiệt độ toàn cầu, dẫn đến hàng loạt những biến đổi nghiêm trọng của môi trường tự nhiên Nếu không có những biện pháp giảm thiểu và thích ứng với BĐKH, có thể sẽ dẫn đến những tác động nghiêm trọng đến an ninh con người, môi trường, kinh tế
và xã hội trong một tương lai không xa.-Tây Nguyên là vùng cao nguyên với đặc điểm thổ nhưỡng bazan ở độ cao 500m đến 600m so với mặt biển [65], Tây Nguyên rất phù hợp với những cây công nghiệp như cà phê, ca cao, hồ tiêu, dâu tằm trong
đó cà phê là cây công nghiệp quan trọng số một ở Tây Nguyên Tây Nguyên cũng là khu vực ở Việt Nam có nhiều diện tích rừng với thảm sinh vật đa dạng, trữ lượng khoáng sản phong phú hầu như chưa khai thác và tiềm năng du lịch lớn
Nằm trong vùng nhiệt đới xavan, khí hậu Tây Nguyên được chia làm hai mùa: mùa mưa từ tháng 5 đến hết tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4, trong đó tháng 3 và tháng 4 là hai tháng nóng và khô nhất Do ảnh hưởng của độ cao nên ở các cao nguyên cao 400 – 500m khí hậu tương đối mát, mưa nhiều [65]
Theo báo cáo Hiện trạng sản xuất, giải pháp phát triển và trồng tái canh cà phê của Cục Trồng trọt – Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn năm 2012, tính
từ năm 1961, diện tích cà phê cả nước đạt khoảng 21200 ha [3] thì cho tới năm
2014 (sau hơn 50 năm), diện tích trồng cà phê của cả nước đã mở rộng ra các khu vực chính, ước tính vào khoảng 653000ha [58]
Cây cà phê vối (coffee Canephora) được trồng ở Việt Nam, hầu hết là thuộc chủng Robusta cho năng suất cao và có khả năng kháng bệnh tốt Đối với cà phê vối, mùa vụ thu hoạch thường trong khoảng tháng 11 và 12 dương lịch Đây là giai đoạn đầu mùa khô nên việc thu hoạch và chế biến bảo quản sau thu hoạch sẽ thuận lợi Mùa hoa cà phê nở vào tháng 2 và tháng 3 dương lịch, đây là giai đoạn mùa khô, phù hợp với yêu cầu để phát triển tốt cho cây cà phê [22], tháng 4 và tháng 5 là giai đoạn quan trọng bởi nếu không mưa hoặc ít mưa sẽ làm ảnh hưởng
Trang 13đến hạt cà phê [17] Nhưng với tình hình khí hậu diễn biến thất thường trong mấy năm gần đây có thể đem lại những bất lợi cho ngành cà phê Việt Nam
Những đợt mưa cuối vụ lớn và kéo dài và những đợt khô hạn đã tác động đến tình hình thu hái, chế biến và sự ra hoa đậu quả của cây cà phê ở các tỉnh Tây Nguyên Theo dự báo của Mạng thông tin Nông nghiệp toàn cầu của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ USDA, sản lượng cà phê của nước ta mùa vụ 2014-2015 là khoảng 1,75 triệu tấn, tăng nhẹ so với mùa vụ 2013-2014 là 1,68 triệu tấn [58] Tuy nhiên, những thay đổi về điều kiện khí hậu vẫn khiến các hộ trồng cà phê cần có biện pháp phù hợp để ứng phó và không làm ảnh hưởng đến năng suất, sản lượng cà phê Điều này làm ảnh hưởng nhiều tới đời sống của người dân cũng như quá trình xuất khẩu
cà phê của nước ta Để xác định được các biểu hiện đặc trưng của BĐKH tác động như thế nào đến quá trình trồng cây cà phê (đối tượng cà cây cà phê vối – Robusta)
ở Tây Nguyên, luận văn đưa ra vấn đề cần giải quyết là “Đánh giá mức độ biến đổi
khí hậu và bước đầu nghiên cứu ảnh hưởng của nó tới cây cà phê ở Tây Nguyên”
Để làm rõ được vấn đề đưa ra, luận văn tập trung vào các nội dung sau:
- Đặc điểm của điều kiện tự nhiên tại Tây Nguyên; sự hình thành, phát triển và các yêu cầu sinh thái của cây cà phê tại Tây Nguyên
- Những ảnh hưởng của yếu tố khí hậu tới sự sinh trưởng, phát triển của cây cà phê
- Xu hướng thay đổi của các yếu tố khí hậu (nhiệt độ, lượng mưa, độ ẩm) tại khu vực Tây Nguyên trong thời kỳ quá khứ và hiện tại
Trang 14CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ CÂY CÀ PHÊ VÀ CÁC NGHIÊN CỨU
TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 1.1 Tổng quan về cây cà phê
1.1.1 Giới thiệu về cây cà phê
Nguồn gốc của cây cà phê trên thế giới là từ rừng châu Phi, cao nguyên Ethiopia Từ đó, cây cà phê xuất hiện tại Ai Cập và Yemen Hiện nay, cây cà phê được trồng tại hơn 50 quốc gia trên thế giới [60]
Hình 1: Bản đồ phân bố các khu vực trồng cà phê trên thế giới
Nguồn: CIAT, 2011
Cây cà phê lần đầu tiên đưa vào Việt Nam từ năm 1888 Giai đoạn đầu, cà phê chủ yếu được trồng ở Ninh Bình, Quảng Bình… đến đầu thế kỷ 20 mới được trồng ở Nghệ An và một số nơi ở Tây Nguyên Sau khi được trồng tại nước ta, tính đến năm 2014, theo thông tin của USDA diện tích trồng cà phê trên cả nước xấp xỉ
653 nghìn ha, sản lượng đạt 1,75 nghìn tấn [58] Hiện nay Việt Nam là nước xuất khẩu cà phê đứng thứ 2 trên thế giới chỉ đứng sau Brazil [54]
Trang 15
Bảng 1: Sản lượng cà phê vối của 10 quốc gia đứng đầu thế giới
Cà phê có hai loài có ý nghĩa kinh tế Loài thứ nhất thường được gọi cà phê
chè (tên khoa học: coffea arabica), đại diện cho khoảng 61% các sản phẩm cà phê trên thế giới Loài thứ hai là cà phê vối (tên khoa học: coffea canephora hay coffea
robusta), chiếm gần 39% các sản phẩm cà phê Ngoài ra còn có Coffea liberica và
Coffea excels (ở Việt Nam gọi là cà phê mít) với sản lượng không đáng kể [64]
Cà phê trồng ở nước ta bao gồm cà phê vối (robusta) chiếm 92,9% diện tích, cà phê chè (arabica) chiếm 6% diện tích và ít nhất là cà phê mít (excelsa) đạt gần 5 nghìn ha [3]
Cà phê chè (coffea arabica.) thường được trồng ở độ cao 1000-1500m Cây
có tán lớn, màu xanh đậm, lá hình oval Quả của cây cà phê chè hình bầu dục, mỗi quả chứa hai hạt cà phê Cây cà phê chè do có hương vị thươm ngon và chứa ít hàm lượng caffeine hơn nên được đánh giá cao hơn cà phê vối [61]
Trang 16Hình 2: Cây cà phê chè
Nguồn:Wikipedia [60]
Cà phê chè có khả năng tự thụ phấn vào khoảng 90%, nên độ thuần chủng cao hơn các loại cà phê khác Sức nảy mầm của hạt phấn cây cà phê chè nằm trong khoảng từ 24-36 giờ khi ở điều kiện bình thường Tuy nhiên, nếu được bảo quản trong điều kiện chân không, nhiệt độ âm 18o
C, hạt phấn có thể kéo dài sức nảy mầm của chúng tới 3 năm hoặc hơn nữa [11][15]
