1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu về tình hình tuân thủ điều trị tăng huyết áp và một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị của người tăng huyết áp tại quận bình thủy, thành phố cần thơ năm 2021

117 69 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu về tình hình tuân thủ điều trị tăng huyết áp và một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị của người tăng huyết áp tại quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ năm 2021
Tác giả Trần Song Hậu
Người hướng dẫn TS.BS Nguyễn Tấn Đạt
Trường học Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
Chuyên ngành Y học
Thể loại Nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2022
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 2,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan, đề tài “Nghiên cứu về tình hình tuân thủ điều trị tăng huyết áp và một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị của người tăng huyết áp tại Quận bình thủ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ

BÌNH THỦY, TP.CẦN THƠ NĂM 2021

TRẦN SONG HẬU TS.BS NGUYỄN TẤN ĐẠT

Cần Thơ – năm 2022

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG CỦA SINH VIÊN

NGHIÊN CỨU VỀ TÌNH HÌNH TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ TĂNG HUYẾT ÁP VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ

BÌNH THỦY, TP.CẦN THƠ NĂM 2021

Chủ nhiệm đề tài: Trần Song Hậu

Tham gia đề tài: Nguyễn Viễn Thông, Thạch Thị Cha Ro Da, Thạch Ngọc Nữ Thu, Nguyễn Thị Kiều Lan

Cán bộ hướng dẫn: TS.BS Nguyễn Tấn Đạt

Cần Thơ – năm 2022

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình làm nghiên cứu này, nhóm đã gặp nhiều khó khăn khi tiến hành nghiên cứu Nhờ sự giúp đỡ nhiệt tình của các quý thầy cô mà nhóm đã có thể hoàn thành nghiên cứu này

Lời đầu tiên, nhóm nghiên cứu xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến

giảng viên hướng dẫn TS.BS.Nguyễn Tấn Đạt, người đã giúp đỡ và chỉ dẫn

rất nhiều cho nhóm nghiên cứu khi chúng em gặp khó khăn, trắc trở

Tiếp đến nhóm chúng em cũng xin gửi lời cảm ơn đến nhà trường và các quý thầy cô ở Khoa Y Tế Công Cộng cũng đã tạo điều kiện và hỗ trợ chúng em thực hiện đề tài này Nếu như không có sự giúp đỡ của các thầy cô thì nghiên cứu này đã không thể hoàn thành

Chúng em xin trân trọng cảm ơn

Thay mặt nhóm tác giả

Trần Song Hậu

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan, đề tài “Nghiên cứu về tình hình tuân thủ điều trị

tăng huyết áp và một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị của người

tăng huyết áp tại Quận bình thủy, TP.Cần Thơ năm 2021” là công trình

nghiên cứu riêng của tôi và cộng sự Các kết quả của nghiên cứu này chưa từng

được công bố ở bất cứ đâu cho đến thời điểm này

Các số liệu mà chúng tôi thu thập cũng như kết quả nghiên cứu là trung

thực và hoàn toàn không có sự sao chép các công trình nghiên cứu tương tự có

trước Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm nếu phát hiện ra bất kỳ sự sao chép

hay thiếu trung thực nào

Cần Thơ, ngày tháng năm 2022

Chủ nhiệm ký tên

Trần Song Hậu

Trang 5

MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

PHẦN 1 TÓM TẮT ĐỀ TÀI

PHẦN 2 TOÀN VĂN CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Tổng quan về tăng huyết áp 3

1.2 Điều trị tăng huyết áp 11

1.3 Tuân thủ điều trị 12

1.4 Một số nghiên cứu về tình hình tuân thủ điều trị tăng huyết áp và các yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị 15

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17

2.1 Đối tượng nghiên cứu 17

2.2 Phương pháp nghiên cứu 17

2.3 Đạo đức trong nghiên cứu 28

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 29

3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 29

3.2 Tuân thủ điều trị của người bệnh tăng huyết áp ở Quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ 35

3.3 Một số yếu tố liên quan đến không tuân thủ điều trị tăng huyết áp 39

Chương 4 BÀN LUẬN 46

4.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 46

4.2 Tuân thủ điều trị của người bệnh tăng huyết áp ở Quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ năm 2021 51

4.3 Một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị tăng huyết áp 56

Trang 6

KẾT LUẬN 62 KIẾN NGHỊ 63 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

PHẦN 1 TÓM TẮT ĐỀ TÀI

1 Đặt vấn đề

Tăng huyết áp (THA) là bệnh lý tim mạch phổ biến và gây ra nhiều biến chứng ảnh hưởng tới bản thân và là gánh nặng cho gia đình và xã hội Hiện nay việc tuân thủ điều trị (TTĐT) của người THA vẫn còn chưa tốt Theo Tổ chức

Y tế Thế giới (WHO), không tuân thủ điều trị hoặc tuân thủ kém được xem là

lý do quan trọng dẫn đến việc kiểm soát huyết áp không tốt, đưa đến các biến chứng, tử vong ở bệnh nhân THA Theo nghiên cứu của Abegaz, T M., Shehab

và các cộng sự (2017) phân tích tổng hợp tình hình tuân thủ điều trị THA theo thang điểm Morisky trên 25 nghiên cứu của 15 quốc gia từ 2009 đến 2016 cho thấy tỷ lệ bệnh nhân không tuân thủ điều trị là 45,2% [55] Tại Cần Thơ một số

đề tài nghiên cứu cũng cho thấy tỷ lệ TTĐT của người bệnh THA cũng đang rất đáng báo động, chỉ có 31,3% TTĐT theo nghiên cứu của tác giả Lê Trương Phúc Thuấn (2017) [47], 45,6% theo tác giả Nguyễn Bá Nam (2018) [33] Các nguyên nhân về lối sống, vận động, ăn uống được đưa vào nghiên cứu chứng minh có liên quan tới nhau Nhưng ngoài việc tìm được nguyên nhân, việc TTĐT cũng góp phần ổn định, duy trì huyết áp tốt Vì vậy chúng tôi thực hiện

đề tài: “Nghiên cứu về tình hình TTĐT THA và một số yếu tố liên quan đến TTĐT của người bệnh THA tại quận Bình Thủy, TP Cần Thơ năm 2021” với các mục tiêu xác định tỷ lệ TTĐT tăng huyết áp và một số yếu tố liên quan đến

TTĐT ở người bệnh tăng huyết áp tại quận Bình Thủy, Cần Thơ 2021

2 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Người dân tăng huyết áp từ 30 tuổi trở lên được quản lý tại phường Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp mô tả cắt ngang phân tích

Áp dụng công thức tính cỡ mẫu ước tính một tỷ lệ với độ chính xác tuyệt đối

Trang 8

là 300

Chọn mẫu theo hình thức chọn mẫu ngẫu nhiên qua hai giai đoạn:

Giai đoạn 1: Chọn ngẫu nhiên 3 trong 8 phường vào nghiên cứu Qua

bốc thăm ngẫu nhiên chúng tôi chọn được 3 phường gồm phường Long Hòa, Long Tuyền, Bùi Hữu Nghĩa

Giai đoạn 2: Xác định danh sách người dân THA theo dõi và điều trị tại

3/8 trạm y tế phường thuộc quận Bình Thủy bằng cách liên hệ với TYT xin danh sách Người bệnh THA được quản lý trong mỗi phường được chọn sẽ được mời tham gia nghiên cứu

3 Kết quả nghiên cứu

Tỷ lệ tuân thủ điều trị dùng thuốc ở người bệnh THA theo thang điểm Morisky chiếm 74% Mức độ tuân thủ điều trị tốt và trung bình chiếm tỷ lệ như nhau 37%, còn mức độ tuân thủ điều trị tốt kém chiếm 26% Có 70,3% người bệnh TTĐT không dùng thuốc, nữ giới tuân thủ nhiều hơn nam giới Người bệnh TTĐT chung chiếm tỷ lệ 55,3%, nữ TTĐT nhiều hơn nam

Nhận thấy các yếu tố như nhóm tuổi, trình độ học vấn, dân tộc, mối quan

hệ bệnh nhân với thầy thuốc, chi phí điều trị và tự tìm hiểu về bệnh THA có mối liên quan với tuân thủ điều trị dùng thuốc; các yếu tố như trình độ học vấn, giới tính, mối quan hệ bệnh nhân với gia đình có mối liên quan với tuân thủ điều trị không dùng thuốc và nhóm tuổi từ 30-69 tuổi, trình độ học vấn, giới tính, dân tộc, mối quan hệ bệnh nhân với thầy thuốc, chi phí điều trị có mối liên quan với tuân thủ chung

Trang 9

4 Kết luận

Tỷ lệ tuân thủ điều trị bệnh tăng huyết áp chung chiếm 55,3%, tuân thủ điều trị dùng thuốc chiếm 74% và 70,3% là tuân thủ điều trị không dùng thuốc Tuân thủ điều trị dùng thuốc ở mức độ trung bình và kém chiếm tỷ lệ cao, tỷ lệ này bị ảnh hưởng bởi tuổi, trình độ học vấn và mối quan hệ bệnh nhân với thầy thuốc Vì vậy cần nâng cao hơn mối quan hệ bệnh nhân với thầy thuốc để cải thiện tình trạng tuân thủ điều trị của bệnh nhân

