TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN BÀI TẬP NHÓM SỐ 1 MÔN KINH DOANH QUỐC TẾ II Đề bài Phương thức thâm nhập thị trường quốc tế của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam Người thực hiện Nhóm 5, lớp Kinh doan[.]
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
BÀI TẬP NHÓM SỐ 1 MÔN: KINH DOANH QUỐC TẾ II
Đề bài: Phương thức thâm nhập thị trường quốc tế của
Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam
Người thực hiện: Nhóm 5, lớp Kinh doanh quốc tế II (01)
Lê Anh Dũng : 11196007 Trương Đức Anh Hiếu : 11191978 Nguyễn Hoàng Sơn : 11194561 Hứa Hùng Tráng : 11197058
Hà Nội, 2022
Trang 2DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ 1
1 Giới thiệu về Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam 2
1.1 Giới thiệu chung 2
1.2 Các lĩnh vực kinh doanh 3
1.3 Lịch sử hình thành và phát triển 4
2 Các phương thức thâm nhập thị trường quốc tế của PVN 7
2.1 Thâm nhập thông qua xuất khẩu 7
2.1.1 Lý do PVN lựa chọn phương thức xuất khẩu để thâm nhập thị trường quốc tế 7 2.1.2 Hoạt động xuất khẩu của PVN 8
2.2 Thâm nhập thông qua đầu tư 11
2.2.1 Lý do PVN lựa chọn phương thức đầu tư để thâm nhập thị trường quốc tế 11
2.2.2 Hoạt động đầu tư nước ngoài của PVN 12
TÀI LIỆU THAM KHẢO 15
ĐÁNH GIÁ THÀNH VIÊN LÀM VIỆC NHÓM 17
Trang 3DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ Danh mục bảng biểu
Bảng 2.1 Đặc điểm của các phương thức thâm nhập thị trường quốc tế 6 Bảng 2.2 Một số thị trường nhập khẩu dầu thô lớn từ Việt Nam 9 Bảng 2.3 Một số dự án đầu tư nước ngoài tiêu biểu của PVN 12
Danh mục hình vẽ
Hình 2.1 Mô hình Uppsala về hội nhập quốc tế của doanh nghiệp 7 Hình 2.2 Sản lượng và giá trị xuất khẩu dầu thô Việt Nam 9
Trang 41 Giới thiệu về Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam
1.1 Giới thiệu chung
Tên giao dịch quốc tế là VIETNAM OIL AND GAS GROUP, gọi tắt là PETROVIETNAM (viết tắt là PVN) là công ty nhà nước được tiến hành các hoạt động dầu khí và ký kết hợp đồng dầu khí với tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động dầu khí theo quy định của pháp luật
- Trụ sở chính: 18 Láng Hạ, Ba Đình, Hà Nội.
- Logo: Biểu tượng với hai màu chính là màu xanh da trời của nền và màu đỏ của
ngọn lửa hai nhánh thể hiện thành quả hoạt động tìm kiếm thăm dò, khai thác và các lĩnh vực hoạt động khác để đưa tài nguyên dầu khí từ lòng đất, lòng thềm lục địa Việt Nam lên phục vụ đất nước Ngọn lửa đỏ hai nhánh được bắt đầu từ trong lòng chữ V (chữ đầu của từ Việt Nam) được cách điệu tạo cho khoảng trống ở giữa hai ngọn lửa giống hình đất nước Nhánh màu đỏ cháy lên từ chữ V của hàng chữ màu trắng PETROVIETNAM - tên giao dịch quốc tế của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam
- Slogan: Ngày 7/8/2009, Tập đoàn có Chỉ thị số 5940/CT-DKVN về việc triển khai
thực hiện quy chế Sử dụng Nhãn hiệu Tập đoàn Dầu khí Việt Nam Quy chế này được xây dựng và ban hành với mục đích quảng bá rộng rãi hình ảnh, tăng giá trị thương hiệu của PVN; nâng cao sức cạnh tranh của các công ty, đơn vị thành viên của PVN; quy định chi tiết về sử dụng nhãn hiệu PVN trong các văn bản hành chính, trong giao dịch, hoạt động đối ngoại, kinh doanh và các hoạt động khác phục vụ mục tiêu phát triển doanh nghiệp
- Sứ mệnh: Góp phần đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia và là đầu tàu kinh tế
trong xây dựng và phát triển đất nước Việt Nam hùng cường
Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam - PVN là một trong những doanh nghiệp nhà nước, với nhiệm vụ quản lý và triển khai các hoạt động dầu khí trên lãnh thổ Việt Nam và đầu tư ra nước ngoài Qua 60 năm hình thành và phát triển, PVN đã trở thành Tập đoàn kinh tế nhà nước, đóng vai trò chủ lực, trụ cột của nền kinh tế, góp phần quan trọng trong
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Liên tục có đóng góp to lớn cho nguồn ngân sách Quốc gia
Trang 51.2 Các lĩnh vực kinh doanh
- Tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí: là lĩnh vực cốt lõi của PVN được triển
khai rộng rãi không chỉ ở Việt Nam mà còn tại nhiều nước trên thế giới Nhờ các hoạt động tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí hiệu quả, Việt Nam từ một quốc gia hoàn toàn không có công nghiệp dầu khí đã trở thành nước có trữ lượng dầu
mỏ đứng thứ 2 Đông Nam Á, thứ 28 thế giới, có khả năng làm chủ được tất cả các công nghệ tiên tiến nhất
- Công nghiệp khí: PVN đã và đang chú trọng đầu tư, xây dựng hoàn chỉnh và vận
hành các hệ thống khí có cơ sở hạ tầng đồng bộ từ khai thác, thu gom vận chuyển, chế biến đến tàng trữ phân phối khí và tăng cường chế biến sâu như hệ thống khí Cửu Long, Nam Côn Sơn, PM3-Cà Mau, Hàm Rồng - Thái Bình…
Các dự án khí của PVN đã đáp ứng nhu cầu tiêu thụ khí trong nước ngày càng tăng của các hộ tiêu thụ lớn như các nhà máy điện, đạm, các nhà máy công nghiệp tiêu thụ khí thấp áp, giao thông vận tải và sinh hoạt dân dụng Hiện PVN đang tích cực đầu tư hạ tầng kỹ thuật phục vụ nhập khẩu và tiêu thụ khí tự nhiên hóa lỏng LNG
- Chế biến dầu khí: là một trong những lĩnh vực hoạt động chính của PVN, góp
phần quan trọng trong sự phát triển đồng bộ và hoàn thiện chuỗi giá trị của Tập đoàn, cung cấp các sản phẩm thiết yếu cho nền kinh tế đất nước như xăng dầu, phân bón, hóa chất, hạt nhựa, xơ sợi… Hàng năm, lĩnh vực này đóng góp khoảng 19-26% vào doanh thu toàn Tập đoàn Hiện nay, PVN đang tập trung thu hút đầu
tư theo hướng chế biến sâu, nâng cao chất lượng sản phẩm, chủ động đáp ứng tối
đa nhu cầu trong nước và hướng đến xuất khẩu
- Công nghiệp Điện và Năng lượng tái tạo: PVN tự hào là nhà sản xuất điện đứng
thứ 2 của Việt Nam và là nhà sản xuất điện khí lớn nhất cả nước Hiện nay PVN đang quản lý và vận hành 4 nhà máy điện khí, 1 nhà máy điện than và 3 nhà máy thuỷ điện với tổng công suất lắp đặt 4205 Mega Watt, tương đương 8% tổng công suất lắp đặt của hệ thống điện quốc gia, chiếm 10-12% sản lượng điện quốc gia
PVN đang thúc đẩy công tác nghiên cứu, phát triển các dự án điện khí ưu tiên sử dụng nguồn khí trong nước và khí hoá lỏng LNG, hướng đến mục tiêu sử
Trang 6dụng hạ tầng sẵn có phát triển mạnh mẽ các nguồn năng lượng tái tạo, ưu tiên sử dụng năng lượng điện gió ngoài khơi và mặt trời cho phát điện
- Dịch vụ kỹ thuật Dầu khí chất lượng cao có vai trò quan trọng trong toàn bộ
hoạt động của ngành Công nghiệp Dầu khí Việt Nam với mục tiêu làm chủ thị trường trong nước và vươn ra quốc tế
PVN đã xây dựng và phát triển lĩnh vực dịch vụ kỹ thuật dầu khí đồng bộ với các loại hình như: Thiết kế, đóng mới, bảo dưỡng, sửa chữa giàn khoan và các phương tiện nổi; dịch vụ khoan; vận hành, bảo dưỡng các nhà máy, công trình dầu khí
Trên 60% doanh thu dịch vụ của PVN hiện nay đến từ các hợp đồng cung cấp cho khách hàng nước ngoài, đem lại doanh thu lớn, đồng thời tạo tiền đề cho những kế hoạch đầu tư nước ngoài trong tương lai
