1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, một số yếu tố liên quan và đánh giá kết quả điều trị viêm da tiết bã ở người lớn bằng itraconazol phối hợp e psora năm 2021 2022

106 24 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, một số yếu tố liên quan và đánh giá kết quả điều trị viêm da tiết bã ở người lớn bằng itraconazol phối hợp e-psora năm 2021 – 2022
Tác giả Châu Hồng Hiếu
Người hướng dẫn PGS.TS. Huỳnh Văn Bá
Trường học Trường Đại Học Y Dược Cần Thơ
Chuyên ngành Da liễu
Thể loại Luận văn bác sĩ chuyên khoa II
Năm xuất bản 2022
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 2,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU (13)
    • 1.1. Bệnh viêm da tiết bã (13)
    • 1.2. Các yếu tố liên quan của bệnh viêm da tiết bã (19)
    • 1.3. Itraconazol trong điều trị viêm da tiết bã (22)
    • 1.4. Vai trò các thành phần hoạt chất của e-psora trong điều trị viêm (25)
    • 1.5. Nghiên cứu trong và ngoài nước (28)
  • Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (32)
    • 2.1. Đối tượng nghiên cứu (32)
    • 2.2. Phương pháp nghiên cứu (33)
    • 2.3. Đạo đức trong nghiên cứu (43)
    • 2.4. Giới hạn của nghiên cứu (44)
  • Chương 3: KẾT QUẢ (45)
    • 3.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu (45)
    • 3.2. Đặc điểm lâm sàng và các yếu tố liên quan (0)
    • 3.3. Kết quả điều trị bệnh viêm da tiết bã bằng Itraconazol phối hợp E-Psora (54)
  • Chương 4: BÀN LUẬN (59)
    • 4.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu (59)
    • 4.2. Đặc điểm lâm sàng và các yếu tố liên quan (0)
    • 4.3. Kết quả điều trị bệnh viêm da tiết bã bằng itraconazol uống phối hợp bôi E-Psora (68)
  • KẾT LUẬN (78)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (81)

Nội dung

Các thuốc kháng nấm toàn thân bao gồm itraconazole, ketoconazole, fluconazole,… được biết là có hiệu quả điều trị nhiễm trùng loài Malassezia, được đề xuất là một trong những phương thức

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ

CHÂU HỒNG HIẾU

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ VIÊM DA TIẾT BÃ Ở NGƯỜI LỚN BẰNG ITRACONAZOL PHỐI HỢP E-PSORA

NĂM 2021 – 2022

LUẬN VĂN BÁC SĨ CHUYÊN KHOA II

Cần Thơ, 2022

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ

CHÂU HỒNG HIẾU

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ VIÊM DA TIẾT BÃ Ở NGƯỜI LỚN BẰNG ITRACONAZOL PHỐI HỢP E-PSORA

NĂM 2021 – 2022

Chuyên ngành: DA LIỄU

Mã số: 8720109.CK

LUẬN VĂN BÁC SĨ CHUYÊN KHOA II

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS HUỲNH VĂN BÁ

Cần Thơ, 2022

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng được công bố ở bất kỳ nơi nào

Tác giả luận văn

CHÂU HỒNG HIẾU

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn Thầy PGS TS HUỲNH VĂN BÁ, đã hướng dẫn tận tình cho tôi trong thời gian nghiên cứu khoa học Thầy đã đóng góp nhiều ý kiến bổ ích giúp tôi hoàn thành tốt luận văn này

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến Ban giám hiệu, Phòng đào tạo sau đại học, Bộ môn Da liễu – trường Đại học Y dược Cần Thơ đã giúp

đỡ, chỉ dẫn tôi trong quá trình thực hiện nghiên cứu khoa học và hoàn thành đúng hạn

Tôi cũng xin cảm ơn Ban giám đốc bệnh viện Da liễu thành phố Cần Thơ đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập và thu thập số liệu

Tôi xin cảm ơn BS Nguyễn Thị Lệ Quyên là người đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình thu thập số liệu và theo dõi bệnh nhân

Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn bên cạnh hỗ trợ, ủng hộ tôi những lúc khó khăn trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Xin trân trọng cảm ơn!

Tác giả luận văn

CHÂU HỒNG HIẾU

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cam đoan

Lời cám ơn

Trang phụ bìa

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các hình

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Bệnh viêm da tiết bã 3

1.2 Các yếu tố liên quan của bệnh viêm da tiết bã 9

1.3 Itraconazol trong điều trị viêm da tiết bã 12

1.4 Vai trò các thành phần hoạt chất của e-psora trong điều trị viêm da tiết bã 15

1.5 Nghiên cứu trong và ngoài nước 18

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22

2.1 Đối tượng nghiên cứu 22

2.2 Phương pháp nghiên cứu 23

2.3 Đạo đức trong nghiên cứu 33

2.4 Giới hạn của nghiên cứu: 34

Chương 3: KẾT QUẢ 35

3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 35

3.2 Đặc điểm lâm sàng và các yếu tố liên quan 41

3.3 Kết quả điều trị bệnh viêm da tiết bã bằng Itraconazol phối hợp E-Psora 44

Chương 4: BÀN LUẬN 49

Trang 6

4.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 494.2 Đặc điểm lâm sàng và các yếu tố liên quan 514.3 Kết quả điều trị bệnh viêm da tiết bã bằng itraconazol uống phối hợp bôi E-Psora 58

KẾT LUẬN 68 KIẾN NGHỊ 70

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

HIV Human immunodeficiency

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 3.1: Tuổi khởi phát bệnh 38

Bảng 3.2: Thời gian mắc bệnh 38

Bảng 3.3: Lý do đến khám 39

Bảng 3.4: Đặc điểm lâm sàng 39

Bảng 3.5: Phân bố thương tổn 40

Bảng 3.6: Giới hạn thương tổn 40

Bảng 3.7: Vị trí xuất hiện tổn thương 40

Bảng 3.8: Mức độ nặng của bệnh 41

Bảng 3.9: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo tính chất da 41

Bảng 3.10: Tiền sử thoa corticoid 42

Bảng 3.11: Tinh thần căng thẳng 42

Bảng 3.12: Thời điểm khởi phát bệnh nhiều nhất trong năm 42

Bảng 3.13: Tình trạng kinh nguyệt (đối với nữ) 43

Bảng 3.14: Tỉ lệ nhiễm nấm 43

Bảng 3.15 Kết quả điều trị 44

Bảng 3.16: Kết quả điều trị sau 2 tuần 44

Bảng 3.17: Kết quả điều trị sau 4 tuần 45

Bảng 3.18: Kết quả điều trị sau 6 tuần 45

Bảng 3.19: Triệu chứng ngứa sau 6 tuần điều trị 48

Bảng 3.20: Triệu chứng rát sau 6 tuần điều trị 48

Trang 9

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Trang

Biểu đồ 3.1: Phân bố bệnh nhân viêm da tiết bã theo nhóm tuổi 35

Biểu đồ 3.2: Phân bố bệnh nhân viêm da tiết bã theo giới tính 36

Biểu đồ 3.3: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nghề nghiệp 36

Biểu đồ 3.4: Phân bố bệnh nhân viêm da tiết bã theo địa dư 37

Biểu đồ 3.5: Phân bố bệnh nhân viêm da tiết bã theo trình độ học vấn 37

Biểu đồ 3.6: Kết quả điều trị theo tuổi 46

Biểu đồ 3.7: Kết quả điều trị theo tiền sử bôi corticoid 47

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang Hình 1.1: Viêm da tiết bã ở da đầu (gàu) 4Hình 1.2: Các sẩn hồng ban của viêm da tiết bã mức độ nhẹ ở nếp gấp mũi 5Hình 2.1 Thuốc itraconazole 100mg 30Hình 2.2 Thuốc bôi E-PSORA 30

Trang 11

ĐẶT VẤN ĐỀ

Viêm da tiết bã là một bệnh lý rối loạn viêm da mãn tính liên quan đến tuyến bã nhờn, phổ biến trên thế giới với tỷ lệ mắc từ 1 đến 10% dân số trưởng thành nói chung [49] Tại Hoa Kỳ, 2-5% dân số mắc bệnh viêm da tiết

bã [27] Ở Úc, 9,7% người trưởng thành mắc bệnh viêm da tiết bã [13]

Nguyên nhân viêm da tiết bã chưa rõ Có nhiều yếu tố nguy cơ phối hợp làm bùng phát bệnh đã được biết đến: nấm men Malassezia; phản ứng miễn dịch của cơ thể; bệnh thần kinh, tâm thần; chế độ ăn nhiều chất béo; hormone;

sử dụng rượu, bia,… Trong đó, vai trò của nấm men Malassezia trong cơ chế bệnh sinh viêm da tiết bã được đề cập nhiều nhất