Trang 10

PHẦN 2 TOÀN VĂN CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU

Trang 11

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ACTH Adrenocorticotropic hormone (hormone hướng vỏ thượng

thận) BHYT Bảo hiểm y tế

BMI Chỉ số khối cơ thể

ĐTĐ Đái tháo đường

FAO Food and Agriculture Organization(Tổ chức Lương thực và

Nông nghiệp Liên Hợp Quốc)

HATT Huyết áp tâm thu

HATTr Huyết áp tâm trương

HIV/AIDS Hội chứng Suy giảm Miễn dịch Mắc phải

HTL Hút thuốc lá

KTC Khoảng tin cậy

RLCH Rối loạn chuyển hóa

Trang 12

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Phân độ tăng huyết áp theo JNC VII (năm 2003) 4

Bảng 1.2 Phân loại tăng huyết áp tại Việt Nam 4

Bảng 3.1 Đặc điểm nhóm tuổi, dân tộc, tính chất nghề nghiệp, tiền sử gia đình có tăng huyết áp, tình trạng hôn nhân 29

Bảng 3.2 Đặc điểm giới tính, kinh tế gia đình, trình độ học vấn 30

Bảng 3.3 Tình hình tham gia và sử dụng BHYT 31

Bảng 3.4 Khoảng cách từ nhà đến nơi điều trị 31

Bảng 3.5 Đặc điểm về thói quen hút thuốc lá và hút thuốc lá thụ động 31

Bảng 3.6 Tình hình theo dõi cân nặng 32

Bảng 3.7 Lý do không tái khám thường xuyên 32

Bảng 3.8 Tình hình huyết áp hiện tại 33

Bảng 3.9 Thời gian, hoàn cảnh phát hiện bệnh 33

Bảng 3.10 Phân loại BMI 34

Bảng 3.11 Số bệnh mạn tính mắc kèm theo 34

Bảng 3.12 Mức độ tuân thủ điều trị thuốc hạ áp theo thang điểm Morisky 35

Bảng 3.13 Tuân thủ chế độ ăn rau củ trái cây, ăn nhạt, VĐTL, tái khám và theo dõi huyết dõi huyết áp 36

Bảng 3.14 Tuân thủ hạn chế uống rượu bia và hút thuốc lá 37

Bảng 3.15 Tuân thủ điều trị không dùng thuốc 37

Bảng 3.16 Một số yếu tố liên quan đến không tuân thủ điều trị dùng thuốc 39 Bảng 3.17 Một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị không dùng thuốc 41 Bảng 3.18 Một số yếu tố liên quan đến không tuân thủ điều trị chung 42

Bảng 3.19 Tóm tắt các yếu tố liên quan đến không tuân thủ điều trị dùng thuốc, không dùng thuốc, và tuân thủ chung 44

Trang 13

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Tỉ lệ kiểm soát huyết áp của đối tượng nghiên cứu (n=300) 34

Biểu đồ 3.2 Tuân thủ điều trị dùng thuốc theo Morisky chung 35

Biểu đồ 3.3 Tuân thủ điều trị chung của đối tượng nghiên cứu 38

Biểu đồ 3.4 Số chế độ tuân thủ điều trị của đối tượng 38

Trang 14

ĐẶT VẤN ĐỀ Tăng huyết áp (THA) là bệnh lý tim mạch phổ biến và nguy hiểm trên

toàn thế giới Việc điều trị bệnh tăng huyết áp là sự kết hợp điều trị dùng thuốc

và thay đổi lối sống của bệnh nhân nhằm mục tiêu giữ cho chỉ số huyết áp nằm trong giới hạn bình thường Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), không tuân thủ điều trị hoặc tuân thủ kém được xem là lý do quan trọng dẫn đến việc kiểm soát huyết áp không tốt, đưa đến các biến chứng, tử vong ở bệnh nhân tăng huyết áp Vì thế, việc tuân thủ điều trị tăng huyết áp là vô cùng quan trọng, Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC) cho biết, chỉ trong 10 năm, 10 triệu cơn đau tim và đột quỵ có thể được ngăn chặn trên toàn thế giới bằng cách điều trị chỉ một nửa số người bị tăng huyết áp không kiểm soát được Tuy nhiên theo báo cáo CDC tuân thủ điều trị bệnh tăng huyết áp trên thế giới đạt tỷ lệ tương đối thấp chỉ từ 20-30% GS.TS Nguyễn Lân Việt, Chủ tịch Hội tim mạch Việt Nam cho biết, hiện cả nước có tới 25% dân số mắc bệnh về tim mạch và tăng huyết áp Đặc biệt, trong những năm gần đây đang trẻ hóa Tỷ lệ tăng huyết áp của những người từ 25 tuổi trở lên ở Việt Nam là 47% nhưng nhiều người còn nhiều người thờ ơ, chủ quan với sức khỏe tim mạch của chính mình [54] Theo nghiên cứu của Abegaz, T M., Shehab và các cộng sự (2017) phân tích tổng hợp tình hình tuân thủ điều trị tăng huyết áp theo thang điểm Morisky trên 25 nghiên cứu của 15 quốc gia từ 2009 đến 2016 cho thấy tỷ lệ bệnh nhân không tuân thủ điều trị là 45,2% [55] Các nghiên cứu tại Việt Nam đã báo cáo về tỷ lệ bệnh nhân tăng huyết áp tuân thủ điều trị khác nhau, một số nghiên cứu khác đã quan tâm kiến thức, thái độ, thực hành tuân thủ điều trị [13],[17],[41] và các tỷ lệ này còn rất thấp Tại Cần Thơ một số đề tài nghiên cứu cũng cho thấy tỷ lệ tuân thủ điều trị chung của người bệnh tăng huyết áp cũng rất đáng báo động như Lê Trương Phúc Thuấn (2017) 31,3%, Nguyễn Bá Nam (2018) 45,6%, Nguyễn Trần Phương Thảo (2019) tỷ lệ tuân thủ điều trị dùng thuốc chỉ 29,5% [47],[17],[45] Không tuân thủ điều trị tăng

Trang 15

huyết áp có nhiều lý do, một số nghiên cứu đã chứng minh mối liên hệ giữa không tuân thủ và niềm tin của bệnh nhân, tình trạng kinh tế xã hội, trình độ học vấn, dân tộc, thời gian và chi phí điều trị [10],[17] Tuy nhiên nhiều nghiên cứu khác thường chỉ tập trung vào xác định tỷ lệ tuân thủ điều trị dùng thuốc, chưa chú trọng nhiều đến các yếu tố liên quan và tại quận Bình Thủy thành phố Cần Thơ chưa có nghiên cứu nào được thực hiện Để xác định sớm các rào cản của bệnh nhân, tối ưu hóa điều trị bằng thuốc nhằm hạn chế các hậu quả và góp phần vào công tác xây dựng kế hoạch quản lý, phòng ngừa bệnh tăng huyết áp

ở cộng đồng đạt hiệu quả nên chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu về tình hình tuân thủ điều trị tăng huyết áp và một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị của người THA tại quận Bình Thủy, TP.Cần Thơ năm 2021”

với các mục tiêu sau:

Trang 16

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan về tăng huyết áp

1.1.1 Khái niệm tăng huyết áp

Huyết áp là áp lực máu tác động lên thành mạch nhằm đưa máu đến nuôi các mô trong cơ thể Áp lực này do hai yếu tố quyết định: sức đây của cơ tim

và sự đàn hồi của thành mạch Huyết áp phụ thuộc vào cung lượng tim và sức cản ngoại biên Cung lượng tim phụ thuộc vào nhịp tim và thể tích thất trái Sức cản ngoại biên là lực chống lại dòng máu, phụ thuộc vào chiều dài động mạch, bán kính động mạch và độ quánh máu Tăng huyết áp xảy ra khi có sự tăng cung lượng tim, hoặc tăng sức cản ngoại biên, hoặc cả 2 cùng gia tăng [24]

Theo Tổ chức Y tế thế giới và Bộ Y Tế Việt Nam, một người trưởng thành được gọi là THA khi huyết áp tâm thu từ 140 mmHg trở lên và/hoặc huyết áp tâm trương từ 90 mmHg hoặc đang điều trị bằng thuốc hạ áp hằng ngày hoặc có ít nhất hai lần khác nhau được bác sĩ chẩn đoán THA Mỗi lần khám huyết áp được đo ít nhất 2 lần [4],[7],[47],[68] Trên bệnh nhân tiểu đường hoặc bệnh thận, THA khi huyết áp từ 130/80 mmHg [18],[71]