Cà phê vối (Coffea canephora Pierre) có nguồn gốc ở rừng nhiệt đới ẩm
thuộc khu vực châu Phi với quần thể đa dạng về hình thái do có đặc điểm thụ phấn
chéo Coffea canephora var.robusta là chủng cà phê vối được trồng nhiều nhất,
chiếm trên 90% diện tích cà phê vối trên thế giới Cây cà phê vối thuộc chủng này
có ưu điểm là cây khỏe, ít cành thứ cấp, chịu được sâu bệnh tốt, cho năng suất cao nhưng lại có nhược điểm là chịu hạn kém [10]
Trang 17Hình 3: Cây cà phê vối
Cà phê mít (coffea excels.) là cây gỗ nhỡ, thân, lá và quả đều to Cà phê mít
có khả năng chịu hạn tốt, ít cần nước tưới, sinh trưởng khỏe, ít kén đất, ít sâu bệnh
Do đặc tính chịu hạn và khả năng chống chọi với sâu bệnh tốt nên cà phê mít được
sử dụng để làm gốc ghép cho các loại cà phê khác [62] Cà phê mít ở Việt Nam được trồng rất ít do có giá trị thấp (vị chua, ít hương hoặc không hương)
Trang 18Hình 4: Cây cà phê mít
Nguồn:Wikipedia [61]
1.1.2 Yêu cầu sinh thái của cây cà phê
Cây cà phê là cây công nghiệp nhiệt đới, để cho năng suất và sản lượng cao, ta cần nắm được những điều kiện sinh thái của cây cà phê, đặc biệt là đối tượng nghiên cứu trong luận văn – cây cà phê vối
Theo các tác giả Willson (1985) [46]; Wrigley (1988) [47] và Raju (1969) [41], đất đai và khí hậu là 2 yếu tố sinh thái quan tọng của đời sống cây cà phê
Yêu cầu khí hậu:
- Nhiệt độ:
Do có ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng và phát triển của cây cà phê, nhiệt độ là yếu tố được đưa ra đầu tiên Tùy vào từng loại cà phê mà phạm vi thích
Trang 19hợp với nhiệt độ của chúng khác nhau, cũng như các ngưỡng nhiệt phát triển tốt cũng khác nhau
Đối với cà phê chè, cây yêu cầu điều kiện có chế độ tán rừng, mát, độ cao
từ 1300-1800 m so với mặt biển Cà phê chè có thể sinh trưởng và phát triển ở nhiệt
độ từ 5-30oC, thích hợp nhất nhiệt độ từ 15o
C – 24oC; Nhiệt độ trên 30oC; quá trình quang hợp sẽ ngừng [48] Năm 1968, Altamann cho rằng lá cà phê chè ngoài nắng ở nhiệt độ 20oC trong 1 giây chỉ quang hợp được khoảng 7 mol CO2 so với cây trồng khác là 15 - 25 mol CO2 [23]
Khi nhiệt độ xuống 5oC, cây bắt đầu giảm sinh trưởng và nếu kéo dài sẽ gây thiệt hại đến cây (Cannel, 1987) [26]
Đối với cà phê vối, điều kiện khí hậu cần để cây phát triển là ở vùng có khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều và được phân rõ 2 mùa chính là mùa khô và mùa mưa trong năm Đây cũng là một trong những ưu điểm về đặc điểm khí hậu mà Tây Nguyên có được Cây cà phê vối là loại kém chịu nóng, trong đó chủng Robusta chịu nóng kém hơn cả Nhiệt độ trung bình để cây có thể hô hấp với cường độ cao nhất và để cây sinh trưởng tốt nhất đối với cà phê vối và cà phê mít là 22 – 26oC; nếu nhiệt độ đạt tới 36 – 38oC, cà phê non cháy khô Nhiệt độ thích hợp cho cà phê nảy mầm là 28 – 30oC, nhiệt độ thích hợp cho hoa cà phê nở (từ 2 – 5 giờ sáng) là
24 – 25oC [4][11] Theo Phan Quốc Sùng (1987), nhiệt độ thích hợp để cây sinh trưởng là từ 24-26oC, nhiệt độ xuống dưới 0oC làm thui cháy các đọt non, kéo dài làm cháy cả lá già đặc biệt là ở những vùng có xuất hiện sương muối[16] Cà phê vối chịu rét kém, ở nhiệt độ 7oC cây đã ngừng sinh trưởng và từ 5o
C trở xuống cây bắt đầu bị gây hại nghiêm trọng Gió rét và nóng đều là những bất lợi đối với sinh trưởng của cây cà phê [21]
Sự chênh lệch nhiệt độ giữa các tháng trong năm cũng như biên độ nhiệt giữa ngày và đêm có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng, đặc biệt là hương vị của hạt
cà phê Ở những vùng vào giai đoạn hạt cà phê được hình thành và tích lũy chất
Trang 20khô, nhiệt độ càng xuống thấp và chênh lệch biên độ giữa ngày và đêm càng cao thì chất lượng cà phê càng cao [17]
Sau nhiệt độ, lượng mưa là một trong những yếu tố khí hậu quyết định đến khả năng sinh trưởng, năng suất và kích thước của hạt cà phê Lượng nước trong cây ảnh hưởng đến quá trình phân hóa mầm hoa, sự phá vỡ tính ngủ nghỉ của chồi hoa, kích thích sự tăng trưởng trở lại của chồi hoa, quá trình nở hoa và tăng trưởng
về kích thước của vỏ hạt… Trong đó, tình trạng nước ở trong cây lại phụ thuộc chủ yếu vào lượng mưa và sự phân bố của nó vào các tháng trong năm
Với đặc điểm ưa điều kiện khí hậu nóng ẩm ở những vùng có cao độ thấp nên cây cà phê vối cần một lượng mưa trong năm khá cao từ 1500-2000mm và phân
bố đồng đều trong khoảng 9 tháng Cà phê vối là cây thụ phấn chéo bắt buộc nên ngoài yêu cầu phải có một thời gian khô hạn nhất định (2-3 tháng) sau giai đoạn thu hoạch để phân hóa mầm hoa, giai đoạn lúc cây nở hoa yêu cầu phải có thời tiết khô ráo, không có mưa để quá trình thụ phấn được thuận lợi [5]
Sự phân bố lượng mưa giữa các tháng còn ảnh hưởng rõ rệt đến năng suất hơn so với [29][43] Các vụ cà phê được mùa thường trùng với các năm có mùa khô
rõ rệt và mùa mưa nhiều làm cà phê sinh trưởng và phát triển nhiều cành tơ, đến mùa khô sự phân hóa mầm hoa diễn ra mạnh, cho nhiều hoa, quả [10]
- Độ ẩm không khí
Độ ẩm có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh trưởng của cây trồng vì nó liên quan trực tiếp đến quá trình bốc thoát hơi nước của cây Kết quả nghiên cứu của Boyer (1969) cho thấy khi đo lượng bốc hơi nước trên các vườn cà phê đã kín tán vào mùa khô lạnh là 75mm/tháng và mùa mưa nóng là 150mm/tháng [25]
Độ ẩm không khí cho cây cà phê là trên 70 - 90%, đặc biệt trong giai đoạn
nở hoa, cây cà phê vối cần có điều kiện độ ẩm đạt 90 – 97% ở khoảng thời gian từ 2 – 5 giờ sáng [4] Độ ẩm không khí cao sẽ làm giảm sự mất nước của cây qua quá
Trang 21trình bốc thoát hơi nước Tuy nhiên, nếu độ ẩm không khí quá cao sẽ tạo điều kiện cho các loài sâu bệnh phát triển Ngược lại, nếu độ ẩm không khí quá thấp, làm quá trình bốc thoát hơi nước tăng lên làm cho cây bị thiếu nước và héo, đặc biệt là trong mùa khô với nhiệt độ không khí cao và tốc độ gió lớn
