* Những công trình nghiên cứu trong nước: Tại Việt Nam cũng có rất nhiều đề tài nghiên cứu về kiểm soát nội bộ trong công tác thu thuế, về vấn đề Hoàn thiện hệ thống quản lý thuế, dưới
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LẠC HỒNG
HOÀN THIỆN KIỂM SOÁT QUY TRÌNH KIỂM TRA
NỘI BỘ TẠI CỤC THUẾ TỈNH ĐỒNG NAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN
Đồng Nai - Năm 2022
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC LẠC HỒNG
HOÀN THIỆN KIỂM SOÁT QUY TRÌNH KIỂM TRA
NỘI BỘ TẠI CỤC THUẾ TỈNH ĐỒNG NAI
CHUYÊN NGÀNH: KẾ TOÁN
MÃ SỐ: 8340301
LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN
Đồng Nai - Năm 2022
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và thực hiện hoàn thành bài luận văn, tác giả đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ của Ban Giám hiệu, Khoa Sau đại học và Quý thầy cô tại Trường Đại học Lạc Hồng, các anh chị đồng nghiệp nơi tác giả đã thực hiện nghiên cứu
Tác giả cũng xin cảm ơn Tập thể giảng viên Khoa Sau đại học - Trường Đại học Lạc Hồng đã tận tình truyền dạy kiến thức trong quá trình tác giả học tập tại trường đã giúp tác giả rất nhiều trong việc học tập và nghiên cứu
Cảm ơn sự quan tâm của Cục Thuế tỉnh Đồng Nai, các anh chị đồng nghiệp
đã giúp đỡ tác giả trong quá trình thu thập dữ liệu và thông tin của luận văn này
Cuối cùng, tác giả gửi lời biết ơn sâu sắc đến gia đình và anh chị bạn bè đã động viên và hỗ trợ tác giả trong suốt quá trình học tập cũng như hoàn thành luận văn
Do thời gian có hạn và kinh nghiệp nghiên cứu chưa nhiều nên luận văn không tránh khỏi thiếu sót, rất mong nhận được ý kiến góp ý của Quý thầy cô và các bạn
Đồng Nai, ngày tháng năm 2022
Tác giả
Trước tiên, tác giả xin chân thành cảm ơn sâu sắc đến thầy PGS.TS , thầy
đã trực tiếp giảng dạy, hướng dẫn tác giả nghiên cứu luận văn, đã dành nhiều thời gian quý báu và tận tình giúp tác giả trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan luận văn thạc sỹ kế toán về đề tài: “HOÀN THIỆN KIỂM SOÁT QUY TRÌNH KIỂM TRA NỘI BỘ TẠI CỤC THUẾ TỈNH ĐỒNG NAI” là kết quả nghiên cứu của riêng bản thân tác giả với sự hướng dẫn của Thầy PGS.TS Luận văn được thực hiện với các số liệu thu thập và kết quả phân tích trong luận văn này là trung thực, không có sự sao chép, chỉnh sửa từ bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Đồng Nai, ngày tháng năm 2022
Trang 5TÓM TẮT LUẬN VĂN
Đối tượng nghiên cứu và khảo sát của luận văn này là hệ thống và quy trình kiểm tra nội bộ tại Cục Thuế tỉnh Đồng Nai với mục đích là đưa ra các giải pháp, kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện hệ thống kiểm soát quy trình kiểm tra nội bộ tại Cục Thuế tỉnh Đồng Nai Trong quá trình nghiên cứu, tác giả lần lượt đưa ra các vấn đề và cách thức giải quyết nhằm mang lại những mục tiêu của đề tài cụ thể như sau:
Hệ thống hóa cơ sở lý luận về hệ thống KSNB:
+ Sơ lược về sự ra đời và phát triển kiểm soát nội bộ;
+ Khái niệm và phân loại rủi ro;
+ Lợi ích và hạn chế của kiểm soát nội bộ
Luận văn đã đề cập và nhấn mạnh đến vấn đề hệ thống KSNB đơn vị công, trong đó Các yếu tố cấu thành nên hệ thống kiểm soát nội bộ được luận văn hệ thống hóa rất chi tiết về những cơ sở lý luận này Trọng tâm của nghiên cứu này chính là vấn đề “Kiểm soát nội bộ trong hoạt động hành chính công của ngành Thuế” cũng đã được đề cập đầy đủ trong cơ sở lý luận của luận văn
Nghiên cứu của luận văn cũng đã trình bày chi tiết phương pháp thu thập dữ liệu và phương pháp nghiên cứu dữ liệu, để thông qua đó đánh giá hệ thống KSNB
về quy trình kiểm tra nội bộ tại Cục Thuế tỉnh Đồng Nai
Luận văn đã đưa ra những quan điểm hoàn thiện, xem đó là những nền tảng định hướng cho các giải pháp hoàn thiện được đề cập trong nghiên cứu của tác giả Vấn đề căn bản mà luận văn muốn hướng đền đó là đưa ra các giải pháp hoàn thiện
hệ thống KSNB quy trình kiểm tra nội bộ tại Cục Thuế tỉnh Đồng Nai Sau cùng, để các giải pháp hoàn thiện của luận văn có tính khả thi cao cũng như hiệu quả của nó mang lại, luận văn đã đưa ra được những kiến nghị mang tính cấp thiết và ý nghĩa thực tiễn đối với vấn đề KSNB về quy trình kiểm tra nội bộ tại Cục Thuế tỉnh Đồng Nai
Trang 6MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
TÓM TẮT LUẬN VĂN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH, SƠ ĐỒ
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tổng quan các nghiên cứu trước 1
3 Mục tiêu đề tài 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
7 Cấu trúc của luận văn 4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ KHU VỰC CÔNG 5
1.1 Tổng quan về kiểm soát nội bộ khu vực công: 5
1.1.1 Sơ lược lịch sử ra đời hệ thống KSNB khu vực công: 5
1.1.2 Định nghĩa, ý nghĩa và mục tiêu KSNB 10
1.1.2.1 Định nghĩa về kiểm soát nội bộ 10
1.1.2.2 Ý nghĩa KSNB trong một tổ chức hành chính công 15
1.1.2.3 Các mục tiêu của kiểm soát nội bộ 16
1.1.3 Các bộ phận cấu thành kiểm soát nội bộ trong khu vực công 17
1.1.3.1 Môi trường kiểm soát 17
1.1.3.2 Đánh giá rủi ro 19
1.1.3.3 Hoạt động kiểm soát 20
1.1.3.4 Thông tin và truyền thông 22
1.1.3.5 Giám sát 23
1.2 Kiểm tra nội bộ trong ngành Thuế 24
1.2.1 Khái niệm kiểm tra nội bộ 24
1.2.2 Mục tiêu kiểm tra nội bộ 24
1.2.3 Vai trò kiểm tra nội bộ 25
Trang 71.2.4 Nguyên tắc, phạm vi đối tượng kiểm tra nội bộ 26
1.2.4.1 Nguyên tắc kiểm tra nội bộ 26
1.2.4.2 Phạm vi đối tượng kiểm tra nội bộ 27
1.2.5 Các loại hình thức kiểm tra nội bộ 28
1.2.6 Nội dung, quy trình kiểm tra nội bộ 29
1.2.7 Tiêu chí đánh giá kết quả kiểm tra nội bộ 34
1.3 Những bài học kinh nghiệm kiểm soát quá trình kiểm tra nội bộ tại các tỉnh 34
1.3.1 Kinh nghiệm kiểm tra nội bộ của các tỉnh 34
1.3.2 Bài học rút ra cho Cục Thuế Đồng Nai 35
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 37
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT QUY TRÌNH KIỂM TRA NỘI BỘ TẠI CỤC THUẾ TỈNH ĐỒNG NAI 38
2.1 Giới thiệu Cục Thuế tỉnh Đồng Nai 38
2.1.1 Sơ lược sự hình thành và phát triển của Cục Thuế tỉnh Đồng Nai 38
2.1.2 Cơ cấu tổ chức, chức năng của Cục Thuế tỉnh Đồng Nai 39
2.1.3 Chức năng nhiệm vụ của các phòng tại Cục Thuế tỉnh Đồng Nai 40
2.1.4 Đánh giá tình hình thu thuế tại Cục thuế tỉnh Đồng Nai 42
2.2 Thực trạng kiểm soát quy trình kiểm tra nội bộ tại Cục Thuế tỉnh Đồng Nai 46
2.2.1 Đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ tại Cục Thuế tỉnh Đồng Nai 46
2.2.1.1 Thực trạng môi trường kiểm soát 47
2.2.1.2 Thực trạng đánh giá rủi ro 49
2.2.1.3 Thực trạng hoạt động kiểm soát 51
2.2.1.4 Thực trạng thông tin và truyền thông 53
2.2.1.5 Thực trạng giám sát 54
2.2.2 Đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ tại Cục Thuế tỉnh Đồng Nai 55
2.2.2.1 Thực trạng kiểm soát quy trình lập kế hoạch kiểm tra nội bộ 55
2.2.2.2 Thực trạng kiểm soát quy chuẩn bị kiểm tra nội bộ 59
2.2.2.3 Thực trạng kiểm soát quy trình thực hiện kiểm tra nội bộ 60
2.2.2.4 Thực trạng kiểm soát quy trình kết thúc kiểm tra nội bộ 66
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 69
Trang 8CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN KIỂM SOÁT QUY TRÌNH KIỂM TRA NỘI BỘ
TẠI CỤC THUẾ TỈNH ĐỒNG NAI 70
3.1 Mục tiêu và phương hướng 70
3.1.1 Mục tiêu 70
3.1.2 Phương hướng 71
3.2 Quan điểm hoàn thiện 72
3.2.1 Quan điểm kế thừa có chọn lọc 72
3.2.2 Quan điểm hội nhập 73
3.2.3 Quan điểm ứng dụng công nghệ thông tin 73
3.3 Hoàn thiện kiểm soát quy trình kiểm tra nội bộ tại Cục Thuế tỉnh Đồng Nai 74
3.3.1 Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Cục Thuế tỉnh Đồng Nai 74
3.3.1.1 Hoàn thiện môi trường kiểm soát 74
3.3.1.2 Hoàn thiện đánh giá rủi ro 76
3.3.1.3 Hoàn thiện hoạt động kiểm soát 77
3.3.1.4 Hoàn thiện thông tin và truyền thông 78
3.3.1.5 Hoàn thiện giám sát 78
3.3.2 Hoàn thiện kiểm soát quy trình kiểm tra nội bộ tại Cục Thuế tỉnh Đồng Nai 79
3.3.2.1 Hoàn thiện kiểm soát quy trình lập kế hoạch kiểm tra nội bộ 80
3.3.2.2 Hoàn thiện kiểm soát quy trình chuẩn bị kiểm tra nội bộ 81
3.3.2.3 Hoàn thiện kiểm soát quy trình thực hiện kiểm tra nội bộ 82
3.3.2.4 Hoàn thiện kiểm soát quy trình kết thúc kiểm tra nội bộ 83
3.4 Các kiến nghị hỗ trợ nhằm hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ quy trình kiểm tra nội bộ tại Cục Thuế tỉnh Đồng Nai 84
3.4.1 Đối với Ngành Thuế 84
3.4.2 Đối với Tổng cục Thuế 85
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 86
KẾT LUẬN CHUNG 87 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AAA American Accounting
Association
Hiệp hội kế toán Hoa kỳ
AICPA American Institute of Certified
Public Accountants
Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa
Kỳ COSO Committee of Sponsoring
Organizations of the Treadway
Commission
Ủy ban thuộc Hội đồng quốc gia Hoa Kỳ
về chống gian lận khi lập báo cáo tài chính
FATCA Foreign Account Tax
Compliance Act
Đạo luật tuân thủ thuế nước ngoài
FEI Financial Executives
International
Hiệp hội các nhà quản trị tài chính
FTA Free trade agreement Hiệp định thương mại tự do
IIA Institute of Internal Auditors Hiệp hội kiểm toán viên nội bộ
IMA Institute of Management
Accountants
Hiệp hội kế toán viên quản trị
INTOSAI The International Organisation
of Supreme Audit Institutions
Tổ chức quốc tế các Cơ quan Kiểm toán tối cao
Trang 10NNT Người nộp thuế
Trang 11DANH MỤC BẢNG BIỀU
Bảng 2.1: Tổng hợp kết quả thu thuế từ năm 2018-2021 43
Bảng 2.2: Thống kê tình hình thu thuế GTGT tại Cục Thuế tỉnh Đồng Nai 44
Bảng 2.3: Thống kê tình hình thu thuế TNDN tại Cục Thuế tỉnh Đồng Nai 44
Bảng 2.4: Thống kê tình hình kiểm tra, thanh tra thuế tại Cục Thuế tỉnh Đồng Nai 45 Bảng 2.5: Bảng đánh giá thực trạng về môi trường kiểm soát 47
Bảng 2.6: Bảng đánh giá thực trạng về đánh giá rủi ro 49
Bảng 2.7: Bảng đánh giá thực trạng về hoạt động kiểm soát 51
Bảng 2.8: Bảng đánh giá thực trạng về thông tin truyền thông 53
Bảng 2.8: Bảng đánh giá thực trạng về giám sát 54
DANH MỤC HÌNH Hình 2.1: Hình ảnh Trụ sở làm việc của Cục Thuế tỉnh Đồng Nai 38
DANH MỤC SƠ ĐỒ Hình 2.1: Sở đồ cơ cấu bộ máy quản lý Cục Thuế tỉnh Đồng Nai 40
Trang 12PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong quản lý nói chung, quản lý thuế nói riêng, kiểm tra nội bộ có vai trò rất quan trọng Kiểm tra nội bộ giúp phát hiện những sơ suất, sai phạm, những nhân
tố tích cực để cung cấp thông tin đền người quản lý, giúp họ đưa ra quyết định kịp thời nhằm điều chỉnh, xử lý sai lệch và phát huy nhân tố tích cực làm tăng hiệu quả hoạt động của cả hệ thống
Quy trình kiểm tra nội bộ nhằm đảm bảo hoạt động kiểm tra nội bộ của ngành Thuế được thực hiện theo đúng các quy định của pháp luật, thống nhất từ Tổng Cục Thuế đến Cục Thuế và Chi cục Thuế, đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính và hiện đại hóa ngành Thuế
Vai trò của kiểm tra nội bộ đối với công tác quản lý thuế nhằm nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; chấn chỉnh việc thực hiện các quy định pháp luật về quản lý thuế thông qua công tác kiểm tra nội bộ Từ đó ngăn chặn, đẩy lùi các hiện tượng vi phạm pháp luật của người nộp thuế cũng như cảnh báo đối với những hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm quy chế, quy trình nghiệp vụ của ngành Thuế
Hiện nay ngành Thuế đang đẩy mạnh cải cách, hiện đại hóa, áp dụng phương pháp quản lý rủi ro trong tất cả các khâu của quy trình quản lý Điều này đòi hỏi phải có sự đổi mới về phương pháp, quy trình, kỹ năng kiểm tra nội bộ bằng phương thức thức điện tử để có thể khai thác dữ liệu trên ứng dụng quản lý thuế của ngành… Qua đó, kịp thời cảnh báo sớm và hạn chế những sai sót trong công tác quản lý thuế; hỗ trợ tối đa, tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp, cũng như tăng hiệu quả phân tích, tham mưu cho lãnh đạo trong chỉ đạo điều hành công tác kiểm tra nội bộ của ngành
Vì lí do này mà tác giả chọn đề tài: “Hoàn thiện kiểm soát quy trình kiểm tra nội bộ tại Cục Thuế tỉnh Đồng Nai”
2 Tổng quan các nghiên cứu trước
* Nghiên cứu ngoài nước:
Đã có nhiều nghiên cứu được xuất bản bàn về công cuộc quản trị rủi ro trong công tác thu thuế với mục tiêu giảm thiểu và kiểm soát rủi ro trong công tác thu thuế
Trang 13Trong cuốn sách “Tax Risk Management: From risk to opportunity” [1] tác giả đã bàn về vai trò của thuế; TCF - một hệ thống để nhận dạng rủi ro, giảm thiểu rủi ro về thuế, kiểm soát và báo cáo rủi ro về thuế với mục tiêu quan trọng của hệ thống này là xây dựng hệ thống quản lý thuế hiệu quả và minh bạch, và một số kinh nghiệm quản trị rủi ro trong công tác quản lý, thu thuế của nhiều nước trên thế giới như Úc, Canada, Pháp, Ireland,
* Những công trình nghiên cứu trong nước:
Tại Việt Nam cũng có rất nhiều đề tài nghiên cứu về kiểm soát nội bộ trong công tác thu thuế, về vấn đề Hoàn thiện hệ thống quản lý thuế, dưới đây là một số trích dẫn tiêu biểu gần đây:
- Lê Nguyên Khôi (2015) “Hoàn thiện kiểm soát nội bộ quy tình kiểm tra sau thông quan tại Cục Hải quan Đồng Nai” Đối tượng nghiên cứu và khảo sát của luận văn này là hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) trong công tác Kiểm tra sau thông quan tại Cục Hải quan Đồng Nai với mục đích là đưa ra các giải pháp, kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện hệ thống KSNB tại Cục Hải quan Đồng Nai Trong quá trình nghiên cứu, tác giả lần lượt đưa ra các vấn đề và cách thức giải quyết nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động Kiểm tra sau thông quan, góp phần tích cực vào việc thúc đẩy sự tăng trưởng của nền kinh tế, đảm bảo nguồn thu cho ngân sách quốc gia
- Nguyễn Thị Anh Đào (2017) “Nghiên cứu các yếu tố tác động đến tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ thuế thu nhập doanh nghiệp tại Cục thuế tỉnh Đồng Nai” Luận văn dựa vào các yếu tố cấu thành nên hệ thống KSNB, bổ sung thêm vài vấn đề chung của thuế TNDN, nhằm xây dựng một hệ thống KSNB thuế TNDN chặt chẽ góp phần tăng thu NSNN
- Lê Văn Tuấn (2019) Hoàn thiện kiểm soát nội bộ công tác KTNB tại Cục Thuế tỉnh Đồng Nai Luận văn nghiên cứu hoàn thiện kiểm soát nội bộ công tác KTNB tại Cục Thuế tỉnh Đồng Nai là rất cần thiết và tìm ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thiết thực trong công tác kiểm soát hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế đối với Cục Thuế tỉnh Đồng Nai, từ đó góp phần kiểm soát tốt nguồn thu thuế cho NSNN
- Võ Thị Ngọc Hà (2020) “Hoàn thiện kiểm soát nội bộ công tác kiểm tra thuế trong môi trường hóa đơn điện tử tại Chi cục Thuế Thành phố Biên Hoà” Luận
Trang 14văn đưa ra các giải pháp, kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện kiểm soát nội bộ (KSNB) công tác kiểm thuế trong môi trường hóa đơn điện tử tại Chi cục Thuế TP Biên Hòa Tác giả đã đề xuất nhóm giải pháp theo 05 yếu tố cấu thành KSNB theo INTOSAI 2013 cho công tác kiểm tra thuế trong môi trường hóa đơn điện tử nói riêng và hệ thống KSNB cơ quan thuế nói chung
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống và quy trình kiểm tra nội bộ tại Cục
Thuế tỉnh Đồng Nai với mục đích là đưa ra các giải pháp, kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện hệ thống kiểm soát quy trình kiểm tra nội bộ tại Cục Thuế tỉnh Đồng Nai
* Phạm vi nghiên cứu: Quy trình kiểm tra nội bộ của Cục Thuế tỉnh Đồng
Nai
* Thời gian nghiên cứu: 2018-2021
5 Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu chính là phương pháp định tính:
- Phương pháp thu nhập thông tin, phân tích, tổng hợp, phương pháp tiếp cận
để hệ thống hóa những vấn đề lý luận về kiểm soát kiểm tra nội bộ
- Phương pháp nghiên cứu tại bàn, phương pháp thống kê, phương pháp tổng hợp, thu thập thông tin thực tế tại Cục Thuế tỉnh Đồng Nai từ đó đánh giá tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát kiểm tra nội bộ tại Cục Thuế tỉnh Đồng Nai
Trang 15- Phương pháp so sánh, phân tích, suy luận để đề xuất các giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát kiểm tra nội bộ tại Cục Thuế tỉnh Đồng Nai
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Tổng quát, đánh giá quy trình kiểm tra nội bộ tại Cục Thuế tỉnh Đồng Nai
- Đề xuất các định hướng và giải pháp cục thuể để ngăn chặn, đẩy lùi các hiện tượng vi phạm pháp luật của người nộp thuế cũng như cảnh báo đối với những hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm quy chế, quy trình nghiệp vụ của ngành Thuế của công chức thuế
7 Cấu trúc của luận văn:
Chương 1: Cơ sở lý luận về kiểm soát nội bộ khu vực công
Chương 2: Thực trạng kiểm soát quy trình kiểm tra nội bộ tại Cục Thuế tỉnh Đồng Nai
Chương 3: Hoàn thiện kiểm soát quy trình kiểm tra nội bộ tại Cục Thuế tỉnh Đồng Nai
Trang 16CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ KHU VỰC CÔNG 1.1 Tổng quan về kiểm soát nội bộ khu vực công
1.1.1 Sơ lược lịch sử ra đời hệ thống KSNB khu vực công
Từ khi có hoạt động kinh doanh, những người điều hành đều phải sử dụng các biện pháp để kiểm soát các hoạt động tại đơn vị mình Hoạt động kinh doanh càng phát triển thì chức năng kiểm soát càng chiếm một vị trí quan trọng trong quá trình quản lý Thông qua các hoạt động kiểm soát, nhà quản lý đánh giá và chấn chỉnh việc thực hiện nhằm đảm bảo đạt được các mục tiêu đã đề ra với hiệu quả cao nhất