THA được gọi là THA tâm thu đơn độc khi khi HATT có xu hướng tăng

và HATTP bình thường hoặc giảm (tức HATT >140 mmHg và HATTr < 90 mmHg) Giảm sức căng của động mạch là yếu tố đặc biệt quan trọng đối với THA đơn độc tâm thu [26] Độ chênh HA và HATT dự báo nguy cơ và quyết định điều trị THA tâm trương đơn độc thường xảy ra ở người trung niên, THA tâm trương thường được định nghĩa khi chỉ số HATT không tăng và HATTr có

xu hướng tăng (tức HATTr > 90 mmHg và HATT < 140mmHg) Một số nghiên cứu tiền cứu về THA tâm trương đơn độc cho thấy tiên lượng có thể lành tính, tuy nhiên vấn đề này vẫn còn nhiều tranh luận Người ta cho rằng bệnh THA đơn độc tâm trương quan trọng hơn THA đơn độc tâm thu vì HATTr liên quan chặt chẽ với bệnh mạch vành nhất là người trẻ tuổi

Trang 17

1.1.2 Phân loại tăng huyết áp

Phân loại theo chỉ số huyết áp

Ở trên cùng một người, trị số HA đã có những thay đổi theo giờ trong ngày, xu hướng cao vào buổi sáng và thấp vào ban đêm, theo phản ứng của cơ thể lúc ngủ, khi có stress, sau khi ăn no Ngoài ra, HA còn thay đổi theo giới tính, chủng tộc, tuổi Có nhiều cách phân loại THA [24]

Bảng 1.1 Phân độ tăng huyết áp theo JNC VII (năm 2003)

Phân loại HA tâm thu HA tâm trương

Bình thường < 120 và <80

Tiền tăng huyết áp 120-139 hoặc 80-89

Tăng huyết áp độ 1 140-159 hoặc 90-99

Tăng huyết áp độ 2 > 160 hoặc > 100

Nguồn: Tổ chức Y Tế Thế Giới-2003[67]

Cách phân độ THA tại Việt Nam: Xuất phát từ cách phân độ THA của WHO/ISH và JNC, Hội Tim mạch Việt Nam đã đưa ra cách phân độ như sau:

Bảng 1.2 Phân loại tăng huyết áp tại Việt Nam

Tâm thu Tâm trương

THA tâm thu đơn độc ≥ 140 < 90

Nguồn: Bộ Y Tế Việt Nam [4]

Trang 18

Nếu HATT và HATTr không cùng mức phân độ thì chọn mức cao hơn

để xếp loại THA tâm thu đơn độc cũng được phân độ theo các mức độ biến động của huyết áp tâm thu [4]

Phân loại tăng huyết áp theo nguyên nhân

Tùy theo nguyên nhân có thể chia ra: THA thứ phát và THA nguyên phát Ở trẻ em và những người trẻ, phần lớn là THA thứ phát Ở người cao tuổi, phần lớn là THA nguyên phát [30]

Tăng huyết áp nguyên phát

THA nguyên phát (vô căn) chiếm 90-95%, là dạng không tìm được tên nhân cụ thể gây nên tình trạng THA [19] Do không tìm được nguyên nhân nên việc điều trị chỉ là điều trị triệu chứng và người bệnh phải uống thuốc trong một thời gian dài Bệnh có thể do sự tương tác giữa yếu tố di truyền và môi trường như gia tăng hoạt tính giao cảm có thể do stress tâm lý xã hội, ăn mặn, béo phì, uống rượu, stress, tuổi, giới, chủng tộc, thuốc lá, bất dung nạp glucose [12],[48]

Tăng huyết áp thứ phát

Tăng huyết áp có thể gây ra do một bệnh khác, gọi là THA triệu chứng hay THA thứ phát và nó chiếm khoảng 5-10% trong tổng số người bệnh THA [12],[19] Điểm quan trọng của THA thứ phát là có thể điều trị khỏi khi chúng

ta giải quyết được nguyên nhân gốc rễ gây ra tình trạng THA Vì vậy, cần tìm

ra nguyên nhân chính xác gây nên tình trạng THA thật kĩ trước khi cho rằng đó

là nguyên phát Các nguyên nhân chính của THA thứ phát bao gồm: bệnh thận (viêm cầu thận cấp hay mạn, thận đa nang, u thận, hẹp động mạch thận, ); bệnh nội tiết (hội chúng Conn, Cushing, u tủy thượng thận, ); bệnh tim mạch (hẹp eo động mạch chủ, hở van động mạch chủ, ); do thuốc (corticoid, ACTH, chống trầm cảm vòng, ); nguyên nhân khác (ngộ độc thai nghén, bệnh cường giáp, tăng áp lực nội sọ, ) [3],[12],[48]

1.1.3 Các yếu tố nguy cơ đến tăng huyết áp nguyên phát

1.1.3.1 Những yếu tố nguy cơ có thể điều chỉnh được

Trang 19

Ăn mặn

Người thường hay ăn mặn, có nhiều chất muối Natri Clorua thì nguy cơ mắc bệnh THA càng cao Người dân ở vùng ven biển có tỷ lệ THA cao hơn so với người dân ở vùng đồng bằng và miền núi Trong một khảo sát gần đây cho biết lượng muối trung bình mỗi người Việt Nam tiêu thụ từ 18-22g/ngày, tức gấp 3-4 lần so với khuyến cáo [5] Nhiều nghiên cứu đã chứng minh nếu thực hiện chế độ ăn < 6 gam muối mỗi ngày có thể làm giảm được HA từ 4 đến 8 mmHg [20],[62]

Hút thuốc lá, thuốc lào

Trong thuốc lá, thuốc lào có nhiều chất kích thích, đặc biệt có chất Nicotin kích thích hệ thần kinh giao cảm làm co mạch và gây THA Nhiều shiên cứu ghi nhận khi người hút một điếu thuốc lá có thể làm THA tối đa, còn gọi là HATT lên tới 11 mmHg và huyết áp tối thiểu, còn gọi là HATTr lên tới 9 mmHg và kéo dài trong khoảng thời gian từ 20 đến 30 phút [15],[20] Vì vậy, nếu trong sinh hoạt hàng ngày không hút thuốc lá cũng là một biện pháp phòng bệnh THA [9] Bên cạnh gánh nặng về bệnh tật và tử vong, hút thuốc còn tạo ra gánh nặng

về tài chính Thuốc lá đã làm phát sinh chi phí khổng lồ để điều trị những ca bệnh do hút thuốc lá gây ra Theo khảo sát của Phạm Thị Tâm, Lê Minh Hữu

và cộng sự tại thành phố Cần Thơ năm 2011, tỷ lệ nam giới hiện đang hút thuốc

lá là 51,4%, có 13,2% đã bỏ thuốc lá, tuổi thường gặp nhiều nhất là 15-24 tuổi 23% [34]

Phần lớn lượng khói thuốc thoát ra không được hít vào bởi người hút Dòng khói phụ từ đầu điếu thuốc lá đang cháy tỏa ra ngoài trộn với khói chính người hút thuốc lá nhả ra thành “khói thuốc lá tỏa ra môi trường” hay còn gọi

là “khói thuốc lá thụ động” và hành động hít phải khói thuốc gọi là hút thuốc

lá thụ động” Người hút thuốc lá thụ động làm tăng nguy cơ tim mạch 30% so với người không tiếp xúc Trong số đó, hút thuốc thụ động ở công sở cũng làm

Trang 20

tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch đến 4 lần và nếu ở gia đình thì còn làm tăng lên nhiều nữa [8],[9]

Đái tháo đường và kháng insulin

Ở những người bị đái tháo đường, tỷ lệ bị bệnh THA cao gấp đôi so với người không bị đái tháo đường Khi người bệnh có cả bệnh THA và đái tháo đường sẽ làm tăng gấp đôi biến chứng ở các mạch máu lớn và nhỏ, làm tăng nguy cơ tử vong so với người bệnh THA đơn thuần Vì vậy khi bị đái tháo đường, cần phải điều trị tốt bệnh này để góp phần khống chế được bệnh THA kèm theo [15] Đái tháo đường và đề kháng insulin làm tăng nguy cơ THA, rối loạn lipid máu, tăng lắng đọng cholesterol vào mạng xơ vữa động mạch Việc điều trị và khống chế tốt đường huyết sẽ làm giảm đáng kể nguy cơ bệnh tim mạch [27]

Rối loạn mỡ máu

Nồng độ chất cholesterol trong máu cao là nguyên nhân chủ yếu của quá trình xơ vữa động mạch, dần làm hẹp lòng các động mạch cung cấp máu cho tim và các cơ quan khác trong cơ thể [21] Động mạch bị xơ vữa sẽ kém đàn hồi và đây cũng chính là yếu tố làm THA Vì vậy, cần ăn chế độ giảm lipid máu

sẽ giúp phòng bệnh tim mạch trong đó có THA [39],[58]

Uống bia, rượu

Người uống nhiều bia, rượu quá mức cũng là yếu tố nguy cơ gây bệnh tim mạch nói chung và bệnh THA nói riêng Đối với những người phải dùng thuốc để điều trị THA, việc uống bia, rượu quá mức hoặc người bị nghiện rượu

sẽ làm mất tác dụng của thuốc hạ huyết áp Như vậy làm cho bệnh THA càng nặng hơn Ngoài ra, việc uống bia, rượu quá mức còn gây bệnh xơ gan và các tổn thương thần kinh nặng nề khác Từ đó gián tiếp làm THA Vì vậy, không nên uống nhiều bia, rượu quá mức thì có thể phòng được bệnh THA [4],[39] Theo công bố kết quả điều tra quốc gia yếu tố nguy cơ bệnh không lây năm