Viêm da tiết bã diễn tiến dai dẳng, xen kẽ là những đợt bùng phát Tuy bệnh không gây nguy hiểm tính mạng nhưng thương tổn xảy ra ở mặt, da đầu làm ảnh hưởng đến thẩm mỹ, tâm lý và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân Chẩn đoán bệnh viêm da tiết bã không khó nhưng bệnh khó điều trị dứt điểm

và hay tái phát, làm tiêu tốn nhiều chi phí điều trị Từ đó đặt ra nỗ lực giải quyết vấn đề cho nền y tế của mỗi quốc gia [16]

Hiện nay, có nhiều loại thuốc điều trị viêm da tiết bã với đường dùng khác nhau: dùng tại chỗ và đường toàn thân tùy tình trạng bệnh Các thuốc bôi tại chỗ như zinc pyrithione, selenium sulfide, thuốc kháng nấm tại chỗ, corticosteroid tại chỗ, pimecrolimus, hắc ín,… thường được sử dụng điều trị bệnh nhẹ Các thuốc bôi này giúp giảm triệu chứng tạm thời nhưng ít hiệu quả trong các trường hợp bệnh nặng Các thuốc kháng nấm toàn thân bao gồm itraconazole, ketoconazole, fluconazole,… được biết là có hiệu quả điều trị nhiễm trùng loài Malassezia, được đề xuất là một trong những phương thức điều trị trong trường hợp viêm da tiết bã không đáp ứng thuốc bôi hay bệnh nặng hoặc bệnh xảy ra nhiều vùng cơ thể [12]

Trang 12

Các nghiên cứu gần đây cho thấy itraconazole tỏ ra có hiệu quả tốt hơn

và kiểm soát các triệu chứng tốt hơn trong điều trị bệnh nhân viêm da tiết bã quá mức so với các loại thuốc kháng nấm khác Tuy nhiên, thông tin về hiệu quả điều trị itraconazole trên bệnh nhân viêm da tiết bã còn hạn chế [20] Tại Việt Nam, công trình nghiên cứu điều trị viêm da tiết bã bằng uống itraconazole kết hợp bôi corticoid của Hoàng Thị Ngọ công bố năm 2009 đạt kết quả tốt [1] Việc điều trị viêm da tiết bã thường được các bác sĩ sử dụng thuốc uống phối hợp với thuốc bôi có chứa corticoid như nghiên cứu nêu trên

và nếu điều trị lâu dài thì sẽ để lại nhiều tác dụng phụ không mong muốn Công trình nghiên cứu điều trị viêm da tiết bã bằng thuốc bôi tại chỗ E-PSORA chưa được sử dụng rộng rãi và chưa có nghiên cứu nào về điều trị thuốc uống Itraconazol phối hợp thoa E-PROSA trên bệnh nhân viêm da tiết

bã Xuất phát từ thực tế đó tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu đặc điểm tình

hình, một số yếu tố liên quan và đánh giá kết quả điều trị viêm da tiết bã ở người lớn bằng itraconazol phối hợp E-PSORA tại Bệnh viện Da liễu Cần Thơ năm 2021 - 2022” với các mục tiêu sau:

1 Mô tả đặc điểm lâm sàng, tìm hiểu một số yếu tố liên quan trên bệnh

nhân viêm da tiết bã tại Bệnh viện Da liễu Cần Thơ năm 2021 - 2022

2 Đánh giá kết quả điều trị viêm da tiết bã ở người lớn bằng

Itraconazol phối hợp E-PSORA tại Bệnh viện Da liễu Cần Thơ năm 2021 -

2022

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Bệnh viêm da tiết bã

1.1.1 Định nghĩa viêm da tiết bã

Viêm da tiết bã, còn được gọi là chàm tiết bã, là một bệnh lý rối loạn viêm da mãn tính liên quan đến tuyến bã nhờn [48]

1.1.2 Dịch tễ của bệnh viêm da tiết bã

Viêm da tiết bã là một bệnh phổ biến với tỷ lệ mắc dao động từ 1 đến 10% dân số trên toàn thế giới [49] Bệnh phổ biến ở nam hơn nữ [48,4] Bệnh thường ở trẻ em (những tháng đầu), tuổi dậy thì và phổ biến khoảng 40 tuổi[57, 29] Quá trình viêm da tiết bã có xu hướng mãn tính với những đợt tái phát Những tháng mùa đông thiếu ánh nắng và không khí khô cũng làm bệnh bùng phát nặng lên Khoảng 52-59% bệnh nhân Parkinson mắc bệnh viêm da tiết bã Khoảng 30-85% bệnh nhân HIV và AIDS có viêm da tiết bã [57]

1.1.3 Đặc điểm lâm sàng của bệnh viêm da tiết bã

Người lớn

Biểu hiện của viêm da tiết bã khác nhau tùy thuộc vào vị trí cơ thể bị ảnh hưởng, tuổi của bệnh nhân và màu da Các triệu chứng thường gặp: hồng ban, vảy da, ngứa, rát

Các mảng hồng ban nhờn dính đối xứng với vảy màu vàng: thường tập trung ở các khu vực giàu tuyến bã nhờn, cụ thể là da đầu (biểu hiện: gàu), chân tóc, tai, lông mày, mí mắt (viêm bờ mi với lớp mày màu mật ong dọc theo viền của mí mắt), nếp gấp mũi, môi trên, ngực trên và lưng, rốn và háng Khi bệnh chỉ có biểu hiện đơn độc, việc chẩn đoán là không đơn giản, cụ thể:

ở một số cá nhân, viêm da mãn tính vùng ống tai, viêm bờ mi có thể là biểu hiện duy nhất của bệnh viêm da tiết bã Một biến thể nghiêm trọng của viêm

da tiết bã là hồng ban toàn thân (hồng ban bã nhờn) Khoảng 90 đến 95% tất

Trang 14

cả các bệnh nhân mắc bệnh này có tổn thương ở vùng da đầu và khoảng 60% tổn thương trên da thường [48]

Ngứa, rát: ngứa có thể xuất hiện ở bất kỳ vị trí nào có thương tổn nhưng thường thấy nhất khi bệnh xảy ra ở vùng da đầu và tai [49]

Hai loại viêm da tiết bã xuất hiện trên ngực: petaloid hoặc pityriasiform Petaloid: phổ biến, sẩn nang hình tròn màu nâu đỏ có vảy nhờn Các sẩn có thể phát triển tạo thành các mảng giống hình dạng của cánh hoa hoặc huy chương Pityriasiform: ít phổ biến hơn, được cho là một dạng nặng của petaloid, xuất hiện dưới dạng các dát và mảng giống như bệnh vảy phấn hồng lan rộng [57, 18]

Viêm da tiết bã với thương tổn lan rộng, viêm và rỉ dịch thường được tìm thấy ở những bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch, đặc biệt là người có CD4<400 TB/ml và có thể dẫn đến sự phát triển quá mức của ban đỏ (ban đỏ xuất hiện > 90% diện tích bề mặt cơ thể) [57]

Viêm da tiết bã xảy ra ở bộ phận sinh dục biểu hiện là các mảng đỏ có vảy, điều này gây khó khăn cho chẩn đoán đặc biệt nếu bộ phận sinh dục là vùng duy nhất có sang thương, cần chẩn đoán phân biệt với bệnh vẩy nến hoặc bệnh Bowen [48]

Hình 1.1: Viêm da tiết bã ở da đầu (gàu)

(Nguồn: British Journal of Hospital Medicine, June 2017 [27])

Trang 15

Hình 1.2: Các sẩn hồng ban của viêm da tiết bã mức độ nhẹ ở nếp gấp mũi

(Nguồn: British Journal of Hospital Medicine, June 2017 [27])

1.1.4 Đặc điểm cận lâm sàng của bệnh viêm da tiết bã

Phương pháp: cạo vảy, nhỏ KOH 20%, xem dưới kính hiển vi[7]

Kết quả: nấm men Malassezia Tế bào hạt men tròn, xếp thành cụm, xen

kẽ với những đoạn sợi tơ nấm ngắn, thẳng, cong thành hình Y, S, Z, V (Hình ảnh thịt trên nui: meat on noodle) [57]

