Tăng cường mối liên hệ sư phạm giữa nội dung dạy học lý thuyết tập hợp và lôgic, cấu trúc đại số với nội dung dạy học số học trong môn toán cấp tiểu học cho sinh viên khoa giáo dục tiểu học các trường đại học
Trang 1Trường đại học Vinh
-
Nguyễn Thị Châu Giang
Tăng cường mối liên hệ sư phạm giữa nội dung dạy học Lý thuyết tập hợp vμ lôgic, cấu trúc đại số với nội dung dạy học Số học trong môn toán cấp tiểu học cho sinh viên
khoa giáo dục tiểu học các trường ĐạI học
Chuyên ngành: Lý luận vμ phương pháp dạy học bộ môn toán
Trang 2trường Đại học Vinh
Người hướng dẫn khoa học:
1 PGS TS Đỗ Đình Hoan
2 GS TS Đμo Tam
Phản biện 1: PGS.TS Bùi Văn Nghị
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Phản biện 2: PGS.TS Đào Thái Lai
Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam
Phản biện 3: TS Trần Đình Châu
Dự án Giáo dục THCS II
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận án cấp nhà nước
họp tại trường Đại học Vinh, 182 đường Lê Duẩn, thành phố Vinh, tỉnh
Nghệ An vào hồi ……… ngày…… tháng…….năm 200…
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc Gia
- Thư viện trường Đại học Vinh
Trang 3luận án đ∙ được công bố
1 Nguyễn Thị Châu Giang (2004), “Phát huy năng lực tự học của sinh viên qua học
phần Toán cao cấp I góp phần đào tạo giáo viên tiểu học đạt chuẩn”, Kỷ yếu hội thảo quốc gia, Vinh, tr.97-100
2 Nguyễn Thị Châu Giang (2005), “Kết nối mạch kiến thức Lý thuyết tập hợp và
lôgic với nội dung môn Toán ở tiểu học cho sinh viên”, Tạp chí Giáo dục, (số đặc
biệt), tr.45-46, 24
3 Nguyễn Thị Châu Giang (2005), Giáo trình Toán cao cấp 1, (Lưu hành nội bộ–
dùng cho ngành GDTH), Trung tâm thông tin và Thư viện Trường Đại học Vinh
4 Nguyễn Thị Châu Giang (2006), “Thực trạng dạy học Toán cao cấp 1 ở khoa
Giáo dục tiểu học các trường Đại học sư phạm”, Tạp chí Giáo dục, kì 2 (số 130),
tr.29-tr.31
5 Nguyễn Thị Châu Giang (2006), “Tìm hiểu nội dung dạy học số thập phân ở lớp 5
trên cơ sở của toán học cao cấp”, Tạp chí Giáo dục, kì 2 (Đặc san về lớp 5 và lớp
10), tr.17-18, 22
6 Nguyễn Thị Châu Giang (2006), “Sự cần thiết tăng cường mối liên hệ giữa toán
cao cấp với nội dung dạy học toán ở tiểu học cho sinh viên”, Tạp chí Giáo dục,
(Đặc san), tr.27-28
7 Nguyễn Thị Châu Giang (2007), “Thực trạng nhận thức của giáo viên tiểu học về
quan điểm toán cao cấp trong sách giáo khoa toán tiểu học”, Tạp chí Giáo dục,
kì 1 (số 153), tr.37-38, 41
8 Nguyễn Thị Châu Giang (2007), “Làm rõ cơ sở lý thuyết tập hợp của nội dung
dạy học số tự nhiên ở tiểu học cho sinh viên”, Tạp chí Giáo dục, kì 2 (số 163),
tr.24-26
9 Nguyễn Thị Châu Giang (2007), “Nâng cao “tính dạy nghề” trong dạy học Toán
cao cấp 1 cho sinh viên thông qua một số chuyên đề theo tiếp cận môđun”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học, Trường Đại học Vinh – Dự án phát triển giáo viên tiểu học, Vinh, tr.109-113
10 Đào Tam, Nguyễn Thị Châu Giang (2008), “Dạy học Toán cao cấp theo hướng tăng cường mối liên hệ sư phạm với nội dung dạy học toán ở tiểu học cho sinh
viên”, Tạp chí Giáo dục, kì 1 (số 195) tr.38-40
11 Nguyễn Thị Châu Giang (2008), “Làm rõ cơ sở toán học của một số phương pháp giải toán ở tiểu học góp phần “nghiệp vụ hoá” nội dung dạy học Toán cao cấp trong trường sư phạm”, Tạp chí Giáo dục, số đặc biệt, tr.55-57
Trang 4Mở đầu
1 Lý do chọn đề tμi