2015 có 44,2% nam giới uống bia ở mức nguy hại [11] Theo nghiên cứu của

Trang 21

Bùi Văn Tân và cộng sự có 40% nam giới sử dụng rượu bia ở mức nguy hại [74]

Lý tưởng nhất vẫn là không uống rượu bia; nếu đã uống chỉ giữ ở mức không quá 2 đơn vị rượu/ngày hoặc 14 đơn vị/tuần đối với nam giới và không quá 1 đơn vị rượu/ngày và 7 đơn vị/tuần đối với nữ giới [5],[11],[38] Nếu uống nhiều hơn sẽ tạo yếu tố nguy cơ mắc nhiều bệnh nói chung và bệnh THA nói riêng

Ít vận động thể lực

Người ít vận động thể lực hay có lối sống tĩnh tại cũng được xem là một nguy cơ của bệnh THA Việc vận động thể lực hàng ngày đều đặn trong khoảng thời gian từ 30 đến 45 phút sẽ mang lại lợi ích rõ rệt trong biện pháp làm giảm nguy cơ bệnh tim mạch nói chung và bệnh THA nói riêng [39]

Thừa cân, béo phì

Trọng lượng của cơ thể con người có mối quan hệ khá tương đồng với bệnh THA Người béo phì hoặc người có tăng trọng lượng cơ thể theo tuổi cũng

có thể làm tăng nhanh HA Vì vậy, chế độ làm việc, ăn uống hợp lý hạn chế năng lượng và dầu mỡ, tăng cường rau xanh và trái cây cũng như luyện tập thể dục, thể thao thường xuyên sẽ tránh được dư thừa trọng lượng cơ thể [39],[61] Khi cơ thể giảm 10 kg, huyết áp có thể giảm từ 5-10 mmHg [75]

Đánh giá và phân loại BMI theo WHO, một người được gọi là gầy khi chỉ số BMI <18,5; bình thường khi BMI nằm trong khoảng 18,5 - 24,9; thừa cân khi BMI > 25 và béo phì khi BMI > 30 [37],[56] Đánh giá và phân loại dành cho người châu Á theo IDI và WPRO một người được đánh giá là gầy khi BMI < 18,5; bình thường: 18,5 – 22,9; thừa cân: 23; tiền béo phì: 23 – 24,9; béo phì độ I: 25 – 29,9; béo phì độ II: ≥30 [37]

Căng thẳng, lo âu quá mức và trầm cảm

Nhiều nghiên cứu đã chứng minh được những người bị căng thẳng thần

kinh, lo âu quá mức hay bị stress sẽ làm tăng nhịp tim Vì vậy, mỗi người cần

Trang 22

rèn luyện cho mình tính tự lập, kiên nhẫn và luôn biết làm chủ bản thân trước mọi vấn đề xảy ra trong cuộc sống Nếu thực hiện được vấn đề này thì có thể hạn chế tối đa những căng thẳng, lo âu, stress xảy ra đối với mình, đồng thời

đây cũng chính là một biện pháp phòng bệnh THA [39]

Theo Kohn R, rối loạn trầm cảm ở người cao tuổi là 5,6% [54] Mối liên

hệ giữa trầm cảm và bệnh lý tim mạch được bàn đến rất sớm trong y học hiện đại Theo các nghiên cứu này tỷ lệ trầm cảm ở bệnh nhân tim mạch chiếm khoảng 20% - 35% [74] Những người mắc bệnh mạn tính phải đối mặt với -

cơ trầm cảm cao hơn từ 25%-33% so với những người không có bệnh mạn tính Bất kì tình trạng bệnh mạn tính nào cũng có thể gây nên bệnh trầm cảm, nó là nguy cơ làm gia tăng mức độ nghiêm trọng của bệnh và làm đảo lộn cuộc sống của người bệnh [36] Cơ chế bệnh sinh giữa trầm cảm và bệnh tim mạch nói chung và THA nói riêng được cho là có mối liên hệ 2 chiều (bidirectional relationship) về mặt hóa sinh, hormon - thần kinh Người ta thấy rằng những bệnh nhân tim mạch nguy cơ cao sẽ dễ mắc bệnh trầm cảm hơn nhóm còn lại

và ngược lại trầm cảm lại là yếu tố nguy cơ đối với bệnh tim mạch Trầm cảm

là một đóng góp đáng kể cho gánh nặng bệnh tật toàn cầu, ước tính trầm cảm ảnh hưởng đến 350 triệu người trên thế giới và sẽ chiếm 5,7% gánh nặng bệnh tật toàn cầu vào năm 2020 và trở thành bệnh đúng thứ hai sau bệnh thiếu máu cục bộ cơ tim [60] Tỷ lệ trầm cảm ở bệnh nhân tim mạch có khác nhau theo vài nghiên cứu nhưng hầu hết những thống kê cho thấy tỷ lệ mắc trầm cảm biểu hiện ở mức độ triệu chứng và trầm cảm thực sự chiếm tỷ lệ từ 15-30% [60] Tại Việt Nam, theo nghiên cứu của Lý Thị Phương Hoa (2010), tỷ lệ trầm cảm ở người bệnh THA là 26,5% [19]

Các yếu tố khác

Chế độ khẩu phần ăn đủ lượng rau quả sẽ tốt cho huyết áp Những người

ăn ít rau quả sẽ có tỷ lệ THA cao hơn Trên toàn thế giới khoảng 1,7 triệu (2,8%)

ca tử vong là do ít ăn trái cây và rau củ Ăn ít hoa quả là một trong số 10 yếu tố

Trang 23

nguy cơ hàng đầu gây tử vong toàn cầu Chế độ ăn nhiều rau và hoa quả đảm bảo một lượng đầy đủ nhất dinh dưỡng, các vi chất, chất xơ cần thiết Báo cáo WHO/FAO gần đây về chế độ ăn sống, dinh dưỡng và phòng ngừa các bệnh mạn tính, đặt ra mục tiêu dinh dưỡng khuyến cáo dân số ăn ít nhất 400g trái cây

và rau quả mỗi ngày để phòng ngừa các bệnh mạn tính [39],[65]

1.1.3.2 Những yếu tố nguy cơ không thể điều chỉnh được

Tiền sử gia đình có người bị tăng huyết áp

Theo thống kê của nhiều nhà khoa học qua kết quả nghiên cứu ghi nhận bệnh THA có thể có yếu tố di truyền Trong một gia đình, nếu có ông, bà, cha,

mẹ bị bệnh THA thì con cái có nguy cơ mắc bệnh này nhiều hơn Một số nghiên cứu cho rằng vai trò của di truyền chi phối khoảng 30-40% THA, vai trò của di truyền thấy rõ khi theo dõi HA của các cặp song sinh cùng trứng so sánh với các cặp song sinh khác trứng Do đó, những người mà tiền sử gia đình có người thân bị bệnh THA thì cần phải cố gắng loại bỏ các yếu tố nguy cơ THA, như vậy mới có khả năng phòng tránh được bệnh THA [15]

Tuổi và giới tính

Tuổi càng cao thì tỷ lệ THA càng nhiều do thành động mạch bị lão hóa

và xơ vữa, giảm tính đàn hồi, trở nên cứng hơn, làm cho huyết áp tối đa hay HATT tăng cao hơn, gọi là THA tâm thu đơn thuần [15],[23] THA thường xảy

ra ở người trên 35 tuổi Nam giới thường bắt đầu bị THA từ 35-50 tuổi, do tiếp xúc với nhiều yếu tố nguy cơ như hút thuốc lá, sử dụng rượu bia quá mức Nữ giới thường bắt đầu THA sau tuổi mạn kinh do sự suy giảm nội tiết tố sinh dục

là tăng nguy cơ béo phì và xơ vữa động mạch [23],[27],[70]

1.1.4 Biến chứng của tăng huyết áp

Đại đa số các người bệnh THA (trên 90%) thường không có các dấu hiệu nào cảnh báo trước Cách duy nhất để biết mình bị THA là đo huyết áp [68] Biến chứng của THA không chỉ phụ thuộc vào mức độ THA mà còn phụ thuộc vào sự hiện diện của các yếu tố nguy cơ tim mạch, thời gian mắc bệnh và chế

Trang 24

độ điều trị, gồm hai dạng cấp và mạn [1] Bốn biến chứng chính của bệnh THA

là ở tim, thận, não và mắt [2],[12],[26],[44] Nhiều bệnh nhân chỉ được chẩn đoán khi có biến chứng ở một trong các cơ quan này [48]

1.2 Điều trị tăng huyết áp

1.2.2 Điều trị dùng thuốc

Đối tượng THA độ I trở lên theo JNC VII có thể dùng đơn độc một thuốc hoặc phối hợp từ 2 thuốc trở lên, 5 nhóm thuốc được dùng để điều trị THA là: Lợi tiểu; Chẹn β; Ức chế canxi; Ức chế men chuyển; Ức chế thụ thể angiotensin II; Phối hợp điều trị thuốc với điều trị không dùng thuốc cho hiệu quả cao hơn [63]

