bệnh nhiễm trùng sơ sinh sớm qua đường mẹ - thai tại khoa Nhi sơ sinh Bệnh viện Phụ sản thành phố Cần Thơ năm 2020 - 2022” là công trình nghiên cứu của tôi, các số liệu, kết quả nghiên c
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng
Mẹ và trẻ sơ sinh sinh ra sống tại Bệnh viện Phụ sản thành phố Cần Thơ từ tháng 06/2020 đến tháng 06/2022
Nhóm bệnh trẻ sơ sinh phù hợp chẩn đoán thể bệnh nhiễm trùng sơ sinh sớm theo ANAES gồm các tiêu chuẩn như nhiễm trùng có thể xảy ra, nhiễm trùng chắc chắn đã xác định và nhiễm trùng huyết Việc nhận diện rõ các thể bệnh này giúp đảm bảo chẩn đoán chính xác và phối hợp điều trị hiệu quả cho trẻ sơ sinh.
* Tiêu chuẩn chẩn đoán NTSS sớm qua đường mẹ - thai: thỏa mãn đầy đủ các tiêu chuẩn sau (theo ANAES) [68]
(1) Có ít nhất một trong các yếu tố nguy cơ từ mẹ sau đây:
- Một trẻ sinh đôi bị NTSS sớm qua đường mẹ thai
- Mẹ sốt ≥ 38 0 C trước, trong và 3 ngày sau chuyển dạ
- Đẻ non tự nhiên < 35 tuần thai
- Thời gian ối vỡ ≥ 18 giờ
- Ối vỡ sớm trước 37 tuần thai
- Mẹ có bằng chứng nhiễm khuẩn đường sinh dục – tiết niệu trong thai kỳ
(2) Các triệu chứng lâm sàng:
- Trẻ sơ sinh không khỏe mà không có nguyên nhân rõ ràng
- Những dấu hiệu khác như sau:
+ Rối loạn thân nhiệt: Sốt > 37,8 0 C hoặc hạ thân nhiệt < 35 0 C
+ Triệu chứng rối loạn huyết động học: da tái, tần số tim tăng, tần số tim chậm, thời gian phục hồi màu sắc da kéo dài, hạ huyết áp
+ Triệu chứng hô hấp: thở rên, tần số thở nhanh, khó thở, cơn ngưng thở, suy hô hấp
+ Triệu chứng thần kinh: thóp phồng, li bì, tăng hoặc giảm trương lực cơ, rối loạn ý thức, co giật
+ Triệu chứng da: tử ban, hồng ban
- Số lượng bạch cầu ≥ 20.000/mm 3 hoặc < 5.000/mm 3 ; và/hoặc
(4) Những triệu chứng trên cải thiện với kháng sinh điều trị bệnh NTSS sớm do vi khuẩn hoặc không cải thiện, nặng dần với CRP tiếp tục tăng
Trong nghiên cứu về nhóm chứng, khi xác định một trẻ vào nhóm bệnh, cần lấy hai trẻ sơ sinh không mắc bệnh, đặc biệt là các trẻ sinh cùng ngày với trẻ bệnh để đảm bảo tính chính xác của kết quả Đối với các trường hợp có nhiều trẻ sơ sinh được chọn vào nhóm bệnh trong cùng một ngày mà số trẻ sơ sinh trong nhóm chứng chưa đủ, chúng tôi sẽ chọn số trẻ sơ sinh đủ tiêu chuẩn của ngày kế tiếp để đảm bảo sự cân đối và tin cậy của dữ liệu.
- Gia đình bệnh nhân không hợp tác trong quá trình lấy mẫu
2.1.4 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm: Bệnh viện Phụ sản thành phố Cần Thơ
- Thời gian nghiên cứu: tháng 06/2020 đến tháng 06/2022.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu quan sát mô tả và phân tích bệnh - chứng
Phương pháp nghiên cứu quan sát mô tả giúp chúng tôi ghi nhận các đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhiễm trùng sơ sinh sớm Mục tiêu chính của nghiên cứu là mô tả các triệu chứng lâm sàng, các dấu hiệu cận lâm sàng nhằm nâng cao hiểu biết về đặc điểm bệnh lý và hỗ trợ chẩn đoán sớm hiệu quả hơn Điều này sẽ góp phần vào việc cải thiện phương pháp điều trị và quản lý các ca bệnh nhiễm trùng sơ sinh sớm, giảm các biến chứng và tử vong liên quan.
Chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu quan sát phân tích bệnh-chứng để khảo sát và xác định các yếu tố nguy cơ ở mẹ và yếu tố liên quan đến con liên quan đến bệnh nhiễm trùng sơ sinh sớm Mục tiêu của nghiên cứu là nhằm đánh giá các yếu tố nguy cơ này nhằm hướng đến thực hiện mục tiêu 3 của đề án.
Cỡ mẫu nghiên cứu được tính theo công thức sau:
+ α là sai lầm loại 1 chọn α = 1% thì Z 1- α
2 = 2,576 + 𝛽 là sai lầm loại 2 chọn 𝛽 = 10% thì 𝑍 1−𝛽 = 1,282
+ 𝑝 1 là tỷ lệ phơi nhiễm trong nhóm bệnh, 𝑝 2 là tỷ lệ phơi nhiễm trong nhóm chứng, p = (𝑝 1 + 𝑝 2 )/2
Theo nghiên cứu của Randis năm 2018, viêm màng ối là một trong những yếu tố nguy cơ chính từ mẹ gây ra sớm Nhược Tắc Thị Sảnh (NTSS) Tỷ lệ mẹ bị viêm màng ối lên đến 15,9%, làm tăng nguy cơ mắc NTSS sớm với tỷ số chênh odds ratio (OR) đạt 4,05, cho thấy mối liên hệ mạnh mẽ giữa viêm màng ối mẹ và nguy cơ NTSS sớm ở trẻ sơ sinh.
Thế vào công thức ta được n = 81
Vậy cỡ mẫu nhóm bệnh là 81 mẫu, cỡ mẫu nhóm chứng là 162 mẫu
Thực tế trong thời gian nghiên cứu chúng tôi thu thập được 82 trẻ nhóm bệnh và 164 trẻ nhóm chứng thỏa tiêu chuẩn chọn bệnh
Chọn mẫu theo tiêu chuẩn chọn nhóm bệnh, nhóm chứng trong thời gian nghiên cứu cho đến khi đạt số lượng cần có
2.2.4.1 Đặc điểm chung của đối tượng được nghiên cứu
* Giới tính trẻ: là biến định tính Gồm 2 giá trị: nam, nữ
* Hình thức sinh: là biến định tính Gồm 2 giá trị: sinh thường, sinh mổ
* Con thứ mấy: có 2 giá trị là con thứ 1 hoặc con thứ ≥ 2
* Số con trong một lần sinh: có 2 giá trị: sinh một, sinh đôi
* Tuổi thai: tuổi thai được tính theo ngày đầu chu kỳ kinh cuối hoặc tính theo kết quả siêu âm ba tháng đầu thai kỳ, phân thành các nhóm:
-Sơ sinh non tháng: khi tuổi thai < 37 tuần
+ Loại sinh non: 32 – 36 tuần 6/7 ngày + Loại rất non: 28 – 31 tuần 6/7 ngày + Loại cực non: dưới 28 tuần
-Sơ sinh đủ tháng: khi tuổi thai 37 - 41 tuần 6/7 ngày
-Sơ sinh già tháng: khi tuổi thai ≥ 42 tuần
* Cân nặng lúc sinh : là biến định lượng, số cân trẻ tính bằng gram, được cân bằng cân điện tử với độ chính xác 10 gram Chia làm các nhóm:
-Nhóm cực nhẹ cân: 60 lần/phút
-Nhịp thở bình thường: tần số từ 30 đến 60 lần/phút
-Nhịp thở chậm: tần số 20 giây Có
2 giá trị: có hoặc không
* Thở rên: nghe qua tai hoặc ống nghe [16], có 2 giá trị: có hoặc không
* Tím: qua quan sát da niêm, tím quanh môi, đầu chi, hay toàn thân [16]
Có 2 giá trị: có hoặc không
-Da tái nhợt: có 2 giá trị: có hoặc không
-Da nổi bông: có 2 giá trị: có hoặc không
-Hôn mê: có 2 giá trị: có hoặc không
-Giảm trương lực cơ: có 2 giá trị: có hoặc không
Bỏ bú là tình trạng trẻ không chịu bú hoặc bú ít hơn so với bình thường, gây ảnh hưởng đến sự phát triển dinh dưỡng của trẻ Khi trẻ được đặt sonde dạ dày nhưng không tiêu sữa hoặc tiêu sữa chậm, đó là dấu hiệu cảnh báo quan trọng về vấn đề tiêu hóa hoặc chuyển hóa Việc theo dõi và xử lý kịp thời giúp đảm bảo sự phát triển toàn diện cho trẻ nhỏ.
-Nôn ói: có 2 giá trị: có hoặc không
-Chướng bụng: có 2 giá trị: có hoặc không
- Vàng da: có 2 giá trị: có hoặc không
- Nốt mủ: có 2 giá trị: có hoặc không
- Cứng bì: có 2 giá trị: có hoặc không
- Rốn đỏ: khi chân rốn đỏ có thể kèm theo viêm mạch máu xung quanh chân rốn, gồm 2 giá trị: có hoặc không
-Xuất huyết dưới da: có thể là chấm hoặc mảng xuất huyết rải rác trên da, có 2 giá trị: có hoặc không
-Gan, lách to: có 2 giá trị: có hoặc không
2.2.4.3 Đặc điểm cận lâm sàng bệnh nhiễm trùng sơ sinh sớm qua đường mẹ - thai
- Số lượng hồng cầu (đơn vị: x 10 9 tế bào hồng cầu /mm 3 ): tính giá trị trung bình
Hồng cầu có dung tích Hct thể hiện tỷ lệ thể tích khối hồng cầu trong máu toàn phần dưới dạng phần trăm (%) Khi Hct vượt quá 65%, người bệnh có đa hồng cầu, cần được đánh giá kỹ lưỡng Dựa trên giá trị Hct, các nhóm bệnh nhân được phân thành hai loại: có hoặc không đa hồng cầu, giúp xác định chính xác tình trạng sức khỏe của họ.
Hemoglobin (Hb) là chỉ số định lượng huyết sắc tố được đo bằng đơn vị g/dl, giúp xác định tình trạng thiếu máu Khi mức Hb dưới 13,5 g/dl, người ta gọi là thiếu máu, chia thành hai nhóm: có thiếu máu và không thiếu máu Đây là yếu tố quan trọng trong chẩn đoán các bệnh lý về máu và sức khỏe tổng quát.
-Bạch cầu: là biến định lượng, số lượng bạch cầu trong 1 mm 3 máu ngoại vi Chia làm 3 nhóm: ≥20.000/mm 3 ; 5.000–