1.3 Lịch sử hình thành và phát triển.
Sau khi Việt Nam kháng chiến thắng lợi 23/7/1959 Liên Xô đã giúp đỡ Việt Nam trong việc khai thác và chế biến dầu khí Tháng 3/1975 mỏ Tiền Hải bắt đầu thu được những thành quả nhất định Trên cơ sở nhận định về triển vọng dầu khí ở miền Bắc Việt Nam và căn cứ Nghị định 159-CP của Hội đồng Chính phủ ngày 09/7/1961, để triển khai công tác tìm kiếm thăm dò dầu khí, Tổng cục Địa chất đã ra quyết định số 271 ĐC ngày 27/11/1961 thành lập Đoàn Thăm dò dầu lửa với số hiệu là Đoàn 36 dầu lửa (thường gọi
là Đoàn 36) trực thuộc Tổng cục Địa chất Đoàn 36 có nhiệm vụ tiến hành tìm kiếm thăm
dò dầu hỏa và khí đốt trên phạm vi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Đây là dấu mốc lịch sử mở đầu một thời kỳ hoạt động dầu khí có tổ chức ở Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (sau này ngày 27 tháng 11 đã được nhà nước công nhận là Ngày Truyền thống Dầu khí Việt Nam)
Tổng cục Dầu mỏ và khí đốt Việt Nam (Tổng cục Dầu khí Việt Nam) được thành lập theo Quyết định số 170/CP của Hội đồng chính phủ Khi đó, Tổng cục Dầu khí Việt Nam là cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ, được tổ chức, hoạt động như một cơ quan ngang bộ và là một cơ quan quản lý nhà nước với nhiệm vụ “thực hiện quản lý nhà nước về toàn bộ tài nguyên dầu mỏ và khí đốt trong cả nước, kể cả trên đất liền và ngoài
Trang 7biển; tổ chức việc tìm kiếm, thăm dò, khai thác, chế biến dầu mỏ trong và ngoài nước ” Ngày 3/9 được công nhận là Ngày Thành lập Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam
Giai đoạn 1 (1975-1990) giai đoạn này Nhà nước độc quyền về ngoại thương, PVN chỉ tham gia về “kỹ thuật” của các đơn hàng
Trong giai đoạn đầu tiên, ngành Dầu khí Việt Nam với tên gọi là Tổng cục Dầu khí hoạt động trong nền kinh tế kế hoạch hóa, thường gọi là kinh tế bao cấp Thời gian này, Nhà nước độc quyền về ngoại thương nên Tổng cục Dầu khí chưa có hoạt động thương mại Nhà nước chỉ giao Tổng cục Dầu khí làm công tác tìm kiếm, thăm dò dầu khí Khi ấy sản phẩm của Tổng cục Dầu khí được tính bằng km/tuyến thăm dò, giếng khoan
- 25/5/1984 tàu Mikhail Mirchin đã khoan giếng thăm dò BH-5 đầu tiên tại Mỏ Bạch Hổ
- Liên tục sau đó mỏ Rồng được phát hiện vào ngày 21/6/1985 và mỏ Đại Hùng được phát hiện vào ngày 18/7/1988
- 19/4/1981 Dòng khí công nghiệp đầu tiên tại Giếng khoan 61 mỏ Tiền Hải C (trầm tích Mioxen, hệ tầng Tiên Hưng, chiều sâu 1146-1156) với lưu lượng 100.000 m3/ngày đêm đã được đưa vào buồng đốt tuabin nhiệt điện tại Tiền Hải phát ra dòng điện công suất 10 MW hòa lưới quốc gia
Vào năm 1990, các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu có biến động lớn, tan rã điều
đó đã khiến hiệp định với Liên Xô khó khăn cùng với khó là những áp lực từ các công ty dầu khí nước ngoài Đứng trước thực tế đó, để không bị thiệt thòi, bắt buộc những người làm dầu khí Việt Nam phải thay đổi tư duy về hoạt động thương mại
Giai đoạn 2 (1990-1994) PVN thành lập Phòng Thương mại - Thị trường, từng bước tham gia vào hoạt động thương mại