1.2.3 Điều trị không dùng thuốc

Bên cạnh việc dùng thuốc điều trị, người ta ngày càng quan tâm hơn đến liệu pháp điều trị không dùng thuốc Các biện pháp thay đổi lối sống như: chế

độ ăn hợp lý, đảm bảo đủ kali và các yếu tố vi lượng: việc hạn chế tuyệt đối muối Natri trong thức ăn là điều không thể thực hiện được Do đó, giảm ăn mặn (< 6 gam muối hay 1 thìa cà phê muối mỗi ngày), hạn chế sử dụng các thức ăn chế biến sẵn (thực phẩm đóng hộp, cá hoặc thịt khô, mắm) [38] Tăng cường rau xanh, hoa quả tươi, hạn chế thức ăn có nhiều cholesterol và axít béo no Tích cực giảm cân (nếu quá cân), duy trì cân nặng lý tưởng với chỉ số khối cơ thể (BMI) từ 18,5 đến 22,9 kg/m2 [61] Cố gắng duy trì vòng bụng dưới 90 cm

Trang 25

ở nam và dưới 80 cm ở nữ Hạn chế uống rượu, bia: số lượng ít hơn 3 ly chuẩn/ngày (nam), ít hơn 2 ly chuẩn/ngày (nữ) và tổng cộng ít hơn 14 ly chuẩn/tuần (nam), ít hơn 9 ly chuẩn/tuần (nữ) Một ly chuẩn chứa 10g ethanol tương đương với 330ml bia hoặc 120ml rượu vang, hoặc 30ml rượu mạnh [52] Ngừng hoàn toàn việc hút thuốc lá là một biện pháp hữu hiệu và ít tốn kém nhất

để giảm các yếu tố nguy cơ tim mạch nói chung và THA nói riêng [9] Mỗi ngày nên tập luyện thể lực ít nhất 30 phút Sự tập luyện như vậy sẽ giảm được huyết áp từ 4-9 mmHg Tránh lo âu, căng thẳng thần kinh cần chú ý đến việc thư giãn, nghỉ ngơi hợp lý Tránh bị lạnh đột ngột [24]

1.3 Tuân thủ điều trị

Theo Tổ chức Y tế thế giới “Tuân thủ là mức độ mà bệnh nhân thực hiện theo các hướng dẫn được đưa ra cho phương pháp điều trị [10],[76] Theo Ranial và Morisky cũng đưa ra định nghĩa về tuân thủ điều trị thuốc như sau:

“Tuân thủ là mức độ hành vi của bệnh nhân đối với việc uống thuốc, theo đuổi chế độ kiêng ăn và/hoặc thay đổi lối sống tương ứng với khuyến cáo của nhân viên y tế [61] Việc TTĐT bao gồm TTĐT không dùng thuốc và tuân thủ dùng thuốc hạ áp theo chỉ định của bác sỹ là một yếu tố được công nhận rõ ràng góp phần kiểm soát tăng huyết áp [33]

1.3.1 Tuân thủ điều trị dùng thuốc

Theo JNC, tuân thủ điều trị thuốc là việc thực hiện đúng loại thuốc, liều lượng và thời gian uống theo đơn bác sỹ Các nghiên cứu đã khẳng định việc dùng thuốc đều đặn vẫn là yếu tố quyết định nhằm duy trì mức huyết áp của bệnh nhân trong giới hạn cho phép làm giảm nguy cơ tai biến và đột quỵ

Có nhiều phương pháp đánh giá về TTĐT đối với bệnh không truyền nhiễm trong đó có THA Các phương pháp đo lường tuân thủ có thể được chia thành các phương pháp trực tiếp và gián tiếp

+ Phương pháp đo lường trực tiếp:

Trang 26

Như định lượng nồng độ thuốc trong máu và nước tiểu, dùng chất đánh dấu thuốc, quan sát bệnh nhân trực tiếp dùng thuốc Những phương pháp này giúp đo lường chính xác sự tuân thủ trong dùng thuốc nhưng lại không khả thi khi áp dụng thực tế trên số lượng lớn bệnh nhân hoặc điều trị ngoại trú tại nhà, nhất là trong thời gian dài

+ Phương pháp đo lường gián tiếp:

Phương pháp thường được dùng như đếm viên thuốc, dùng dụng cụ theo dõi việc mở các lọ thuốc điện tử như Medication Events Monitoring System Tuy nhiên một phương pháp áp dụng phổ biến hơn là bệnh nhân tự tường thuật hoặc ghi nhật ký thuốc có thể làm cho kết quả cao hơn thực tế [73]

Một số nghiên cứu áp dụng phương pháp bệnh nhân tự khai báo khi phỏng vấn phối hớp với kiểm tra ngẫu nhiên qua điện thoại Một số nghiên cứu

áp dụng cách thức bệnh nhân tự khai báo thông qua bộ câu hỏi phỏng vấn

Trong các thang đo gián tiếp, việc lựa chọn công cụ tự khai báo có độ tin cậy sẽ giúp cho việc thực hiện nghiên cứu khả thi và đạt được mục tiêu Trong

đó, bộ câu hỏi phỏng vấn của Morisky (MAQ – medication adherenchie questionnaire – Morisky 8) là một thang đo được áp dụng rộng rãi hơn cả trong rất nhiều nghiên cứu tuân thủ điều trị bệnh mạn tính, dặc biệt là THA [57] Tại Thái Lan, nhóm nghiên cứu của Rapin Polsook kiểm định chi biết độ tin cậy bên trong là 0,9 và khuyến nghị phù hợp sử dụng tại khu vực Đông Nam Á Tác giả Lavsa SM đánh giá 5 thang đo năm 2011 trong đo lường tuân thủ điều trị THA khuyến nghị nên sử dụng thang đo Morisky do những ưu điểm như đơn giản, ngắn, câu hỏi trực tiếp và dung hòa giữa độ nhạy và độ tin cậy Một

số thang đó tuân thủ điều trị khác như thang đo BMQ (Brief medication questionnaire), MARS (medication adherence rating scale) nhưng mạnh hơn trong các nghiên cứu bệnh lý trầm cảm, rối loạn tâm thần [59],[69]

1.3.2 Tuân thủ các chế độ không dùng thuốc trong điều trị tăng huyết áp

1.3.2.1 Tái khám và theo dõi huyết áp

Trang 27

Tái khám thường xuyên nhằm phát hiện, kiểm soát sớm các yếu tố bất thường mới xảy ra là điều cần thiết, theo đúng chỉ định của bác sỹ là việc làm hết sức quan trọng, nhất là đối với những người bệnh mới phát hiện THA, mục đích của tái khám và theo dõi huyết áp nhằm có chiến lược điều trị tốt nhất cho người bệnh [54],[64]

1.3.2.2 Chế độ ăn

Chế độ ăn phòng chống THA (DASH) đã được kiểm chứng có khả năng làm hạ huyết áp Chế độ ăn DASH là chế độ ăn tập trung vào các thực phẩm có nguồn gốc từ thực vật, sản phẩm sữa ít chất béo, thịt gia cầm, cá và các loại hạt Người bệnh nên ăn ít nhất 400 gram thực phẩm thực vật mỗi ngày Vấn đề ăn mặn ngày càng được nhấn mạnh trong việc điều trị và kiểm soát HA Muối hiện được coi là một trong những nguy cơ quan trọng của THA Theo khuyến cáo không nên ăn quá 6 gram muối/ngày đối với người bình thường và 5 gram muối/ngày đối với người có THA Tuy nhiên việc đánh giá chính xác lượng muối tiêu thụ hằng ngày của từng người là rất khó Chất béo có tác dụng giúp

hỗ trợ tiêu hóa và chuyển hóa một số vitamin tan trong dầu, tuy nhiên việc tiêu thụ quá nhiều chất béo nhất là chất béo có nguồn gốc động vật hoặc tranfats là một yếu tố nguy cơ đối với bệnh THA [43],[62]

1.3.2.3 Không hút thuốc lá

Các bằng chứng nghiên cứu cho thấy nguy cơ của hút thuốc lá với THA

và các biến cố tim mạch, người THA mà hút thuốc lá sẽ làm tăng nguy cơ tim mạch lên nhiều lần Việc bỏ thuốc lá cũng làm giảm đáng kể các nguy cơ tim mạch ở bệnh nhân THA [11],[12],[18],[21]

1.3.2.4 Hạn chế rượu bia

Lý tưởng nhất vẫn là không uống rượu bia; nếu đã uống chỉ giữ ở mức không quá 2 ly chuẩn/ngày hoặc 14 ly chuẩn/tuần đối vơi nam giới và không quá 1 ly chuẩn/ngày và 7 ly chuẩn/tuần đối với nữ giới [53]

Trang 28

1.3.2.5 Vận động thể lực

Tập luyện thể lực là một phần không thể thiếu được của chương trình điều trị hằng ngày Tập luyện thể dục giúp giảm huyết áp và giảm cân nặng hoặc giữ cho cân nặng ở mức hợp lý Chế độ tập luyện tối ưu là ít nhất 30 phút/ngày và tối thiểu 5 ngày/tuần hoặc chế độ tập luyện theo chỉ định của bác

sỹ khi có vấn đề về tim mạch [32],[33],[47]

