TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH GIÁO DỤC TIỂU HỌC TIỂU LUẬN KHOA HỌC VẬT CHẤT VÀ NĂNG LƯỢNG Ở TIỂU HỌC HỌC PHẦN PRIM170902 KHOA HỌC VẬT CHẤT VÀ NĂNG LƯỢNG Ở TIỂU HỌC Họ và tên T[.]
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
GIÁO DỤC TIỂU HỌC
TIỂU LUẬN
KHOA HỌC VẬT CHẤT VÀ NĂNG LƯỢNG Ở
TIỂU HỌC
HỌC PHẦN: PRIM170902-KHOA HỌC VẬT CHẤT VÀ NĂNG
LƯỢNG Ở TIỂU HỌC
Họ và tên: Trần Thị Hà
Mã số sinh viên: 46.01.901.100 Lớp học phần: PRIM170902
Giảng viên hướng dẫn: TS Lê Tấn Phúc
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 25 tháng 9 năm 2021
Trang 21)Phần 2-Khoa học Hóa học:
QUY
LUẬT CƠ
BẢN
Tính chất
vật lý là tính
chất ta có
thể quan sát
và đo lường
mà không
làm thay
đổi
đặc tính hóa
học của
mẫu
1- Tính chất Vật lý
Về tính chất vật lý ta xét
Trạng thái vật chất: Rắn,
lỏng, khí, plasma
Màu sắc là đặc trưng của
nhận thức thị giác được mô
tả thông qua các loại màu
.Điểm sôi của một chất lỏng
là nhiệt độ mà áp suất hơi của chất lỏng bằng với áp suất chung quanh chất lỏng
.Điểm nóng chảy/nhiệt độ hóa lỏng của một chất rắn
là nhiệt độ mà khi đạt tới ngưỡng đó thì quá trình nóng chảy của một chất xảy ra
.Nhiệt lượng bay hơi là
nhiệt lượng cần thiết để cung cấp cho một đơn vị đo
về lượng chất đó
Nhiệt lượng nóng chảy là
nhiệt lượng cần thiết để cung cấp cho một đơn vị đo về lượng
chất Độ cứng: đặc
.vd: Khi đạt tới ngưỡng
đó thì chất chuyển trạng thái từ lỏng sang khí,vd:khi đun nước tới 96C thì bề mặt nước
xuất hiện bọt khí vỡ tung ra và bắt đầu bốc hơi
(nước sôi).
Tức là chất đó chuyển
trạng thái từ rắn sang lỏng.vd: đá lạnh gặp nhiệt độ cao chảy ra
thành nước (thể rắn thành thể lỏng)
Để nó chuyển từ trạng thái lỏng sang trạng thái khí, tại nhiệt độ bay hơi.Hóa hơi được tính theo công thức: Q=L.m
Trang 3trưng cho tính chất chống
lại vết trầy xước
Độ hòa tan là một đặc
điểm hòa tan của chất rắn,
Độ nhớt của một chất
lưu là thông số đại diện
cho ma sát trong của dòng
chảy
Độ dẫn điện là khả năng
của một môi trường cho
phép sự di
chuyển của các hạt điện
tích qua nó, khi có lực tác
động vào
các hạt
Độ dẫn nhiệt là một đại
lượng vật lý đặc trưng cho
khả năng
dẫn nhiệt của vật liệu
Khối lượng riêng là một
đặc tính về mật độ khối
lượng trên một đơn vị thể
tích của vật chất đó, là đại
lượng đo bằng thương số
giữa khối lượng (m) của
một vật làm bằng chất ấy
(nguyên chất) và thể tích
(V) của vật
Nhiệt dung riêng của
một chất là nhiệt lượng
cần phải cung cấp cho
một
(với L là nhiệt hóa hơi, ngưng tụ của chất) Để nó chuyển từ trạng thái rắn sang trạng thái lỏng, tại nhiệt độ nóng chảy
Nhiệt lượng cung cấp cho chất rắn trog quá trình nóng chảy Q = λm với λ là nhiệt nóng chảy riêng (J/kg)
khoáng vật có độ cứng lớn hơn sẽ làm trầy khoáng vật có độ cứng nhỏ hơn
chất lỏnghoặc chất khí vào dung môi để tạo ra một dung dịch đồng nhất.vd:khi cho muối vào nước lọc khuấy một lúc ta sẽ thấy muối tan vào trong nước
Tính chất của chất lỏng chống lại sự trượt hay dịch chuyển giữa các chất lỏng
.Hiện tượng có dòng điện chạy qua vật chất
Để có các điện tích tự
do phải ion hoá các nguyên tử của vật chất
đó kim
Trang 4đơn vị đo lường chất đó để
Trang 5nhiệt độ của nó tăng lên
một độ trong quá
trình nhiệt
.Từ tính là một tính chất
của vật liệu bị ảnh hưởng
dưới sự tác động của một
từ trường
loại dẫn điện và nhiệt tốt như Bạc, đồng, nhôm,
.Truyền năng lượng nhiệt giữa các phân tử lân cận trong một chất,
do một chênh lệch nhiệt độ: vd ấm đun nước sôi
lỡ tay chạm phải ta thấy tay rất nỏng còn bị bỏng
.D=m/V
D là khối lượng riêng (Kg/m³),m là khối lượng (Kg),V là thể tích (m³)
Trang 65
Trang 7.Chất mới sinh ra có tính chất vật lý và hóa học khác với chất cũ ->
điều này khác với sự biến đổi vật lý chỉ đổi hình dạng, kích thước, màu sắc, thể tích, hình dạng, trạng thái (tức là rắn, lỏng, khí) , mà không làm thay đổi thành phần
phân tử của chúng
Sự biến đổi hóa học
.Có thể phân biệt được các chất riêng biệt và tách chúng ra
Vd:trái cây sấy, đá bỏ vào ly nước,
không thể phân biệt và không tách riêng chúng ra
Vd: nước ngọt, coca, muối khuấy tan trong ly nước,
về hỗn hợp: các chất trộn lẫn là đồng nhất hoặc không đồng nhất
.Về dung dịch: là hỗn hợp đồng nhất và chỉ
có một pha
2) Nghiên cứu môn khoa học lớp 5 (thuộc chương trình giáo dục phổ thông 2018).
*Nội dung khoa học lớp 5 có liên quan đến học phần Khoa học vật chất và năng lương
ở Tiểu học về: Khoa học Vật lý, Khoa học Hóa học, Thiên văn học, Khoa học Trái đất:
Trang 87
Trang 9MẠCH NỘI DUNG LỚP 5
CHẤT
− Đất
− Hỗn hợp và dung dịch
− Sự biến đổi của chất
NĂNG LƯỢNG
− Vai trò của năng lượng
− Năng lượng điện
− Năng lượng chất đốt
− Năng lượng mặt trời, gió và nước chảy
*CHẤT: -Về đất: + Thành phần của đất: chất khoáng, nước, không khí, mùn và các
loại sinh vật từ vi sinh vật cho đến côn trùng, chân đốt
+ Vai trò của đất: Đất cung cấp dinh dưỡng thiết yếu, nước, oxy và
hỗ trợ cho rễ tất cả các yếu tố có lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của cây
+Nguyên nhân, tác hại của ô nhiễm, xói mòn đất và biện pháp chống
ô nhiễm, xói mòn đất
=>Theo em nhận thấy bài phần đất của khoa học lớp 5 có liên quan tới phần 2: Khoa học hóa học với các mục Một số loại vật chất cơ bản: Không khí, nước và ô nhiễm môi trương sống trong học phần khoa học vật chất và năng lượng em được Thầy giảng dạy trong quá trình học tại trường đại học.
-Hỗn hợp và dung dịch: + Bài 36 Hỗn hợp T74 ( SGK Khoa học lớp 5):Hai hay
nhiều chất trộn lẫn với nhau có thể tạo thành một hỗn hợp Trong hỗn hợp, mỗi chất giữ nguyên tính chất của nó Vd: gạo lẫn sạn, dầu ăn và nước,
+ Bài 37 Dung dịch T76 (SKG Khoa hoch lớp 5): Hỗn hợp chất lỏng với chất rắn
bị hòa tan và phân bố đều hoặc hỗn hợp chất lỏng với chất lỏng hòa tan vào nhau được gọi là dung dịch vd: cho đường/ muối vào ly nước khuấy tan, Phân biệt được hỗn hợp và dung dịch từ các ví dụ đã cho Thực hành tách muối hoặc đường ra khỏi dung dịch muối hoặc đường
=>Bài hỗn hợp-dung dịch trong SGK Khoa học 5 tại Tiểu học em thấy có liên quan với mục 2.4 hỗn hợp-dung dịch của phần 2: Khoa học Hóa học trong học phần Khoa học vật chất và năng lượng ở tiểu học về phần lý thuyết và ví dụ nhìn
Trang 10chung
Trang 11đều giống nhau nhưng lý thuyết: hỗn hợp, dung dịch học tại Đại học em được Thầy giảng chi tiết mở rộng sâu hơn đồng thời các ví dụ cũng lạ, khó hơn so với Tiểu học.
-Sự biến đổi của chất: Bài 38-39 Sự biến đổi hóa học T78 (SGK Khoa học 5)
+ Sự biến đổi trạng thái: Nêu được ở mức độ đơn giản một số đặc điểm của chất ở trạng thái rắn, lỏng, khí vd: chẻ củi, xé giấy thành vụn,
+ Sự biến đổi hóa học: được một số ví dụ đơn giản gần gũi với cuộc sống về biến đổi hoá học (ví dụ: đinh bị gỉ, giấy cháy, than cháy, )
=>Về bài sự biến đổi về chất trong sách Khoa học lớp 5 có liên quan với mục 2.3
sự biến đổi hóa - học phần 2 Khoa học Hóa học, ở Tiểu học em thấy yêu cầu nhiều
về thí nghiệm hỏi các bé các câu hỏi đưa ra ví dụ khác nhau về sự biến đổi trạng thái với sự biến đổi hóa học ít lý thuyết.
*NĂNG LƯỢNG : -Vai trò của năng lượng ( bài 40: Năng lượng T82-SGK Khoa
học lớp 5): Trình bày được một số nguồn năng lượng thông dụng và việc sử dụng chúng trong cuộc sống hằng ngày vd: nguồn cung cấp năn lượng cho người và động vật là thức ăn, đồ uống còn máy móc là pin, Mặt trời, )
=> Về phần vai trò của năng lượng em thấy liên quan tới mục 1.5 Sản xuất điện năng phần 1 Khoa học vật lý trong học phần khoa học vật chất và năng lượng ở Tiểu học Bởi vì, trong mục này nói lên những nguồn cung cấp năng lượng phổ biến như sản xuất điện năng bằng thủy điện, nhiệt điện, địa nhiệt điện, Điện thủy triều, điện hạt nhân, điện nhiệt hạch, điện mặt trời, tương ứng với nguồn cung cấp điện ở mức đơn giản và quen thuộc với các bé bậc Tiểu học thường chỉ là Pin, gió, mặt trời, nước hiện hữu xung quanh cuộc sống hằng ngày các bé.
- Năng lượng điện: + Mạch điện đơn giản (bài 46-47 Lắp mạch điện đơn giản- T94
SGK Khoa học 5) : Mô tả được cấu tạo và hoạt động của mạch điện thắp sáng gồm:
nguồn điện, công tắc và bóng đèn.=> Về phần mạch điện đơn giản có liên quan tới mục 1.5 sản xuất điện năng- phần 1 Khoa học vật lý Tại mục này có nêu về dòng điện xoay chiều và dòng điện một chiều Do đó em nghĩ nó chính là phần mở rộng của mạch điện đơn giản ở Tiểu học.
Trang 12+Vật dẫn điện và vật cách điện: Giải thích được lí do sử dụng vật dẫn điện, vật cách điện trong một số đồ vật, tình huống thường gặp Đề xuất được cách làm thí nghiệm để xác định vật dẫn điện, vật cách điện Vd TN trang 96 là chèn vào chỗ hơ của mạch một miếng nhôm, đèn có sáng không? Miếng nhôm có cho dòng điện chạy qua không? Rồi lần lượt chèn các vật liệu khác như nhựa, đồng, cao su, sắt, từ thí
nghiệm thu lại kết quả => Về vật dẫn điện và vật cách điện ở SGK Khoa học lớp 5
có liên quan tới mục 1.3 Tĩnh điện và từ trường- phần 1 Khoa học Vật lý bởi tại mục này em có được học về vật dẫn điện, vật cách điện, điện môi, chất bán dẫn trong môn Khoa học vật chất và năng lượng ở Tiểu học thì tìm hiểu sâu hơn về điện tích tự do còn tại Tiểu học các bé phân biệt cách điện và dẫn điện bằng sự thân thuộc hiểu biết về những vật dung xung quanh.
+ Sử dụng năng lượng điện: Nêu và thực giện đúng quy tắc về an toàn điện thường gặp (tuyệt đối không chạm tay vào chỗ hở của đường dây hoặc các bộ phận kim loại nghi có điện, tránh xa dây điện đứt và hở, ), có những việc làm thiết thực để tiết kiệm điện năng tại trường và ở nhà (ra khỏi lớp tắt đèn, quạt, ), đề xuất và trình bày được những việc cần làm để sử dụng an toàn, tiết kiệm năng lượng điện một cách
đơn giản, dễ nhớ.=> Về phần sử dụng năng lượng điện có liên quan tới mục 1.5 sản xuất điện năng-phần 1 Khoa học Vật lý nó được thể hiện rõ hơn khi Thầy cho nhóm thuyết trình về phần này để vừa tìm hiểu các cách sản xuất điện năng đồng thời các vật liệu điện trong nhà, an toàn và tiết kiệm điện năng để có kiến thức chỉ dạy các bé trong quá trình dạy môn Khoa học.
- Năng lượng chất đốt: Bài 42-43 Sử dụng năng lượng chất đốt trang 86-SGK Khoa
học lớp 5 Một số nguồn năng lượng chất đốt: Nêu được một số nguồn năng lượng chất đốt và vai trò của chúng trong đời sống và sản xuất (than đá, xăng, dầu, )
+ Sử dụng an toàn, tiết kiệm năng lượng chất đốt: Trình bày được biện pháp phòng
chống cháy, nổ, ô nhiễm khi sử dụng năng lượng chất đốt (cần có những ống khói để dẫn chúng lên cao, hoặc có các biện pháp để làm sạch, khử độc các chất thải trong khói nhà máy) Nêu và thực hiện được việc làm thiết thực để tiết kiệm năng lượng ( đậy kín phích giữ nước nóng lâu, để ý nước sôi không gây lãng phí chất đốt, )
Trang 13-Năng lượng mặt trời, gió và nước chảy: Sử dụng năng lượng mặt trời (bài 41 Năng
lượng mặt trời-T84-SGK Khoa học lớp 5), sử dụng năng lượng gió, sử dụng năng lượng nước chảy (bài 44 Sử dụng năng lượng gió và năng lượng nước chảy-T90-SGK Khoa học lớp 6): Kể được tên một số phương tiện, máy móc và hoạt động của con người sử dụng năng lượng mặt trời (để tắm nắng, phơi nước biển làm muối, sử dụng pin mặt trời trên vệ tinh nhân tạo, ), gió (chạy thuyền buồm, làm quay tua-bin của máy phát điện, ) và nước chảy (bánh xe nước, dùng sức nước để tạo dòng điện,.) Thu thập,
xử lí thông tin và trình bày (bằng những hình thức khác nhau)về việc khai thác, sử dụng các dạng năng lượng nêu trên
=>Em thấy được bài năng lượng chất đốt, năng lượng mặt trời, gió và sức nước ở Tiểu học có liên quan tới mục 1.5 Sản xuất điện năng-phần 2: Khoa học Hóa học với học phần khoa học vật chất và năng lượng ở Tiểu học tai Đại học Tuy nhiên
ở Tiểu học chỉ học về các năng lượng sạch là chủ yếu, những nguồn năng lượng gần gũi với trẻ còn Đại học em được học nhiều cách sản xuất điện năng khác với cách truyền tải điện năng, được sản xuất qua hiện tượng cảm ứng điện từ, hiện tượng quang điện, ).
***Nhìn chung thì phần CHẤT và NĂNG LƯỢNG ở SGK Khoa học lớp 5 mà các
bé Tiểu học được học đều có mối liên quan tới các mục, các phần Khoa học vật chất
và năng lượng ở Tiểu học mà tại Đại học em đang được Thầy hướng dẫn, chỉ dạy với phần này tương ứng mục kia Do đó, em phải nắm vững kiến thức về học phần tại Đại học để đảm bảo với đầu ra đầy đủ kiến thức sâu rộng làm nền dạy tốt môn Khoa học tại Tiểu học cho trẻ.
3) a- Từ việc khảo sát nội dung sách khoa học lớp 5, đại diện là bài hỗn hợp và dung dịch em đã tìm hiểu, đọc chi tiết nội dung của sách trong chương trình 2018 yêu cầu ở
bậc Tiểu học: Cụ thể là bài 36 trang 74 và bài 37 trang 76 em có thể xác định được kiến thức nội dung cần dạy cho trẻ trong tương lai Bậc tiểu học là cấp học nhỏ nhất
khi trẻ còn nhỏ chưa biết nhiều thứ xung quanh mà chỉ những sự vật/sự việc hằng ngày thực sự thân thuộc thì trẻ mới hiểu được Do đó, khi dạy kiến thức cho trẻ em sẽ nghiên cứu thật kĩ những chương trình, yêu cầu dạy mới nhất tích cực nhất để lọc từ bài học em được giảng dạy tại Đại học để làm cơ sở như các lý thuyết cơ bản và ví dụ minh họa gần gũi với trẻ nhất để trẻ đáp ứng được các năng lực khoa học như: Nhận
Trang 1413 thức khoa học tự
Trang 15nhiên, tìm hiểu môi trường tự nhiên xung quanh rồi vận dụng được kiến thức kĩ năng đã học vào thực tiễn cuộc sống
Bài 36 Hỗn hợp_Trang 74_SGK Khoa
học lớp 5
Bài 37 Dung dịch_Trang 76_SGK
Khoa học lớp 5
Đầu bài học giáo viên sẽ cho trẻ làm thí
nghiệm nhỏ “Tạo một hỗn hợp gia vị”
với các vật liệu, dụng cụ quen thuộc như
muối
, mì chính(bột ngọt), hạt tiêu sau đó tiến
hành thí nghiệm trộn lẫn hỗn hợp và làm
mẫu báo cáo về đặc điểm hỗn hợp=> Rút
ra khái niệm hỗn hợp và đặt những câu
hỏi kể tên những ví dụ về hỗn hợp?
(Trang74)
Sau khi trẻ hiểu rõ khái niệm và kể tên
được các hỗn hợp sẽ tìm hiểu về cách
“Tách các chất ra khỏi hỗn hợp”: Sàng,
sảy, lọc, làm nắng, trẻ có thể quan sát các
phương pháp qua hình ảnh:
Kết thúc bài học trẻ sẽ lại có một bài
thực hành nhỏ để tách cát trắng, dầu ăn,
gạo Thí nghiệm có thể làm trên lớp hoặc
về nhà để áp dụng kiến thức vào cuộc
sống (trang 75_bài 36)
.Đầu bài dung dịch trẻ cũng làm thí nghiệm “Tạo một dung dịch đường” vật liệu, dụng cũ vẫn là đương, thìa, cốc nước sôi để nguội trong quá trình thí nghiệm trẻ có thêm bước khuấy khi cho đường vào nước rồi làm mẫu báo cáo về đặc điểm dung dịch=> sau đó rút ra khái niệm dung dịch (trang76_bài 37)
Trẻ kể tên một số dung dịch Trẻ học cách tách các chất trong dung dịch bằng cách chưng cất (trang77):
Cuối bài học là hoạt động nhỏ “Đố bạn”: về cách sản xuất muối từ nước biển
và sản xuất nước cất (T77_Bài 37)
Trang 16b- Qua khảo sát SGK Khoa học Lớp 5 với nội dung về hỗn hợp và dung dịch
tương ứng bài 36 trang 74 và bài 37 trang 76 (SGK Khoa học lớp 5) : Em thấy được
Khoa học Tiểu học có liên quan học phần Đại học tuy nhiên tại chương trình Tiểu học
có khác so với Đại học
*Tiểu học : Các bé mới bắt đầu làm quen với môn khoa học chú trọng khơi dậy trí tò
mò khoa học của trẻ, về bài hỗn hợp và dung dịch bước đầu tạo cho học sinh cơ hội tìm hiểu khái niệm, đưa ra một số ví dụ, hiểu biết thêm về cuộc sống phân biệt được đâu là hỗn hợp đâu là dung dịch một cách dễ hiểu thuộc mức đơn giản nhất vận dụng
kiến thức, kĩ năng đã học vào thực tiễn biết cách tách dung dịch và hỗn hợp Trong bài
36 trang 74 và bài 37 trang 76 (SGK Khoa học lớp 5) mới đầu vào bài học trẻ được
hoạt động theo nhóm “Tạo một hỗn hợp gia vị” và “Tạo một dung dịch đương” có những bước chuẩn bị->tiến hành thí nghiệm->quan sát rồi báo cáo lại từ đó rút ra được khái niệm về hỗn hợp và dung dịch dưới sự hướng dẫn của giáo viên Qua việc làm thí nghiệm và làm nhóm sẽ giúp cho bé có tinh thần đoàn kết, tự chủ tự ý thức cao hơn
“một cây làm chẳng nên non ba cây chụm lại nên hòn núi cao” giúp tiếp thu nhanh đưa
ra thành quả tốt hơn, việc thực hành tiếp xúc với vật dụng thí nghiệm quen thuộc sẽ thúc đẩy trí sáng tạo, nhớ bài tốt đồng thời tạo hứng thú cho trẻ Từ thí nghiệm trẻ sẽ hiểu rõ về khái niệm một cách đơn giản nhất rồi đưa ra các ví dụ thân thuộc trong cuộc sống trẻ một cách nhanh nhẹn, đúng đẳn khi giáo viên yêu cầu Sau khi tìm hiểu khái niệm và ví dụ thì trẻ sẽ được học cách “Tách các chất ra khỏi hỗn hợp” bằng các cách đơn giản như sàng, sẩy, lọc, làm lắng còn dung dịch phải tách các chất bằng việc chưng cất Sau khi trẻ biết được các phương pháp tách thì sẽ lại chuẩn bị vật liệu để
làm thí nghiệm (có thể làm trên lớp hoặc làm tại nhà) được nêu tại trang 75 của bài
36 và trang 77 của bài 37-SGK Khoa học lớp 5.
*Còn Đại học: trong bài hỗn hợp và dung dịch cũng được học lại lý thuyết hỗn hợp,
dung dịch và nêu ví dụ tuy nhiên câu từ tại Đại học sẽ ngắn gọn hơn bởi vì chúng em
có thể tự suy luận được những khái niệm trừu tượng còn các bé còn nhỏ nên cần sử
dụng câu từ rõ ràng, thân thuộc nhất (vd Đại học: Dung dịch là là hỗn hợp một hoặc
vài chất này tan vào trong một chất kia không thể phân biệt riêng từng chất Còn Tiểu học: Hỗn hợp chất lỏng với chất rắn bị hòa tan và phân bố đều hoặc hỗn hợp chất
lỏng với chất lỏng hòa tan vào nhau được gọi là dung dịch-trang 76 bài 37-SGK