1.1.5 Đặc điểm vi nấm, các đặc tính sinh học liên quan đến viêm da tiết

Các nghiên cứu cho thấy có mối liên quan giữa nấm men Malassezia và

sự phát triển của viêm da tiết bã Nhiều loài Malassezia đã được phân lập,

trong số đó Malassezia furfur được tìm thấy thường xuyên nhất trên da bệnh nhân viêm da tiết bã (76,56%) [54] Malassezia furfur (trước đây được biết đến là nấm men Pityrosporum ovale và Pityrosporum orbiculare [53]) là một

loại nấm tự nhiên được tìm thấy trên bề mặt da của con người Malassezia có

Trang 16

đặc tính ái mỡ và chính đặc tính này quyết định sự phân bố của Malassezia Malassezia thường được tìm thấy ở các khu vực giàu bã nhờn của da đầu, mặt

và thân [22] Nhiều giả thuyết cho rằng: Malassezia sản xuất chất nhờn và sau

đó giải phóng axit arachidonic gây viêm da Tuy nhiên, mối liên hệ giữa việc sản xuất quá nhiều bã nhờn và sự tăng sinh của Malassezia là chưa được khẳng định, vì những người có tuyến bã nhờn hoạt động bình thường vẫn có thể biểu hiện bệnh viêm da tiết bã [22] Điều này cho thấy viêm da tiết bã không phải chỉ do nấm Malassezia gây ra mà do nhiều yếu tố khác phối hợp: phản ứng miễn dịch của cơ thể, các bệnh thần kinh, hormone, … viêm da tiết

bã thường đáp ứng tốt với kháng nấm, dẫn đến quan niệm cho rằng loại nấm men này đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của bệnh [57]

1.1.6 Chẩn đoán bệnh viêm da tiết bã

1.1.6.1 Chẩn đoán xác định bệnh viêm da tiết bã

Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh viêm da tiết bã: chủ yếu dựa vào lâm sàng

- Thương tổn: mảng hồng ban nhờn dính đối xứng với vảy màu vàng

- Vị trí: khu vực giàu tuyến bã nhờn, cụ thể là da đầu (biểu hiện: gàu), chân tóc, tai, lông mày, mí mắt (viêm bờ mi với lớp mày màu mật ong dọc theo viền của mí mắt), nếp gấp mũi, môi trên, ngực trên và lưng, rốn và háng

- Cơ năng: ngứa, rát

Trong những trường hợp khó chẩn đoán, biểu hiện lâm sàng không điển hình có thể dùng mô bệnh học, soi tươi để chẩn đoán xác định

Đánh giá mức độ của bệnh viêm da tiết bã: chia thành 3 mức độ:

- Mức độ nhẹ: hồng ban ít, chỉ xuất hiện ở một vùng da, khu trú, ranh giới rõ Vảy da ít Ngứa ít hoặc không có

- Mức độ trung bình: hồng ban và vảy da rõ, có thể có nhiều vị trí nhưng khu trú và có ranh giới rõ Ngứa và rát rõ

Trang 17

- Mức độ nặng: hồng ban nhiều vị trí, lan tỏa và ranh giới không rõ Vảy

da rõ, bóng mỡ, màu vàng hoặc vàng sẫm Ngứa và rát bỏng nhiều [48, 27]

1.1.6.2 Chẩn đoán phân biệt

- Vảy nến: phân biệt dựa vào sự phân bố của thương tổn, đặc điểm mảng

hồng ban, vảy và mô bệnh học Vảy nến thường gặp ở rìa chân tóc và nơi tỳ đè

như đầu gối, cùi chỏ, vùng hông thiêng Mảng hồng ban giới hạn rõ Vảy trắng,

khô, dễ bong tróc Tổn thương của vảy nến có thể xuất hiện ở móng Viêm khớp hiện diện 10% các trường hợp Mẫu sinh thiết từ các tổn thương vảy nến thiếu đặc điểm “spongiformine” (bọt biển, xốp) của viêm da tiết bã [48]

- Lupus ban đỏ hệ thống: một hay nhiều mảng ban đỏ hình khuyên,

hình vòng đồng tâm; nhạy cảm ánh sáng; bệnh tim bẩm sinh có hoặc không

có bệnh cơ tim, bệnh gan và giảm tiểu cầu; ban cánh bướm hiếm khi ảnh hưởng đến nếp gấp mũi và thường giới hạn rõ; tổn thương da thường cùng tồn tại với các tổn thương đa cơ quan khác trong bệnh lupus ban đỏ hệ thống [48]

- Tinea: chẩn đoán bằng soi tìm nấm trực tiếp dưới kính hiển vi [48]

- Viêm da tiếp xúc: hồng ban giới hạn rất rõ, có hình dáng vật tiếp xúc,

viêm nhiều, phù nề, rất ngứa; vị trí ở nơi tiếp xúc dị ứng nguyên Viêm da dị ứng do tã: tổn thương giới hạn trong khu vực mang tã; viêm da tiết bã vùng háng (hăm tã): tổn thương tập trung nếp gấp háng [27]

Viêm da dị ứng: khởi phát muộn hơn viêm da tiết bã, thường xuất hiện

sau 3 tháng tuổi; tính chất đối xứng; ngứa, khó chịu và mất ngủ là triệu chứng thường gặp; sang thương ở trẻ sơ sinh chủ yếu ở mặt và 2 má; 70% có tiền sử

dị ứng cá nhân hoặc gia đình (hen suyễn, viêm mũi dị ứng) [27]

1.1.7 Điều trị bệnh viêm da tiết bã

Hiện nay, viêm da tiết bã vẫn chưa có biện pháp điều trị dứt điểm Nguyên tắc chính trong điều trị viêm da tiết bã là: kiểm soát triệu chứng trong giai đoạn cấp và duy trì hiệu quả điều trị với các biện pháp dài hạn

Trang 18

1.1.7.1 Các biện pháp tại chỗ

Thuốc kháng nấm tại chỗ và corticoid tại chỗ là biện pháp điều trị đầu tiên thường được áp dụng và có khi sử dụng kết hợp cả hai Thuốc kháng nấm tại chỗ có tác dụng ức chế sự phát triển của nấm men Malassezia và kháng viêm Thuốc kháng nấm tại chỗ an toàn cho mọi vùng da, kể cả da nhạy cảm,

da trẻ sơ sinh Thuốc kháng nấm tại chỗ sử dụng kết hợp với corticoid tại chỗ

để làm mạnh thêm hoạt tính chống viêm của corticoid Ngoài tác dụng kháng viêm, corticoid còn có hiệu quả trong việc giảm triệu chứng tại chỗ một cách nhanh chóng Tuy nhiên, việc sử dụng corticoid thường xuyên và lâu dài không được khuyến cáo vì gây teo da, đỏ da, viêm da, nguy cơ làm bùng phát các bệnh về da khác [23]

Các loại thuốc kháng nấm tại chỗ thường được sử dụng: ketoconazol: 2% dầu gội, gel, kem; ciclopirox olamine (ciclopirox): 1% hoặc 1,5% dầu gội, kem Liều dùng: da đầu: 2-3 lần/tuần đến khi sạch thương tổn, duy trì 1 lần/ tuần hoặc 1 lần/2 tuần; nơi khác: 2 lần/ngày đến khi sạch thương tổn, duy trì 1 lần/ngày [2]

Corticoids: hydrocortisone: kem 1%; betamethasone dipropionate: lotion

0,05%; clobetasol 17-Butyrate: kem 0,05%; desonide: lotion 0,05% Nơi khác

và da đầu: 1-2 lần/ngày [23]

Selenium sulfide: có tác dụng diệt nấm Dầu gội 2,5%: 2 lần/tuần [2]

Ức chế Calcineurin: điều hòa miễn dịch và có hoạt tính kháng viêm do

ức chế tế bào lympho T đóng vai trò kiểm soát sản xuất cytokine trong bệnh viêm da tiết bã [27] Các loại thuốc ức chế calcineurin: pimecrolimus: kem 1%; tacrolimus: thuốc mỡ 0,03%; 0,1% Nơi khác và da đầu: 2 lần/ngày Zinc pyrithione: là một hoạt chất phổ biến trong các sản phẩm trị gàu không kê đơn, có tác dụng kháng nấm lẫn kháng khuẩn Zinc pyrithione ức chế sự phát triển của nấm Malassezia thông qua cơ chế làm tăng nồng độ

Trang 19

đồng trong tế bào nấm, phá hủy protein iron-sulphur là thành phần cần thiết cho quá trình chuyển hóa tế bào nấm Dầu gội 1%: 2 lần/tuần

1.1.7.2 Đường dùng toàn thân

Điều trị toàn thân được chỉ định trong trường hợp điều trị tại chỗ thất bại, viêm da tiết bã mức độ trung bình đến nặng hoặc viêm da tiết bã xảy ra nhiều vùng trên cơ thể

Thuốc kháng nấm: ketoconazol, fluconazol, itraconazol [21]