Ở Tây Nguyên, gió đông bắc làm cho độ ẩm không khí xuống thấp từ 40 – 50% Trong thời kỳ đó, cây cà phê bị ảnh hưởng không tốt, lá non bị khô, cháy một phần hoặc toàn bộ lá Mặt khác, độ ẩm không khí thấp kéo theo thoát hơi nước của cây nhanh và đất bị khô kiệt làm ảnh hưởng đến khả năng cung cấp dinh dưỡng và nước cho cà phê
- Ánh sáng:
Theo kết quả nghiên cứu của Piringer (1955) về biểu hiện của cây cà phê ở giai đoạn cây con đối với điều kiện chếu sáng thì với điều kiện chiếu sáng lớn hơn
14 giờ/ngày, cây không ra hoa kết quả được mà cần thời gian chiếu sáng từ 10 giờ
30 – 13 giờ (khu vực gần chí tuyến) và 12 giờ (khu vực gần xích đạo) [39] Ở những vùng có độ cao trên 800m so với mặt biển, nhiệt độ thấp hơn nên không nhất thiết phải trồng cây che bóng [21] Ngược lại, ở những vùng có độ cao thấp, nhiệt độ cao, ánh sáng nhiều thì nhất thiết phải có cây che bóng, cây che bóng ở những vùng này không chỉ có tác dụng điều hòa nhiệt độ trong vườn, giảm quá trình bốc thoát hơi nước mà còn điều hòa quá trình quang hợp của cây [16]; làm thời gian chín chậm lại, đủ thời gian để cho hạt tích lũy các chất dinh dưỡng đặc biệt là các hợp chất thơm làm cho chất lượng hạt tăng lên
Tuy nhiên, trong trường hợp đầu tư thâm canh cao có thể loại bỏ cây che bóng vì cây cà phê có thể tự che bóng lẫn nhau; nếu khí hậu và đất đai không thuận lợi thì cần có cây che bóng [4] [45] Với những vườn thâm canh cao, có ít hoặc không có cây che bóng với quy mô diện tích 0,5 – 1ha cho nắng suất trung bình 4,5 tấn trở lên [6]
Trang 22- Gió:
Vì xuất xứ của cà phê từ vùng nhiệt đới nên ưa khí hậu nóng ẩm và lặng gió Tuy nhiên gió nhẹ là điều kiện thuận lợi cho sự lưu thông không khí, tăng khả năng bốc thoát hơi nước và trao đổi chất của cây và quá trình thụ phấn Gió mạnh hay bão làm rụng lá, quả, gãy cành v.v Gió mạnh làm tăng cường quá trình bốc hơi mặt đất và thoát hơi nước của cây đặc biệt trong mùa khô, không những làm cho
độ ẩm không khí bị giảm sút mạnh mà còn làm cho dự trữ nước trong các lớp đất mặt bị khô kiệt, ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng và sản lượng cà phê nhất là cà phê vối Nhìn chung tất cả các vùng trông cà phê ở nước ta đều bị ảnh hưởng của gió hoặc gió bão [4] [16]
Yêu cầu đất đai
Cà phê là loại cây lâu năm, có bộ rễ khỏe, đòi hỏi đất tốt để phát triển và cho năng suất cao, cà phê trồng trên đất tốt không chỉ có năng suất cao mà đời sống kinh tế cũng dài hơn [11]
Các nhà nghiên cứu đất trồng cà phê đều nhất trí cho rằng đối với cà phê thì lý tính đất quan trọng hơn hóa tính đất và nguồn gốc địa chất của đất Loại đất tốt để trồng cà phê là loại đất có tầng canh tác dày, có độ tơi xốp khoảng 60%, tỷ trọng 2,64, giữ và thoát nước tốt
1.1.3 Ảnh hưởng của điều kiện môi trường đến sinh lý ra hoa đậu quả của cà phê
Sự ra hoa đậu quả của cà phê phản ứng rõ rệt với điều kiện bóng mát, nhiệt
độ và sự khô hạn
- Theo Boyer [25], cây cà phê vối có bóng mát dày tạo ra ít hoa, trong khi
có điều kiện ánh sáng ban ngày, nhiệt độ dồi dào cây sẽ ra hoa nhiều đến nỗi cây có thể bị chết khô do “sai quả” hoặc hiện tượng ra quả cách năm rõ rệt
Biện pháp khắc phục hiện nay là sử dụng cây che bóng trong vườn cây cà phê để tránh cho cây ra hoa, ra quả quá nhiều Cây che bóng có tác dụng làm cho quả chín chậm lại, đủ thời gian để hạt tích lũy dinh dưỡng, đặc biệt hợp chất thơm
Trang 23làm dinh dưỡng tăng lên Sự thay đổi giữa các mùa trong năm và đặc biệt tình trạng khô hạn thiếu hụt, nước trong cây đóng vai trò quan trọng đối với quá trình phân hóa mầm hoa Sau thu hoạch, cây cà phê cần một thời gian khô hạn nhất định để phân hóa mầm hoa Thời gian từ 2-3 tháng khô hạn càng dài và càng khốc liệt thì sự phân hóa mầm hoa càng tập trung Ngược lại mùa khô hạn ít thì quá trình phân hóa mầm hoa thường ít và không tập trung nên không có điều kiện để cho năng suất cao
Bên cạnh yếu tố khô hạn, nhiệt độ thấp ở giai đoạn cây nghỉ ngơi sau thu hoạch cũng có tác động kích thích sự phân hóa mầm hoa Ở Tây Nguyên, điều kiện khí hậu với mùa khô khốc liệt kéo dài cho phép sự phân hóa mầm hoa rất tập trung Tưới nước hợp lý trong mùa khô cho sự ra hoa, đậu quả thuận lợi, tạo điều kiện cho năng suất cao
Đối với cà phê vối, sau khi hoa nở sẽ xảy ra quá trình thụ phấn để hình thành quả Trong quá trình hình thành quả và hạt cà phê, nước đóng vai trò rất quan trọng
Theo kết quả nghiên cứu của Cannell (1985) [26] tại Kenya và kết quả nghiên cứu sau này của một số tác giả về cà phê vối, có thể phân chia quá trình phát triển của quả cà phê thành 4 giai đoạn:
- Giai đoạn đầu đinh:
Giai đoạn này kéo 3-4 tháng ở cà phê vối sau khi hoa nở Kích thước bên ngoài của quả hầu như không tăng lên và có hình đầu chiếc đinh ghim nên gọi là
“giai đoạn đầu đinh” Tuy thể tích tăng rất ít, quả gần như đang ngủ nghỉ, nhưng trong giai đoạn này nếu thiếu nước trầm trọng ở các đầu đinh có thể chuyển sang màu hồng rồi rụng quả non
- Giai đoạn tăng nhanh về thể tích:
Từ tháng thứ 3 đến tháng thứ 5 sau khi hoa nở, lúc này quả tăng nhanh về mặt thể tích cũng như trọng lượng khô
Trang 24Cũng trong giai đoạn này, 2 khoang chứa hạt phát triển tới mức tối đa và hóa gỗ Kích thước của khoang phụ thuộc vào tình trạng nước trong cây Ở giai đoạn này nếu thiếu nước thì các khoang chứa hạt sẽ không thể phát triển tối đa làm cho hạt cà phê hình thành ở các giai đoạn sau có kích thước nhỏ
- Giai đoạn tích lũy chất khô và hình thành hạt:
Từ tháng thứ 6 đến tháng thứ 8 kể từ lúc nở hoa, hạt bắt đầu được hình thành và hai khoang chứa hạt đóng vai trò như những bồn chứa để tích lũy chất khô trong hạt Đây là giai đoạn cây cần nhiều dinh dưỡng nhất và cũng cần nhiều nước
để việc vận chuyển dinh dưỡng trong cây được thuận lợi
Trong giai đoạn này, nhiệt độ thấp và biên độ nhiệt ngày và đêm cao tạo điều kiện thuận lợi cho việc tích lũy dinh dưỡng trong hạt, đặc biệt là các hợp chất thơm
- Giai đoạn quả chín:
Từ tháng thứ 8 đến tháng thứ 10 sau khi nở hoa, hạt đã hóa cứng, phôi nhũ
đã phát triển đầy đủ Diệp lục trong vỏ quả bị phân hủy, quá trình tổng hợp Ethylen tăng lên và quả chín
Từ những giai đoạn trên ta thấy được nước đóng vai trò rất quan trọng trong suốt quá trình ra hoa, tăng trưởng và đậu quả của cà phê
1.2 Biểu hiện ảnh hưởng của biến đổi khí hậu tới sự phát triển của cây cà phê 1.2.1 Sương muối:
Sương muối là hiện tượng hơi nước đóng băng thành các hạt nhỏ, rắn, xốp
và trắng như muối ngay trên bề mặt đất hay bề mặt cây cỏ hoặc các vật thể khác khi không khí trên đó ẩm và lạnh [56] Sương muối là hiện tượng thời tiết nguy hiểm vì nhiệt độ quá lạnh của nó làm chết cây trồng và vật nuôi
Thông thường sương muối hình thành về đêm hoặc sáng sớm, trời lặng gió, quang mây, nhiệt độ không khí xuống thấp làm cho nhiệt độ bề mặt các vật thể hay cây cỏ ở mặt đất đạt tới điểm sương đủ cho hơi nước ngưng kết, và điều kiện độ ẩm
Trang 25không khí thích hợp Khi xảy ra hiện tượng này thì một lượng muối sẽ bám vào lá
cà phê gây ra cháy lá, rụng lá dẫn đến hạn chế sự tăng trưởng của cây hoặc gây chết cây
1.2.2 Tác động của ENSO đến thời tiết, điều kiện ngoại cảnh trồng cây cà phê
ENSO là từ viết tắt của El Niño Southern Oscillation (El Niño – Dao động Nam) để chỉ cả 2 hiện tượng El Niño và La Niña và liên quan với dao động khí áp giữa hai bờ phía Đông Thái Bình Dương với phía Tây Thái Bình Dương-Đông Ấn
Độ Dương (được gọi là Dao động Nam) để phân biệt với dao động khí áp ở phía Bắc Đại Tây Dương Số liệu ENSO là số liệu tháng của chuẩn sai Hiện tượng El Niño và La Niña có ảnh hưởng tới thời tiết, khí hậu toàn cầu với mức độ khác nhau
và rất đa dạng Số liệu ENSO là số liệu tháng của dị thường nhiệt độ mặt nước biển (SSTA) tại khu vực Niño 3 từ tháng 1/1961 đến nay Số liệu được lấy từ trang của Trung tâm Dự báo khí hậu Hoa Kỳ [51]
a Hiện tượng El Niño:
Khi nói đến hiện tượng El Niño thì cần đề cập đến chỉ số S.O.I (Southern Oscillation Index – Chỉ số dao động phương nam) Chỉ số S.O.I tỷ lệ nghịch với hiện tượng El Niño Nghĩa là khi chỉ số này càng giảm (trị số âm) thì cường độ của hiện tượng El Niño càng lớn Hiện tượng El Niño gây ra nắng nóng, khô hạn kéo dài [14]
Hiện tượng El Niño trong mùa vụ 2004/05 đã gây khô cháy vườn cây, có một số diện tích cà phê bị chết, số khác do không đảm bảo nước tưới nên không ra hoa được nên dẫn đến tình trạng mất mùa Diện tích bị hư hại khoảng 99348ha
Trang 26lớn sẽ kéo dài và có thể gây ngập úng
Trong mùa vụ 2003/04, hiện tượng La Niña đã gây ra mưa lớn kéo dài trong thời điểm thu hoạch cà phê làm cho việc thu hoạch, phơi sấy gặp khó khăn cho nên xảy ra tình trạng cà phê bị mốc, hạt bị đen, thối hoặc lên men v.v Qua sự kiện này, người sản xuất bị thua thiệt nhiều do chất lượng cà phê giảm sút nghiêm trọng [14]
1.3 Những nghiên cứu trên thế giới
Các nhà khoa học nước ngoài đã có rất nhiều các nghiên cứu quốc tế về các tác động của BĐKH tới cây cà phê hay những vấn đề liên quan đến việc gieo trồng, sinh trưởng của cây cà phê trong bối cảnh biến đổi khí hậu
Trước hết ta cần kể đến những thách thức của BĐKH tới sản xuất nông nghiệp, những tác động của nó tới người nông dân nói chung và cây cà phê nói riêng Schroth và ccs (2009) đã phân tích các mối đe dọa tới đời sống và môi trường tại khu vực Sierra Madre de Chiapas, Mexico do BĐKH gây ra dựa trên các kịch bản BĐKH
và sản phẩm của mô hình ứng dụng Điều đặc biệt là dãy núi Sierra Madre de Chiapas nằm ở phía Nam Mexico là một vùng điển hình trên thế giới về đa dạng sinh học và là một trong những vùng sản xuất cà phê quan trọng ở Mexico [42]
ICC (International Coffee Council) (2009) đã có báo cáo về tác động của BĐKH tới các nước sản xuất cà phê Báo cáo đã tổng hợp một cách khái quát về các ảnh hưởng của BĐKH và các hậu quả của BĐKH tác động tới cây trồng như làm giảm chất lượng cà phê, gia tăng sâu bệnh và dịch bệnh v.v [27]
Biến đổi khí hậu gây đã gây ra nhiều hệ lụy gây ảnh hưởng tới sự phát triển của cây cà phê Một trong những tác động tiêu cực đó là sự phát triển của các loài sâu bệnh Kutywayo và ccs (2013) đã sử dụng các dữ liệu về khí hậu thời kỳ hiện tại
và dự báo trong tương lai từ cơ sở dữ liệu của WorldClim và các dữ liệu điều tra khảo sát được từ các quận trồng cà phê ở Zimbabwe nhằm đánh giá tác động của BĐKH tới sự phân bố của loài sâu hại thân trắng trên cây cà phê có tên khoa học là
Monochamus leuconotus Sử dụng mô hình BRT (Boosted Regression Trees) và mô
Trang 27hình GLM (Generalized Linear Models), Kutywayo và cộng sự đã thu được kết quả
đó là trong bối cảnh BĐKH, các khu vực có điều kiện phù hợp cho sự phát triển của loài sâu hại này tăng lên một cách rõ rệt ở Zimbabwe, đặc biệt là ở quận Chimanimani có diện tích ước tính là có điều kiện làm cho sâu hại phát triển tốt lên đến 49.1% (2906 ha) [35]
Jaramillo và ccs (2011) đã nghiên cứu về các tác động của BĐKH tới một
loài mọt đục quả gây hại trên cây cà phê với tên khoa học là Hypothenemus hampei
ở khu vực Đông Phi Trước sự gia tăng nhiệt độ ở Đông Phi, loài sâu hại này phát triển mạnh mẽ và gây hại nhiều hơn cho cây cà phê ở diện rộng Nhóm tác giả đã sử dụng mô hình CLIMEX để hiển thị sự phân bố của loài sâu gây hại và nhiệt độ ở thời kỳ hiện tại; sau đó nhóm tác giả đã dự báo về nhiệt độ tương lai và tình trạng sâu bệnh trong tương lai dựa trên 2 kịch bản A2 và B2 (cho mô hình HadCM) Kết quả nghiên cứu cho thấy, với cả 2 kịch bản BĐKH, số lượng loài sâu gây hại đều tăng theo từng năm và ảnh hưởng lớn tới cây cà phê Biện pháp được đưa ra nhằm thích ứng với sự gia tăng nhiệt độ và làm cho cây cà phê phát triển tốt ở khu vực nghiên cứu đó là trồng các cây che bóng nhằm hạn chế ảnh sáng chiếu vào cây, hạn chế điều kiện phát triển của loài sâu hại này [33]