1.1 Một trong những quan điểm xây dựng chương trình và sách giáo khoa (SGK) Toán tiểu học (TH) ở Việt Nam mấy chục năm gần đây là trình bày các kiến thức cơ bản của môn Toán dưới ánh sáng những quan điểm, tư tưởng của toán học cao cấp, toán học hiện đại Điều đó đặt ra một yêu cầu về việc dạy học toán cao cấp trong trường sư phạm đào tạo giáo viên tiểu học (GVTH), các nội dung dạy học cần phải sát thực, gắn liền với nội dung toán liên quan ở TH Nghiên cứu khai thác các yếu tố nghiệp vụ sư phạm trong dạy học toán cao cấp, góp phần nâng cao tính dạy nghề cho sinh viên (SV) là một yêu cầu cần thiết và cấp bách
1.2 Nhiều tác giả trong và ngoài nước đã có công trình đề cập đến việc cung cấp các kiến thức cơ bản về những vấn đề thuộc chương trình toán phổ thông cho giáo viên nói chung như: N Ia Vilenkin, Ian Stewart, Trần Văn Hạo, Hà Sỹ Hồ, Đỗ Ngọc Đạt…Và cho GVTH nói riêng như: A M Pưshkalo,
K J Neshkov, Nguyễn Tiến Đức, Đỗ Trung Hiệu, Trần Diên Hiển… Trong chương trình đào tạo GVTH, một số tài liệu về phương pháp dạy học toán của các tác giả Liutvica Elensca, A M Rusetski; Phạm Văn Hoàn; Hà Sĩ Hồ; Đỗ Trung Hiệu, Đỗ Đình Hoan, Vũ Dương Thuỵ, Vũ Quốc Chung; Nguyễn Phụ
Hy …đã xuất hiện sự phân tích, giải thích nội dung dạy học toán ở TH trên cơ
sở của toán cao cấp, tuy nhiên đây không phải là mục tiêu chính của các công trình nên vấn đề được nêu còn chưa đầy đủ và chi tiết
Như vậy, cho đến nay trong các trường sư phạm đào tạo GVTH chưa có công trình nào đi sâu vào thiết lập các mối liên hệ sư phạm giữa nội dung
dạy học toán cao cấp với nội dung dạy học toán liên quan ở TH một cách đầy
đủ và chuyển tải tới SV sự nhận thức đúng đắn về vai trò của toán cao cấp đối
với thực tiễn dạy học toán ở TH
1.3 Qua điều tra các giảng viên (GV) dạy Lý thuyết tập hợp (LTTH) và lôgic (LG), Cấu trúc đại số (CTĐS) và SV khoa Giáo dục tiểu học (GDTH) một số trường Đại học (ĐH) trong nước, GVTH các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình…chúng tôi nhận thấy phần đông SV và GVTH chưa nhận thức đầy đủ quan điểm của LTTH và LG, CTĐS thể hiện trong SGK Toán TH, giáo viên còn gặp nhiều khó khăn trong việc vận dụng kiến thức LTTH và LG, CTĐS vào quá trình dạy học Đây là một hạn chế của giáo viên trước yêu cầu
đổi mới về chương trình, nội dung và phương pháp dạy học ở TH
Tất cả những vấn đề nêu trên là lý do để chúng tôi chọn đề tài: Tăng cường
mối liên hệ sư phạm giữa nội dung dạy học LTTH và LG, CTĐS với nội dung dạy học SH trong môn Toán cấp TH cho SV khoa GDTH các trường ĐH
2 Mục đích nghiên cứu
Xây dựng một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường mối liên hệ sư phạm giữa nội dung dạy học LTTH và LG, CTĐS với nội dung dạy học SH trong môn Toán TH cho SV khoa GDTH ở các trường ĐH
Trang 53 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Phân tích mối liên hệ sư phạm giữa nội dung dạy học LTTH và LG, CTĐS với nội dung dạy học SH ở TH Tìm hiểu thực trạng mối liên hệ sư phạm giữa hai nội dung dạy học này trong quá trình dạy học ở trường ĐH và trong dạy học
4 Đối tượng nghiên cứu, khách thể nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Một số giải pháp nhằm tăng cường mối liên hệ sư
phạm giữa nội dung dạy học LTTH và LG, CTĐS với nội dung dạy học SH trong môn Toán TH
- Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học LTTH và LG, CTĐS ở trường
ĐH và quá trình dạy học SH ở TH
5 Giả thuyết khoa học
Nếu việc dạy học LTTH và LG, CTĐS ở khoa GDTH các trường ĐH được