Trường hợp kháng trị: isotretinoin (1mg/kg) toàn thân

Ngoài ra, các hoạt chất từ thực vật đã được chứng minh có hiệu quả: nha đam (aloe vera), dầu tràm trà (tea tree oil), chiết xuất Quassia amara (đến từ một loại cây bụi Nam Mỹ), tacalcitol (1,24-dihydroyxycholecalciferol: là một chất tương tự vitamin D3), nicotinamide (một dẫn xuất của vitamin B3), mật ong [40]

Viêm da tiết bã đặc biệt ở da đầu và ống tai ngoài có thể gây nhiễm trùng

do vi khuẩn [42] Ở những bệnh nhân này, cần chống vi khuẩn tại chỗ hoặc uống kết hợp [55] Nếu nghi ngờ hoặc có bội nhiễm vi khuẩn uống kháng sinh

1.1.7.3 Biến chứng của bệnh viêm da tiết bã

Các biến chứng: lichen hóa, nhiễm khuẩn thứ cấp và viêm tai ngoài

1.2 Các yếu tố liên quan của bệnh viêm da tiết bã

Nguyên nhân của bệnh viêm da tiết bã chưa rõ [31] Nhiều yếu tố nguy

cơ được tìm thấy có mối liên hệ đến bệnh viêm da tiết bã

1.2.1 Phản ứng miễn dịch

Rối loạn chức năng miễn dịch được cho là yếu tố nguy cơ của bệnh viêm

da tiết bã do tạo điều kiện thuận lợi cho nấm Malassezia tăng sinh Viêm da tiết bã xảy ra phổ biến ở những bệnh nhân mắc bệnh ung thư hạch và ghép tạng hơn người bình thường [28] Minh chứng mạnh mẽ nhất cho điều này là

có khoảng 30-85% bệnh nhân bị AIDS mắc bệnh viêm da tiết bã Hiệp hội

Trang 20

HIV của Anh (2008) đề nghị xét nghiệm HIV cho những người bị viêm da tiết

bã nặng hoặc tái phát Bệnh nhân HIV điều trị bằng thuốc kháng virus hoạt tính mạnh (HAART: highly active antiretroviral therapy) sẽ giảm nguy cơ mắc các bệnh về da bao gồm viêm da tiết bã [42]

1.2.2 Bệnh thần kinh và tâm thần

Bệnh viêm da tiết bã có tỷ lệ lưu hành cao trên những bệnh nhân có bệnh

lý thần kinh và tâm thần Khoảng 52-59% bệnh nhân Parkinson mắc bệnh viêm da tiết bã [16] Cơ chế bệnh sinh rất phức tạp, bao gồm cả sự bất động khuôn mặt góp phần làm tăng tích tụ bã nhờn Tuy nhiên, một quan niệm khác cho rằng nguyên nhân dẫn đến những bệnh nhân mắc bệnh Parkinson bị viêm

da tiết bã là do nồng độ hormone kích thích α-melanocyte (α-MSH) trong huyết tương tăng cao Hormon kích thích α-melanocyte (α-MSH) chịu trách nhiệm tăng sản xuất bã nhờn và chịu sự kiểm soát trực tiếp của yếu tố ức chế hormone kích thích melanocyte Ở những bệnh nhân mắc bệnh Parkinson, thiếu yếu tố ức chế hormone kích thích melanocyte do nồng độ dopamine không đủ Do đó, những bệnh nhân mắc bệnh Parkinson có khả năng tăng tiết

bã nhờn và có nhiều khả năng bị viêm da tiết bã Ngoài ra, các thuốc điều trị parkinson như L-dopa có hiệu quả trong việc giảm tiết bã nhờn và điều trị viêm da tiết bã ở những bệnh nhân này Tác dụng này của L-dopa chỉ giới hạn

ở những bệnh nhân mắc bệnh Parkinson, các trường hợp nhiễm trùng bã nhờn khác như mụn trứng cá, L-dopa không có tác dụng trong việc giảm sản xuất

Trang 21

thương chi phối có thể dẫn đến các phản ứng miễn dịch bị thay đổi và do đó tạo điều kiện thuận lợi hơn cho sự phát triển của Malassezia [54]

Viêm da tiết bã cũng phổ biến ở những bệnh nhân trầm cảm Tuy nhiên vẫn chưa xác định được chính xác mối quan hệ này do những bệnh nhân trầm cảm thường có xu hướng ở trong nhà, mà những người ít tiếp xúc với ánh sáng mặt trời cũng hay mắc bệnh viêm da tiết bã Bên cạnh đó, cũng có nghiên cứu cho thấy tỷ lệ viêm da tiết bã gia tăng ở các nhà leo núi, những nghề nghiệp có độ phơi nhiễm lâu dài với tia cực tím mặt trời, điều trị vảy nến với tia UVA

1.2.3 Hormone và bã nhờn da

Viêm da tiết bã không phải lúc nào cũng liên quan đến sự tiết quá nhiều

bã nhờn, tuy nhiên vẫn có một mối liên hệ giữa viêm da tiết bã và mức bã nhờn 50% bệnh nhân viêm da tiết bã có làn da dầu [29] Lipid bã nhờn rất cần thiết cho sự tăng sinh của Malassezia và tổng hợp các yếu tố tiền viêm ban đầu Tổn thương viêm da tiết bã chủ yếu ở vùng da giàu tuyến bã nhờn, bệnh xảy ra nhiều ở tuổi dậy thì và thanh thiếu niên, trong thời kỳ sản xuất bã nhờn cao nhất [29]

Ngoài ra, còn có một mối liên hệ với nội tiết tố: bệnh phổ biến ở nam hơn nữ, cho thấy ảnh hưởng của androgen trên tuyến bã nhờn

1.2.4 Tuổi

Viêm da tiết bã có thể xuất hiện ở mọi lứa tuổi, từ sơ sinh đến người già, nhưng thường phổ biến ở 3 giai đoạn khác nhau của cuộc đời: sơ sinh (chủ yếu 3 tháng đầu), dậy thì và trưởng thành [49,57] Viêm da tiết bã xảy ra ở 70% trẻ sơ sinh trong 3 tháng đầu đời, giảm nhanh sau 1 tuổi và giảm dần trong 4 năm tiếp theo Cuộc điều tra khám sức khỏe và dinh dưỡng quốc gia năm 1971-1974 tại Hoa Kỳ, gồm những người từ 1 đến 74 tuổi, cho thấy tỷ lệ

Trang 22

viêm da tiết bã thấp nhất ở những người dưới 12 tuổi (<1%) và cao nhất ở những người từ 35 đến 44 tuổi (4,1%) [57]

1.2.5 Các yếu tố khác

Chế độ ăn, đặc biệt là thiếu kẽm; nghiện rượu; tinh thần căng thẳng; viêm gan C; ung thư; bệnh di truyền như hội chứng down, bệnh Hailey – Hailey [45]; điều trị corticoid lâu dài; những tháng mùa đông và không khí khô; vệ sinh và lối sống cũng làm trầm trọng hơn tình trạng của bệnh

Viêm da tiết bã thường kết hợp với các bệnh khác: amyloid gia đình, viêm đa dây thần kinh

1.3 Itraconazol trong điều trị viêm da tiết bã

1.3.1 Định nghĩa

Theo cấu trúc phân tử, thuốc kháng nấm azole được chia ra làm 2 nhóm: imidazol (một vòng 5 cacbon với 2 nhóm nitrogen) và triazol (một vòng 5 cacbon với 3 nhóm nitrogen) Itraconazol là một chất có hoạt tính kháng nấm phổ rộng, thuộc nhóm chống nấm triazol được sử dụng rộng rãi để phòng ngừa và điều trị nhiễm nấm trên toàn thế giới [26]

1.3.2 Cơ chế tác dụng

Trong nấm, enzyme cytocrom P450 (CYP) rất quan trọng đối với sự tổng hợp sinh học của các sterol là thành phần quan trọng của màng tế bào nấm Các azole ức chế (CYP) dẫn đến ngăn cản sự chuyển hóa lanosterol thành ergosterol là một lipid chủ yếu làm bền vững màng tế bào nấm Sự biến đổi này dẫn đến lanosterol, các axit béo no và các sản phẩm chuyển hóa khác

tích tụ, kéo theo dịch vào trong màng tế bào gây vỡ tế bào nấm [17]

Ngoài hoạt tính chống nấm, itraconazol còn có tác dụng chống viêm Hoạt động chống viêm xảy ra thông qua cơ chế ức chế men 5-lipoxygenase,

từ đó ức chế tổng hợp leucotriene B4 trong da Hoạt tính chống viêm có lợi trong việc giúp giảm bớt triệu chứng của viêm da tiết bã [51]