Tiếp đó vào năm 2013, Jaramillo cùng ccs đã đưa ra một nghiên cứu tổng hợp về các tác động của BĐKH cùng với quá trình đô thị hóa tới dây chuyền sản xuất cà phê truyền thống ở khu vực Đông Phi trong 80 năm qua Trong nghiên cứu, các tác giả đã kết hợp việc phân tích các dữ liệu về lượng mưa, nhiệt độ trong quá khứ với việc phân tích sự di cư của người dân Từ đó, cho ta thấy rằng từ các tác động của BĐKH kết hợp với quá trình di dân/đô thị hóa, đã dẫn tới việc thay đổi sử dụng đất, tạo ra các vùng gây ảnh hưởng tới hệ sinh thái nông nghiệp như cà phê Cây cà phê phát triển ở khu vực có mức độ đa dạng sinh học cao sẽ cho năng suất cao hơn cây phát triển ở các khu vực khác do ít phải chịu tác động của các loài sâu hại [34]
Trang 28Ghin và ccs (2008) với nghiên cứu phân tích rủi ro do BĐKH tác động lên các loại giun và sâu ăn lá trên cây cà phê ở Brazil Trong nghiên cứu, nhóm tác giả
đã tìm cách tiếp cận với các tác động tiềm tàng của BĐKH lên sự phân bố của các loại giun và sâu ăn lá trên cây cà phê bằng cách sử dụng hệ thống thông tin địa lý GIS Đồng thời nhóm tác giả cũng sử dụng các kịch bản phát thải A2 và B2 để dự tính sự phá hoại gia tăng của loài sâu ăn lá và giun trên cây cà phê Số lượng giun
và sâu ăn lá đều gia tăng ở trong 2 kịch bản, nhưng với kịch bản B2, số lượng giun
và sâu ăn lá vẫn ít hơn so với kịch bản phát thải A2 [31]
Paterson và ccs (2014) đã đưa ra kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của BĐKH tới cây cà phê, đặc biệt là sự phát triển của sâu gây hại và các dịch bệnh Trong đó, độc tố mycotoxin là một trong những chất làm ảnh hưởng tới sức khỏe người tiêu dùng và làm giảm chất lượng kinh tế của hạt cà phê Các tác giả đã nghiên cứu trong điều kiện biến đổi khí hậu, các loại nấm và các loại độc tố mycotoxin có thể hình thành trong hạt cà phê nếu không thực hiện chăm sóc và bảo quản cà phê đúng cách Khi BĐKH có các biểu hiện đặc trưng như nhiệt độ tăng lên, đặc biệt là với các vùng nóng ẩm sẽ là môi trường tốt để cho các loài nấm mốc gây bệnh và các độc tố mycotoxin hiện diện ở các loại lương thực, đặc biệt là cà phê [38]
Trong bối cảnh BĐKH như hiện nay, thì tính dễ bị tổn thương của các loại cây trồng luôn được đặt ra để nghiên cứu và từ đó có được hướng đi đúng trong việc tăng cường việc thích ứng và giảm thiểu tác động của BĐKH tới chúng Baca và ccs (2014) đã đánh giá tính dễ bị tổn thương và phát triển các chiến lược thích ứng với biến đổi khí hậu cho các hộ trồng cà phê ở Mesoamerica – Trung bộ châu Mỹ Khu vực nghiên cứu Mesoamerica là một trong những khu vực dễ bị tổn thương nhất trên thế giới do BĐKH Từ đó, các tác giả đã phát triển tiêu chí nhằm đánh giá tính
dễ bị tổn thương về mặt sinh kế của các hộ trồng cà phê ở quy mô vùng và địa phương để đánh giá được mức độ phơi nhiễm, sự thay đổi về mức độ phù hợp [24] Kết quả nghiên cứu chỉ ra các nông trại sẽ không đáp ứng được điều kiện để trồng được cà phê chất lượng tốt vào năm 2050 Để thích ứng với điều kiện biến đổi khí hậu thì các nông hộ tại khu vực nghiên cứu cần cải tiến về mặt công nghệ như tưới
Trang 29tiêu theo biện pháp nhỏ giọt ở những vùng có khả năng hạn hán cao, quản lý độ che phủ, che bóng hay khả năng sinh sản của cây
Zullo và ccs (2011) đã nghiên cứu về khả năng sinh trưởng của cây cà phê Arabica trong bối cảnh nóng lên toàn cầu Sử dụng phương pháp tương tự như phương pháp đánh giá rủi ro khí hậu ở những khu vực sản xuất nông nghiệp ở Brazil kết hợp với các thông tin về tính dễ bị tổn thương của cây cà phê Arabica theo báo cáo của IPCC Điều kiện lý tưởng được đặt ra để ít gây hại cho cây cà phê nhất bao gồm 3 điều kiện là nhiệt độ trung bình năm ở khoảng 18 – 22oC, lượng mưa trung bình năm ít hơn 100mm và thời gian bị tuyết phủ ít hơn 25% ở Brazil Kết quả nghiên cứu trong bối cảnh nóng lên toàn cầu cho thấy, với vị trí của khu vực nghiên cứu là ở phía Nam Brazil thì những vùng ở vùng cận Nam của đất nước này (nơi tiếp giáp với Uruguay và Bắc Argentina) sẽ có ít rủi ro cho quá trình sinh trưởng của cà phê hơn trong tương lai khi trái đất ấm lên Bởi ở các vùng này, nhiệt
độ trung bình tăng lên khoảng 3oC cho điều kiện lý tưởng để phát triển hơn các khu vực tăng 2 – 4oC [49]
Davis và ccs (2012) nghiên cứu tác động của BĐKH tới cây cà phê Arabica
(Coffea Arabica) bản địa, từ đó đưa ra dự tính về sự phân bố cây cà phê và có được
những hướng giải quyết ưu tiên cho việc quản lý và nghiên cứu trong tương lai Sử dụng các dữ liệu khí hậu với mô hình khí hậu HadCM3 cho 3 kịch bản phát thải khí nhà kính là A1B, A2A, B2A cho 3 mốc thời gian là năm 2020, 2050 và 2080 – các tác giả đã chỉ ra là diện tích vùng có điều kiện phù hợp để trồng cây cà phê Arabica giảm ít nhất 65%, thậm chí có thể bị giảm diện tích tới gần 100% vào năm 2080 Ngoài ra, các tác giả còn nghiên cứu xác định các khu vực chịu ảnh hưởng của BĐKH trong khoảng thời gian ngắn hạn và trung hạn (2020-2050) và dài hạn (ít nhất đến năm 2080), từ đó đưa ra các giải pháp bảo tồn tại chỗ ngắn hạn, trung hạn, dài hạn và có được cơ sở về các khu vực bị ảnh hưởng nhiều bởi BĐKH nhằm kiểm soát và hạn chế các tác động tiêu cực này [28]
Trang 30Trước đó vào năm Rahn và ccs (2013) đã nghiên cứu về mối tương quan giữa thích ứng, giảm thiểu với BĐKH và lợi ích đời sống trong sản xuát cà phê đã
sử dụng phương pháp thực địa, điều tra phỏng vấn và sử dụng phần mềm CFT (Cool Farm Tool Software) nhằm tính toán lượng khí nhà kính tại các nông trại cà phê Để nghiên cứu đánh giá các mối tương quan giữa thích ứng và giảm thiểu BĐKH với hệ thống sản xuất cà phê tiểu chủ, các nhà nghiên cứu đã định lượng: các thay đổi tiềm tàng trong quá trình sản xuất và thực tiễn cũng như trong các hoạt động đời sống hàng ngày nhằm giảm phát thải khí nhà kính; tính dễ bị tổn thương của nông dân trồng cà phê và khả năng thích ứng Kết luận được nghiên cứu đưa ra