dự tính các giải pháp về trang bị kiến thức, chú trọng thực hành nhằm tăng cường mối liên hệ sư phạm với nội dung dạy học SH ở TH thông qua việc
điều chỉnh, bổ sung hệ thống bài tập (BT) trong giáo trình môn học và qua một số chuyên đề theo hướng tiếp cận môđun thì sẽ góp phần nâng cao hiệu quả dạy nghề cho SV và chất lượng dạy học toán ở trường TH
7.2 Đóng góp vào lý luận về sự cần thiết và có thể tăng cường mối liên hệ sư phạm giữa nội dung dạy học LTTH và LG, CTĐS với nội dung dạy học SH ở
TH cho SV
7.3 Xây dựng hai giải pháp chủ yếu nhằm góp phần tăng cường mối liên hệ sư phạm giữa nội dung dạy học LTTH và LG, CTĐS với nội dung dạy học SH ở
TH cho SV
8 Những luận điểm đưa ra bảo vệ
8.1 Mối liên hệ sư phạm giữa nội dung dạy học LTTH và LG, CTĐS với nội dung dạy học SH ở TH đã tồn tại, gần đây nhất là từ khi hiện đại hoá giáo dục phổ thông những năm 60 của thế kỷ XX và ở Việt Nam là năm 1981 nhưng
Trang 6vẫn còn “ẩn tàng” chưa được làm rõ Do đó việc dạy học trong nhà trường sư phạm nên khai thác một cách đúng mức mối liên hệ này để giúp SV nắm vững hơn các kiến thức của LTTH và LG, CTĐS và thấy rõ hơn cơ sở toán học của nội dung dạy học SH ở TH Điều này có ý nghĩa đối với GVTH trong việc nâng cao năng lực phân tích chương trình, SGK Toán TH trên quan điểm của toán học cao cấp, toán học hiện đại, phát huy tính tích cực chủ động của giáo viên trong quá trình dạy học
8.2 Hai giải pháp mà luận án đề xuất cho việc dạy học LTTH và LG, CTĐS ở trường ĐH đã góp phần tăng cường mối liên hệ sư phạm với nội dung dạy học
SH ở TH Trong bối cảnh hiện nay thì hai giải pháp luận án đề xuất là hiệu quả
và có tính khả thi
8.3 Việc triển khai hai giải pháp chúng tôi đề xuất sẽ góp phần đẩy mạnh công tác đổi mới nội dung và phương pháp đào tạo trong nhà trường sư phạm theo định hướng tổ chức các hoạt động để phát huy tính độc lập, sáng tạo, chú trọng bồi dưỡng các năng lực khám phá, phát hiện và giải quyết vấn đề, kiến tạo kiến thức của SV trong trường ĐH
9 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận án có 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn ( 42 trang, từ tr 9 đến tr 50 của luận án) Chương 2: Các giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường mối liên hệ sư phạm giữa nội dung dạy học LTTH và LG, CTĐS với nội dung dạy học SH trong môn Toán TH cho SV (81 trang, từ tr.51 đến tr.131 của luận án)
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm (17 trang, từ tr.132 đến tr.148 của luận án)
chương I: Cơ sở lý luận vμ thực tiễn 1.1 Tìm hiểu mối liên hệ sư phạm giữa nội dung dạy học LTTH và LG, CTĐS với nội dung dạy học SH trong môn Toán TH
1.1.1 Về nội dung LTTH và LG, CTĐS trong chương trình Giáo dục ĐH ngành GDTH
1.1.1.1 Mục tiêu dạy học LTTH và LG, CTĐS
1.1.1.2 Nội dung dạy học LTTH và LG, CTĐS
- Lý thuyết tập hợp (thuộc học phần Toán học 1): Trình bày những vấn đề
cơ bản về tập hợp, quan hệ, ánh xạ, giải tích tổ hợp
- Lôgic toán (thuộc học phần Toán học 1): Trình bày những vấn đề cơ bản
về lôgic mệnh đề, lôgic vị từ, suy luận và chứng minh
- Cấu trúc đại số (thuộc học phần Toán học 2): Trình bày những vấn đề cơ
bản về phép toán hai ngôi, nửa nhóm và vị nhóm, nhóm, vành, trường
1.1.2 Về nội dung SH trong chương trình môn Toán TH mới
1.1.2.1 Vị trí, vai trò của SH trong môn Toán TH