1.4 Một số nghiên cứu về tình hình tuân thủ điều trị tăng huyết áp và các yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị

1.4.1 Tình hình tuân thủ điều trị tăng huyết áp trên thế giới

Nghiên cứu của Khadoura và cộng sự (2021) đã điều tra tỷ lệ không tuân thủ điều trị tăng huyết áp và các yếu tố liên quan đến bệnh này trong số 538 bệnh nhân tăng huyết áp Iran đến khám tại các phòng khám chính Trong cuộc khảo sát cắt ngang này tỷ lệ không tuân thủ là 65,8% [63]

Một nghiên cứu cắt ngang năm 2019 trên 187 bệnh nhân tăng huyết áp tại 12 hiệu thuốc ở Latvia sử dụng thang đo Morisky để đánh giá tuân thủ điều trị dùng thuốc, bệnh nhân được chia thành 2 nhóm tuân thủ và không tuân thủ,

sử dụng điểm cắt 6 điểm để đánh giá, những bệnh nhân ít hơn 6 điểm được đánh giá là không tuân thủ Tỷ lệ không tuân thủ điều trị dùng thuốc hạ áp ở Latvia là 46,2%; người bệnh lớn tuổi, tỷ lệ không tuân thủ điều trị ở nữ giới (68,4%) nhiều hơn ở nam giới Những lý do dẫn đến việc không dùng thuốc là hay quên (29,2%), lo lắng về việc nghiện thuốc (13,5%) và các tác dụng phụ không mong muốn (10,5%) [62]

Nghiên cứu của Hannah Iyabo Okunrinboye và các cộng sự (2019) trên

400 bệnh nhân tăng huyết áp tại bang Ondo, Nigeria sử dụng thang điểm Morisky để đánh giá mức độ tuân thủ điều trị dùng thuốc ghi nhận 387 (96,8%) người bệnh tuân thủ điều trị và 13 (3,2%) người bệnh không tuân thủ Mức độ tuân thủ điều trị dùng thuốc cao, trung bình và thấp lần lượt là 96,8%; 2,8%; 0,4% [72]

Trang 29

Một nghiên cứu có hệ thống từ năm 2009-2016 của Tadesse Melaku Abegaz (2017) dựa trên dữ liệu từ Pubmed, Scopus và Google Scholar lấy được

25 bài báo và có 13688 đối tượng được đưa vào phân tích 25 nghiên cứu sử dụng MMAS-8 để đánh giá sự tuân thủ dùng thuốc ở bệnh nhân tăng huyết áp ghi nhân tỷ lệ không tuân thủ dùng thuốc hạ áp 45,2% và tỷ lệ này cao hơn ở

nữ giới (54%) (p<0,001) [55]

1.4.2 Tình hình tuân thủ điều trị tăng huyết áp tại Việt Nam

Nghiên cứu cắt ngang của Lê Trung Hiếu (2021) trên 720 bệnh nhân tăng huyết áp tại tỉnh Vĩnh Long ghi nhận 533 (74%) người bệnh tuân thủ dùng thuốc theo thang đo Morisky và tỷ lệ này ở nữ giới (66,5%) cao hơn nam giới (p<0,05) [17]

Tác giả Thạch Thị Mỹ (2019) nghiên cứu tỷ lệ tuân thủ điều trị và một

số yếu tố liên quan đến việc tuân thủ điều trị của bệnh nhân tăng huyết áp người dân tộc Khmer tại bệnh viện Đa khoa khu vực Cầu Ngang tỉnh Trà Vinh ghi nhận tỷ lệ tuân thủ điều trị dùng thuốc chiếm 76,7% Ngoài ra tỷ lệ tuân thủ điều trị không dùng thuốc là 34% bệnh nhân có uống rượu bia trong 12 tháng qua, tỷ lệ hút thuốc lá 27,9% [32]

Nghiên cứu của Nguyễn Bá Nam (2018) thực hiện tại huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ ghi nhận tỷ lệ tuân thủ điều trị là 45,6%; nữ giới tuân thủ điều trị (55,5%) cao hơn nam giới Trong đó, TTĐT thuốc hạ áp là 59%, tái khám và theo dõi huyết áp là 48,8%, chế độ ăn là 58,1%, không hút thuốc lá là 42,6%, hạn chế rượu bia là 78,1%, vận động thể lực và theo dõi cân nặng là 64,7% [33]

Trang 30

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Người dân từ 30 tuổi trở lên có bệnh THA đang được quản lý tại cái TYT tại địa bàn quận Bình Thủy, TP Cần Thơ

2.1.2 Tiêu chuẩn chọn mẫu

Người bệnh THA không phân biệt nam nữ, từ 30 tuổi trở lên đang được quản lý tại các trạm y tế và thường trú tại quận Bình Thủy từ 6 tháng trở lên đồng ý tham gia nghiên cứu

2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ

Chúng tôi không mời tham gia vào nghiên cứu những người vắng mặt tại địa phương trong thời gian tiến hành thu thập số liệu; nằm viện trong thời gian dài Bệnh nhân không có khả năng nghe, hiểu và trả lời như mắc bệnh tâm thần, thiểu năng trí tuệ, câm điếc

2.1.4 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 12/2020 đến tháng 6/2022, tại 3 phường thuộc quận Bình Thủy, Thành Phố Cần Thơ (phường Long Hòa, phường Long Tuyền, phường Bùi Hữu Nghĩa)

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp mô tả cắt ngang

2.2.2 Cỡ mẫu

Áp dụng công thức tính cỡ mẫu ước tính một tỷ lệ với độ chính xác tuyệt đối

Công thức:

Trang 31

 

2

p 1 p n

n là cỡ mẫu nghiên cứu ước lượng

α là mức ý nghĩa = 0,05 , độ tin cậy 95%

z là trị số từ phân phối chuẩn ( z1-α/2 = 1,96)

p là tỷ lệ tuân thủ điều trị của đối tượng từ nghiên cứu của Nguyễn Bá Nam tại Phong Điền năm 2018 (p=0,465)

d là sai số cho phép của nghiên cứu, chọn d = 6%

Áp dụng vào công thức (1) ta được:

n = 1,962 ×0,465×(1-0,465)/0,062 = 265,5

Thêm 10% hao hụt trong nghiên cứu thì n= 292 làm tròn chúng tôi được

cỡ mẫu là 300

2.2.3 Phương pháp chọn mẫu

Chọn mẫu theo hình thức chọn mẫu ngẫu nhiên qua hai giai đoạn:

Giai đoạn 1: Chọn ngẫu nhiên 3 trong 8 phường vào nghiên cứu Qua

bốc thăm ngẫu nhiên chúng tôi chọn được 3 phường gồm phường Long Hòa, Long Tuyền, Bùi Hữu Nghĩa

Giai đoạn 2: Xác định danh sách người dân THA theo dõi và điều trị tại

3/8 trạm y tế phường thuộc quận Bình Thủy bằng cách liên hệ với TYT xin danh sách Người bệnh THA được quản lý trong mỗi phường được chọn sẽ được mời tham gia nghiên cứu

2.2.4 Nội dung nghiên cứu

2.2.4.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

Các thông tin về dân số học các đối tượng nghiên cứu

- Giới tính

Trang 32

- Tuổi được tính theo năm sinh trên chứng minh nhân dân và được chia

làm 3 nhóm: từ 30-49 tuổi, 50-69 tuổi và từ 70-93 tuổi

- Dân tộc bao gồm: Kinh, Hoa và Khơ me, và dân tộc khác

- Trình độ học vấn là cấp học cao nhất đã hoàn thành gồm các giá trị:

mù chữ, tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông và trên trung học phổ thông

- Nghề nghiệp gồm các giá trị: làm ruộng, làm vườn, công nhân, viên

chức, nội trợ, hết tuổi lao động, nghề nghiệp khác

- Tính chất nghề nghiệp gồm 3 giá trị là lao động chân tay (các nghề

nghiệp sử dụng sức lao động chân tay là chủ yếu như trồng trọt, chăn nuôi buôn bán, ), lao động trí óc (giáo viên, cán bộ cơ quan sự nghiệp hành chánh, ), khác

- Tình trạng hôn nhân gồm các giá trị: độc thân, đã kết hôn, ly thân/ly

dị, góa

- Kinh tế gia đình được phân loại dựa vào quyết định số

59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 của Thủ tướng chính phủ về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2016-2020 [38] Gồm 2 giá trị: hộ nghèo/cận nghèo, không nghèo

- Chỉ số cơ thể (BMI) được tính theo công thức: BMI = cân nặng/chiều

cao2 Phân loại BMI dành riêng cho người Châu Á, trừ người có thai theo IDI

và WPRO năm 2000 gồm các giá trị: Gầy khi có BMI < 18,5; Bình thường khi

có BMI từ 18,5-22,9; Thừa cân khi BMI = 23; Tiền béo phì khi có BMI từ 23 đến 24,9; Béo phì độ khi có giá trị BMI từ 25 trở lên [43]

- Theo dõi cân nặng ít nhất 2 tháng/lần

- Tiền sử gia đình bệnh THA

- Bảo hiểm y tế gồm 3 giá trị là có thẻ BHYT và có sử dụng, có thẻ

BHYT và không sử dụng, không có thẻ BHYT

Chế độ ăn:

Trang 33

- Ăn rau củ, trái cây ≥ 5 suất chuẩn/ngày gồm 2 giá trị đủ và không đủ

Để lượng hóa được lượng rau xanh, quả chín ta dùng suất chuẩn tương đương với 80 gram rau xanh (1 chén rau lá xanh = 1/2 chén củ (carot, đậu tươi, củ hành, bí đỏ bắp, cà, ), quả chín (1 trái (lê, bom) = 3 trái chuối = 1/2 chén nước trái cây ép hoặc trái cây xay nguyên chất) Nên ăn rau xanh, quả chín = 5 suất/ngày [75]

- Ăn mặn gồm 2 giá trị Có khi tự nhận xét hoặc được các thành viên

khác trong gia đình cho là ăn mặn Không khi được các thành viên khác trong gia đình cho là ăn nhạt hoặc ăn bình thường

- Thói quen ăn mỡ động vật, nhiều chất béo gồm 2 giá trị: Có khi thích

ăn các loại thịt mỡ, da, phủ tạng động vật hoặc thích ăn các đồ ăn chiên xào và không kiêng các loại thực phẩm này Không khi không thích ăn các loại thực phẩm trên

Thói quen sử dụng rượu bia thuốc lá:

- Hút thuốc lá gồm 4 giá trị: chưa từng hút; đã bỏ là người bệnh đã từng

hút thuốc lá nhưng hiện tại không còn hút nữa; giảm khi người bệnh có hút thuốc lá nhưng hiện tại đã giảm so với trước đây (ghi rõ số điếu giảm trung bình/ngày), không giảm là người bệnh vẫn hút bình thường không thuyên giảm

so với trước đây

- Số điếu thuốc hút trung bình mỗi ngày được phân thành 3 nhóm là <10

điếu; 10-19 điếu; 20-30 điếu

- Hút thuốc lá thụ động gồm 2 giá trị Có khi đối tượng tiếp xúc với

người hút thuốc trong gia đình, nơi sinh sống hoặc nơi làm việc (tính đến hiện tại tiếp xúc khoảng mấy năm?) Không khi đối tượng không tiếp xúc với người hút thuốc trong gia đình, nơi sinh sống hoặc nơi làm việc

Thói quen sử dụng rượu bia:

- Tần suất sử dụng rượu bia được phân thành 4 nhóm là ≥5 ngày/tuần,

1-4 ngày/tuần, 1-3 ngày/tháng, <1 ngày/tháng [74]

Trang 34

- Sử dụng nhiều bia rượu gồm có 2 giá trị có khi uống ≥ 3 ly chuẩn/

ngày hoặc ≥14 ly chuẩn/tuần đối với nam và ≥ 2 ly chuẩn/ngày hoặc ≥ 7 ly chuẩn /tuần đối với nữ (ly chuẩn tương đương với 330 ml bia hoặc 140ml rượu vang hoặc 40ml rượu mạnh); Không khi sử dụng ít hơn mức đã nêu trên [74]

Vận động thể lực:

- Vận động thể lực đúng: có khi đối tượng có vận động thể lực trung

bình tối thiểu 30 phút/ngày hoặc 150 phút/tuần và ít nhất 5 ngày/tuần Không khi đối tượng không hoặc có vận động thể lực nhưng không đủ 150 phút/tuần hoặc đủ 150 phút/tuần nhưng không đủ 5 ngày/tuần

Theo dõi chỉ số huyết áp của đối tượng nghiên cứu:

- Chế độ theo dõi huyết áp gồm 2 giá trị: hàng ngày và định kì khi đi tái

khám, không thường xuyên (không hoặc có biểu hiện THA)

- Hoàn cảnh phát hiện bệnh có 2 giá trị là có triệu chứng, vô tình phát

hiện qua khám sức khỏe

- Thời gian mắc bệnh THA gồm 2 giá trị là dưới 5 năm và từ 5 năm trở

lên

- Tái khám trong 3 tháng gần đây gồm 2 giá trị tái khám đúng hẹn và

không tái khám hoặc tái khám không đều

- Lý do không hoặc không tái khám đều có thể do các lý do như là cho

rằng tái khám không quan trọng, nghĩ rằng huyết áp ổn định, quên, không có điều kiện tái khám (bận công việc, không có tiền, không thuận tiện đi lại hay lịch khám không phù hợp)

- Một số lý do ảnh hưởng đến việc theo dõi và tuân thủ điều trị THA có

một số lý do như: quên, không có thời gian uống thuốc, số lượng thuốc quá nhiều, giá thuốc mắc, mùi vị khó uống, cho là không quan trọng và sợ tác dụng phụ

- Phân độ THA hiện tại được chia theo Hội Tim mạch Việt Nam: HA

tối ưu khi HATT < 120 mmHg và HATTr < 80 mmHg; HA bình thường khi

Trang 35

HATT từ 120-129 mmHg và HATTr từ 80-84 mmHg; HA bình thường cao khi HATT từ 130-139 mmHg và HATTr từ 85-89 mmHg; THA độ 1 khi HATT từ

140 -159 mmHg và HATTr từ 90-99 mmHg; THA độ 2 khi HATT từ 160-179 mmHg và HATTr từ 100-109 mmHg; THA độ 3 khi HATT 180 mmHg và HATTr ≥ 110 mmHg [4]

- Nhớ huyết áp cao nhất trong 3 tháng qua gồm 3 giá trị không nhớ, chỉ

nhớ HATT và nhớ được cả HATT và HATTr

- Kiểm soát tăng huyết áp: Mức huyết áp mục tiêu đạt được trên các đối

tượng nghiên cứu dựa theo khuyến cáo 2018 Hội Tim mạch học Việt Nam về chẩn đoán và điều trị tăng huyết áp, đối tượng nghiên cứu được kiểm soát huyết áp:

HATT/HATTr trên bệnh nhân không có ĐTĐ là <140/90 mmHg HATT/HATTr trên bệnh nhân có ĐTĐ là ≤ 130/80 mmHg [24]

- Bệnh mạn tính kèm theo dựa vào sổ khám sức khỏe và toa thuốc của

bệnh nhân, gồm có đái tháo đường, tim mạch, thận, đột quỵ, khớp và các bệnh khác (bệnh hô hấp, thần kinh tọa, viêm loét dạ dày)

- Số bệnh mạn tính mắc kèm theo bệnh THA là biến thứ bậc gồm 3 giá

trị không có, 1 bệnh và 2-3 bệnh

- Nguồn cung cấp thông tin THA gồm có cán bộ nhân viên y tế; bạn bè

và người thân; Tivi, Internet, sách báo

- Từ lúc phát hiện bệnh cảm thấy như thế nào? Bình thường không quan tâm, chán nản mệt mỏi, luôn lo lắng về bệnh, cảm thấy mình là gánh nặng của gia đình, không tham gia vào các hoạt động xã hội

- Tự tìm hiểu thông tin, cách điều trị, dự phòng về THA

- Hiểu biết về phương pháp điều trị THA tốt nhất gồm các giá trị: Thay đổi lối sống, dùng thuốc theo đơn của bác sĩ, kết hợp dùng thuốc và thay đổi lối sống, dùng thuốc đông y, bấm huyệt, sử dụng thực phẩm chức năng, khác (ghi rõ)

Trang 36

- Cảm nghĩ về phương pháp điều trị hiện tại: không đủ khả năng mua thuốc quên, mùi vị thuốc khó uống, sợ tác dụng phụ

- Mong muốn điều trị tại các cơ sở y tế gồm 4 giá trị: bệnh viện, phòng khám tư, trạm y tế, thầy lang

- Giá thành của chi phí điều trị gồm 2 giá trị: rất mắc, vừa phải

- Nguồn chi trả chi phí điều trị gồm các giá trị: tự chi trả, bảo hiểm y tế, người thân, khác (ghi rõ)

- Mức độ tin tưởng về kế hoạch điều trị của bác sĩ gồm các giá trị: Hoàn toàn tin tưởng, bình thường, không tin tưởng cho lắm

- Hỗ trợ gia đình gồm: quan tâm về việc dùng thuốc, quan tâm đối với các lần tái khám và tái khám, hỗ trợ về mặt tiền bạc

Mối quan hệ thầy thuốc - bệnh nhân:

- Các phương pháp được bác sĩ chỉ định điều trị gồm các giá trị: Chỉ cần thay đổi chế độ ăn, chỉ dùng thuốc, dùng thuốc kết hợp thay thế chế độ ăn, chế độ ăn + vận động thể lực, không biết

- Thái độ của bác sĩ và CBYT: nhiệt tình, bình thường, khó chịu

- Bác sĩ và CBYT chủ động tư vấn đầy đủ thông tin về bệnh THA gồm 2 giá trị:

- Tuân thủ điều trị thuốc là sự tuân thủ sự dùng thuốc theo chỉ định bác

sỹ của bệnh nhân đối với việc điều trị bệnh THA và được đánh giá theo thang đánh giá TTĐT của Morisky và có độ tin cậy là 0,823 Gồm 2 giá trị có TTĐT khi tổng số điểm của bệnh nhân ≤ 2 điểm theo thang đo Morisky Không TTĐT khi tổng số điểm của bệnh nhân > 2 điểm theo thang điểm của của thang đo Morisky (cách tính điểm được trình bày cụ thể ở phần phụ lục)