Trang 23

1.3.3 Hấp thu

Itraconazol dạng viên nang được hấp thu thuận lợi trong môi trường axit,

do đó khuyến nghị dùng itraconazol chung với thức ăn hoặc nước ngọt có tính axit Sinh khả dụng đường uống của viên nang itraconazol tăng gấp đôi khi dùng sau bữa ăn Ngược lại, sự hấp thu bị suy yếu khi sử dụng đồng thời với các tác nhân làm giảm độ axit của dạ dày như thuốc ức chế bơm proton [37]

1.3.4 Dược động học mô

Sự xâm nhập của itraconazol vào các khoang chứa dịch không bị viêm (dịch não tủy, dịch màng phổi,…) không đáng kể Khi có viêm, nồng độ thuốc trong các dịch này cao đáng kể Itraconazol có ái lực cao với keratin, tích lũy trong chất sừng hoặc trong da Liều dùng 100-200mg, itraconazol đạt nồng độ trong bã nhờn và chất sừng cao hơn nồng độ huyết tương gấp 10 lần

Itraconazol tồn tại trên da trong 3-4 tuần sau khi ngừng điều trị [37]

1.3.5 Tương tác thuốc

Tương tác thuốc là vấn đề quan trọng cần lưu ý để sử dụng itraconazol

an toàn và hiệu quả Các tác nhân ức chế bài tiết axit dạ dày, như thuốc kháng axit, thuốc ức chế bơm proton và chất đối kháng H2 đều làm giảm sự hấp thu của thuốc itraconazol, những chất này nên được dừng lại nếu có thể Tốc độ chuyển hóa itraconazol tăng khi sử dụng đồng thời rifampicin, phenytoin và carbamazepine; dẫn đến việc không thể đạt được nồng độ trong huyết thanh trị liệu Trường hợp này thường thấy ở những bệnh nhân bị nấm phổi mạn tính do aspergillus kèm nhiễm trùng không điển hình đòi hỏi phải dùng chế độ điều trị bằng rifampicin Itraconazol kéo dài tác dụng của các loại thuốc benzodiazepine, digoxin, statin và warfarin [20]

Tương tác giữa itraconazol và corticoid khác nhau tùy theo hợp chất Itraconazol làm tăng đáng kể nồng độ methylprednisolone, nhưng tương tác với prednisolone lại không đáng kể và không dẫn đến suy tuyến thượng thận

Trang 24

Itraconazol cũng làm giảm rõ rệt sự thanh thải của dexamethasone và tăng cường ức chế tuyến thượng thận [26] Tương tác với steroid dạng hít cũng đã được báo cáo, đặc biệt là với budesonide và flnomasone và đây có thể là một cân nhắc quan trọng trong điều trị Trong một khảo sát nhỏ 25 bệnh nhân dùng itraconazol và budesonide dạng hít, khoảng 45% bệnh nhân xuất hiện

triệu chứng ức chế tuyến thượng thận có ý nghĩa lâm sàng [20, 51]

1.3.6 Tác dụng phụ

Tác dụng phụ thường ít gặp Một nghiên cứu lâm sàng về tác dụng phụ của itraconazol từ 9065 bệnh nhân được công bố năm 1987-2008 [33] sắp xếp theo mức độ thường gặp từ cao đến thấp như sau:

- Triệu chứng tiêu hóa: xảy ra ở 20% bệnh nhân, tác động đáng kể đến việc tuân thủ điều trị Rối loạn tiêu hóa: nôn ói, buồn nôn, đau dạ dày, tiêu chảy, táo bón Xét nghiệm chức năng gan bất thường: tăng men gan, alkaline phosphatase, bilirubin, lactate dehydrogenase Viêm gan cấp tính do sử dụng thuốc liên tục hiếm gặp

- Tiết niệu: suy thận, đa niệu

- Rối loạn chuyển hóa: hạ kali máu, tăng kali máu, tăng triglyceride máu, tăng cholesterol máu, hạ đường huyết, hạ natri máu, tăng axit uric

- Triệu chứng ở da: phát ban (2-5%), ngứa, phản ứng tại chỗ, viêm mạch máu, hội chứng Steven – Johnson, nhạy cảm với ánh sáng,…

- Triệu chứng tâm thần, thần kinh: nhức đầu; rối loạn nhận thức, tâm trạng, giấc ngủ; chóng mặt; rối loạn vị giác; động kinh; ù tai; rối loạn thị giác; bệnh lý thần kinh ngoại biên (xảy ra ở khoảng 10% bệnh nhân được điều trị bằng itraconazol dài hạn và có thể tồn tại trong vài tháng sau khi ngừng thuốc)

Trang 25

- Triệu chứng tim mạch: là vấn đề đáng lưu ý mặc dù tương đối hiếm gặp, gồm: hạ huyết áp, phù ngoại biên, khó thở, tăng huyết áp, loạn nhịp tim Ngoài ra, các rối loạn về huyết học, nội tiết cũng được ghi nhận

1.3.7 Hiệu quả của itraconazol so với các loại thuốc kháng nấm toàn thân khác trong điều trị viêm da tiết bã

Itraconazol được nhiều nghiên cứu báo cáo có đáp ứng tốt về mặt lâm sàng và bệnh học [51, 17]

Theo tạp chí Da liễu điều tra, itraconazol còn ngăn chặn giai đoạn kích thích của phản ứng quá mẫn khi tiếp xúc bằng cách ngăn chặn một cách chọn lọc giai đoạn kích thích của phản ứng quá mẫn và điều hòa miễn dịch [27]

1.4 Vai trò các thành phần hoạt chất của e-psora trong điều trị viêm da tiết bã

α-Lợi ích của việc sử dụng alpha-hydroxyacids (AHAs) trên da người đã được khám phá bởi Drs Van Scott và Yu vào đầu năm 1970, bao gồm các tác dụng bong vảy, giúp làm mịn da, chống lão hóa Một thế hệ mới của, được gọi là polyhydroxy acids (PHAs), có tác dụng tương tự như AHAs

Trang 26

nhưng không gây cảm giác kích ứng da PHAs như là gluconolactone hay lactobionic acid p với nhiều sản phẩm, thành phần, phương pháp chăm sóc trị liệu khác như laser và siêu mài mòn để cung cấp các lợi ích bổ sung nhằm tăng cường hiệu quả điều trị Nhiều nghiên cứu đã cho thấy, các sản phẩm có chứa PHA được sử dụng kết hợp với retinoic acid trong điều trị mụn trứng

cá tuổi trưởng thành và đã cho thấy dung nạp tốt PHAs phối hợp với retinyl acetate (pro-vitamin A) trong các dạng kem chống lão hóa da (antiaging skin) mang lại lợi ích giúp da đầy đặn và mịn màng PHAs phối hợp với hydroquinone giúp cải thiện tốt các biểu hiện lão hóa da và giúp làm trắng da [43]

1.4.2.2 Jojoba oil

Dầu thực vật từ lâu đã được sử dụng trên da cho mục đích thẩm mỹ và

y tế vì chúng đã được tìm thấy có nhiều lợi ích sinh lý tích cực Ví dụ, ứng dụng dầu thực vật có thể hoạt động như một hàng rào bảo vệ cho da bằng một hiệu ứng che lấp, cho phép da duy trì độ ẩm, dẫn đến giảm sự mất nước qua biểu bì (transepidermal water loss: TEWL) Ngoài ra, các sản phẩm tại chỗ có lợi ích về khả dụng sinh học cao hơn trong da và có tác dụng tại chỗ hơn là tác dụng toàn thân Nghiên cứu trước đây về dầu thực vật đã chứng minh rằng hạnh nhân, jojoba, đậu nành, khi bôi tại chỗ, chủ yếu vẫn còn ở bề mặt của da,

mà không thâm nhập sâu vào các lớp trên cùng của lớp sừng [8]

Jojoba (Simmondsia chinensis) là các ester của cồn chuỗi dài và các axit béo (sáp) Sáp lỏng là một chất nền quan trọng cho một loạt các ứng dụng công nghiệp và được sử dụng trong các chế phẩm điều trị da Dầu từ jojoba là nguồn sinh học chính của các este sáp và có vô số các ứng dụng tiềm năng Jojoba có tác dụng chống viêm và nó có thể được sử dụng trên một loạt các tình trạng da bao gồm nhiễm trùng da, lão hóa da, cũng như chữa lành vết thương Hơn nữa, jojoba đã được chứng minh là đóng một vai trò trong các