Để thực hiện chức năng kiểm soát, nhà quản lý sử dụng công cụ chủ yếu là kiểm soát nội bộ (KSNB) của đơn vị Khái niệm KSNB lúc đầu được sử dụng như
là một phương pháp giúp cho kiểm toán viên độc lập xác định phương pháp hiệu quả nhất trong việc lập kế hoạch kiểm toán, đến chỗ được coi là một bộ phận chủ yếu của hệ thống quản lý hữu hiệu Theo thời gian, hoạt động ở các tổ chức không ngừng tăng lên về khối lượng và mức độ phức tạp Những người quản lý chịu sức
ép nặng nề hơn và họ đã sử dụng kiểm toán nội bộ như là một vũ khí lợi hại của mình Nếu như trước đây, kiểm toán nội bộ hướng nhiều vào kế toán, thì ngày nay,
đã có xu hướng không những kiểm toán vào các lĩnh vực tài chính mà còn mở rộng đến các lĩnh vực phi tài chính
COSO là một Ủy ban bao gồm nhiều tổ chức nghề nghiệp nhằm hỗ trợ cho Ủy ban Treadway Các tổ chức nghề nghiệp trên bao gồm: Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA), Hội kế toán Hoa Kỳ (AAA), Hiệp hội các nhà quản trị tài chính (FEI), Hiệp hội kiểm toán viên nội bộ (IIA) và Hiệp hội kế toán viên quản trị (IMA) Qua quá trình tìm hiểu về gian lận, COSO đã nhận thấy KSNB đã có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng xảy ra gian lận Vì thế, việc nghiên cứu và đưa ra chuẩn
về KSNB được đặt ra Báo cáo COSO năm 1992 là kết quả của quá trình nghiên cứu này, cung cấp một hệ thống lý luận đầy đủ nhất về KSNB cho đến thời điểm này, kế thừa và phát triển các nghiên cứu trước đó về KSNB
Sự ra đời và phát triển lý thuyết kiểm soát nội bộ:
Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về kiểm soát, tác giả xin đề cập đến một số quan điểm về kiểm soát của các tác giả như sau:
Trang 17Theo từ điển tiếng Việt (2000, trang 3): “kiểm soát là một phương tiện nhằm giảm thiểu những yếu tố gây tác động xấu tới hoạt động của một đối tượng nào đó”
Theo Henri Fayol (1949, trang 49): “Kiểm soát là việc kiểm tra để khẳng định mọi việc có thực hiện theo đúng kế hoạch hoặc các chỉ dẫn và các nguyên tắc đã được thiết lập hay không, từ đó nhằm chỉ ra các yếu kém và sai phạm cần điều chỉnh, tìm ra các nguyên nhân để ngăn ngừa chúng không được phép tái diễn” Theo Anthony và các cộng sự (1949, trang 20) thì cho rằng “Kiểm soát là một quá trình thực hiện một tập hợp các thay đổi nhằm đạt được các mục tiêu đã định”
Tác giả Nguyễn Quang Quynh (2014, trang 9) trong nghiên cứu của mình thì
cho rằng “Kiểm soát không phải là một phần hay một giai đoạn của quá trình quản
lý mà là một chức năng không thể tách rời của quản lý Trong suốt quá trình quản
lý, kiểm soát luôn luôn tồn tại trước, trong và sau mỗi hoạt động định hướng hoặc
tổ chức để thực hiện hoặc điều chỉnh mỗi hoạt động đó Một cách tổng hợp nhất, kiểm soát được hiểu là tổng hợp các phương sách để nắm lấy và điều hành đối tượng hoặc khách thể quản lý”
Từ các quan điểm khác nhau về kiểm soát đã nêu trên đây, tác giả xin đưa ra quan điểm về kiểm soát như sau: Kiểm soát được xem là một chức năng quan trọng của quá trình quản lý Nó được tiến hành liên tục ở các cấp quản lý và mọi hoạt động của tổ chức thông qua các việc thiết lập các tiêu chuẩn, đánh giá kết quả thực
tế đạt được với tiêu chuẩn đặt ra, nêu được nguyên nhân và điều chỉnh các sai lệch nhằm đạt giúp tổ chức được các mục tiêu của mình
KSNB cũng được các tác giả nghiên cứu và hình thành nhiều định nghĩa khác nhau, chẳng hạn:
Điều 39, Luật kế toán Việt Nam năm 2015 nêu rõ: “KSNB là việc thiết lập và
tổ chức thực hiện trong nội bộ đơn vị kế toán các cơ chế, chính sách, quy trình, quy định nội bộ phù hợp với quy định của pháp luật nhằm bảo đảm phòng ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời rủi ro và đạt được yêu cầu đề ra”
Theo quan điểm của tổ chức COSO (1992, trang 186): “KSNB là quá trình do người quản lý, HĐQT và các nhân viên của đơn vị chi phối, nó được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm thực hiện các mục tiêu: đảm bảo sự tin cậy
Trang 18của báo cáo tài chính; đảm bảo sự tuân thủ các quy định và luật lệ; đảm bảo các hoạt động được thực hiện hiệu quả”
Trong khái niệm này, tổ chức COSO đã tập trung vào 4 nội dung cụ thể:
- KSNB là một quá trình: Mỗi một hoạt động của đơn vị đều phải tuân thủ theo
quy trình từ khâu lập kế hoạch, thực hiện hoạt động và giám sát các hoạt động đó Muốn đạt được các mục tiêu đã đề ra, mọi đơn vị phải kiểm soát được các hoạt động của mình trong tất cả các khâu đồng thời phải các hoạt động này được liên tục diễn ra và được có mặt trong mọi bộ phận
- KSNB được thiết kế và vận hành bởi con người: Các chủ thể trong tổ chức
như HĐQT, BGĐ, nhà quản lý và các nhân viên trong đơn vị đều tham gia vào công tác KSNB KSNB chỉ là công cụ của nhà quản lý Các chủ thể trong tổ chức sẽ xây dựng các mục tiêu, đưa ra các biện pháp kiểm soát và là người vận hành các biện pháp kiểm soát đó Do khả năng, kinh nghiệm, kiến thức của mỗi chủ thể là khác nhau nên việc hiểu rõ, trao đổi, hành động đôi khi không nhất quán với nhau Vì thế, các thành viên trong một tổ chức phải am hiểu về trách nhiệm và quyền hạn của mình, xác định được các mục tiêu, nhiệm vụ, cách thức thực hiện để đạt được mục tiêu của tổ chức
- KSNB đảm bảo tính hợp lý cho nhà quản lý: Điều này khẳng định KSNB
không đảm bảo tuyệt đối việc thực hiện các mục tiêu của nhà quản lý Bởi KSNB luôn luôn có những hạn chế vốn có như: sai lầm của con người khi quyết định, các
cá nhân thông đồng với nhau, nhà quản lý lạm quyền Mặt khác, một nhà quản lý luôn cân nhắc giữa chi phí bỏ ra để thực hiện kiểm soát với lợi ích được mong đợi
từ quá trình kiểm soát đó
- KSNB đảm bảo các mục tiêu: Có 3 mục tiêu KSNB cần hướng tới đó là: Mục
tiêu về hoạt động, mục tiêu về báo cáo tài chính, mục tiêu về sự tuân thủ
Hiện tại, định nghĩa này được chấp nhận khá rộng rãi và được liên đoàn kế toán quốc tế thừa nhận vì nó đã đáp ứng được yêu cầu về minh bạch thông tin của các công ty đặc biệt là các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán
Tác giả Robert R Moeller (2009, trang 24) khi nghiên cứu KSNB ứng dụng cho mục đích kiểm toán nội bộ đã phát triển thêm lý luận của tổ chức COSO và bổ
sung thêm một số mục tiêu của KSNB cần đạt được, cụ thể “KSNB là một quá trình được thiết kế bởi nhà quản lý và áp dụng trong đơn vị nhằm cung cấp sự đảm bảo
Trang 19hợp lý về: độ tin cậy của thông tin tài chính và thông tin hoạt động; tuân thủ các chính sách, thủ tục, nội quy, quy chế và luật pháp; bảo vệ tài sản; thực hiện được
sứ mệnh, mục tiêu và kết quả của các hoạt động hoặc chương trình của đơn vị; đảm bảo tính chính trực và giá trị đạo đức”
Điểm phát triển mới trong khái niệm này là mục tiêu “Đảm bảo tính chính trực
và giá trị đạo đức” Đây là mục tiêu về giá trị đạo đức mà KSNB cần đạt tới trong
sự phát triển chung của toàn bộ nền kinh tế để có thể phát triển bền vững
Nhìn chung, các khái niệm về KSNB của các tác giả đều thống nhất nhau ở những các điểm chung là: nó là một quá trình; nó được thiết kế và vận hành bởi các nhà quản lý và các nhân viên; nó đảm bảo thực hiện các mục tiêu của tổ chức Các đơn vị càng lớn dần về quy mô của thì chức năng kiểm soát càng trở nên cấp thiết, nhà quản lý phải kiểm soát về nhiều phương diện thông qua việc ban hành chính sách, thủ tục trong đơn vị mình để có thể đạt được các mục tiêu của đơn vị
Hệ thống chính sách và thủ tục đó chính là HTKSNB của một đơn vị
Khái niệm về HTKSNB cũng được nhiều tác giả khác nhau đề cập trên nhiều góc độ, chẳng hạn:
Theo hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA), thì HTKSNB được
định nghĩa là “Hệ thống kế hoạch, tổ chức và tất cả các phương pháp phối hợp được thừa nhận dùng trong kinh doanh để bảo vệ tài sản của các tổ chức, kiểm tra
độ chính xác và tin cậy của thông tin kế toán, thúc đẩy hiệu quả hoạt động và khích
lệ, bám sát chủ trương quản lý đã đặt ra”
Theo Alvin A.rens và cộng sự (2000, trang 196): “Để đạt được mục tiêu cần phải xây dựng một HTKSNB, theo đó hệ thống bao gồm các chính sách, thủ tục đặc thù được thiết kế để cung cấp cho các nhà quản lý sự đảm bảo hợp lý để thực hiện các mục tiêu đã định Mục tiêu đó bao gồm: đảm bảo độ tin cậy của thông tin; bảo
vệ tài sản và sổ sách; đẩy mạnh tính hiệu quả trong hoạt động; tăng cường sự gắn
bó với các chính sách và thủ tục đã đề ra”
Liên đoàn Kế toán quốc tế (IFAC), đã đưa ra định nghĩa: “HTKSNB là một hệ thống chính sách, thủ tục được thiết lập nhằm đạt được bốn mục tiêu: bảo vệ tài sản của đơn vị; bảo đảm độ tin cậy của các thông tin; bảo đảm việc thực hiện các chế
độ pháp lý; bảo đảm hiệu quả hoạt động”