Trang 7+ Môn Toán TH là một môn học thống nhất, lấy SH làm hạt nhân và các mạch nội dung khác (đại lượng và đo đại lượng, yếu tố hình học, giải toán có lời văn) được sắp xếp xen kẽ và tạo ra sự hỗ trợ nhau với mạch SH Các yếu
tố đại số, yếu tố thống kê được tích hợp ngay trong mạch SH vừa giảm nhẹ khối lượng nội dung vừa tăng tính ứng dụng của hạt nhân SH Bốn nội dung này được sắp xếp xen kẽ, tạo sự hỗ trợ lẫn nhau, dựa vào SH đồng thời củng
cố, phát triển làm tăng khả năng ứng dụng trong thực tế của nội dung SH + SH là nội dung trọng tâm, dạy học các nội dung SH góp phần chủ yếu vào việc hình thành và phát triển kỹ năng tính toán, một trong số các kỹ năng cơ bản của người lao động trong thế kỷ XXI Thời lượng dạy học SH chiếm tỉ lệ lớn so với tổng thời lượng dạy học toán ở TH
+ Các mạch nội dung được sắp xếp theo nguyên tắc đồng tâm nhưng hợp lý, kiến thức sau mở rộng và phát triển hơn kiến thức trước theo các vòng số Việc dạy học các mạch nội dung khác về cơ bản phải dựa vào kết quả dạy học SH để xây dựng và phát triển
1.1.2.2 Nội dung dạy học SH
Nội dung dạy học SH được chúng tôi trình bày dựa theo Chương trình Giáo dục Phổ thông, cấp TH; Bộ Giáo dục và Đào tạo, năm 2006
1.1.2.3 Đặc điểm của cách thể hiện nội dung SH ở TH
Một trong những đặc điểm chính đó là các nội dung cơ bản của SH được trình bày dưới ánh sáng tư tưởng của toán học cao cấp, toán học hiện đại Việc trình bày như vậy đã nâng cao được tính khoa học, tính thực tiễn của chương
trình và SGK, giữ được sự ổn định trong dạy học toán ở TH
1.1.3 Mối liên hệ giữa nội dung dạy học LTTH và LG, CTĐS với nội dung dạy học SH trong môn Toán TH
Chúng tôi chỉ ra một số sự thể hiện khái niệm của LTTH và LG, CTĐS
trong nội dung SH ở TH để khẳng định rằng đã tồn tại mối liên hệ sư phạm
giữa nội dung dạy học LTTH và LG, CTĐS ở trường ĐH với nội dung dạy học SH trong môn Toán TH
1.2 Thực trạng mối liên hệ sư phạm giữa nội dung dạy học LTTH và
LG, CTĐS với nội dung dạy học SH ở TH trong quá trình dạy học ở trường ĐH và trong dạy học SH ở trường TH
1.2.1 Khảo sát thực trạng mối liên hệ sư phạm giữa nội dung dạy học LTTH và LG, CTĐS với nội dung dạy học SH ở TH trong quá trình dạy học ở trường ĐH
Điều tra 30 GV trực tiếp dạy Toán cao cấp ở khoa GDTH các trường
Trang 8hành chưa được tận dụng để khai thác tính nghiệp vụ trong các nội dung kiến thức môn học
1.2.1.2 Mức độ kiến thức, kỹ năng của SV sau khi học LTTH và LG, CTĐS
* Đánh giá từ phía GV: Phần đông GV khi được hỏi đều cho rằng, việc dạy học
LTTH và LG, CTĐS chưa thực sự quan tâm tới tính sát hợp với thực tiễn nghề nghiệp của SV, thiếu định hướng sư phạm trong quá trình dạy học
* Khả năng vận dụng LTTH và LG, CTĐS làm sáng rõ nội dung dạy học SH ở TH của SV
Chúng tôi nhận thấy phần đông SV chưa nắm được tinh thần, quan điểm của LTTH và LG, CTĐS thể hiện trong chương trình và SGK Toán TH
1.2.2 Tìm hiểu thực trạng nhận thức của GVTH về mối liên hệ sư phạm giữa nội dung dạy học LTTH và LG, CTĐS với nội dung dạy học SH ở TH
1.2.2.1 Nhận biết của giáo viên đối với một số khái niệm, tính chất của SH trong SGK Toán TH
Qua những gợi ý về cách dạy, định hướng các hoạt động học tập, hình
ảnh minh hoạ…thể hiện như trong SGK hiện nay, GVTH có thể hiểu và giảng dạy được những kiến thức toán học cơ bản nhất thuộc phạm vi chương trình
đến cho HS
1.2.2.2 Khả năng vận dụng LTTH và LG, CTĐS để phân tích, giải thích SGK