Trang 27

công thức mỹ phẩm như kem chống nắng và kem dưỡng ẩm và cũng làm tăng

sự hấp thu thuốc bôi tại chỗ [25,43]

Các loại sáp lỏng Jojoba có đặc tính kháng viêm Do đó, chúng có khả năng làm giảm sự xâm nhập của bạch cầu trung tính, như được chỉ ra bằng cách giảm hoạt động myeloperoxidase, và cũng làm giảm sản xuất yếu tố hoại

tử khối u và nitric oxide Có đề nghị cho rằng chiết xuất jojoba có thể là một

bổ sung hữu ích cho vũ khí chống vảy nến [41]

Các tính chất vật lý và hóa học của dầu Jojoba có thể ứng dụng trên da

để sử dụng mỹ phẩm và điều trị các tình trạng về da khác nhau Dầu Jojoba, được hấp thụ bởi da mà không có tác dụng gây nhờn da, do tương tự với lipid của biểu bì Tác dụng làm bong sừng của Jojoba Oil cho rằng nó có thể được

sử dụng như một liệu trình điều trị bổ sung Dầu Jojoba có thể được khuyến cáo trong một số trường hợp bệnh vẩy nến, cũng như những bệnh lý ảnh hưởng đến da đầu Bệnh nhân sử dụng có chứa Jojoba oil khá thuận lợi vì nó không

có mùi hôi và không gây nhờn da; điều trị có thể được thực hiện vào ban ngày

Do đó, Jojoba là một thành phần thích hợp cho bệnh vẩy nến ngoài các loại thuốc được công nhận khác trong điều trị bệnh lý này hiện nay [52, 36]

1.4.2.3 Vitamin E

Với hai tính năng chính: đặc tính chống oxy hóa, có thể chống viêm và làm chậm tác động của các gốc tự do và các đặc tính giữ ẩm của nó[15,11,41] Vitamin E được tìm thấy trong nhiều loại kem dưỡng ẩm [34], và dầu có thể được sử dụng như một loại kem dưỡng ẩm để ngăn ngừa hoặc điều trị khô,

bong da [50]

1.4.2.4 Aloe vera

Tác dụng chống nhiễm trùng: Aloe vera chứa 6 chất chống nhiễm khuẩn (Lupeol, acid salicylic, urê, nitrogen, cinnamonic acid, phenol và sulfur) Tất cả chúng đều có tác dụng ức chế vi nấm, vi khuẩn và virus [14]

Trang 28

Tác dụng trên vùng da tiếp xúc với tia cực tím và tia gamma: gel lô hội

đã được báo cáo là có tác dụng bảo vệ chống lại tổn thương từ bức xạ đối với

da [19].Vai trò chính xác chưa được biết chính xác, nhưng sau khi dùng gel lô hội, một protein chống oxy hóa, metallothionein, được tạo ra trong da, loại bỏ các gốc hydroxyl và ngăn chặn sự ức chế superoxide dismutase và glutathione peroxidase trong da Làm giảm sự sản xuất và giải phóng các cytokine ức chế miễn dịch có nguồn gốc có nguồn gốc từ keratinocye như interleukin-10 (IL-10) và do đó ngăn chặn sự ức chế phản ứng quá mẫn muộn sinh ra từ tia tử

ngoại [24]

Dựa trên cơ chế tác dụng của từng thành phần và kết quả các nghiên cứu trên thế giới đã cho thấy E-PSORA là một giải pháp mới mang lại các tính năng quan trọng trong chăm sóc tại chỗ bệnh vảy nến, chàm mãn tính, viêm da tiết bã, dầy sừng nang lông, lichen amyloid, các trường hợp khô da tróc vảy

Với sự phối hợp các thành phần chính từ PHA, Jojoba oil, vitamin E và aloe vera E-PSORA với các hoạt tính tiềm năng như chống oxy hóa, chống viêm, dưỡng ẩm da, làm hạn chế tình trạng khô da bong vảy, mang lại nhiều tính năng quan trọng trong phối hợp điều trị và chăm sóc tại chỗ bệnh vảy nến, chàm mãn tính, viêm da tiết bã, dầy sừng nang lông, … [17]

1.5 Nghiên cứu trong và ngoài nước

1.5.1 Ngoài nước

Năm 2004, Vahide Baysal và cộng sự đã công bố kết quả nghiên cứu đánh giá vai trò của itraconazol đường uống trong điều trị viêm da tiết bã Các bệnh nhân bôi kem hydrocortisone 1% 2 lần/ngày trong 1 tháng Ngoài ra, họ dùng itraconazol 200mg/ngày trong tuần đầu tiên của tháng đầu tiên và sau đó ngừng kem hydrocortisone và itraconazol (200mg/ngày) được dùng vào 2 ngày đầu tiên của 11 tháng sau đó Các bệnh nhân được theo dõi trong 2 tháng

Trang 29

mà không cần dùng thuốc 19 trong số 28 bệnh nhân cho thấy sự cải thiện hoàn toàn và ba bệnh nhân cho thấy sự cải thiện nhẹ Nghiên cứu này chỉ ra rằng itraconazol đóng vai trò quan trọng trong điều trị viêm da tiết bã [10] Năm 2005, O Kose và cộng sự tiến hành nghiên cứu hiệu quả và độ an toàn của viên nang itraconazol trên bệnh nhân viêm da tiết bã nặng Viên nang itraconazol đường uống (200mg/ngày×7 ngày) và sử dụng liên tiếp 200 mg/ngày trong 2 ngày đầu tiên của 2 tháng sau đó Triệu chứng lâm sàng cải thiện ở 83% bệnh nhân sau 15 ngày, 76% bệnh nhân sau 30 ngày, 72% bệnh nhân sau 60 ngày và 61% bệnh nhân sau 90 ngày điều trị Nghiên cứu kết luận: viên nang itraconazol sẽ là lựa chọn điều trị đầu tiên trong tương lai của bệnh viêm da tiết bã nghiêm trọng [30]

Tháng 6 năm 2008, Avner Shemer MD và cộng sự tiến hành nghiên cứu hiệu quả của itraconazol trong điều trị viêm da tiết bã mức độ từ trung bình đến nặng Bệnh nhân được điều trị bằng itraconazol đường uống, ban đầu 200 mg/ngày trong một tuần, sau đó là điều trị duy trì một liều 200 mg mỗi 2 tuần trong 18 tuần Cuối đợt điều trị ban đầu, có sự cải thiện đáng kể các triệu chứng: ban đỏ, vảy, ngứa Không có bất thường xét nghiệm máu được tìm thấy trong quá trình điều trị Nghiên cứu đi đến kết luận: điều trị ban đầu bằng itraconazol có lợi ở những bệnh nhân bị viêm da tiết bã trung bình đến nặng [46]

Năm 2015, Seyedeh Zahra Ghodsi và cộng sự tiến hành xác định hiệu quả của itraconazol đường uống trong điều trị bệnh nhân viêm da tiết bã từ trung bình đến nặng 68 bệnh nhân viêm da tiết bã từ trung bình đến nặng được phân ngẫu nhiên vào nhóm itraconazol (n = 35) hoặc giả dược (n = 33) Itraconazol 200 mg/ngày hoặc giả dược được kê đơn trong 1 tuần và sau đó trong 2 ngày đầu tiên mỗi tháng trong 3 tháng tiếp theo Bệnh nhân được theo dõi trong 4 tháng Nhóm sử dụng itraconazol cải thiện lâm sàng đạt 93.8% sau

Trang 30

2 tuần, 87.5% sau 1 tháng và 93.1% sau 4 tháng điều trị Nhóm sử dụng giả dược, tỷ lệ cải thiện lâm sàng tương ứng thấp hơn lần lượt là 82.1%, 64.3% và 53.6 % [20]

Tỉ lệ nhiễm nấm trên bệnh nhân viêm da tiết bã theo nghiên cứu của tác giả Zaidi Z và cộng sự (2002) là 82% , của tác giả Ashbee H R và cộng sự (2002) là 83% [56]

1.5.2 Trong nước

Năm 2009, Hoàng Thị Ngọ tiến hành nghiên cứu trên 2 nhóm bệnh nhân viêm da tiết bã mức độ từ trung bình đến nặng từ 18 đến 60 tuổi điều trị tại Viện Da liễu Quốc gia Nhóm nghiên cứu điều trị bằng viên itraconazole 100mg uống 2 viên/ngày trong 14 ngày, sau đó uống 2 viên/tuần, kết hợp bôi corticoid 2 lần/ngày trong 1 tuần đầu liên tiếp Nhóm đối chứng uống itraconazole liệu trình như trên nhưng không bôi corticoid Đánh giá kết quả lâm sàng sau 2 tuần, 4 tuần và 6 tuần Sau 2 tuần điều trị, nhóm uống itraconazole kết hợp bôi corticoid có kết quả tốt hơn (kết quả từ tốt trở lên chiếm 53,3%) nhóm chỉ uống itraconazole (kết quả từ tốt trở lên chiếm 30%) Tuy nhiên, sau 6 tuần điều trị kết quả ở 2 nhóm là như nhau và đều đạt kết quả từ tốt trở lên là 96,7% [1]