đó là việc trồng rừng tại các khu vực bị suy thoái với các mô hình nông lâm kết hợp trồng xen kẽ cây cà phê và cây hàng rào cho kết quả tốt nhất về thích ứng và giảm nhẹ BĐKH [40]
Haggar và Schepp (2012) đã có nghiên cứu về tác động của BĐKH tới cây
cà phê và các giải pháp thích ứng ở các quốc gia như Brazil, Guatemala, Tanzania
và Việt Nam vào tháng 2 năm 2012 dưới sự ủy thác của GIZ Trong bài báo cáo đã đưa ra các dẫn chứng về BĐKH dự tính đến năm 2090 theo mô hình GCM là nhiệt
độ sẽ tăng từ 1.4oC đến 4.2o
C, số ngày nóng (trên 25oC) dự tính sẽ tăng từ 23 đến 55%, thời gian mùa mưa tăng Đặc biệt là khu vực Tây Nguyên, nơi trồng cà phê chính của Việt Nam, những ngày nóng thậm chí tăng lên đến 94 ngày vào năm
2020, 134 ngày vào năm 2050 và 230 ngày vào năm 2100 Ảnh hưởng của BĐKH tới cây cà phê tuy chưa được nghiên cứu và tính toán nhưng với dự báo về thời gian mùa mưa tăng, kéo theo sự suy giảm lượng mưa vào các mùa khô (-62 đến 23% vào năm 2090) Bên cạnh đó, sự gia tăng lượng mưa dự báo đến năm 2090 là hệ quả của các hiện tượng thời tiết cực đoan Điều này là một trong những mối lo ngại cho việc sản xuất cà phê Robusta ở Việt Nam [32]
Laderach và ccs (2011) đã có nghiên cứu về dự báo tác động của BĐKH tới sản xuất và cung ứng cà phê dựa trên giả thuyết về sự gia tăng nhiệt độ trung bình và lượng mưa do BĐKH sẽ làm cho một số vùng trồng cà phê sẽ mất đi và thay thế vào đó là các vùng trồng cà phê mới cùng với nhu cầu tiêu thụ cà phê đang
Trang 31có xu hướng gia tăng Trong nghiên cứu vào năm 2010, Laderach đã bước đầu xác định tác động của BĐKH trên các vùng đất thích hợp cho việc trồng cây cà phê ở Nicaragua; từ đó các nhà nghiên cứu chỉ ra các tác động tiềm tàng và đưa ra biện pháp phù hợp cho cộng đồng người dân và cho việc sản xuất cà phê [36]
Lin (2007) đã nghiên cứu các biện pháp quản lý nông lâm nghiệp như chiến lược thích ứng, ứng phó với các hiện tượng vi khí hậu cực đoan tiềm ẩn trong ngành sản xuất cà phê Nghiên cứu của Lin đã thử nghiệm các trường hợp trồng cây che bóng ở mật độ thấp (10-30%), trung bình (35-65%) và ở mật độ cao (60-80%) ở khu vực Chiapas, Mexico Các dữ liệu về điều kiện vi khí hậu và độ ẩm đất được thu thập hàng ngày để kiểm tra khả năng bảo vệ các cây lương thực ở vùng nghiên cứu nông lâm kết hợp của cây che bóng khỏi các hiện tượng vi khí hậu cực đoan và
sự thay đổi của độ ẩm đất Các thay đổi theo thời gian tại các điểm nghiên cứu được tính toán sử dụng các mô hình tuyến tính hỗn hợp (linear mixed model) để so sánh những khác biệt trung bình của các tính toán điều kiện vi khí hậu (về nhiệt độ, độ
ẩm liên quan, và bức xạ mặt trời theo từng ngày Kết quả nghiên cứu cho thấy mặc
dù không có sự khác biệt rõ rệt giữa các yếu tố theo mùa nhưng khi số lượng các cây che bóng giảm mạnh thì sự thay đổi về nhiệt độ, độ ẩm và bức xạ mặt trời tăng đáng kể Các dữ liệu về đất thu được cho thấy, ở những vùng đất có ít cây che bóng thì lượng ẩm thu được cũng như mất đi cũng rất lớn Từ đó ta thấy, số lượng cây che bóng có ảnh hưởng trực tiếp tới các tính chất của vi khí hậu và độ ẩm đất cần thiết cho cây trồng [37]
Và để dự báo cho ngành cà phê trong tương lai, Gay và ccs (2006) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa yếu tố kinh tế, khí hậu và sản xuất cà phê ở Veracruz
ở Mexico Sử dụng các kịch bản BĐKH và đưa ra các tác động tiềm tàng có thể xảy
ra, Gay đã kết luận thông qua kết quả của mô hình, kịch bản thì nhiệt độ là yếu tố khí hậu có liên quan nhiều nhất đến sự tăng trưởng và phát triển của cây cà phê, từ
đó ta biết được rằng sản lượng cà phê phản ánh nhiệt độ đặc trưng theo mùa Các kết quả dự đoán theo điều kiện BĐKH vào năm 2020 là sản lượng cà phê có thể
Trang 32không còn đáp ứng về mặt kinh tế cho các nhà sản xuất do sản lượng dự báo giảm 34% so với sản lượng vào năm 2006 [30]
1.4 Những nghiên cứu trong nước
Trong nước ta, các nghiên cứu về khí hậu Tây Nguyên đã được thực hiện
và có được các công bố, ấn bản liên quan
Vào năm 1985, Nguyễn Đức Ngữ đã phân tích khái quát, toàn diện đặc
điểm khí hậu của khu vực Tây Nguyên trong cuốn “Khí hậu Tây Nguyên” Trong
cuốn sách này, tác giả minh họa chi tiết về các yếu tố nhiệt độ, lượng mưa tại các trạm của Tây Nguyên bằng các bảng, biểu đồ và có các phân tích sát với thực tế và
số liệu quan trắc [12]
Bên cạnh đó, các nghiên cứu về tác động của BĐKH tới cà phê ở Việt Nam còn chưa nhiều nhưng bước đầu đã có các nghiên cứu về tác động của BĐKH tới một số loại cây trồng ở nước ta
Trước hết là về các khái niệm về khí hậu, vào năm 1988, các khái niệm khái quát nhất về khí hậu, tài nguyên khí hậu được Nguyễn Đức Ngữ cùng Nguyễn
Trọng Hiệu nhắc tới trong “Tài nguyên Khí hậu Việt Nam”.[13]
Phan Văn Tân và Ngô Đức Thành đã có các nghiên cứu “Kiểm nghiệm phi
tham số xu thế biến đổi của một số yếu tố khí tượng cho giai đoạn 1961-2007”
(2012) về 7 yếu tố khí hậu là nhiệt độ trung bình ngày tại 2m - T2m, nhiệt độ cực tiểu ngày Tm, nhiệt độ cực đại ngày Tx, lượng mưa trung bình ngày Pre, tốc độ gió
10 cực đại ngày Vx, độ ẩm tương đối cực tiểu ngày Um và bốc hơi tiềm năng Evap Các yếu tố này được nghiểm nghiệm phi tham số nhằm xác định xu thế và độ lớn của chuỗi số liệu thu thập được từ năm 1961-2007 Kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố nhiệt độ (T2m, Tx, Tm) đều có xu thế tăng rõ rệt trên toàn lãnh thổ Việt Nam; lượng mưa có sự biến động theo không gian với xu thế tăng ở khu vực từ Trung Bộ trở vào và giảm ở khu vực phía Bắc; tốc độ gió bề mặt (tại 10m) có xu thế giảm trên lãnh thổ Việt Nam nói chung và riêng ở khu vực Lạng Sơn, Yên Bái, Thái Bình, Thanh Hóa, Đà Lạt, Rạch Giá; yếu tố độ ẩm tương đối cực tiểu ngày không
Trang 33cho thấy sự biến đổi rõ rệt một cách hệ thống; yếu tố bốc hơi tiềm năng có chiều hướng thay đổi theo từng khu vực và ở Tây Nguyên thì yếu tố bốc hơi tiềm năng có
xu hướng giảm [19]