Trang 20Định nghĩa này đã nêu đầy đủ các khía cạnh của HTKSNB và nhấn mạnh đến các mục tiêu đảm bảo hiệu quả hoạt động trên cơ sở tuân thủ pháp luật, đảm bảo độ tin cậy của thông tin và độ an toàn của tài sản Định nghĩa này cũng phù hợp với quan điểm về HTKSNB theo nghiên cứu của Alvin A.rens và phù hợp với bản chất
nghĩa của từ hệ thống theo đại từ Tiếng Việt: “là một thể thống nhất, bao gồm những tư tưởng, nguyên tắc, quy tắc liên kết với nhau một cách chặt chẽ”
Tác giả Ngô Trí Tuệ và các cộng sự (2004, trang 15) đã nêu các quan điểm
khác nhau về HTKSNB và đưa ra khái niệm chung là: “HTKSNB là hệ thống các chính sách và các thủ tục được thiết lập nhằm đạt được bốn mục tiêu cơ bản: bảo
vệ tài sản của đơn vị; đảm bảo độ tin cậy của các thông tin; đảm bảo việc thực hiện các chế độ pháp lý và đảm bảo hiệu quả hoạt động”
Sự ra đời của tổ chức COSO xuất phát từ các sự cố về kinh tế và chính trị ở Hoa Kỳ (Watergate, 1973), với mục tiêu tăng cường kiểm soát, chống gian lận khi lập và trình bày Báo cáo tài chính Ủy ban COSO được thành lập vào năm 1985, sau
5 năm làm việc, đến năm 1992 Ủy ban ban hành báo cáo COSO đầu tiên Đây là tài liệu đầu tiên trên thế giới đưa ra định nghĩa và các nhân tố tạo thành kiểm soát nội
bộ một cách đầy đủ và có hệ thống Đặc điểm nổi bật của báo cáo này là cung cấp một tầm nhìn rộng và mang tính quản trị, trong đó kiểm soát nội bộ không chỉ còn
là một vấn đề liên quan đến báo cáo tài chính mà được mở rộng ra cho cả các phương diện hoạt động và tuân thủ Báo cáo này đã thiết lập khuôn mẫu chung giúp đơn vị đạt được mục tiêu quan trọng nhất là nâng cao tính hữu hiệu và hiệu quả của hoạt động Hệ thống KSNB bao gồm 5 bộ phận có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, đó là: Môi trường kiểm soát; Đánh giá rủi ro; Hoạt động kiểm soát; Thông tin và truyền thông và Giám sát
Do môi trường hoạt động trong những năm đầu thế kỷ 21 đã có nhiều thay đổi, ngày càng trở nên phức tạp cùng với sự phát triển công nghệ quy mô toàn cầu, gian lận ngày càng tăng cao, đặc biệt là sự tham gia ngày càng nhiều của các bên có liên quan Do vậy, Báo cáo COSO 1992 đã không còn phù hợp Năm 2013, COSO đã cập nhật báo cáo giúp tổ chức thiết kế và phát triển hệ thống KSNB Khuôn mẫu báo cáo COSO 2013 không thay thế những khái niệm cốt lõi đã được trình bày trong báo cáo 1992 mà chỉ cập nhật, bổ sung các đặc điểm mới cho phù hợp với sự thay đổi trong môi trường kinh doanh
Trang 21Báo cáo COSO 2013 gồm ba phần: Phần một trình bày tổng quan về KSNB ở mức độ tóm tắt dành cho ban giám đốc, giám đốc điều hành và các nhà quản lý; Phần thứ hai là khuôn mẫu KSNB, mô tả các thành phần của KSNB bao gồm các nguyên tắc và các thuộc tính, hướng dẫn các cấp quản lý thiết kế, triển khai, thực hiện đánh giá hệ thống KSNB; Phần thứ ba là công cụ đánh giá hệ thống KSNB, đưa ra các hướng dẫn gợi ý thiết thực cho việc đánh giá hệ thống KSNB
Báo cáo COSO 2013 đã hệ thống hoá thành các nguyên tắc (17 nguyên tắc) hỗ trợ cho năm thành phần của KSNB Ngoài ra, báo cáo COSO cũng đã mở rộng mục tiêu báo cáo là trình bày không chỉ cho người bên trong, mà còn cho người bên ngoài cũng như mở rộng mục tiêu phi tài chính Phát triển theo hướng quốc gia: nhiều quốc gia trên thế giới có khuynh hướng xây dựng một khuôn khổ lý thuyết riêng về KSNB, điển hình là báo cáo COSO 1995 (Canada), báo cáo Turnbull 1999 (Anh)
1.1.2 Định nghĩa, ý nghĩa và mục tiêu KSNB
1.1.2.1 Định nghĩa về kiểm soát nội bộ
KSNB rất được chú trọng trong khu vực công, nó là đối tượng được kiểm toán viên Nhà nước quan tâm đặc biệt Một số quốc gia như Hoa Kỳ, Canada đã có những công bố chính thức về KSNB áp dụng cho các cơ quan hành chính sự nghiệp Trong chuẩn mực về kiểm toán của Tổng kế toán nhà nước Hoa Kỳ (GAO) năm
1999 có đề cập đến vấn đề KSNB đặc thù trong tổ chức hành chính sự nghiệp có năm yếu tố bao gồm: các quy định về môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, các hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát
Năm 1953, tại Havana, Cuba, Tổ chức quốc tế các cơ quan kiểm toán tối cao (INTOSAI - International Organization of Superme Audit Institutions) được thành lập Năm 1992, bản hướng dẫn về chuẩn mực KSNB của INTOSAI đã hình thành tài liệu đề cập đến việc nâng cấp các chuẩn mực KSNB, hỗ trợ cho việc thực hiện
và đánh giá KSNB Năm 2001, bản hướng dẫn về chuẩn mực KSNB của INTOSAI
1992 đã cập nhật thêm về các chuẩn mực KSNB cho phù hợp với tất cả các đối tượng, phù hợp với xu thế phát triển gần đây trong KSNB và được công bố năm
2004 (INTOSAI 2004) Điều cần lưu ý trong tài liệu này là đã tích hợp các lý luận chung về KSNB của báo cáo COSO 1992 Năm 2013, INTOSAI tiếp tục được cập nhật và được công bố vào năm 2014 (INTOSAI 2013)
Trang 22Đại hội các cơ quan kiểm toán tối cao quốc tế lần thứ 22 tổ chức tại các Vương quốc Ả rập, đóng góp của INTOSAI 2016 về tăng cường phòng chống tham nhũng cho chương trình nghị sự phát triển sau năm 2015
* Theo INTOSAI năm 1992
Định nghĩa: Căn cứ theo chuẩn mực 9100 & 9140 của INTOSAI (1992) đã
đưa ra định nghĩa KSNB như sau: “KSNB là cơ cấu của một tổ chức, bao gồm nhận thức, phương pháp, quy trình và các biện pháp của người lãnh đạo nhằm đảm bảo
sự hợp lý để đạt được các mục tiêu của tổ chức”
Mục tiêu:
- Thúc đẩy hoạt động hữu hiệu, hiệu quả và có kỷ cương cũng như chất lượng
của sản phẩm, dịch vụ phù hợp với nhiệm vụ của tổ chức
- Bảo vệ các nguồn lực không bị thất thoát, lạm dụng, lãng phí, tham ô, vi phạm pháp luật
- Khuyến khích tuân thủ pháp luật, quy định của Nhà nước, của nội bộ đơn vị
- Xây dựng và duy trì các dữ liệu tài chính và hoạt động, lập báo cáo chính xác, kịp thời
* Theo INTOSAI năm 2004
Định nghĩa: Theo INTOSAI (2004): “KSNB là một quá trình xử lý toàn bộ
được thực hiện bởi nhà quản lý và các cá nhân trong đơn vị, quá trình này được thiết lập để phát hiện các rủi ro và cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt được các mục tiêu, nhiệm vụ chung của tổ chức” So với định nghĩa của báo cáo COSO
và hướng dẫn năm 1992, khía cạnh giá trị đạo đức trong hoạt động được thêm vào Mục tiêu của KSNB được nhấn mạnh thêm, đó chính là tầm quan trọng của hành vi đạo đức cũng như ngăn chặn và phát hiện sự gian trá, tham nhũng trong khu vực công Do ở khu vực hành chính công hầu hết các tổ chức, đơn vị đều hoạt động bằng ngân sách Nhà nước Do đó, để đảm bảo ngân sách, tài sản Nhà nước được sử dụng đúng mục đích, tránh thất thoát, lãng phí cần thiết phải có một hệ thống quản
lý, kiểm soát chặt chẽ
Mục tiêu: Ở khu vực công, mục tiêu của một đơn vị/tổ chức thường liên quan
đến các dịch vụ công cộng và lợi ích cộng đồng Bao gồm các mục tiêu:
- Thực hiện các hoạt động một cách có kỷ cương; có đạo đức; có tính kinh tế; hiệu quả và thích hợp
Trang 23- Thực hiện đúng trách nhiệm, cung cấp và báo cáo các thông tin tài chính và phi tài chính phù hợp, kịp thời cho các đối tượng bên trong và bên ngoài đơn vị
- Tuân thủ theo luật pháp hiện hành và các nguyên tắc, quy định
- Bảo vệ các nguồn lực, chống thất thoát, sử dụng sai mục đích và tổn thất Mục tiêu của tài liệu này là thiết lập và duy trì KSNB hữu hiệu trong khu vực công Vì vậy, các nhà lãnh đạo của Chính phủ rất quan tâm đến tài liệu này và xem tài liệu này là một nền tảng để thực hiện và giám sát KSNB trong tổ chức
* Theo INTOSAI năm 2013
Trên cơ sở nội dung của INTOSAI (2004), INTOSAI (2013) đã cập nhật và bổ sung một số nội dung phù hợp với yêu cầu thực tế và tình hình phát triển của xã hội hiện nay
a Các vấn đề không thay đổi trong INTOSAI (2013)
- Vai trò quan trọng của sự xét đoán trong thiết kế, thực hiện, tiến hành KSNB
và trong việc đánh giá tính hiệu quả của nó
b Các vấn đề được INTOSAI (2013) bổ sung
- Các nguyên tắc: Nguyên tắc phân công, phân nhiệm; nguyên tắc bất kiêm nhiệm; nguyên tắc ủy quyền và phê chuẩn; KSNB theo quy định của khuôn mẫu (interated framework), nguyên tắc kết nối
- Hướng dẫn cụ thể KSNB trong môi trường tin học
Trang 24+ An ninh điện tử;
+ Bảo vệ vật chất
- Mục tiêu báo cáo có thay đổi theo hướng dẫn về quản trị rủi ro, KSNB và biện pháp để giảm thiểu gian lận Từ đó, giúp cải thiện hiệu quả hoạt động cũng như tăng cường sự giám sát của tổ chức
- Biện pháp xử lý của kiểm toán viên đối với rủi ro đã đánh giá (VSA 330)
* Một số nội dung cơ bản của INTOSAI 2016
Theo hướng dẫn của INTOSAI 2016, định nghĩa Kiểm soát nội bộ như sau:
“Kiểm soát nội bộ là một quá trình phân tích năng động liên tục thích ứng với những thay đổi mà tổ chức đang đối mặt Ban quản lý và nhân viên các cấp phải tham gia vào quá trình này để giải quyết các rủi ro và đảm bảo hợp lý cho việc đạt được sứ mệnh của tổ chức và các mục tiêu chung.”