Viêm da tiết bã là một bệnh lý mãn tính và thường hay tái phát, bệnh thường do nhiều nguyên nhân gây ra trong đó vai trò của vi nấm Malessezia thường được đề cập nhiều nhất, các triệu chứng xuất hiện thường rất nhanh chóng và rầm rộ với các triệu chứng viêm da, tróc vảy, hồng ban … vi nấm thường phát triển tốt nhất ở bề mặt da có tính hơi kiềm pH: 5,8–6,8 trong khi

đó các nghiên cứu cho thấy da người dao động từ khoản pH: 4–6 và đây là điều kiện khá tốt cho vi nấm phát triển [22]

Trong việc điều trị viêm da tiết bã, Itraconazol được ưu tiên sử dụng do

có tính chất điều hòa miễn dịch, ngăn chặn phản ứng viêm, trong khi đó

Trang 31

E-Psora có các thành phần như: Polyhydroxy acid (PHA), Jojoba oil (Simmondsia chinensis), Vitamin E, Aloe vera Đặc biệt là PHAs cung cấp các thành phần giữ ẩm tương đương với AHAs, giúp tăng cường hàng rào bảo

vệ da, làm giảm các tình trạng kích ứng da Gluconolactone là polyhydroxy acid (PHA) cung cấp 50% sự bảo vệ chống lại tác hại của tia tử ngoại, có tác dụng trung hòa các gốc tự do, bảo vệ da khỏi tác hại của tia tử ngoại khi tiếp xúc trực tiếp lên da[40]

Do đó sự phối hợp giữa Itraconazol và E-Psora là một biện pháp đầy hứa hẹn trong việc điều trị viêm da tiết bã và đây chính là lý do tôi lựa chọn

đề tài nghiên cứu

Trang 32

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng

Tất cả bệnh nhân được chẩn đoán viêm da tiết bã được điều trị bằng

itraconazol uống phối hợp thoa E-Psora tại Bệnh viện Da Liễu Cần Thơ năm

2021-2022

2.1.2 Tiêu chuẩn chọn mẫu

Bệnh nhân được chẩn đoán bệnh viêm da tiết bã, chủ yếu dựa vào lâm sàng, khi có đầy đủ các triệu chứng sau :

 Các mảng hồng ban nhờn dính đối xứng với vảy màu vàng

 Vị trí: khu vực giàu tuyến bã nhờn, cụ thể là da đầu (biểu hiện: gàu), chân tóc, tai, lông mày, mí mắt (viêm bờ mi với lớp mày màu mật ong dọc theo viền của mí mắt), nếp gấp mũi, môi trên, ngực trên và lưng, rốn và háng

 Ngứa, rát

 Tuổi: từ 18 tuổi trở lên

2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ

 Bất kì bệnh da đồng thời kèm theo (mụn trứng cá, viêm da tiếp xúc, vảy nến, viêm da do demodex)

 Có tiền sử dị ứng với thuốc kháng nấm azole

 Suy thận, suy gan hoặc bệnh tim mạch

 Bệnh nhân đang sử dụng thuốc tương tác với itraconazol (cyclosporine, isoniazid, thuốc kháng axit, thuốc ức chế bơm proton, chất đối kháng H2, warfarin, statin)

 Phụ nữ có thai hoặc cho con bú

 Bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu

Trang 33

2.1.4 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu được dự kiến thực hiện từ tháng 4/2021 đến tháng 7/2022 tại

bệnh viện Da liễu thành phố Cần Thơ

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang

n: cỡ mẫu nghiên cứu tối thiểu

p: tỷ lệ bệnh nhân là người lớn được chẩn đoán viêm da tiết bã điều trị bằng itraconazole uống kết hợp bôi corticoid Theo nghiên cứu của Hoàng Thị Ngọ năm 2009 trên 31 bệnh nhân viêm da tiết bã điều trị bằng itraconazole uống kết hợp với bôi corticoid tại Viện Da liễu Quốc gia Việt Nam có kết quả

từ tốt trở lên sau 6 tuần điều trị là 96,7% [1]

d: sai số cho phép 5%

α: mức ý nghĩa thống kê Với α = 5% thì Z = 1,96

Thay vào công thức, ta có cỡ mẫu tối thiểu là n = 59

2.2.3 Phương pháp chọn mẫu

Chọn mẫu thuận tiện: chọn những bệnh nhân thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu, tiêu chuẩn loại trừ điều trị tại bệnh viện Bệnh viện Da liễu Cần Thơ trong thời gian nghiên cứu cho đến khi đủ 59 mẫu

2.2.4 Nội dung nghiên cứu

Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

Trang 34

- Tuổi: Tính theo năm dương lịch của người bệnh, lấy năm nghiên cứu trừ năm sinh, đơn vị tính là năm Chia 6 nhóm:

- Giới tính: chia 2 nhóm: nam và nữ

- Nghề nghiệp: là công việc chiếm nhiều thời gian nhất của đối tượng,

- Địa dư: Là nơi cư trú của bệnh nhân, chia làm 2 nhóm:

+ Thành thị: khi địa chỉ của bệnh nhân có tên đường, phường, quận, thành phố

+ Nông thôn: khi địa chỉ của bệnh nhân có tên ấp, xã, huyện, tỉnh

- Trình độ học vấn: là trình độ của bệnh nhân được chia thành 5 cấp bậc theo hệ thống giáo dục Việt Nam

+ Mù chữ (không biết đọc, không biết viết)

+ Cấp 1 (trình độ học vấn từ 1/12 đến 5/12)

Trang 35

+ Cấp 2 (trình độ học vấn từ 6/12 đến 9/12)

+ Cấp 3 (trình độ học vấn từ 10/12 đến 12/12)

+ Cao đẳng, đại học và sau đại học

Nghiên cứu đặc điểm tình hình và một số yếu tố liên quan của bệnh viêm da tiết bã

- Tuổi khởi phát bệnh: tính từ lúc bệnh nhân có triệu chứng và được chẩn đoán viêm da tiết bã đến hiện nay (tính theo tháng)

- Thời gian mắc bệnh: là thời gian kể từ khi bệnh nhân được chẩn đoán viêm da tiết bã (tính theo năm):

Trang 36

+ Vảy da: do sự tích tụ của các tế bào sừng, bong ra tạo thành vảy mịn.

+ Ngứa: là cảm giác khiến cho cơ thể phản xạ lại bằng việc gãi + Rát: là cảm giác khó chịu ở da như khi bị bỏng

- Phân bố thương tổn:

+ Đối xứng: xuất hiện ở hai bên cơ thể qua đường giữa

+ Không đối xứng: xuất hiện một bên của cơ thể

- Giới hạn thương tổn:

+ Giới hạn rõ: ngăn cách rõ với mô lành kế cận

+ Giới hạn không rõ: ngăn cách không rõ với mô lành kế cận

- Vị trí tổn thương: là phạm vi biểu hiện ngoài da của bệnh viêm da tiết

- Mức độ nặng của bệnh: tiêu chuẩn chẩn đoán các mức độ của viêm da

tiết bã theo thang điểm SDASI (phụ lục 2, 4):

+ Nhẹ: hồng ban ít, chỉ xuất hiện ở một vùng da, khu trú, ranh giới

rõ (SDASI: 0-7,9) Vảy da ít, ngứa và rát ít hoặc không có

+ Trung bình: hồng ban và vảy da rõ, có thể có nhiều vị trí nhưng

khu trú và có ranh giới rõ (SDASI: 8-15,9) Ngứa và rát rõ

Trang 37

+ Nặng: hồng ban nhiều vị trí, lan tỏa và ranh giới không rõ Vảy da

rõ, bóng mỡ, màu vàng hoặc vàng sẫm (SDASI: >16) Ngứa và rát bỏng nhiều

- Tính chất da của bệnh nhân: Xác định bằng cách dựa vào bảng câu hỏi

phân loại da theo Baumann (phụ lục 3) Chia 2 nhóm: da dầu và da khô

- Tiền sử viêm da tiết bã và thoa corticoid: xác định bằng cách hỏi bệnh nhân có mắc bệnh trước đó hay không và có được chỉ định sử dụng corticoid Chia 2 nhóm: có và không