Chúng tôi nhận thấy, khả năng sử dụng các kiến thức toán cao cấp để tìm hiểu nội dung dạy học toán ở TH của giáo viên còn hạn chế Phần đông giáo viên chỉ dừng lại ở mức độ hiểu và giảng dạy được những kiến thức thuộc phạm vi chương trình SGK, chưa thực sự quan tâm tới cơ chế LG của việc hình thành các khái niệm, chưa thấy được ngôn ngữ của LTTH, các CTĐS ẩn tàng trong chương trình và SGK Toán TH Điều này ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng dạy học SH ở trường TH
1.3 Sự cần thiết của việc tăng cường mối liên hệ sư phạm giữa nội dung dạy học LTTH và LG, CTĐS với nội dung dạy học SH trong môn Toán
1.3.1.1 Theo hướng hiện đại và phát triển
- Nội dung các môn học phải đáp ứng được những yêu cầu đổi mới về mục tiêu, nội dung của chương trình đào tạo GVTH, đảm bảo cho SV có đủ các kiến thức cơ sở chuyên ngành liên quan tới những nội dung giảng dạy đã
được quy định trong chương trình TH Nội dung đào tạo cần phải cập nhật sự phát triển của lĩnh vực đào tạo GVTH trong khu vực và trên thế giới, đáp ứng kịp thời và đón trước sự phát triển của GDTH trong nước
Trang 9- Chuyển từ đào tạo chuyên ngành quá hẹp sang bảo đảm một nền giaó dục
đại cương đủ rộng tạo điều kiện cho việc tiếp thu tốt các môn học chuyên ngành, chuẩn bị cho SV có đủ tiềm lực thích ứng với những phát triển mới của ngành nghề được đào tạo Nội dung đào tạo ĐH không quá dàn trải mà phải có một vài mặt nâng cao, đi sâu hơn, tạo điều kiện cho SV có thể học cao hơn nữa Chuyển dần từ đào tạo các kiến thức, kỹ năng sang đào tạo các năng lực
- Coi trọng việc tập dượt cho SV nghiên cứu khoa học, chuẩn bị cho họ có khả năng giải quyết những vấn đề đặt ra trong thực tiễn dạy học
- Bảo đảm những kiến thức, kỹ năng về tin học ứng dụng, sử dụng các phương tiện công nghệ thông tin vào dạy học ở TH
1.3.1.2 Theo hướng đào tạo các năng lực và luôn gắn liền với thực tiễn
Đổi mới nội dung và tổ chức đào tạo trong các trường ĐH theo hướng chuyển dần từ đào tạo các kiến thức, kỹ năng sang đào tạo các năng lực cơ bản cần thiết để SV sau khi ra trường có cơ sở tiếp tục tự học nữa, học suốt đời
Để SV có các năng lực cần thiết cho nghề nghiệp tương lai, cần tạo ra các tình huống để họ được tập luyện, vận dụng tri thức vào việc phân tích, nhận biết và giải quyết vấn đề Những tình huống này càng gắn với thực tiễn nghề nghiệp càng làm cho họ thích nghi với thực tiễn dạy học sau này hơn
Ví dụ: Việc nghiên cứu lời giải cho bài toán TH có thể dùng làm phương tiện hình thành khái niệm phép toán giao các tập hợp cho SV theo con đường khảo sát bằng quy nạp
Cho bài toán: “Một lớp học có số HS là số có ba chữ số mà chữ số hàng trăm là 3 Nếu xếp HS thành hàng 10 hoặc hàng 12 thì thừa ra 8 em, nếu xếp thành hàng 8 thì vừa đủ Tính số HS của lớp học đó” Yêu cầu SV:
* Phân tích bài toán: - Gọi số HS của lớp là abc Nhận thấy a = 3 và số tự nhiên 3bc - 8 chia hết cho các số 10, 12 và 8 Nói cách khác, 3bc - 8 là bội chung của 10, 12, 8 và 3bc - 8 < 400 Dễ nhận thấy, 3bc - 8 = 360
- Gọi A, B, C lần lượt là tập các số chia hết cho 10, tập các số chia hết cho 12
và tập các số chia hết cho 8
* Phát hiện vấn đề: Tập hợp chỉ gồm một số 360 chính là giao của các tập hợp A, B, C Kí hiệu: {360} = A ∩ B ∩ C
* Khái quát hoá dẫn tới khái niệm phép toán giao trên các tập hợp
1.3.1.3 Thiết kế chương trình đào tạo có tính mở và tính mềm dẻo
Xây dựng chương trình đào tạo có tính mở và mềm dẻo, bao gồm cả các
học phần và các chuyên đề đặc biệt là chuyên đề tự chọn Chương trình đào