Tiếp đó vào 2013, hai tác giả đã có bài báo tổng hợp về các kết quả nghiên cứu về BĐKH ở Việt Nam [18] Các kết quả nghiên cứu có được dựa trên nguồn số liệu quan trắc từ hệ thống mạng lưới trạm khí tượng thủy văn của 7 vùng khí hậu Việt Nam giai đoạn 1961-2007 để thấy được biểu hiện của BĐKH trong quá khứ Trong quá khứ, các yếu tố và hiện tượng khí hậu cực đoan có xu hướng thay đổi như: Nhiệt độ cực đại Tx và nhiệt độ cực tiểu Tm trên cả nước có xu thế tăng, cùng với đó là số ngày nắng nóng tăng và số ngày rét đậm giảm và lượng mưa ngày cực đại cũng có xu thế tăng Đặc biệt, yếu tố về nhiệt độ 2m, và lượng mưa ngày ở Tây Nguyên nói chung có chiều hướng tăng Tiếp đó, mô hình khí hậu khu vực RCMs được sử dụng để dự tính sự biến đổi khí hậu của Việt Nam trong nửa đầu thế kỷ 21 Kết quả dự tính cho thấy, nhiệt độ 2m và lượng mưa ngày trên cả nước có chiều hướng tăng; ngoại trừ lượng mưa ở khu vực Tây Nguyên và một phần Nam Bộ
Trong báo cáo kết quả nghiên cứu khoa học công nghệ 2006-2010 của Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, Mai Văn Trịnh và ccs đã báo cáo kết quả
“Nghiên cứu ảnh hưởng của BĐKH đến năng suất cây lương thực của Việt Nam” Trong nghiên cứu đã sử dụng các kịch bản BĐKH của Bộ Tài nguyên & Môi trường ở mức phát thải cao A2 kết hợp với số liệu khí tượng được quan trắc tại 25 điểm trên các vùng sinh thái nông nghiệp (3 điểm trên mỗi vùng) từ 1970 – 2007 (miền Bắc) và từ 1978 – 2007 (miền Nam) Nghiên cứu đã tính toán năng suất cây trồng (lúa, ngô và đậu tương) bằng mô hình WOFOST cho các năm 2030 và 2050 theo các kịch bản BĐKH Từ các kết quả nghiên cứu, tác giả đã đưa ra kết luận rằng
sự thay đổi về ẩm độ và sự phân bố mưa có ảnh hưởng rất mạnh đến sự sinh trưởng
và phát triển của cây trồng, ví dụ như khi độ ẩm thấp hơn và lượng mưa giảm rõ rệt làm sinh trưởng và phát triển của đối tượng cây trồng được nghiên cứu giảm và năng suất cây trồng cũng bị giảm [20]
Trang 34Năm 2013, Phạm Quang Hà – Viện Môi trường Nông nghiệp – Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam với “Nghiên cứu đánh giá tác động của Biến đổi Khí hậu đến một số cây trồng chủ lực (lúa, ngô, đậu tương, mía) tại đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng đã đạt được các kết quả nhất định Trước hết là tổng quan thực trạng sản xuất nông nghiệp Việt Nam; đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến diện tích, năng suất, sản lượng, hiệu quả kinh tế sản xuất lúa, ngô, đậu tương, mía tại đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long Ngoài ra, nghiên cứu còn dự báo tiềm năng thay đổi năng suất, sản lượng, hiệu quả kinh tế sản xuất lúa, ngô, đậu tương và mía theo kịch bản đến năm 2030 và 2050 Từ đó đưa ra các giải pháp giảm nhẹ thiệt hại do tác động BĐKH đến sản xuất lúa, ngô, đậu tương tại đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long [7]
Về các nghiên cứu liên quan tới cây cà phê, ở các ấn phẩm Cà phê Việt Nam của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã có một số bài báo nói tới những ảnh hưởng của BĐKH đến năng suất cây cà phê ở Việt Nam Đặc biệt là ở Chuyên đề 6 “Biến đổi thị trường, khí hậu và cơ cấu cà phê Việt Nam”, và Chuyên
đề 9 “BĐKH và ngành cà phê Việt Nam” [1][2]
Trong chuyên đề số 6 về cà phê Việt Nam, bài viết của Phan Quốc Sùng – Nguyên viện trưởng Viện nghiên cứu cà phê đã đề cập tới việc lập lại hệ sinh thái phù hợp khi tái canh diện tích cà phê Bài báo đã đưa ra những đóng góp nhằm làm cho cây cà phê phát triển tốt hơn với các điều kiện sinh thái như sử dụng bộ giống
có chất lượng cao về năng suất, kích thước hạt, khả năng kháng bệnh và chịu hạn; khi trồng cà phê cần có cây che bóng, che gió tạm thời trong năm trồng mới để bảo
vệ tỉ lệ cây sống; cần có cây trồng xen để che phủ, bảo vệ, cải tạo độ phì của đất [2]
Trong chuyên đề số 9 về cà phê Việt Nam, Đoàn Triệu Nhạn đã có bài viết
“Biến đổi khí hậu và ngành cà phê Việt Nam” cho biết trong bối cảnh BĐKH hiện
nay, diện tích trồng cà phê trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng có thể bị giảm đi do các tác động của BĐKH Bài báo nhắc tới một số tác động của BĐKH tới việc sản xuất cà phê Về chất lượng, khi nhiệt độ tăng lên làm cho cà phê chín
Trang 35nhanh hơn và không có đủ thời gian để tích trữ chất dinh dưỡng, làm hạt cà phê bị giảm chất lượng; nhiệt độ tăng cũng khiến cho sự trao đổi chất của cây cà phê bị ảnh hường dẫn đến năng suất cà phê bị ảnh hưởng theo và điều đáng chú ý nữa đó
là với nhiệt độ ấm hơn thì sự phát triển của các loài nấm, sâu bệnh cũng diễn ra mạnh mẽ hơn, gây ảnh hưởng lớn tới cà phê [1]
Trương Hồng (2013) – Viện Khoa học Kỹ thuật Nông lâm nghiệp Tây Nguyên – WASI đã có báo cáo về “Biến đổi khí hậu và sản xuất nông nghiệp vùng Tây Nguyên” Báo cáo đã đưa sự thay đổi các yếu tố khí hậu ở Tây Nguyên trong thời gian gần đây cùng với các dự báo về sự gia tăng nồng độ khí nhà kính, nồng độ bụi trong khí quyển và hiệu ứng nhiệt trái đất gia tăng Nhiệt độ ở Tây Nguyên đang
có chiều hướng tăng, nắng nóng kéo dài làm khô hạn ở diện rộng, có khu vực trồng các loại cây mùa vụ đã bị khô cháy; Tài nguyên nước mặt và tài nguyên nước ngầm
bị cạn kiệt do sự phân bố không đồng đều của lượng mưa theo không gian và thời gian Ngoài ra, các hiện tượng thời tiết cực đoan như lũ lụt, lũ quét vào mùa mưa; hạn hán, nắng nóng vào mùa khô; các hiện tượng như dông, lốc xoáy, mưa đá cũng xảy ra nhiều hơn ở Tây Nguyên Từ đó cho thấy những thay đổi này có tác động tới các loại cây công nghiệp ở Tây Nguyên [8]