- Tinh thần căng thẳng: là phản ứng sinh lý hoặc tâm lý đối với các tác nhân gây căng thẳng bên trong hoặc bên ngoài Căng thẳng được biểu hiện bằng đánh trống ngực, đổ mồ hôi, khô miệng, khó thở, bồn chồn, nói nhanh, gia tăng cảm xúc tiêu cực và thời gian mệt mỏi kéo dài Xác định bằng cách khám và hỏi bệnh, chia 2 nhóm: có, không

- Thời điểm khởi phát bệnh nhiều nhất trong năm: xác định bằng cách hỏi bệnh nhân mùa nào khiến các triệu chứng của bệnh trầm trọng hơn, chia 4 nhóm:

+ Bình thường: Chu kỳ kinh 28-32 ngày

+ Rối loạn: kinh nguyệt không đều, kinh ngắn (<28 ngày), kinh dài (>35 ngày), không có kinh (trong độ tuổi sinh sản)

+ Mãn kinh: không có kinh nguyệt ≥6 tháng

Trang 38

- Tỷ lệ nhiễm nấm trên bệnh nhân viêm da tiết bã: Vi nấm soi tươi: chia

Thời gian theo dõi: đánh giá kết quả điều trị sau 2 tuần, 4 tuần, 6 tuần

*Tiêu chí đánh giá kết quả điều trị:

- Đánh giá hiệu quả điều trị thông qua giảm chỉ số SDASI [27] sau 2

tuần, 4 tuần, 6 tuần điều trị:

 Tiết niệu: suy thận, đa niệu

 Rối loạn chuyển hóa: hạ kali máu, tăng kali máu, tăng triglyceride máu/tăng cholesterol máu, hạ đường huyết, hạ natri máu, tăng axit uric

Trang 39

 Triệu chứng ở da: phát ban, ngứa, phản ứng tại chỗ, viêm mạch máu, hội chứng Steven – Johnson, nhạy cảm với ánh sáng,…

 Triệu chứng tâm thần, thần kinh: nhức đầu; rối loạn nhận thức, tâm trạng, giấc ngủ; chóng mặt; rối loạn vị giác; động kinh; ù tai; rối loạn thị giác; bệnh lý thần kinh ngoại biên

2.2.5 Phương pháp thu thập và đánh giá số liệu

2.2.5.1 Vật liệu nghiên cứu:

- Thuốc uống Taleva (Itraconazol) viên 100mg: hộp 2 vỉ * 6 viên hoặc

hộp 3 vỉ * 10 viên (vỉ nhôm – nhôm)

Số đăng ký VD – 27688 – 17

Nhà sản xuất: Công ty cổ phần BV Pharma – Việt Nam

- Thuốc thoa E-Psora: Thành phần: Gluconolacton, Aloe vera, vitamin

Ngày đăng: 13/03/2023, 22:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoàng Thị Ngọ (2009), Nghiên cứu tình hình, đặc điểm lâm sàng và kết quả điều trị viêm da dầu người lớn bằng uống itraconazole kết hợp bôi corticoid, Luận văn Thạc sĩ Y học, Trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tình hình, đặc điểm lâm sàng và kết quả điều trị viêm da dầu người lớn bằng uống itraconazole kết hợp bôi corticoid
Tác giả: Hoàng Thị Ngọ
Nhà XB: Trường Đại học Y Hà Nội
Năm: 2009
13. Bukvić Mokos Z., Kralj M., et al. (2012), "Seborrheic dermatitis: an update", Acta Dermatovenerol Croat, 20(2), pp. 98-104 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Seborrheic dermatitis: an update
Tác giả: Bukvić Mokos Z., Kralj M
Nhà XB: Acta Dermatovenerol Croat
Năm: 2012
21. Guha M. (2017), APA College Dictionary of Psychology, American Psychological Association Sách, tạp chí
Tiêu đề: APA College Dictionary of Psychology
Tác giả: Guha M
Nhà XB: American Psychological Association
Năm: 2017
36. Pazyar Nader and Yaghoobi Reza (2016), The Potential Anti-Psoriatic Effects of Jojoba Extract Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Potential Anti-Psoriatic Effects of Jojoba Extract
Tác giả: Nader Pazyar, Reza Yaghoobi
Năm: 2016
48. Dea Hun Suh (2019), "Seborrheic Dermatitis", in Goldsmith, Lowell A., et al., Editors, Fitzpatrick's Dermatology in General Medicine, 9e, The McGraw-Hill Companies, New York, NY, pp. 428-437 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Fitzpatrick's Dermatology in General Medicine
Tác giả: Dea Hun Suh
Nhà XB: The McGraw-Hill Companies
Năm: 2019
49. Tucker D. and Masood S. (2022), "Seborrheic Dermatitis", StatPearls, StatPearls Publishing Copyright © 2022, StatPearls Publishing LLC., Treasure Island (FL) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Seborrheic Dermatitis
Tác giả: Tucker D., Masood S
Nhà XB: StatPearls Publishing LLC.
Năm: 2022
50. Ungurianu A., Zanfirescu A., et al. (2021), "Vitamin E beyond Its Antioxidant Label", Antioxidants (Basel), 10(5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vitamin E beyond Its Antioxidant Label
Tác giả: Ungurianu A., Zanfirescu A., et al
Nhà XB: Antioxidants (Basel)
Năm: 2021
55. Yu Y., Dunaway S., et al. (2020), "Changing our microbiome: probiotics in dermatology", Br J Dermatol, 182(1), pp. 39-46 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Changing our microbiome: probiotics in dermatology
Tác giả: Yu Y., Dunaway S., et al
Nhà XB: Br J Dermatol
Năm: 2020
2. Phạm Thị Uyển Nhi, Vũ Thị Phương Thảo và Nguyễn Trọng Hào (2020), "Khảo sát tính hiệu quả và an toàn của dầu gội chứa selenium sulfide 1% trong điều trị gàu trên bệnh nhân viêm da dầu vùng đầu", Tạp chí Y học thành phố Hồ Chí Minh, 24(4), tr. 85-93 Khác
3. Tchiu Bích Xuân và Lê Ngọc Diệp (2018), "Đặc điểm lâm sàng và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân viêm da tiết bã khám tại bệnh viện Da liễu thành phố Hồ Chí Minh", Tạp chí Y học thành phố Hồ Chí Minh, 22(3), tr. 313-9.TIẾNG ANH Khác
4. Adalsteinsson Jonas A., Kaushik Shivani, et al. (2020), "An update on the microbiology, immunology and genetics of seborrheic dermatitis", Experimental Dermatology, 29(5), pp. 481-489 Khác
5. Ahman S., Perrins N., et al. (2007), "Treatment of Malassezia pachydermatis-associated seborrhoeic dermatitis in Devon Rex cats with itraconazole--a pilot study", Vet Dermatol, 18(3), pp. 171-4 Khác
6. Akamine K. L., Gustafson C. J., et al. (2013), "A double-blind, randomized clinical trial of 20% alpha/poly hydroxy acid cream to reduce scaling of lesions associated with moderate, chronic plaque psoriasis", J Drugs Dermatol, 12(8), pp. 855-9 Khác
7. Aktaş Karabay E. and Aksu Çerman A. (2020), "Demodex folliculorum infestations in common facial dermatoses: acne vulgaris, rosacea, seborrheic dermatitis", An Bras Dermatol, 95(2), pp. 187-193 Khác
8. Assaf S. M., Maaroof K. T., et al. (2021), "Jojoba oil-based microemulsion for transdermal drug delivery", Res Pharm Sci, 16(4), pp. 326-340 Khác
10. Baysal V., Yildirim M., et al. (2004), "Itraconazole in the treatment of seborrheic dermatitis: a new treatment modality", Int J Dermatol, 43(1), pp. 63-6 Khác
11. Berardesca E. and Cameli N. (2021), "Vitamin E supplementation in inflammatory skin diseases", Dermatol Ther, 34(6), p. e15160 Khác
12. Borda L. J., Perper M., et al. (2019), "Treatment of seborrheic dermatitis: a comprehensive review", J Dermatolog Treat, 30(2), pp. 158-169 Khác
14. Burusapat C., Supawan M., et al. (2018), "Topical Aloe Vera Gel for Accelerated Wound Healing of Split-Thickness Skin Graft Donor Sites:A Double-Blind, Randomized, Controlled Trial and Systematic Review", Plast Reconstr Surg, 142(1), pp. 217-226 Khác
15. Coerdt K. M., Goggins C. A., et al. (2021), "Vitamins A, B, C, and D: A Short Review for the Dermatologist", Altern Ther Health Med, 27(4), pp. 41-49 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w