- 6/7/1990, Tổng công ty Dầu mỏ và Khí đốt Việt Nam được thành lập trên cơ sở hợp nhất các tổ chức làm công tác dầu khí thuộc Tổng cục Dầu khí cũ
- 14/4/1992, Chính phủ ra Quyết định số 125-HĐBT về việc đặt Tổng công ty Dầu
mỏ và Khí đốt Việt Nam trực thuộc Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ)
- Tháng 10/1990, Tổng công ty Dầu mỏ và Khí đốt Việt Nam thành lập Phòng Thương mại Thị trường với bộ khung nhân sự có bề dày kinh nghiệm Từ đây,
Trang 8thương mại dầu khí chính thức bước ra thị trường thế giới, như bắt đầu tiếp xúc với các công ty nước ngoài
- Sau 6 tháng Công ty Thương mại Dầu khí hoạt động có hiệu quả, việc giao cho một doanh nghiệp thực hiện trọn vẹn vai trò xuất khẩu đã chín muồi Ngày 5/10/1994, Chính phủ đã quyết định sáp nhập bộ phận xuất khẩu dầu thô và nhập khẩu vật tư thiết bị dầu khí của Công ty Petechim vào Công ty Thương mại Dầu khí thuộc PVN và chuyển thương hiệu Petechim cho Công ty Thương mại Dầu khí
Mở ra thời kì xuất khẩu dầu thô do PVN triển khai
Giai đoạn 3 (1994 đến nay) Nhà nước trao quyền xuất nhập khẩu cho PVN, hoạt động thương mại phát triển mạnh mẽ, đáp ứng mọi nhu cầu của ngành Dầu khí.
- 17/4/1995 Khí đồng hành thu gom từ mỏ Bạch Hổ đã được vận chuyển vào bờ, đưa đến trạm phân phối khí Bà Rịa và cung cấp khí cho nhà máy điện Bà Rịa
- Nhà máy khí hóa lỏng (LPG) đầu tiên của Việt Nam được khởi công xây dựng vào ngày 04/10/1997
Bắt đầu từ đây lĩnh vực thương mại của PVN đã được hoàn thiện bằng những hoạt động kinh doanh lớn như kinh doanh dầu thô (xuất khẩu, mua và bán dầu trên thị trường quốc tế), kinh doanh xăng dầu và các sản phẩm dầu khí (hạn mức đầu tiên được trao cho Công ty Dịch vụ kỹ thuật Dầu khí - PTSC), kinh doanh khí, các sản phẩm phân đạm, hóa chất và hóa phẩm dầu khí
- 15/12/2004 Dự án nhà máy đạm Phú Mỹ được đánh giá là rất thành công
- 6/1/2011 Tập đoàn Dầu khí Việt Nam tổ chức Lễ khánh thành Nhà máy Lọc dầu (NMLD) Dung Quất - NMLD đầu tiên của Việt Nam - tại huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi
- 17/9/2015 Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng 1 có công suất 1200 MW (2x600 MW)
đã đưa vào vận hành thương mại
Cũng trong giai đoạn này, PVN tiến hành hoạt động đầu tư ra nước ngoài Tháng 8/2000, PVN mới chính thức trở thành nhà đầu tư dầu khí quốc tế thông qua hoạt động nhận chuyển nhượng 4,5% cổ phần dự án Lô PM304, ngoài khơi Malaysia từ Amerada Hess Tiếp nối thương vụ này với sự kiện đón dòng dầu đầu tiên từ mỏ Cendor của lô
Trang 9PM304 vào năm 2006, đến nay, PVN đã nhân rộng địa bàn hoạt động và số lượng các dự
án dầu khí tại hầu hết các khu vực trên thế giới
Cho đến 2035 tầm nhìn chiến lược của công ty nhắm tới phát triển ngành Dầu khí Việt Nam thành ngành kinh tế - kỹ thuật quan trọng, then chốt, hoàn chỉnh, đồng bộ, bao gồm tìm kiếm, thăm dò, khai thác, vận chuyển, chế biến, tồn trữ, phân phối, dịch vụ và xuất nhập khẩu Góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Xây dựng Tập đoàn Dầu khí Việt Nam và các doanh nghiệp hoạt động trong ngành Dầu khí có tiềm lực mạnh về tài chính và khoa học công nghệ, có sức cạnh tranh cao; chủ động tích cực hội nhập quốc tế