Với việc ứng dụng hệ thống thông tin địa lý trong đánh giá tác động của BĐKH, Nguyễn Xuân Lâm (2013) – Cục Viễn thám Quốc gia – Bộ Tài nguyên và Môi trường đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu ứng dụng công nghệ viễn thám để giám sát và cảnh báo những tác động của BĐKH nhằm chủ động phòng tránh và giảm thiểu thiệt hại do tai biến thiên nhiên” Trong nghiên cứu, tác giả đã ứng dụng công nghệ viễn thám để xác định một số yếu tố khí hậu bao gồm: nhiệt độ, độ ẩm, hàm lượng hơi nước, lượng mưa, sol khí để đưa ra được bộ số liệu về các yếu tố khí hậu này Ngoài ra, tác giả Nguyễn Xuân Lâm còn đánh giá ảnh hưởng của các tai biến thiên nhiên để có được các kết quả dùng làm cơ sở dữ liệu để giám sát tai biến thiên nhiên bằng công nghệ viễn thám và hệ thông tin địa lý [9]
Trang 36Các nghiên cứu trong nước và trên thế giới đã đưa ra được các khía cạnh của BĐKH và tác động của nó tới nông nghiệp nói chung cũng như tới ngành cà phê nói riêng Các nghiên cứu đã đưa ra được kết quả nghiên cứu xu thế BĐKH trong tương lai, được thể hiện rõ ở các kịch bản BĐKH, các báo cáo về tác động của BĐKH Đặc biệt ở Việt Nam, đã có các nghiên cứu về đặc điểm khí hậu của Tây Nguyên với các đặc trưng theo mùa, tương ứng với các giai đoạn phát triển của cây
cà phê Khi xét đến mục tiêu nghiên cứu của đề tài, ta thấy các nghiên cứu đi trước
đã có xét đến tình hình BĐKH mà có thể kế thừa được, nhưng chưa nghiên cứu sâu
về mức độ BĐKH và ảnh hưởng của nó tới cây cà phê Tây Nguyên Vì vậy,luận văn
sẽ tập trung vào các yếu tố khí hậu liên quan đến cây cà phê nhằm đánh giá được mức độ BĐKH và ảnh hưởng của nó
Trang 37CHƯƠNG II: ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC TÂY NGUYÊN, SỐ LIỆU VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đặc điểm khu vực Tây Nguyên
Hình 5: Bản đồ hành chính Tây Nguyên
Nguồn: Chương trình Tây Nguyên 3-Viện KHCN Việt Nam [50]
Tây Nguyên nằm ở phía Tây và Tây Nam Việt Nam, là một cao nguyên rộng lớn bao gồm 5 tỉnh: Đắk Lắk, Đắk Nông, Gia Lai, Lâm Đồng và Kon Tum
Trang 38Tây Nguyên là vùng đất có bản sắc văn hóa rất đặc biệt, độc đáo và đa dạng, là quê hương của không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa Phi vật thể của nhân loại
Hình 6: Bản đồ phân bố đất ở Tây Nguyên
Nguồn: Chương trình Tây Nguyên 3-Viện KHCN Việt Nam [50]
Tây Nguyên có lợi thế lớn về đất đai với tổng diện tích đất tự nhiên là 5,4 triệu ha, Tây Nguyên có diện tích đất đỏ bazan chiếm khoảng 2 triệu ha [57] phân
Trang 39bố chủ yếu trên các cao nguyên: Kon Ha Nừng, Pleiku, Buôn Ma Thuột, Đắk Nông, Lâm Viên và Di Linh và hàng chục vạn ha tài nguyên đất phù hợp để phát triển nông nghiệp như đất đen, đất phù sa với các loại cây trồng như: cà phê, cao su, hồ tiêu, điều, ngô lai, bông vải, chè, rau, hoa xuất khẩu, trong đó cà phê là cây công nghiệp quan trọng số một ở Tây Nguyên [50]
Mạng lưới sông suối khá dày, nhiều ghềnh thác ở Tây Nguyên như hệ thống sông Pô Kô-Sê San (Kon Tum); hệ thống sông Ba-Ayun (Gia Lai); hệ thống sông Sêrêpốk (Đắk Lắk) và hệ thống sông Đồng Nai (Đắk Nông và Lâm Đồng) với trữ lượng thủy năng rất lớn, chiếm trên 22% nguồn thủy năng của cả nước, có thể sản xuất 15 tỷ kwh điện mỗi năm [53]
Bên cạnh tài nguyên đất và tài nguyên nước, rừng là một tài nguyên lớn có
ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với sự phát triển bền vững của Tây Nguyên; với diện tích che phủ là 56% và hệ động thực vật đa dạng, Tây Nguyên có thể phát triển ngành lâm nghiệp [53]
Khoáng sản ở Tây Nguyên đa dạng và có trữ lượng lớn như: than bùn, than nâu, sét cao lanh, puzơlan và nhất là bô-xít với trữ lượng rất lớn, dự báo khoảng 4,5
tỷ tấn, chiếm 91% trữ lượng bô-xít của cả nước, tập trung phần lớn ở các tỉnh Đắk Nông, Lâm Đồng Bô-xít ở Tây Nguyên được đánh giá là chất lượng tốt, có điều kiện thuận lợi để phát triển ngành công nghiệp nhôm-alumin Các loại khoáng sản như sắt, wonfram, antimon, chì, kẽm, vàng; nhóm đá quý như saphia, xircon, corindon, thạch anh hồng và thạch anh tinh thể… tương đối dồi dào và phân bố đều
ở các tỉnh [53]
Khí hậu ở Tây Nguyên được chia làm 2 mùa: mùa mưa từ tháng 5 đến hết tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4, trong đó tháng 3 và tháng 4 là hai tháng nóng và khô nhất Do ảnh hưởng của độ cao nên ở các cao nguyên cao 400-500m khí hậu tương đối mát mẻ, mưa nhiều [53] Khí hậu tại Tây Nguyên cũng là một yếu
tố phù hợp để trồng cây công nghiệp như cà phê
Trang 40Điều kiện khí hậu ở Tây Nguyên có nhiệt độ trung bình hàng năm ở mức
24oC, lượng ánh sáng dồi dào, cường độ ánh sáng ổn định Số giờ nắng trung bình ở đây nằm trong khoảng 2200-2700 giờ/năm Biên độ dao động nhiệt giữa ngày và đêm trong cả mùa mưa và mùa khô đều lớn (mùa khô biên độ từ 15-20oC, mùa mưa biên độ từ 10-15oC) Lượng mưa trung bình năm khoảng 1900-2000mm; tập trung chủ yếu trong mùa mưa [59]
2.2 Nguồn số liệu quan trắc
Các số liệu quan trắc được sử dụng là số liệu quan trắc từ mạng lưới khí tượng Việt Nam, đặc thù là tại các trạm quan trắc khu vực Tây Nguyên thuộc Đài Khí tượng Thủy văn Tây Nguyên Các trung tâm Khí tượng Thủy văn các tỉnh Kon Tum, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng Mạng lưới trạm quan trắc của Đài Khí tượng Thủy văn Tây Nguyên hiện nay có 34 trạm Khí tượng Thủy văn cơ bản và 22 điểm
đo mưa nhân dân, 2 trạm đo gió trên cao, 2 trạm quan trắc bức xạ, 1 trạm quan trắc môi trường tự động tại Pleiku, 3 điểm quan trắc môi trường không khí và 5 điểm kiểm soát chất lượng nước sông [52]
Số liệu quan trắc có thể thu thập và khai thác là số liệu hàng tháng và số liệu hàng ngày Số liệu hàng ngày được lấy từ thời kỳ những năm 1970, bao gồm các yếu tố và hiện tượng: Nhiệt độ cực đại ngày - Tx, Nhiệt độ cực tiểu ngày - Tm, Nhiệt độ trung bình đo ở độ cao 2m - T2m, Lượng mưa - R, Độ ẩm cực tiểu - Um,
Độ ẩm đo lúc 13h - U13, Lượng bốc hơi - BH Đối với mỗi điểm quan trắc thuộc khu vực Tây Nguyên, số liệu về các yếu tố được lấy ở một độ cao nhất định và cho kết quả quan trắc của từng ngày trong tháng Trong nghiên cứu này, các yếu tố đề cập đến ở trên sẽ được thu thập, tính toán và phân tích cho 18 trạm quan trắc khí tượng trên khu vực (Bảng 2)