tạo như vậy giúp SV tự lựa chọn được cho mình một chương trình học phù hợp với năng lực, trình độ, sở thích của bản thân
ở Việt Nam, xu thế chung trong giáo dục thường có hai hình thức môn
học tự chọn: Tự chọn bắt buộc và Tự chọn không bắt buộc
Các loại hình môn học như vậy làm “mềm hoá” quá trình đào tạo và tăng hiệu quả đào tạo, tạo điều kiện cho SV rèn luyện năng lực chuyên môn
Trang 10sâu một số môn học mà họ có nhu cầu nâng cao, khi ra trường có thể đáp ứng yêu cầu phân công giảng dạy hoặc phấn đấu trở thành giáo viên nòng cốt về một môn học, tạo được môi trường để SV chủ động trong việc lựa chọn tiến độ học tập phù hợp nhu cầu cá nhân và thuận lợi trong công tác đổi mới phương pháp dạy học ở ĐH
1.3.1.4 Xây dựng giáo trình - bài giảng theo hướng tiếp cận môđun dạy học
Đổi mới phương pháp dạy học ở trường ĐH theo quan điểm lấy người học làm trung tâm, tăng cường các hoạt động học tập đòi hỏi phải đổi mới cách thức biên soạn giáo trình - bài giảng dưới dạng tài liệu hướng dẫn học tập theo hướng tiếp cận môđun dạy học
Cách biên soạn giáo trình - bài giảng theo môđun dạy học đã và đang góp phần đổi mới công tác giáo dục ĐH hiện nay Người học luôn được khuyến khích hoạt động ở bất kỳ thời điểm nào, nơi nào có thể được trên tinh thần phát huy khả năng sáng tạo và kỹ năng giải quyết vấn đề Đặc biệt, môđun dạy học rất phù hợp với các chuyên đề trong chương trình đào tạo, bồi dưỡng có tính mở và mềm dẻo như hiện nay, tạo điều kiện thuận lợi cho GV
tổ chức dạy học các chuyên đề dưới dạng tự chọn, hoặc dưới dạng tài liệu tự học cho một môn học nào đó trong chương trình đào tạo, hoặc tài liệu bổ sung trong công tác chuẩn hoá giáo viên …
1.3.1.5 Đổi mới phương pháp dạy học phù hợp với một số lý luận dạy học ứng dụng
Định hướng đổi mới phương pháp dạy học ở ĐH phù hợp với một số lý
luận dạy học ứng dụng như: Lý thuyết hoạt động, Lý thuyết tình huống, Lý thuyết kiến tạo
Những lý thuyết đó định hướng cho GV lựa chọn và sử dụng các phương pháp dạy học mới như: Hoạt động hoá người học, dạy học hợp tác theo nhóm, phát hiện và giải quyết vấn đề, khám phá, dạy học kiến tạo…
1.3.2 Yêu cầu tăng cường mối liên hệ sư phạm giữa nội dung dạy học LTTH và LG, CTĐS với nội dung dạy học SH ở TH
1.3.2.1 Tích hợp khoa học cơ bản (KHCB) và khoa học giáo dục (KHGD) trong công tác đào tạo GVTH
Tích hợp là quá trình hợp nhất, hoà nhập, hợp thành các phần tử riêng lẻ vào trong một chỉnh thể thống nhất nhằm đạt được mục tiêu đề ra, dạy học theo tư tưởng tích hợp còn được gọi là dạy học hợp nhất các khoa học
Trong công tác đào tạo GVTH ở các trường sư phạm, khái niệm tích
hợp KHCB và KHGD được hiểu là tăng cường sự liên hệ những nội dung có liên quan khi giảng dạy các môn KHCB và các môn KHGD riêng lẽ
Theo như bốn cách tích hợp mà Xavier Roegiers đã nêu thì tích hợp KHCB và KHGD tương ứng với cách thức 4 “tích hợp các môn học xung quanh những mục tiêu chung cho nhiều môn học”
Dạy học KHCB nhằm trang bị những kiến thức cơ bản của ngành học,
đồng thời cũng chuẩn bị tiềm lực cho SV ra giảng dạy ở phổ thông Hai
Trang 11nhiệm vụ này liên quan mật thiết với nhau và được hoà quyện trong chương trình giảng dạy ở ĐH
Tăng cường lồng ghép nội dung đào tạo nghiệp vụ trong nội dung dạy học các bộ môn KHCB thực chất là khái niệm tích hợp đào tạo KHCB và KHGD Tuy nhiên, để làm được điều đó GV phải là người có trình độ nghiệp