Trang 37

Mức độ TTĐT là mức độ tuân thủ của bệnh nhân trong điều trị THA

được đánh giá qua thang đo TTĐT trong y khoa của Morisky 8 nội dung [66] Đây là biến số thứ tự gồm 3 giá trị: TTĐT kém nếu tổng điểm được đánh giá theo thang đo Morisky > 2 điểm TTĐT trung bình nếu tổng điểm được đánh giá theo thang đo Morisky từ 1-2 điểm TTĐT tốt nếu tổng điểm được đánh giá theo thang đo Morisky = 0 điểm

- Tuân thủ tái khám và theo dõi huyết áp đúng khi đối tượng nghiên

cứu có tái khám thường xuyên theo lịch hẹn và theo dõi huyết áp hằng ngày hoặc định kì khi đi tái khám Không đúng khi có tái khám nhưng không thường xuyên hoặc không tái khám và chỉ đo huyết áp khi có biểu hiện THA hoặc

không đo huyết áp (cách tính điểm được trình bày cụ thể ở phân phụ lục)

- Tuân thủ điều trị chế độ ăn trái cây, rau củ: Đúng khi người bệnh

ăn 5 suất trái cây, rau củ/ngày Không đúng khi người bệnh ăn < 5 suất trái cây, rau củ/ngày (cách tính điểm được trình bày cụ thể ở phần phụ lục)

- Tuân thủ điều trị chế độ ăn nhạt: Có khi tự đánh giá hoặc được người

nhà đánh giá là ăn nhạt hoặc ăn bình thường Không đúng khi có thói quen ăn mặn

- Tuân thủ điều trị không hút thuốc lá khi đối tượng chưa từng hút

thuốc lá hoặc đã bỏ thuốc và không có hút thuốc lá thụ động đối với những người bệnh không hút thuốc lá chủ động Không TTĐT không hút thuốc lá khi hiện tại còn hút thuốc lá hoặc có hút thuốc lá thụ động (cách tính điểm được trình bày cụ thể ở phần phụ lục)

- Tuân thủ hạn chế rượu bia không đúng khi người bệnh uống ≥ 3

ly chuẩn/ ngày hoặc ≥ 14 ly chuẩn/ tuần đối với nam và ≥ 2 ly chuẩn/ ngày hoặc

≥ 7 ly chuẩn/ tuần đối với nữ (ly chuẩn tương đương với 330 ml bia hoặc 140ml rượu vang hoặc 40ml rượu mạnh); và đúng khi sử dụng ít hơn mức trên (cách tính điểm được trình bày cụ thể ở phần phụ lục)

Trang 38

- Tuân thủ vận động thể lực và theo dõi cân nặng đúng khi có vận

động thể lực ít nhất 150 phút/tuần; tối thiểu 5 ngày/tuần và có theo dõi cân nặng

ít nhất 2 tháng/lần Không đúng khi không hoặc vận động không đủ 150 phút/tuần và tối thiểu 5 ngày/tuần và không theo dõi cân nặng ít nhất 2 tháng/lần (cách tính điểm trình bày cụ thể ở phụ lục)

Đánh giá tuân thủ điều trị không dùng thuốc đúng khi đối tượng

nghiên cứu có tuân thủ điều trị từ 3/6 chế độ trở lên Không tuân thủ điều trị khi đối tượng TTĐT ít hơn 3 chế độ

Đánh giá tuân thủ điều trị chung đúng khi đối tượng nghiên cứu có

tuân thủ điều trị từ 4/7 chế độ trên trở lên và trong đó phải có TTĐT dùng thuốc

hạ áp Không tuân thủ điều trị khi không thỏa các điều kiện trên

2.2.4.3 Một số yếu tố liên quan đến không tuân thủ điều trị của người bệnh tăng huyết áp tại huyện Bình Thủy, thành phố Cần Thơ năm 2021

Giới tính, trình độ học vấn, tuổi, thừa cân béo phì, tiền sử gia đình, khoảng cách điều trị, bệnh mạn tính kèm theo, thời gian mắc bệnh, hoàn cảnh phát hiện bệnh, số năm mắc bệnh, tìm hiểu thông tin về bệnh tăng huyết áp, sự

hỗ trợ của gia đình, mối quan hệ thầy thuốc và bệnh nhân tốt khi bác sĩ và CBYT chủ động tư vấn cho bệnh nhân và có sự động viên khuyến khích ở mức rất tốt và tốt

2.2.5 Phương pháp thu thập số liệu

2.2.5.1 Kỹ thuật thu thập số liệu

Nhóm nghiên cứu thu thập số liệu bằng cách phỏng vấn trực tiếp với bộ câu hỏi kết hợp với đo lường các chỉ số nhân trắc, huyết áp của đối tượng nghiên cứu

Máy đo huyết áp YAMASU của Nhật, bàn cân có hiệu chỉnh (kg) đã được kiểm chuẩn tại Trung tâm kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường chất lượng Cần Thơ trong vòng 6 tháng Thước đo có độ chia nhỏ nhất là centimet (cm)

Trang 39

Phương pháp đo HA: đo ở tư thế ngồi, thực hiện ở cả 2 tay, cánh tay trần,

để tay ngửa lên bàn sao cho phần giữa vòng bít ngang vị trí của tim (vị trí cánh tay được điều chỉnh sao cho bằng quấn ở mức của nhĩ phải, khoảng gian sườn 2), thả lỏng cơ thể, cánh tay và các ngón, không nói chuyện khi đo Đặt trung tâm túi hơi băng quấn lên động mạch cánh tay Quấn băng của HA kế quanh tay người được đo, áp băng quấn vừa khít, túi hơi của máy đo HA phải bao phủ tối thiểu 80% vòng cánh tay và 2/3 chiều dài cánh tay, mép dưới băng quấn lên lằn khuỷu 3cm Tiếp theo người đo bắt được mạch cánh tay ở đầu trong nếp gấp khuỷu rồi đặt ống nghe lên vị trí mạch đập Sau đó bơm hơi vào đến khi kim đồng hồ lên đến mức không còn nghe thấy tiếng đập rồi bơm thêm 30 mmHg Cuối cùng, xả hơi từ từ với tốc độ 2-3 mmHg/giây Sử dụng âm thanh pha I và pha IV của korotkoff để xác định HATT, HATr

HATT (pha I Korotkoff) ghi nhận khi nghe tiếng mạch đập đầu tiên HATr (pha IV hoặc V) được ghi nhận khi mất tiếng đập hoặc thay đổi

Trang 40

Cân và thước đo dây

Chuẩn bị đối tượng và phương pháp đo:

Đo chiều cao: sử dụng thuốc đo độ dài 150cm, dùng thước dây chia độ cao lên tường hoặc tòa nhà thẳng đứng Người được đo đứng thẳng, hai gót chân chạm vào nhau tạo thành hình chữ V, mắt nhìn thẳng ra trước sao cho mắt ngang với mức tai Hai gót chân, mông, vai, lưng, và chẩm tựa nhẹ vào thành thước đo Người đo dùng thanh chắn chạm nhẹ vào đỉnh đầu, sau đó cho người

đo bước ra và đọc kết quả ở mức dưới thanh chắn nơi tiếp xúc trực tiếp với đỉnh đầu Chiều cao được tính bằng cm

Cân nặng: dùng cân điện tử đã được chuẩn hóa, chỉnh cân trở về mức 0 Cân lúc đói, tư thế thẳng đứng, mặc Quần áo mỏng, bỏ hết các vật dụng có trên người Tiến hành cân và ghi kết quả theo đơn vị tính là kg

2.2.5.2 Công cụ thu thập dữ kiện

Máy đo HA

Danh sách bệnh nhân THA đang quản lý

Cân và thước đo dây

Bộ câu hỏi phỏng vấn chi tiết về nhận biết và điều trị tăng huyết áp, kiến thức, thói quen về lối sống có ảnh hưởng đến việc kiểm soát tăng huyết áp như: giảm cân nặng, giảm ăn mặn, giảm chất béo, tăng cường rau xanh, trái Cây, tăng cường vận động, giảm uống rượu, ngưng hút thuốc, tuân thủ điều trị dùng thuốc, kiểm soát tăng huyết áp: dùng thuốc thuờng xuyên, đúng liều, tái khám đúng hẹn

2.2.6 Xử lí dữ kiện và phân tích dữ kiện

Kiểm tra từng phiếu thu thập, nhập liệu và xử lí bằng phần mềm SPSS 20

và vẽ biểu đồ bằng phần mềm EXCEL 2013 Các biến định lượng Chi square Dùng phép phân tích hồi qui logistic phân tích đơn biến và đa biến bằng phương pháp Backward Wald (sau khi đã hiệu chỉnh) để xác định Odds Ratio và khoảng tin cậy 95% của các biến Những biến số có ý nghĩa thống kê với p< 0,1 được

Ngày đăng: 13/03/2023, 22:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w