INTOSAI GOV 9100 định nghĩa: “KSNB là một quá trình xử lý toàn bộ được thực hiện bởi nhà quản lý và các cá nhân trong tổ chức, quá trình này được thiết kế
để phát hiện các rủi ro và cung cấp một sự đảm bảo hợp lý để đạt được nhiệm vụ của tổ chức”
Kiểm soát nội bộ là một quá trình không phải là một sự kiện hay tình huống,
mà là một loạt những hành động xảy ra trong suốt hoạt động của một thực thể trên
cơ sở liên tục Nó được thực hiện bởi các quy trình quản lý nhân sự cơ bản như: Lập
kế hoạch, thực hiện và giám sát Bất kỳ tổ chức nào cũng chủ yếu quan tâm đến việc hoàn thành nhiệm vụ của mình Các thực thể tồn tại cho một mục đích khu vực công nói chung liên quan đến việc cung cấp một dịch vụ và một kết quả có lợi ích công cộng
Để giải quyết các rủi ro; Bất kể nhiệm vụ có thể là gì, thành quả của nó sẽ đối mặt với tất cả các loại rủi ro Nhiệm vụ quản lý là xác định và đáp ứng những rủi ro này để tối đa hóa khả năng đạt được sứ mệnh của tổ chức Kiểm soát nội bộ có thể giúp giải quyết những rủi ro này, tuy nhiên nó chỉ có thể đảm bảo hợp lý về thành tích của sứ mệnh và mục tiêu chung
Cung cấp sự đảm bảo hợp lý: Dù được thiết kế và vận hành tốt như thế nào, kiểm soát nội bộ không thể đảm bảo sự quản lý tuyệt đối về việc đạt được các mục tiêu chung Thay vào đó, các hướng dẫn thừa nhận rằng chỉ có thể đạt được mức độ đảm bảo “đáng tin cậy” Sự đảm bảo hợp lý tương ứng với mức độ tự tin thỏa đáng
Trang 25theo các cân nhắc về chi phí, lợi ích và rủi ro Sự đảm bảo hợp lý phản ánh quan niệm rằng sự không chắc chắn và rủi ro liên quan đến tương lai, mà không ai có thể tiên đoán một cách chắc chắn Sự đảm bảo hợp lý nhận ra rằng chi phí kiểm soát nội
bộ không được vượt quá lợi ích thu được Các quyết định về phản hồi rủi ro và kiểm soát cơ sở phải xem xét các chi phí và lợi ích tương đối
Mục tiêu chung: Thực hiện các hoạt động có trật tự, đạo đức, kinh tế và hiệu quả: Hoạt động của đơn vị phải có sự trật tự, có đạo đức, tiết kiệm, hiệu quả.Trật tự
có nghĩa là một cách có tổ chức, có phương pháp Đạo đức liên quan đến các nguyên tắc luân lý, tầm quan trọng của hành vi đạo đức, phòng ngừa và phát hiện gian lận, tham nhũng trong khu vực công Kỳ vọng là công chức phải phục vụ lợi ích công cộng bằng sự công bằng và quản lý tài nguyên công đúng Công dân nên được đối xử công bằng trên cơ sở tính hợp pháp và công lý Do đó đạo đức công chúng là điều kiện tiên quyết và củng cố niềm tin của công chúng và là một yếu tố chính trong quản trị tốt Kinh tế có nghĩa là không lãng phí hoặc lãng phí Nó có nghĩa là nhận đúng nguồn lực, chất lượng đúng, được giao đúng thời hạn và địa điểm với chi phí thấp nhất Hiệu quả đề cập đến mối quan hệ giữa các nguồn lực được sử dụng và kết quả đầu ra được sản xuất để đạt được các mục tiêu
Hoàn thành các nghĩa vụ về trách nhiệm: Trách nhiệm giải trình là quá trình
mà các tổ chức dịch vụ công và cá nhân trong họ chịu trách nhiệm về các quyết định và hành động của mình, bao gồm cả việc quản lý quỹ công cộng, sự công bằng
và tất cả các khía cạnh của hoạt động Điều này sẽ được thực hiện thông qua việc phát triển, duy trì và cung cấp thông tin tài chính và phi tài chính có liên quan đáng tin cậy và có liên quan thông qua các báo cáo kịp thời cho các bên liên quan cũng như bên ngoài
Tuân thủ luật pháp và các quy định: Các tổ chức phải tuân theo nhiều luật và quy định Trong các luật và quy định của tổ chức công quy định việc thu và chi tiền công và cách thức hoạt động Ví dụ như Luật ngân sách, các điều ước quốc tế, luật
về quản lý hợp lý, tiêu chuẩn kế toán, bảo vệ môi trường và luật đan quyền các quy định về thuế thu nhập và chống gian lận và tham nhũng Bảo vệ tài nguyên chống mất mát, sử dụng sai và thiệt hại do lãng phí, lạm dụng, quản lý kém, sai sót, gian lận và bất thường
Trang 26* So sánh sự giống nhau và khác nhau giữa INTOSAI 1992, INTOSAI
2004, INTOSAI 2013, INTOSAI 2016
Giống nhau: INTOSAI 1992, INTOSAI 2004, INTOSAI 2013, INTOSAI
2016 có những điểm chung như sau: Đều xác định kiểm soát nội bộ là một quá trình không thể thiếu của tổ chức nhằm đạt được mục tiêu về: Tính hữu hiệu, hiệu quả của các hoạt động trong đơn vị; Tôn trọng pháp luật và các quy định có liên quan; Thiết lập và báo cáo thông tin quản lý và thông tin tài chính đáng tin cậy, đảm bảo tính kịp thời; Bảo vệ nguồn lực không thất thoát và sử dụng sai mục đích Hệ thống kiểm soát nội bộ gồm 5 bộ phận cấu thành:
- Môi trường kiểm soát;
- Đánh giá rủi ro;
- Hoạt động kiểm soát;
- Thông tin truyền thông;
- Giám sát
Khác nhau: Đối với mục tiêu hoạt động: INTOSAI 2004 đã thêm vào yếu tố
đạo đức khi thực hiện các hoạt động của đơn vị so với INTOSAI 1992 Đối với mục tiêu báo cáo: INTOSAI 2004 nhấn mạnh tầm quan trọng của việc báo cáo các thông tin phi tài chính so với INTOSAI 1992 INTOSAI 2013 tương tự như hướng dẫn của INTOSAI 2004 Tuy nhiên về mục tiêu của báo cáo thay đổi theo hướng dẫn về quản trị rủi ro, các nguyên tắc cơ bản kiểm toán đã được phê duyệt
INTOSAI 2016 theo dự án sửa đổi, các khuôn khổ mới được cấu tạo thành 3 phần: Nguyên tắc INTOSAI (INTOSAI-P); Tiêu chuẩn Quốc tế của các tổ chức Kiểm toán tối cao (ISSAIs); và Hướng dẫn INTOSAI (GUID)
INTOSAI 2016, tiêu chuẩn mới đây là nội dung chính của một dự án hoàn thiện khuôn khổ ISSAI “nhằm cải thiện độ tin cậy của những tuyên bố chuyên nghiệp của INTOSAI, hỗ trợ trong việc đưa ra một khuôn khổ thẩm quyền và nâng cao chất lượng đối với kiểm toán khu vực công”
1.1.2.2 Ý nghĩa KSNB trong một tổ chức hành chính công
KSNB giúp nhà quản lý đánh giá toàn diện về vấn đề kiểm soát trong tổ chức theo hướng đánh giá rủi ro, xác định mục tiêu và thiết lập các hoạt động kiểm soát Bên cạnh đó, tạo lập môi trường kiểm soát tốt cùng với một hệ thống thông tin hữu
Trang 27hiệu Vì vậy, về khái niệm cũng như các chuẩn mực KSNB cần sớm đưa vào
chương trình đào tạo đối với các nhà quản lý ở các đơn vị khu vực công
Theo hướng dẫn về KSNB của Tổ chức quốc tế các cơ quan kiểm toán tối cao (INTOSAI 2013) đối với một tổ chức hành chính công thì sẽ thấy rất rõ tầm quan trọng của tổ chức KSNB trong việc:
Tạo lập một hệ thống thông tin và truyền đạt thông tin hữu hiệu trong toàn tổ chức, phục vụ cho việc thực hiện tất cả các mục tiêu KSNB Tạo lập một cơ cấu kỷ cương trong toàn bộ chu trình hoạt động của đơn vị Giúp nhận biết, phân tích và lựa chọn các phương pháp tối ưu, hạn chế các sự kiện bất lợi trong việc thực hiện mục tiêu
Kiểm tra, đánh giá thường xuyên cũng như định kỳ giữa các bộ phận với nhau hoặc giữa cấp trên với cấp dưới giúp phát hiện, ngăn chặn kịp thời những sai sót hoặc cố tình gây ra, và cũng giúp đánh giá và hoàn thiện hơn những bất cập cần bổ sung của hệ thống KSNB
Đối với Việt Nam chúng ta hiện nay, khái niệm KSNB còn rất mới lạ trong khu vực công Các nhà quản lý thường dựa vào các quy định của pháp luật, kinh nghiệm về quản lý của cá nhân để đánh giá hơn là một cái nhìn tổng quát và có hệ thống về công tác kiểm soát Bên cạnh đó, kỹ năng phân tích từ mục tiêu, rủi ro đến các hoạt động kiểm soát không tốt sẽ đi đến tổn hao nguồn lực vào những thủ tục kiểm soát không cần thiết nhưng lại bỏ đi những rủi ro quan trọng như rủi ro tài sản
bị lãng phí hay thất thoát
1.1.2.3 Các mục tiêu của kiểm soát nội bộ
- Về tính tuân thủ: Kiểm soát nội bộ phải bảo đảm hợp lý việc chấp hành luật pháp cũng như các quy định Vấn đề này xuất phát từ trách nhiệm của nhà quản lý đối với những hành vi không tuân thủ trong đơn vị Mặt khác, KSNB còn phải hướng mọi thành viên trong đơn vị tuân thủ các chính sách, quy định nội bộ của đơn vị để từ đó bảo đảm đạt được những mục tiêu của đơn vị đề ra
- Về báo cáo tài chính: Kiểm soát nội bộ phải đảm bảo đáng tin cậy, trung thực vì nhà quản lý phải có trách nhiệm lập báo cáo tài chính phù hợp với chuẩn mực quy định
- Về mục tiêu hữu hiệu và hiệu quả của các hoạt động: Kiểm soát nội bộ giúp đơn vị sử dụng hiệu quả các nguồn lực, bảo mật và bảo vệ thông tin, mở rộng thị
Trang 28phần, nâng cao uy tín, thực hiện tốt các chiến lược kinh doanh của đơn vị
1.1.3 Các bộ phận cấu thành kiểm soát nội bộ trong khu vực công
Mục tiêu của tài liệu INTOSAI GOV 9100 nhằm thiết lập và duy trì KSNB hữu hiệu trong khu vực công Vì vậy, các nhà lãnh đạo các tổ chức của Nhà nước xem tài liệu này là một nền tảng để thực hiện và giám sát KSNB trong tổ chức
INTOSAI GOV 9100 định nghĩa: “KSNB là một quá trình xử lý toàn bộ được thực hiện bởi nhà quản lý và các cá nhân trong tổ chức, quá trình này được thiết kế
để phát hiện các rủi ro và cung cấp một sự đảm bảo hợp lý để đạt được nhiệm vụ của tổ chức.”