2 Các phương thức thâm nhập thị trường quốc tế của PVN
2.1 Thâm nhập thông qua xuất khẩu
Xuất khẩu là hoạt động bán hàng hoá ra nước ngoài, nó không phải là hành vi bán
hàng riêng lẻ mà là hệ thống bán hàng có tổ chức cả bên trong lẫn bên ngoài nhằm mục tiêu lợi nhuận
2.1.1 Lý do PVN lựa chọn phương thức xuất khẩu để thâm nhập thị trường quốc tế
- Xuất khẩu là phương thức thâm nhập thị trường nước ngoài ít rủi ro và chi phí thấp: Mô hình Uppsala, một trong các lý thuyết được bàn luận nhiều nhất và có
ảnh hưởng đến nhiều nghiên cứu về quá trình hội nhập quốc tế của doanh nghiệp, cũng chỉ ra xuất khẩu là giai đoạn đầu tiên của quá trình hội nhập quốc tế của doanh nghiệp Phương thức xuất khẩu có độ linh hoạt cao, rủi ro và chi phí thấp, điều này được thể hiện qua bảng so sánh đặc điểm của các phương thức thâm nhập thị trường quốc tế Khi mới thành lập, PVN còn là một doanh nghiệp nhỏ, là doanh nghiệp tiên phong trong lĩnh vực khai thác dầu khí của Việt Nam nên kinh nghiệm hoạt động vẫn còn ít Do đó, thâm nhập thị trường thông qua xuất khẩu là một phương thức phù hợp đối với PVN
Bảng 2.1 Đặc điểm của các phương thức thâm nhập thị trường quốc tế
Phương thức
thâm nhập
Mức độ kiểm soát
Rủi ro phân tán
Cam kết về nguồn lực
Mức độ linh hoạt
Mức độ
sở hữu
Hợp đồng Trung bình TB cao TB cao Trung bình TB cao
Trang 10Không có hoạt động xuất khẩu thường xuyênXuất khẩu thông qua văn phòng đại diệnXây dựng chi nhánh tại nước ngoàiXây dựng cơ sở sản xuất trực tiếp tại nước ngoài
Nguồn: Discroll (1995)
Hình 2.1 Mô hình Uppsala về hội nhập quốc tế của doanh nghiệp
- Lợi ích kinh tế của việc xuất khẩu dầu thô: Dầu thô của nước ta có hàm lượng lưu
huỳnh rất thấp, được thị trường nước ngoài ưa chuộng, có thể bán với giá cao
Tổng hợp số liệu từ Bộ Tài chính cho thấy, có những khoảng thời gian thu từ dầu
thô đóng vai trò quan trọng trong cân đối ngân sách Chẳng hạn như thời kỳ
2000-2008, nguồn thu từ dầu thô chiếm tới 30% ngân sách Tới 2011-2015, tỷ lệ thu
ngân sách từ dầu thô bình quân cho giảm mạnh, song vẫn chiếm khoảng 13% tổng
thu ngân sách Giai đoạn 2016-2018, con số này giảm xuống còn 3%
2.1.2 Hoạt động xuất khẩu của PVN
Giai đoạn 1 (1975-1990): Nhà nước độc quyền về ngoại thương
- Tháng 10/1981, thành lập Công ty Petechim trực thuộc Bộ Ngoại thương ngoài
công tác nhập khẩu vật liệu thiết bị và kí các hợp đồng dịch vụ với nước ngoài,
Petechim còn bước đầu xuất khẩu dầu thô cho Xí nghiệp Liên Doanh Dầu khí Việt
- Xô
- Tuy nhiên, Petechim là công ty trực thuộc Bộ Ngoại thương nên việc xuất khẩu
vẫn do Nhà nước độc quyền
- Năm 1986, tấn dầu thương mại đầu tiên được khai thác từ mỏ Bạch Hổ Kể từ thời
điểm đó, ngành Dầu khí mở rộng quan hệ hợp tác với các tập đoàn, công ty dầu khí
quốc tế nhằm xây dựng ngành Dầu khí phát triển đồng bộ, hiện đại, đóng góp quan
trọng vào sự phát triển kinh tế đất nước
- Từ năm 1987, khi các công ty dầu khí của các nước tư bản bắt đầu quay trở lại Việt
Nam, yêu cầu đầu tiên của họ là được nghiên cứu các tài liệu địa chất vật lý mà