vụ vững vàng, thông hiểu chương trình và SGK môn học tương ứng ở TH, nắm được hệ thống những năng lực mà SV cần đạt sau khi tham gia môn học,
có khả năng liên hệ, lồng ghép thích hợp những nội dung môn học ở TH liên quan trong quá trình dạy học KHCB nhằm đạt được mục tiêu tích hợp
1.3.2.2 Tăng cường mối liên hệ sư phạm giữa nội dung dạy học LTTH và
LG, CTĐS với nội dung dạy học SH ở TH
* Tăng cường mối liên hệ sư phạm giữa nội dung dạy học LTTH và LG,
CTĐS với nội dung dạy học SH ở TH được hiểu là làm tường minh hơn mối liên hệ nội dung và làm cho mạnh hơn sự tác động lẫn nhau về tính giáo dục giữa hai nội dung dạy học này
* Mối liên hệ sư phạm giữa nội dung dạy học LTTH và LG, CTĐS với nội dung dạy học SH ở TH được biểu hiện thông qua một số dấu hiệu cụ thể sau:
- Nội dung dạy học LTTH và LG, CTĐS sử dụng được như một công cụ để phát hiện phương pháp giải quyết vấn đề trong dạy học SH ở TH
- Trên cơ sở nội dung dạy học LTTH và LG, CTĐS có thể phân tích, giải thích được cơ sở khoa học của nội dung dạy học SH ở TH
- Nội dung dạy học SH ở TH có thể sử dụng làm phương tiện để hình thành khái niệm, tính chất, quy tắc trong dạy học LTTH và LG, CTĐS ở trường ĐH
* Việc làm rõ mối liên hệ sư phạm sẽ giúp SV nắm vững hơn kiến thức LTTH
và LG, CTĐS ở trường ĐH, mặt khác SV sau khi ra trường có khả năng huy
động hiệu quả những kiến thức và năng lực của mình để giải quyết một cách
hữu ích những tình huống xuất hiện trong quá trình dạy học SH ở TH
* Việc dạy học LTTH và LG, CTĐS cho SV phải dựa vào cách tiếp cận tích
hợp như đã phân tích ở trên Mục tiêu tích hợp được đề ra trên cơ sở phân tích những năng lực mà người GVTH tương lai phải chiếm lĩnh để dạy tốt nội dung SH và phát triển hơn nữa Theo chúng tôi, để dạy tốt nội dung SH thì người GVTH cần phải đạt được những năng lực cơ bản sau:
i>Năng lực phân tích chương trình, giải thích cơ sở toán học của nội dung dạy học SH trong SGK Toán TH ii> Năng lực tổ chức các hoạt động dạy học nội dung SH ở TH iii> Năng lực huy động kiến thức toán học vào việc dạy học giải toán cho HS iv> Năng lực đánh giá các sản phẩm giáo dục
* Để tăng cường mối liên hệ sư phạm giữa nội dung dạy học LTTH và LG, CTĐS với nội dung dạy học SH ở TH cần có sự biến chuyển đồng bộ về cách thức, phương pháp dạy học, về giáo trình, tài liệu trong quá trình dạy học LTTH và LG, CTĐS và phải đảm bảo một số yêu cầu cơ bản sau:
- Trang bị cho SV những kiến thức cơ bản của LTTH và LG, CTĐS theo mục tiêu chương trình
Trang 12- Giúp SV có khả năng sử dụng kiến thức LTTH và LG, CTĐS để phân tích, giải thích các nội dung dạy học SH ở TH
- Thường xuyên sử dụng nội dung dạy học SH ở TH để xây dựng hoặc minh hoạ làm sáng rõ những khái niệm, quy tắc, tính chất của LTTH và LG, CTĐS
- Chú trọng rèn luyện cho SV khả năng sử dụng kiến thức LTTH và LG, CTĐS định hướng giải quyết các vấn đề trong quá trình dạy học SH ở TH
- Tìm kiếm và tăng cường xem xét cách thể hiện các mô hình LTTH và LG, CTĐS trong nội dung dạy học SH ở TH
minh trong chương trình và SGK Toán TH
- Trên cơ sở làm sáng tỏ thực trạng mối liên hệ sư phạm giữa nội dung dạy học LTTH và LG, CTĐS với nội dung dạy học SH ở TH, chúng tôi nhận
thấy mối liên hệ sư phạm chưa được sử dụng đúng mức trong quá trình đào tạo GVTH ở trường ĐH
- Tìm hiểu một số vấn đề về đổi mới nội dung và tổ chức đào tạo GVTH
ở trường ĐH đặc biệt là việc lồng ghép tích hợp KHCB và KHGD trong quá trình đào tạo Giải thích, làm rõ một số vấn đề lý thuyết về mối liên hệ sư phạm, yêu cầu về việc tăng cường mối liên hệ sư phạm giữa nội dung dạy học LTTH và LG, CTĐS với nội dung dạy học SH ở TH Đây là những cơ sở lý
luận và thực tiễn cho thấy rằng cần thiết phải nghiên cứu việc tăng cường mối liên hệ sư phạm với nội dung dạy học SH ở TH trong quá trình dạy học LTTH
và LG, CTĐS ở trường ĐH
Chương II:
các giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường mối liên hệ sư phạm giữa nội dung dạy học LTTH vμ LG, CTĐS với nội
dung dạy học SH trong môn toán tH cho sV
2.1 Nguyên tắc xây dựng các giải pháp
Nguyên tắc1: Góp phần đáp ứng mục tiêu đào tạo GVTH có trình độ ĐH Nguyên tắc 2: Đảm bảo tính đồng bộ và linh hoạt khi triển khai các giải pháp Nguyên tắc 3: Đảm bảo tính khả thi và tính hiệu quả
2.2 Các giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường mối liên hệ sư phạm giữa nội dung dạy học LTTH và LG, CTĐS với nội dung dạy học SH trong môn Toán TH cho SV
Trang 132.2.1 Giải pháp 1: Điều chỉnh và bổ sung hệ thống BT trong các giáo trình
LTTH và LG, CTĐS trên quan điểm tích hợp, lồng ghép để bước đầu làm rõ
mối liên hệ giữa kiến thức môn học với nội dung dạy học SH ở TH
2.2.1.1 Lý do chọn giải pháp
Hệ thống BT trong các giáo trình là phương tiện tốt để SV rèn luyện
khả năng thực hành vận dụng kiến thức mới học Tuy nhiên, hệ thống BT trong
các giáo trình LTTH và LG, CTĐS chưa được tận dụng để xác lập mối liên hệ
giữa nội dung môn học với nội dung dạy học SH ở TH Do đó, cần có sự điều
chỉnh, bổ sung hệ thống BT trên tinh thần tăng cường mối liên hệ sư phạm này
2.2.1.2 Mục tiêu của giải pháp
Điều chỉnh, bổ sung hệ thống BT trong các giáo trình LTTH và LG,
CTĐS hiện nay nhằm giúp SV bước đầu có những hiểu biết về mối liên hệ
giữa nội dung dạy học LTTH và LG, CTĐS với nội dung dạy học SH ở TH
2.2.1.3 Điều chỉnh, bổ sung hệ thống BT trong các giáo trình LTTH và LG,
CTĐS
2.2.1.3a Phương hướng chung của việc điều chỉnh, bổ sung hệ thống BT
a Giữ nguyên những dạng BT nhằm luyện tập, thực hành trực tiếp kiến
thức mới học
Chúng tôi đề xuất giữ nguyên những dạng BT cơ bản trong các giáo
trình hiện hành, giúp SV khắc sâu, củng cố kiến thức, rèn luyện kỹ năng vận
dụng kiến thức vào thực tiễn, góp phần rèn luyện cho SV các kỹ năng cơ bản
của môn học, phát triển những phẩm chất tư duy và năng lực cần thiết
b Đề xuất bổ sung các BT liên quan đến việc dạy học nội dung SH ở TH
dựa trên các dạng mô hình khái quát của LTTH và LG, CTĐS
i> So sánh, đối chiếu sự giống nhau của các BT cùng dạng ở TH để khái quát
thành mô hình chung trên cơ sở LTTH và LG, CTĐS
Ví dụ: Xem xét các bài toán ở TH sau:
Bài toán 1: Có bao nhiêu đoạn thẳng trong hình vẽ 2.1?
hình 2.1 Bài toán 2: Có bao nhiêu tam giác trong hình vẽ 2.2?
hình 2.2
Bài toán 3: Trong phòng họp có 5 người Tất cả họ đều bắt tay nhau một lần
Hỏi có bao nhiêu cái bắt tay?
* Các bài toán trên đều có chung một phương pháp giải như sau:
- Từ đối tượng đã cho (điểm, người…) thứ nhất ta đếm được 4 đối tượng cần
tìm (đoạn thẳng, tam giác, cái bắt tay…)
- Từ đối tượng đã cho thứ hai ta đếm được 3 đối tượng cần tìm
- Từ đối tượng đã cho thứ ba ta đếm được 2 đối tượng cần tìm
- Từ đối tượng đã cho thứ tư ta đếm được 1 đối tượng cần tìm
- Từ đối tượng đã cho thứ năm ta đếm được 0 đối tượng cần tìm
Như vậy, số đối tượng cần tìm sẽ là: 4 + 3 + 2 + 1 + 0 = 10