Sau đây là những mục tiêu cần đạt được: Thực hiện các hoạt động một cách có
kỷ cương, có đạo đức, có tính kinh tế và hiệu quả; Thực hiện đúng trách nhiệm; Tuân thủ theo luật pháp và quy định hiện hành; Bảo vệ các nguồn lực chống thất thoát, sử dụng sai mục đích và tổn thất”
So với định nghĩa của báo cáo COSO, khía cạnh giá trị đạo đức trong hoạt động được thêm vào và nhấn mạnh Bởi vì kỳ vọng rằng, công chức phải phục vụ lợi ích công với sự công bằng và quản lý nguồn lực công một cách đúng đắn Công dân phải nhận được sự đối đãi vô tư trên cơ sở pháp luật và công lý Các yếu tố cụ thể của hệ thống KSNB: Môi trường kiểm soát; đánh giá rủi ro; hoạt động kiểm soát; thông tin và truyền thông; giám sát
Nội dung cơ bản về kiểm soát nội bộ trong khu vực công, theo INTOSAI năm
2013 thì có hai nhóm chuẩn mực về KSNB đó là: Chuẩn mực chung và chuẩn mực
Theo đặc điểm tình hình quản lý thuế tại Cục Thuế tỉnh Đồng Nai tác giả áp dụng INTOSAI 2013 đối với một hệ thống KSNB cần đáp ứng các yếu tố đó là:
1.1.3.1 Môi trường kiểm soát
Môi trường kiểm soát là nền tảng cho tất cả các yếu tố khác trong KSNB, tạo lập một nề nếp kỷ cương, đạo đức và cơ cấu tổ chức cũng như hình thành nên một
Trang 29sắc thái chung cho tổ chức, ảnh hưởng đến ý thức kiểm soát của các nhân viên Trong một môi trường kiểm soát, có năm nhân tố dưới đây:
* Triết lý quản lý và phong cách lãnh đạo:
Triết lý quản lý và phong cách lãnh đạo được thể hiện qua cá tính, tư cách và thái độ khi điều hành công việc của người lãnh đạo Nhận thức về KSNB của các thành viên trong tổ chức tùy thuộc rất nhiều vào sự quan tâm nhà lãnh đạo để xây dựng hệ thống KSNB tốt Ngược lại, nếu các thành viên trong tổ chức nhận thức rằng KSNB không quan trọng thì cũng có nghĩa là lãnh đạo chưa quan tâm đúng mức đến KSNB Điều này cho thấy KSNB chỉ là hình thức chứ không có ý nghĩa thực sự, dẫn đến nhiệm vụ và mục tiêu của đơn vị không còn đạt kết quả như mong đợi
* Cơ cấu tổ chức:
Cơ cấu tổ chức bao gồm: Hệ thống báo cáo phù hợp với tổ chức, thiết lập quy trình báo cáo kịp thời và kết quả thực hiện để đạt mục tiêu đề ra; Sự phân chia quyền và trách nhiệm báo cáo Mỗi cấp quản lý ý thức được quyền hạn của mình tới đâu, ở mức độ nào Trong cơ cấu của một tổ chức cũng bao gồm bộ phận kiểm toán nội bộ, được tổ chức độc lập đối với các đối tượng kiểm toán và báo cáo trực tiếp đến lãnh đạo cao nhất trong cơ quan
* Chính sách nhân sự:
Chính sách nhân sự thể hiện về sự tuyển dụng, đánh giá, bổ nhiệm, khen thưởng hay kỷ luật,…Mỗi một cá nhân trong một tổ chức đều có vai trò quan trọng trong KSNB Do đó, việc thực hiện về chính sách nhân sự là một phần quan trọng trong môi trường kiểm soát Theo đó, khi ra quyết định tuyển dụng đòi hỏi phải đảm bảo về tư cách đạo đức, kinh nghiệm để thực hiện công việc được giao Như vậy, nhà lãnh đạo cần thực hiện chính sách khen thưởng kịp thời hay kỷ luật nghiêm minh để việc KSNB mang lại hiệu quả tốt
* Sự liêm chính và giá trị đạo đức cá nhân, chuyên môn của nhà lãnh đạo
và của đội ngũ nhân viên:
Cung cách điều hành và thái độ của người quản lý sẽ quyết định toàn bộ tổ chức trong việc thiết lập các chính sách về tài chính và kế toán đối với một đơn vị Đồng thời, phải cho nhân viên thấy được tinh thần này trong sứ mệnh, trong tiêu chuẩn đạo đức của tổ chức thông qua hình thức bằng các văn bản chính thức
Trang 30Sự liêm chính, tôn trọng giá trị đạo đức của nhà lãnh đạo và của đội ngũ nhân viên trong công việc được thể hiện qua thái độ cư xử chuẩn mực của họ Việc chấp hành các điều lệ, quy định và đạo đức về cách ứng xử của họ thể hiện qua tinh thần đạo đức trong công việc
* Năng lực nhân viên:
Năng lực nhân viên thể hiện ở trình độ hiểu biết, kỹ năng làm việc để đảm bảo cho công việc được thực hiện trôi chảy, có kỷ cương, trung thực, tiết kiệm và hữu hiệu, thể hiện sự am hiểu đúng đắn về trách nhiệm của mình trong việc xây dựng hệ thống KSNB Đào tạo là để nâng cao trình độ cho các nhân viên trong tổ chức, đó là hướng dẫn về mục tiêu KSNB và là phương pháp giải quyết những tình huống khó
xử trong công việc Lãnh đạo và nhân viên cần có những kỹ năng cần thiết để đánh giá, phân tích những rủi ro nảy sinh trong thực hiện công việc Đồng thời, mỗi cá nhân trong tổ chức đều giữ một vai trò trong hệ thống KSNB, vì đó là trách nhiệm của họ và họ phải luôn duy trì trình độ để đảm bảo việc xây dựng thực hiện, duy trì của KSNB
1.1.3.2 Đánh giá rủi ro
Đánh giá rủi ro là quá trình nhận dạng, phân tích rủi ro cho phù hợp để đạt được mục tiêu của tổ chức và xác định biện pháp xử lý thích hợp KSNB nhằm mục đích thực hiện mục tiêu của tổ chức cho nên việc đánh giá rủi ro là rất quan trọng vì
nó ghi nhận các sự kiện quan trọng ảnh hưởng đến mục tiêu, nhiệm vụ của tổ chức Việc phân tích đánh giá rủi ro nhằm hạn chế những rủi ro chủ yếu vì thế việc nhận dạng rủi ro chủ yếu hết sức quan trọng, vì nó không chỉ làm ảnh hưởng của rủi ro
mà còn ảnh hưởng đến sự phân chia trách nhiệm và nguồn lực đối phó rủi ro
* Nhận dạng rủi ro:
Nhận dạng rủi ro bao gồm rủi ro từ bên ngoài và bên trong, rủi ro ở cấp toàn đơn vị và từng hoạt động, rủi ro được xem xét liên tục trong suốt quá trình hoạt động của tổ chức Liên quan đến khu vực công, các cơ quan nhà nước cần phải quản trị rủi ro làm ảnh hưởng đến các mục tiêu được giao, bao gồm cả các chỉ tiêu được giao trong bất kỳ kế hoạch nào của một tổ chức
* Việc đánh giá rủi ro:
Để kiểm soát được rủi ro, vấn đề quan trọng không chỉ là nhận ra các rủi ro tồn tại, mà còn là đánh giá tầm quan trọng, tác hại mà rủi ro gây ra và khả năng xảy
Trang 31ra rủi ro Có nhiều phương pháp đánh giá rủi ro tùy theo mỗi loại rủi ro, tuy nhiên phải đánh giá rủi ro một cách có hệ thống Chẳng hạn như phải xây dựng các tiêu chí đánh giá rủi ro, sau đó sắp xếp thứ tự các rủi ro, dựa vào đó nhà lãnh đạo sẽ phân bổ nguồn lực đối phó rủi ro
* Phát triển các biện pháp đối phó:
Để phát triển các biện pháp đối phó với rủi ro thì cần có bốn biện pháp đối phó
đó là: Phân tán rủi ro, chấp nhận rủi ro, tránh né rủi ro và xử lý hạn chế rủi ro Đối với một tổ chức, việc duy trì KSNB nhằm xử lý hạn chế phần lớn các rủi
ro có thể xảy ra Các biện pháp xử lý hạn chế rủi ro ở mức độ hợp lý bởi vì cần xem xét trên mối liên hệ giữa chi phí và lợi ích nhưng nếu như chúng ta nhận dạng được cũng như đánh giá được rủi ro thì chắc chắn rằng chúng ta sẽ có sự chuẩn bị tốt hơn Một khi môi trường thay đổi chẳng hạn như thay đổi về các điều kiện về kinh tế, thay đổi về chế độ chính sách của nhà nước,… Sẽ làm rủi ro cũng thay đổi theo thì việc đánh giá rủi ro cũng được xem xét lại thường xuyên và phải điều chỉnh theo từng thời kỳ cho phù hợp
1.1.3.3 Hoạt động kiểm soát
Hoạt động kiểm soát là những chính sách, những thủ tục nhằm hạn chế rủi ro
và đảm bảo đạt được mục tiêu, nhiệm vụ của đơn vị Để đạt được hiệu quả cao đòi hỏi hoạt động kiểm soát phải phù hợp, dễ hiểu, nhất quán giữa các thời kỳ, có hiệu quả, đáng tin cậy và có liên hệ trực tiếp đến mục tiêu kiểm soát
Trong một tổ chức, hoạt động kiểm soát có ở từng bộ phận, từng khâu và ở các mức độ và các chức năng Hoạt động kiểm soát bao gồm: Hoạt động kiểm soát phòng ngừa và phát hiện rủi ro Việc cân bằng giữa thủ tục kiểm soát phát hiện và phòng ngừa thường là sự phối hợp các hoạt động kiểm soát để hạn chế, bổ sung lẫn
nhau giữa các thủ tục kiểm soát Hoạt động kiểm soát được thể hiện như sau:
* Về thủ tục phân quyền và xét duyệt:
Khi thực hiện các nghiệp vụ chỉ được thực hiện từ người được ủy quyền theo trách nhiệm và phạm vi của họ Việc ủy quyền là cách thường gặp để đảm bảo là chỉ có những nghiệp vụ là có thực mới được phê duyệt đúng như mong muốn của người lãnh đạo Tuân thủ chi tiết các quy định của sự ủy quyền nói trên, nhân viên thực hiện theo đúng hướng dẫn và trong giới hạn được quy định của nhà lãnh đạo và
Trang 32luật pháp Các thủ tục ủy quyền phải được công bố rõ ràng, tài liệu hóa và phải được thể hiện bằng những điều kiện cụ thể
* Về phân chia trách nhiệm:
Trách nhiệm phải được giao cho từng cá nhân một cách có hệ thống để đảm bảo việc kiểm tra mang lại hiệu quả Để giảm thiểu rủi ro về sai sót, cố ý làm sai và rủi ro không ngăn ngừa được thì một công việc từ lúc bắt đầu cho đến khi kết thúc không được giao cho một bộ phận hay một cá nhân nào
Có 05 trách nhiệm chủ yếu đó là: Ủy quyền, phê chuẩn, ghi chép, xử lý và đánh giá các nghiệp vụ nhưng cần lưu ý sự thông đồng làm phá hủy hoặc làm giảm
sự hữu hiệu của KSNB
Với một tổ chức có quy mô nhỏ, trong một số trường hợp có quá ít nhân viên
để thực hiện việc phân chia, phân nhiệm thì lúc này, người lãnh đạo phải nhận biết được rủi ro và bù đắp bằng những biện pháp kiểm soát khác chẳng hạn như luân phiên, luân chuyển nhân viên Việc làm này đảm bảo rằng trong một thời gian dài một người không xử lý mọi mặt nghiệp vụ Hay như, yêu cầu, khuyến khích nhân viên thực hiện nghỉ theo chế độ quy định hàng năm cũng có nghĩa là giúp giảm rủi
ro bằng cách tạm thời đem lại sự luân chuyển nhân viên
* Kiểm soát việc tiếp cận tài sản và sổ sách:
Việc tiếp cận tài sản và sổ sách của tổ chức phải được giới hạn cho những cá nhân mà họ được người lãnh đạo giao trách nhiệm bảo quản hoặc sử dụng tài sản Trách nhiệm này được thể hiện qua chứng từ, hàng tồn kho, ghi chép sổ sách Hạn chế việc tiếp cận tài sản làm giảm rủi ro làm thất thoát tài sản hoặc lạm dụng tài sản của Nhà nước Việc giới hạn tùy thuộc vào rủi ro thất thoát tài sản và phải được xem xét nghiêm túc
* Kiểm tra, đối chiếu:
Chứng từ, sổ sách phải được đối chiếu thường xuyên và định kỳ theo quy định của đơn vị Các nghiệp vụ, sự kiện phải được kiểm tra trước, trong và sau khi xử lý
* Giám sát nhân viên:
Đối với nhân viên, khi giao việc phải thông báo rõ ràng về nghĩa vụ, trách nhiệm và sự chịu trách nhiệm giao cho mỗi nhân viên Đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ của nhân viên phải đảm bảo nguyên tắc là có cách hệ thống công việc trong phạm vi và thời gian cần thiết Khi giao việc cần dựa theo những tiêu chuẩn
Trang 33cần thiết để đảm bảo công việc được thực hiện theo đúng định hướng, đúng mục tiêu đã được xác định Nhân viên được hướng dẫn cần thiết để giảm thiểu sai sót đồng thời làm cho lãnh đạo trực tiếp hiểu được, đạt được kết quả như mong muốn
* Rà soát việc thực hiện, xử lý và điều hành các hoạt động:
Việc thực hiện, xử lý và điều hành các hoạt động được rà soát dựa trên nhiều chuẩn mực nguyên tắc cơ bản, đánh giá hiệu quả và tính thực thi Nếu thấy không phù hợp với mục tiêu của tổ chức hoặc các chuẩn mực đã quy định thì cần phải rà soát lại để điều chỉnh cho phù hợp quy trình thực hiện để đạt được mục tiêu Bên cạnh đó, đối với việc xử lý cũng như điều hành hoạt động cần được rà soát thường xuyên và định kỳ để đảm bảo tuân thủ nguyên tắc, chính sách, thủ tục và những quy định hiện hành khác của đơn vị
1.1.3.4 Thông tin và truyền thông
* Thông tin:
Một hệ thống thông tin phù hợp phải tạo ra được các báo cáo về hoạt động kế toán tài chính theo đúng chuẩn mực quy định Nó không những gồm các dữ liệu bên trong mà còn xem xét các thông tin bên ngoài cũng như những điều kiện và hoạt động cần thiết để phục vụ cho việc báo cáo và ra quyết định Khi được xác định là một thông tin thích hợp và đáng tin cậy tức là thông tin đó phải được phân loại đúng đắn các nghiệp vụ, sự kiện, ghi chép kịp thời, được chuyển tải thể hiện qua các biểu mẫu và lộ trình thông suốt bảo đảm cho nhân viên thực hiện chức năng trong KSNB
Vì vậy, hệ thống KSNB đòi hỏi tất cả các nghiệp vụ phát sinh phải thiết lập đầy đủ, đúng thủ tục các chứng từ Việc ra quyết định của người lãnh đạo thường bị ảnh hưởng do chất lượng của những thông tin như tính cập nhật kịp thời, tính chính xác, phù hợp và có thể sử dụng được
* Truyền thông:
Một hệ thống truyền thông tốt, có hiệu quả tức là việc cung cấp thông tin từ cấp trên xuống cấp dưới và ngược lại hoặc cùng cấp giữa các bộ phận được xuyên suốt trong toàn hệ thống của một tổ chức Khi nhận được công việc bằng tài liệu hóa từ nhà lãnh đạo về trách nhiệm của bản thân người nhân viên trong KSNB thì nhân viên phải hiểu được vai trò của bản thân đối với hệ thống KSNB cũng như đối
Trang 34với các nhân viên khác trong tổ chức Mặt khác, các truyền thông nhận được từ bên ngoài cũng rất cần trong KSNB của tổ chức
1.1.3.5 Giám sát
Để đánh giá chất lượng hoạt động của hệ thống KSNB qua thời gian thì cần phải giám sát hệ thống KSNB Qua đó, phát hiện và điều chỉnh kịp thời những sai sót của hệ thống KSNB để đạt được mục tiêu đã định Việc giám sát hệ thống KSNB được thực hiện thường xuyên, định kỳ hoặc kết hợp cả hai như sau:
* Giám sát thường xuyên:
Những hoạt động thông thường và lặp lại của tổ chức được thường xuyên giám sát trong KSNB Việc giám sát thường xuyên kể cả những hoạt động giám sát
và quản lý mang tính định kỳ ngay trong quá trình thực hiện công việc hàng ngày của các nhân viên Giám sát thường xuyên phải được thực hiện trên tất cả các yếu tố của KSNB và liên quan đến việc phát hiện và ngăn chặn kịp thời các sai sót, sai phạm xảy ra khi vận hành hệ thống KSNB
* Giám sát định kỳ:
Ngày nay, việc xây dựng một hệ thống KSNB phù hợp và hiệu quả là cần thiết
và thường chưa được chú trọng đúng mức trong các đơn vị trong khu vực tài chính công Trong quá trình hoạt động của mình, mặc dù các quy định, thủ tục quản lý và kiểm soát còn mang tính phân tán, chưa được tập trung, chưa phân loại và đánh giá
có hệ thống theo các chuẩn mực nên các đơn vị khi thực thi nhiệm vụ khá vất vả trong việc tuân theo các quy định của pháp luật, các chính sách, chế độ chi tiêu nội
bộ của đơn vị , để quản lý và kiểm soát quá trình sử dụng kinh phí, tài sản Mức độ rủi ro và hiệu quả của thủ tục giám sát thường xuyên tùy thuộc vào phạm vi và tầng suất giám sát định kỳ Giám sát định kỳ bao trùm toàn bộ việc đánh giá cũng như tính khả thi của hệ thống KSNB và dựa trên các phương pháp và thủ tục kiểm soát
để đảm bảo KSNB đạt kết quả như mong đợi Các nhà lãnh đạo thường xuyên phải nắm bắt được những sai sót của hệ thống KSNB Việc giám sát này bao gồm cả việc xem xét, đánh giá các rủi ro phát hiện qua kiểm toán cũng như các kiến nghị của kiểm toán viên để đảm bảo tính khả thi trong thực tế tại đơn vị mình Vì vậy, việc tổ chức và duy trì ổn định hệ thống KSNB hiệu lực, hiệu quả là trách nhiệm của nhà lãnh đạo nhằm phục vụ cho việc quản lý, và đây là nội dung cơ bản nhất mà người lãnh đạo phải có trách nhiệm tạo ra môi trường kiểm soát phù hợp ở đơn vị mình
Trang 351.2 Kiểm tra nội bộ trong ngành Thuế
1.2.1 Khái niệm kiểm tra nội bộ
Kiểm tra nội bộ ngành Thuế là hoạt động kiểm tra của cơ quan thuế các cấp đối với cơ quan, đơn vị, cá nhân thuộc quyền quản lý trong việc thực hiện chính
sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn được giao
Mục đích của kiểm tra nội bộ là cung cấp cho cơ quan thuế cấp trên những căn
cứ để xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan thuế cấp dưới và các đơn vị thuộc cơ quan thuế các cấp trong việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn
được giao
Kiểm tra nội bộ phải tuân theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định để đưa ra kết luận đúng, sai nhằm phát hiện, phòng ngừa, ngăn chặn, khắc phục và xử lý sai phạm, giúp cơ quan thuế các cấp thực hiện theo đúng quy định của pháp luật khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình
Kiểm tra nội bộ còn có nhiệm vụ phát hiện sơ hở, thiếu sót trong cơ chế quản
lý, chính sách, pháp luật để đưa ra kiến nghị bổ sung, sửa đổi nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân liên quan
1.2.2 Mục tiêu kiểm tra nội bộ
Thứ nhất, phòng ngừa các hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan thuế các cấp Để hoàn thành mục tiêu này, kiểm tra nội bộ phải tiến hành thường xuyên để có thể phát hiện kịp thời những sai phạm, những biểu hiện lệch lạc, những khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện nhiệm
vụ, công vụ của cơ quan thuế, công chức thuế để kịp thời chấn chỉnh, uốn nắn những sai phạm, những biểu hiện lệch lạc, để tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc
và xử lý nghiêm những hành vi vi phạm pháp luật nhằm đề cao tính răn đe hành vi sai phạm
Thứ hai, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan thuế các cấp Thực hiện mục tiêu này kiểm tra nội
bộ góp phần đảm bảo tính hiệu lực của pháp luật, nâng cao mức độ tuân thủ và thống nhất theo luật định trong quản lý, điều hành của cơ quan thuế các cấp Thông qua việc phát hiện và xử lý các sai phạm về quản lý, điều hành, sai phạm về chuyên môn nghiệp vụ, tham ô, lãng phí, kiểm tra nội bộ góp phần phòng ngừa các hành vi
vi phạm pháp luật trong tương lai
Trang 36Thứ ba, phát hiện những sơ hở, thiếu sót trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật về thuế, về quản lý điều hành của cơ quan thuế các cấp để đưa ra kiến nghị bổ sung, sửa đổi Thực hiện mục tiêu này, kiểm tra nội bộ có trách nhiệm xem xét việc áp dụng cơ chế, chính sách, pháp luật về thuế, về quản lý điều hành của cơ quan thuế trong thực tế có những ưu điểm, nhược điểm gì, chỉ ra những sơ hở, thiếu sót, bất hợp lý của cơ chế, chính sách đó, đưa ra những kiến nghị, giải pháp với cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền để sửa đổi, bổ sung, khắc phục thiếu sót, bất hợp lý đó nhằm hoàn thiện cơ chế chính sách thuế
Thứ tư, phát huy nhân tố tích cực, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân liên quan là một mục tiêu quan trọng của kiểm tra nội bộ Qua kiểm tra nội bộ, cán bộ kiểm tra có trách nhiệm chỉ ra những nhân tố mới, nhân tố tích cực, những việc làm hay để tổng kết, đúc kết thành bài học kinh nghiệm, sau đó nhân rộng ra toàn hệ thống Trên cơ sở những quy định của pháp luật và lấy đó làm căn cứ phân định đúng, sai, kiểm tra nội bộ có nghĩa vụ bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan đến quản lý thuế và chấp hành chính sách thuế
1.2.3 Vai trò kiểm tra nội bộ
Kiểm tra nội bộ của Cục Thuế có vai trò rất quan trọng, thể hiện qua một số mặt cơ bản sau:
Thứ nhất, kiểm tra nội bộ giúp Cục Thuế phát hiện được những sai phạm, yếu kém trong quản lý, điều hành thực hiện chức năng quản lý thu thuế của cơ quan thuế các cấp (Cơ quan Cục Thuế, Chi cục Thuế), xác định rõ nguyên nhân của các hiện tượng đó, đưa ra những đánh giá và kiến nghị với Cục Thuế biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn, khắc phục, xử lý sai phạm
Thứ hai, kiểm tra nội bộ giúp Cục Thuế phát hiện những sơ hở, thiếu sót, bất cập trong quản lý, những nội dung trong chế độ, chính sách, pháp luật chưa phù hợp với thực tế, từ đó có những kiến nghị, đề xuất giúp cho công tác quản lý, điều hành của Cục Thuế và hệ thống cơ chế, chính sách, pháp luật về quản lý thuế ngày càng hoàn thiện
Thứ ba, kiểm tra nội bộ còn giúp cơ quan thuế các cấp hoạt động có hiệu quả hơn thông qua việc xem xét, đối chiếu thực tế thực hiện quản lý thuế của cơ quan thuế các cấp so với quy định của pháp luật, tìm ra được những khó khăn vướng mắc
Trang 37trong thực tế thực hiện để có đề xuất tháo gỡ khó khăn, vướng mắc với Cục Thuế và
cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền
Thứ tư, với chức năng và nhiệm vụ của mình, kiểm tra nội bộ còn có vai trò góp phần phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí trong Cục Thuế, thực hiện tiếp nhận và xử lý đơn khiếu nại, tố cáo liên quan đến công tác quản lý, điều hành của cơ quan thuế các cấp, từ đó tăng cường tính nghiêm minh của pháp luật và đảm bảo công bằng cho các đối tượng có liên quan trong việc chấp hành chính sách, pháp luật
1.2.4 Nguyên tắc, phạm vi đối tượng kiểm tra nội bộ
1.2.4.1 Nguyên tắc kiểm tra nội bộ
Nguyên tắc thứ nhất: Đúng luật
Nguyên tắc này đòi hỏi kiểm tra nội bộ chỉ được thực hiện các quyền hạn và trách nhiệm mà luật pháp quy định Mọi hành vi lạm quyền hoặc thực hiện không đầy đủ trách nhiệm trong kiểm tra nội bộ đều bị coi là hành vi không tuân thủ quy
định của pháp luật và buộc phải chịu hình phạt
Nguyên tắc thứ hai: Chính xác, khách quan, trung thực, công khai, dân chủ, kịp thời
Đây là nguyên tắc rất quan trọng của kiểm tra nội bộ Việc tuân thủ nguyên tắc này đòi hỏi chủ thể kiểm tra phải xác định, đánh giá chính xác bản chất của sự việc kiểm tra Việc đánh giá phải dựa trên những căn cứ thực tế, những chuẩn mực xác đáng, những quy định của pháp luật đi đôi với sự trung thực, trình độ nghiệp vụ, chuyên môn cao của công chức làm kiểm tra nội bộ Có như vậy kiểm tra nội bộ mới đưa ra được kết luận kiểm tra chính xác và sự chính xác này góp phần nâng cao
tính khách quan của kiểm tra nội bộ
Nguyên tắc thứ ba: Không kiểm tra trùng lặp về phạm vi, đối tượng, nội dung, thời gian giữa các cơ quan thực hiện chức năng kiểm tra
Trong phân cấp quản lý, một cơ quan thuế có thể được nhiều ngành, nhiều cấp quản lý, do đó có thể phát sinh nhiều đoàn kiểm tra cùng kiểm tra một cơ quan thuế
về cùng một phạm vi, đối tượng, nội dung, thời gian kiểm tra, như vậy sẽ chồng
chéo và làm ảnh hưởng tới hoạt động của đối tượng bị kiểm tra
Nguyên tắc thứ tư: Không làm cản trở hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng kiểm tra
Trang 38Để tuân thủ nguyên tắc này, trong quá trình kiểm tra nội bộ cơ quan thuế tiến hành kiểm tra, trưởng đoàn kiểm tra, thành viên đoàn kiểm tra phải thực hiện đúng các qui định của pháp luật về trình tự, thủ tục kiểm tra như lập kế hoạch kiểm tra, đề cương yêu cầu đối tượng kiểm tra thực hiện, công bố quyết định kiểm tra, thời hạn tiến hành kiểm tra Chỉ được thực hiện các yêu cầu công việc trong nội dung của quyết định kiểm tra, không được gây khó khăn, phiền hà, sách nhiễu đối tượng kiểm tra
1.2.4.2 Phạm vi đối tượng kiểm tra nội bộ
Theo quy định tại Quyết định số 32/2006/QĐ-BTC ngày 06 tháng 6 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính thì hoạt động kiểm tra nội bộ “Thực hiện nhiệm vụ thanh tra hành chính đối với các cơ quan, đơn vị, tổ chức và cá nhân thuộc quyền
quản lý trực tiếp của Tổng cục Thuế”
- Cục Thuế tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương kiểm tra các đơn vị thuộc cơ
quan Cục Thuế và các Chi cục Thuế thuộc quyền quản lý
- Chi cục Thuế kiểm tra các đơn vị thuộc quyền quản lý của Chi cục Thuế Đối tượng của kiểm tra nội bộ là các cơ quan, đơn vị, tổ chức và cá nhân thuộc quyền
quản lý trực tiếp của cơ quan thuế các cấp
Ngoài ra, kiểm tra nội bộ còn được tiến hành khi thực hiện giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo Theo quy định tại Quyết định số 106/QĐ-BTC ngày 14 tháng 01 năm 2010 của Bộ trưởng Bộ Tài chính thì kiểm tra nội bộ có nhiệm vụ: “Tổ chức kiểm tra, xác minh, giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo liên quan đến việc thực thi công
vụ của tổ chức, cá nhân thuộc cơ quan thuế các cấp theo thẩm quyền”
- Cục Thuế tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giải quyết đơn khiếu nại, tố
cáo các đơn vị thuộc cơ quan Cục Thuế và các Chi cục Thuế thuộc quyền quản lý
- Chi cục Thuế giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo các đơn vị thuộc quyền quản lý
của Chi cục Thuế
Đối tượng của giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo là các cơ quan, đơn vị, tổ chức
và cá nhân thuộc quyền quản lý trực tiếp của cơ quan thuế các cấp và người nộp thuế liên quan đến việc thực thi công vụ của tổ chức, cá nhân thuộc cơ quan thuế các cấp
Trang 391.2.5 Các loại hình thức kiểm tra nội bộ
Tuỳ theo cách tiếp cận, mục đích và tiêu chí phân loại của các cuộc kiểm tra,
có thể phân chia kiểm tra nội bộ thành các loại hình khác nhau
- Theo quy định Luật Thanh tra năm 2010 và những quy định tại các văn bản hướng dẫn khác thì hoạt động kiểm tra nội bộ được thực hiện dưới hai hình thức là
kiểm tra theo kế hoạch và kiểm tra đột xuất
Kiểm tra theo kế hoạch là những cuộc kiểm tra đã được dự tính, lên kế hoạch trước (thường là lên kế hoạch theo từng năm) và kế hoạch này đã được cơ quan có
thẩm quyền ra quyết định phê duyệt
Kiểm tra đột xuất là những cuộc kiểm tra không nằm trong kế hoạch kiểm tra
đã được phê duyệt và được thực hiện ngay trong kỳ kế hoạch Thông thường kiểm tra đột xuất được tiến hành khi cơ quan, đơn vị, cá nhân thuộc quyền quản lý có dấu hiệu vi phạm pháp luật, có đơn khiếu nại, tố cáo hoặc theo yêu cầu của thủ trưởng
cơ quan thuế
- Phân loại theo nội dung và phạm vi kiểm tra có kiểm tra toàn diện, kiểm tra
hạn chế và kiểm tra theo chuyên đề
Kiểm tra toàn diện là những cuộc kiểm tra tổng hợp nhằm đánh giá toàn diện tình hình hoạt động của đơn vị, cơ quan thuế thuộc quyền quản lý trong quá trình
thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý thuế
Kiểm tra hạn chế là những cuộc kiểm tra trong phạm vi hẹp, tập trung vào một hoặc một số nội dung quản lý thuế để làm rõ những ưu điểm, cũng như hạn chế, yếu kém cần phải chấn chỉnh nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế của cơ quan thuế
thuộc quyền quản lý
Kiểm tra theo chuyên đề là những cuộc kiểm tra theo một nội dung xác định trên phạm vi rộng, được tiến hành ở nhiều cơ quan thuế để xem xét, đánh giá kết quả việc triển khai thực hiện một chính sách thuế nhằm bổ sung, điều chỉnh, hoàn
thiện cơ chế, chính sách, nâng cao hiệu quả quản lý thuế
- Phân loại theo nội dung của các quy trình nghiệp vụ làm căn cứ kiểm tra, có thể phân chia kiểm tra nội bộ thành:
+ Kiểm tra trước nộp thuế
+ Kiểm tra khâu nộp thuế
+ Kiểm tra sau nộp thuế
Trang 40+ Kiểm tra các nghiệp vụ khác
+ Kiểm tra hoạt động kiểm tra nội bộ
Ngoài các cách phân loại nêu trên, còn có thể phân loại kiểm tra nội bộ theo phương thức tiến hành kiểm tra như kiểm tra trực tiếp và kiểm tra gián tiếp…
Trong thực tiễn, lựa chọn loại hình kiểm tra nào, ngoài việc căn cứ vào quy định của pháp luật, còn phải căn cứ vào mục đích, yêu cầu, nội dung của cuộc kiểm tra, điều kiện, bối cảnh cụ thể của đối tượng bị kiểm tra để lựa chọn loại hình kiểm tra phù hợp
1.2.6 Nội dung, quy trình kiểm tra nội bộ
1.2.6.1 Nội dung kiểm tra nội bộ
Căn cứ các quy định về tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị thuộc Cục Thuế, Chi cục Thuế thì Kiểm tra nội bộ gồm các nội dung chủ yếu sau: Kiểm tra trước nộp thuế; Kiểm tra khâu nộp thuế; Kiểm tra sau nộp thuế và Kiểm tra các nghiệp vụ khác trong cơ quan thuế Do đó, chủ thể hoặc đối tượng trực tiếp đối tượng trực tiếp của kiểm tra nội bộ bao gồm:
- Thủ trưởng cơ quan Thuế, các đơn vị thuộc cơ quan Thuế các cấp
- Công chức, viên chức làm công tác kiểm tra nội bộ thuộc cơ quan Thuế các cấp
- Công chức, viên chức các bộ phận chuyên môn, nghiệp vụ khác có liên quan
1.2.6.2 Quy trình kiểm tra nội bộ
Bước 1: Lập kế hoạch kiểm tra nội bộ hàng năm
* Chuẩn bị lập kế hoạch kiểm tra:
- Tập hợp, phân tích thông tin
+ Lập kế hoạch kiểm tra nội bộ không theo Bộ tiêu chí đánh giá rủi ro
+ Lập kế hoạch kiểm tra nội bộ theo Bộ tiêu chí đánh giá rủi ro
- Xác định đối tượng, nội dung và thời kỳ kiểm tra: Trên cơ sở tập hợp, phân tích thông tin đã thu thập; trên cơ sở kết quả áp dụng Bộ tiêu chí đánh giá rủi ro; trên cơ sở lập kế hoạch KTNB hàng năm và tình hình thực tế tại Cục Thuế, Phòng KTNB có trách nhiệm giúp Thủ trưởng cơ quan xác định cụ thể đối tượng, nội dung, thời kỳ cần đưa vào kế hoạch KTNB hàng năm
* Lập kế hoạch, duyệt kế hoạch và hướng dẫn lập kế hoạch kiểm tra: