Kết quả điều trị và sự thay đổi hành vi nguy cơ, kiến thức về các bệnh lây qua đường tình dục của người bệnh sau can thiệp………... Đây là nhóm người có tỉ lệ mắc các bệnh lây truyền qua đư
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ
PHẠM THANH TRÚC
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CAN THIỆP CÁC BỆNH LÂY TRUYỀN QUA
ĐƯỜNG TÌNH DỤC CỦA NGƯỜI BỆNH ĐẾN KHÁM Ở BỆNH VIỆN LÊ VĂN THỊNH THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
NĂM 2021 - 2022
Chuyên ngành: Quản lý y tế
Mã số: 8720801.CK
Người hướng dẫn khoa học:
TS BS TRẦN THÁI THANH TÂM
Cần Thơ, năm 2022
Trang 2Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi, không sao chép của ai do tôi tự nghiên cứu, đọc, dịch tài liệu, tổng hợp và thực hiện Nội dung lý thuyết trong luận văn tôi có sử dụng một số tài liệu tham khảo như đã trình bày trong phần tài liệu tham khảo Các số liệu, chương trình phần mềm và những kết quả trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác
TP Thủ Đức, ngày 03/10/2022
Bs Phạm Thanh Trúc
Trang 3Luận tốt nghiệp chuyên ngành quản lý y tế với đề tài “Nghiên cứu tình hình
và đánh giá kết quả can thiệp các bệnh lây truyền qua đường tình dục ở bệnh viện
Lê Văn Thịnh, thành phố Thủ Đức năm 2021-2022” chính là kết quả của cả một quá trình trau dồi và nỗ lực không ngừng của bản thân tôi Tôi rất may mắn khi luôn nhận được sự giúp đỡ, hỗ trợ tận tình từ quý thầy cô, gia đình và bạn bè của mình
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ts.Bs Trần Thái Thanh Tâm, bộ môn Sinh lý, trường đại học Y Dược Cần Thơ Cô đã luôn tận tình chỉ dạy, dẫn dắt và tạo điều kiện hết sức để giúp tôi có thể hoàn thành tốt nhất bài luận văn của mình
Tôi cũng xin được cảm ơn ban lãnh đạo cùng toàn thể các thầy cô trường đại học Y Dược Cần Thơ, khoa Y và khoa Y tế công cộng… đã luôn giúp đỡ tôi trong thời gian vừa qua
Xin kính chúc thầy cô thật nhiều sức khỏe và luôn thành công trên con đường giảng dạy của mình
Tôi xin chân thành cảm ơn mọi người!
Trang 4Trang Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cám ơn
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục hình, biểu đồ
MỞ ĐẦU……….…… 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU……….……3
1.1 Tổng quan các bệnh lây truyền qua đường tình dục……… …… 3
1.2 Các bệnh lây truyền qua đường tình dục thường gặp 6
1.3 Các hành vi nguy cơ mắc các bệnh lây qua đường tình dục 14
1.4 Thực trạng kiến thức về các bệnh lây qua đường tình dục 14
1.5 Các nghiên cứu về thực trạng bệnh lây qua đường tình dục trên thế giới và tại Việt Nam 17
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1 Đối tượng nghiên cứu 23
2.2 Phương pháp nghiên cứu 23
Trang 53.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 37 3.2 Tỷ lệ mắc các bệnh lây qua đường tình dục và hành vi nguy cơ 41 3.3 Tỉ lệ người bệnh có kiến thức đúng về các bệnh lây qua đường tình dục 43 3.4 Kết quả điều trị bệnh và sự thay đổi hành vi, kiến thức về các bệnh lây qua đường tình dục của người bệnh 47 Chương 4 BÀN LUẬN………56 4.1 Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu 57
4.2 Tỷ lệ mắc các bệnh lây qua đường tình dục và các hành vi nguy cơ của
người bệnh mắc các bệnh lây qua đường tình dục………59 4.3 Thực trạng kiến thức về các bệnh lây qua đường tình dục của người bệnh 65 4.4 Kết quả điều trị và sự thay đổi hành vi nguy cơ, kiến thức về các bệnh
lây qua đường tình dục của người bệnh sau can thiệp……… 68
KẾT LUẬN……….……….73 KIẾN NGHỊ……….…75 Tài liệu tham khảo
Phụ lục 1: Phiếu thu thập thông tin bệnh nhân
Phụ lục 2: Tờ rơi can thiệp
Danh sách người tham gia nhiên cứu
Trang 6AIDS Acquired Immuno Deficiency Syndrome – Hội chứng suy giảm
miễn dịch mắc phải
BVDLTW Bệnh viện Da liễu Trung ương
CDC Centers for Disease Control - Trung tâm kiểm soát bệnh tật ELISA Enzyme-linked immunosorbent assays – Xét nghiệm miễn dịch
liên kết enzyme HbsAg Hepatitis B surface antigen – Kháng nguyên bề mặt viêm gan
siêu vi B HIV Human Immunodeficiency Virus – Virút gây suy giảm miễn
dịch ở người LTQĐTD Lây truyền qua đường tình dục
MOH Ministry of Health – Bộ Y tế
MSM Men who have Sex with Men – Người đồng giới nam
PID Pelvic inflammation diseases - Viêm hố chậu
PNMD Phụ nữ mại dâm
RTI(s) Reproductive Tract Infections – Nhiễm khuẩn đường sinh sản STD(s) Sexually Transmitted Diseases – Các bệnh lây truyền qua
đường tình dục STI(s) Sexually Transmissible Infections - Các nhiễm trùng lây truyền
qua đường tình dục
Trang 8Trang Bảng 3.1 Đặc điểm về tình trạng hôn nhân, trình độ học vấn 39 Bảng 3.2 Đặc điểm nghề nghiệp, thu nhập, nơi sống và tiền sử mắc
STDs của người bệnh
40
Bảng 3.3 Tỉ lệ người bệnh có hành vi nguy cơ mắc STDs 43 Bảng 3.4 Kiến thức của người bệnh về các bệnh STDs 43 Bảng 3.5 Kiến thức của người bệnh về căn nguyên của các STDs 44 Bảng 3.6 Kiến thức của người bệnh về các triệu chứng của STDs 44 Bảng 3.7 Kiến thức của người bệnh về các yếu tố nguy cơ của STDs 45 Bảng 3.8 Kiến thức của người bệnh về đường lây của STDs 45 Bảng 3.9 Kiến thức của người bệnh về các biến chứng của STDs 46
Bảng 3.11 Kết quả điều trị bệnh sau 1 tuần và sau 3 tháng 47 Bảng 3.12 Tình trạng bạn tình của người bệnh trước và sau can thiệp 48 Bảng 3.13 Tỉ lệ quan hệ tình dục với phụ nữ mại dâm của người bệnh
trước và sau can thiệp
48
Bảng 3.14 Tình trạng sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục của
người bệnh trước và sau can thiệp
49
Trang 9Bảng 3.16 So sánh chung về sự thay đổi hành vi nguy cơ mắc STDs
của người bệnh trước và sau nguy can thiệp
50
Bảng 3.17 Kiến thức của người bệnh về các bệnh STDs 50 Bảng 3.18 Kiến thức của người bệnh về căn nguyên của các STDs 51 Bảng 3.19 Kiến thức của người bệnh về các triệu chứng của STDs 52 Bảng 3.20 Kiến thức của người bệnh về các yếu tố nguy cơ của STDs 52 Bảng 3.21 Kiến thức của người bệnh về đường lây của STDs 53 Bảng 3.22 Kiến thức của người bệnh về các biến chứng của STDs 54
Trang 10DANH MỤC HÌNH – BIỂU ĐỒ
Trang
Biểu đồ 3.1 Đặc điểm về tuổi của người bệnh 37 Biểu đồ 3.2 Đặc điểm phân bố theo nhóm tuổi của người bệnh 38 Biểu đồ 3.3 Đặc điểm phân bố theo giới tính của người bệnh 38 Biểu đồ 3.4 Phân bố tỉ lệ các STDs theo tình trạng mắc STDs của
người bệnh tại thời điểm bắt đầu nghiên cứu (trước can thiệp)
Trang 11MỞ ĐẦU
Các bệnh lây truyền qua đường tình dục (Sexually Transmitted Disease – STDs) hiện nay đang là vấn đề y tế đáng quan tâm của nhiều quốc gia trên thế giới STDs gây ảnh hưởng đến người bệnh, gia đình và cộng đồng STDs có thể gây vô sinh cho cả hai giới Đối với phụ nữ STDs có thể gây sảy thai, thai chết lưu, sinh non, thai ngoài tử cung, viêm tiểu khung mạn tính Đối với trẻ sơ sinh, STDs có thể gây tử vong chu sinh, lậu mắt bẩm sinh, giang mai bẩm sinh, viêm phổi Ở các nước đang phát triển, STDs là nguyên nhân thứ hai ảnh hưởng đến sức khỏe của phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ, sau các nguyên nhân gây bệnh và tử vong mẹ có liên quan đến thai sản và là nguyên nhân phổ biến khiến người trưởng thành sử dụng dịch vụ y tế [57] Các hậu quả về y tế và xã hội do STDs gây ra đã trở thành gánh nặng cho ngành y tế và cho cộng đồng Ngoài ra, STDs
là yếu tố quan trọng trong việc thúc đẩy việc nhiễm và lây truyền HIV, đặc biệt
là các STD có loét [57]
Theo dữ liệu được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) công bố, mỗi ngày có hơn 1 triệu ca mắc mới các bệnh lây truyền qua đường tình dục (STDs) ở những người trong độ tuổi 15 – 49 tuổi Con số này lên tới hơn 376 triệu trường hợp mắc mới hàng năm đối với bốn bệnh nhiễm khuẩn là chlamydia, lậu, trichomonas và giang mai [58] Điều này cho thấy thiếu những tiến bộ trong việc ngăn chặn sự lây lan của các bệnh lây truyền qua đường tình dục trên toàn thế giới Đây cũng là lời cảnh tỉnh cần nỗ lực phối hợp để đảm bảo mọi người, mọi nơi đều có thể tiếp cận với các dịch vụ cần thiết để ngăn ngừa và điều trị các bệnh này [58]
Ở Việt Nam, theo số liệu báo cáo thống kê của Bệnh viện Da liễu Trung ương (BVDLTW) về tình hình STD của tất cả các tỉnh thành trong cả nước thì
Trang 12số người bệnh ngày càng tăng Cụ thể là, nếu chỉ tính trong 3 năm từ 2006 đến
2008, số người bệnh STD tăng từ 202.856 lên tới 297.897 Nhóm tuổi từ 14 -
49 là chủ yếu [2] Tuy nhiên, có không ít người bệnh STD tự điều trị hoặc tìm đến các cơ sở y tế tư nhân hoặc nhà thuốc mà chúng ta không thống kê được
Vì vậy, số lượng người bệnh mắc STD thực sự có thể cao hơn thực tế Theo ước tính thì ở Việt Nam hàng năm có khoảng 1 triệu người mắc mới STD [2] Tại Bệnh viện Lê Văn Thịnh, mỗi tháng có khoảng 20 người đến khám STDs ở phòng khám Ngoại niệu Đây là nhóm người có tỉ lệ mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục cao và có nguy cơ làm lây truyền STDs trong cộng đồng nên họ cần được chẩn đoán đúng, điều trị kịp thời và tư vấn tốt Tuy nhiên, thực tế cho thấy nhiều người trong số họ thiếu kiến thức và có những hiểu biết sai lầm về STDs dẫn đến những hành vi nguy cơ mắc STDs Việc thực hiện các biện pháp can thiệp nhằm thay đổi hành vi nguy cơ sẽ giúp người bệnh giảm khả năng mắc bệnh cho chính bản thân và hạn chế khả năng lây truyền STDs
trong cộng đồng Do vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Nghiên cứu tình hình và đánh giá kết quả can thiệp các bệnh lây truyền qua đường tình dục của người bệnh đến khám ở bệnh viện Lê Văn Thịnh, thành phố Thủ Đức năm 2021-2022”, với 3 mục tiêu sau:
1 Xác định tỉ lệ mắc các bệnh lây qua đường tình dục và các hành vi nguy
cơ của người bệnh mắc các bệnh lây qua đường tình dục của người bệnh đến khám ở phòng khám tại Bệnh viện Lê Văn Thịnh năm 2021-2022
2 Xác định mức độ kiến thức của người bệnh về các bệnh lây qua đường tình dục
3 Đánh giá kết quả điều trị và sự thay đổi hành vi nguy cơ, kiến thức về các bệnh lây qua đường tình dục của người bệnh sau can thiệp 3 tháng
Trang 13Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tổng quan về các bệnh lây qua đường tình dục
Các bệnh lây truyền qua đường tình dục (STDs), còn gọi là các bệnh nhiễm trùng qua đường tình dục, do nhiều vi sinh vật khác nhau gây ra [59]
Hoạt động tình dục bao gồm tiếp xúc gần gũi với da và niêm mạc của bộ phận sinh dục, miệng và trực tràng, nên nhiều vi sinh vật lây lan rất nhanh giữa người với người Một số bệnh lây truyền qua đường tình dục gây viêm (ví dụ như trong bệnh lậu hoặc nhiễm chlamydia) hoặc loét (ví dụ như ở bệnh herpes, giang mai hoặc bệnh hạ cam), dẫn đến bệnh nhiễm trùng khác (ví dụ HIV) [59]
Tỉ lệ hiện nhiễm STDs vẫn cao ở hầu hết các nước trên thế giới, mặc dù các tiến bộ chẩn đoán và điều trị có thể nhanh chóng hoàn lại tình trạng không truyền bệnh cho bệnh nhân có nhiều bệnh STDs [59]
Các yếu tố cản trở việc kiểm soát STDs bao gồm [59]:
− Hoạt động tình dục không được bảo vệ với nhiều đối tác
− Khó nói về các vấn đề tình dục ở cả bác sĩ và bệnh nhân
− Không đủ kinh phí để thực hiện các xét nghiệm chẩn đoán và điều trị hiện có và để phát triển các xét nghiệm và điều trị mới
− Khả năng tái nhiễm nếu cả hai đối tác không được điều trị đồng thời
− Không hoàn tất việc điều trị, có thể dẫn đến sự xuất hiện của các sinh vật kháng thuốc
− Du lịch quốc tế, tạo điều kiện cho việc lan truyền rộng rãi STDs trên toàn cầu
Triệu chứng:
Triệu chứng và biểu hiện khác nhau tùy thuộc vào bệnh Các triệu chứng của các bệnh lây truyền qua đường tình dục có thể bao gồm tổn thương bộ phận
Trang 14sinh dục, niệu đạo hoặc âm đạo, đau khi đi tiểu và chảy máu giữa các thời kỳ ở phụ nữ Tuy nhiên, hầu hết các trường hợp đều không có triệu chứng, có nghĩa
là mọi người có thể không biết họ bị nhiễm bệnh trước khi xét nghiệm [59]
Chẩn đoán:
− Thường đánh giá lâm sàng
− Nhuộm Gram và cấy
− Xét nghiệm
STDs được chẩn đoán và điều trị theo nhiều cách khác nhau; nhiều trường hợp, xét nghiệm chẩn đoán bị hạn chế hoặc không có sẵn hoặc việc theo dõi bệnh nhân là không chắc chắn Do đó, việc xác định các sinh vật gây bệnh thường không được theo đuổi Thông thường, chẩn đoán chỉ dựa trên thăm khám lâm sàng [58]
Xét nghiệm chẩn đoán có thể bao gồm nhuộm Gram và nuôi cấy hoặc các xét nghiệm trong phòng thí nghiệm như các xét nghiệm khuếch đại acid nucleic (NAATs) Xét nghiệm chẩn đoán được thực hiện thường xuyên hơn trong những trường hợp sau:
− Chẩn đoán là không rõ ràng
− Nhiễm trùng nặng
− Điều trị ban đầu không hiệu quả
− Các lý do khác (ví dụ như giám sát y tế công cộng, lý do tâm lý xã hội, bao gồm cả căng thẳng tinh thần và trầm cảm cực đoan) là thuyết phục
Điều trị:
− Điều trị theo hội chứng
− Đôi khi thuốc kháng sinh
− Điều trị đồng thời với bạn tình
Bởi vì các xét nghiệm chẩn đoán thường có giới hạn hoặc không có và/hoặc theo dõi bệnh nhân là không chắc chắn, điều trị ban đầu thường là theo
Trang 15hội chứng-ví dụ, hướng tới các sinh vật có khả năng gây ra hội chứng hiện tại (ví dụ viêm niệu đạo, viêm cổ tử cung, loét sinh dục, viêm vùng chậu)
Hầu hết STDs có thể được điều trị hiệu quả bằng thuốc Tuy nhiên, kháng thuốc là một vấn đề ngày càng tăng
Những bệnh nhân đang được điều trị STDs do vi khuẩn nên tránh quan hệ tình dục cho đến khi nhiễm trùng đã được loại trừ khỏi họ và bạn tình của họ Các bạn tình nên được đánh giá và điều trị đồng thời
Phòng ngừa:
Kiểm soát STDs phụ thuộc vào:
− Cơ sở vật chất đầy đủ và nhân viên được đào tạo để chẩn đoán và điều trị bệnh
− Các chương trình y tế công cộng để tìm và điều trị các bạn tình gần đây của bệnh nhân
− Theo dõi bệnh nhân được điều trị để đảm bảo rằng họ đã được chữa khỏi
− Giáo dục của các học viên chăm sóc sức khoẻ và công chúng
− Tránh các hành vi nguy cơ cao của bệnh nhân
Bao cao su và các ổ âm đạo, nếu được sử dụng đúng cách sẽ làm giảm đáng kể nguy cơ của một số STDs
Vắc-xin không có sẵn cho hầu hết các bệnh lây truyền qua đường tình dục, ngoại trừ viêm gan A, viêm gan B và nhiễm HPV
Trang 161.2 Các bệnh lây truyền qua đường tình dục thường gặp
1.2.1 Bệnh Giang mai
Do xoắn khuẩn Treponema pallidum gây nên Bệnh chủ yếu lây qua quan
hệ tình dục Ngoài ra còn lây qua các vết trầy xước trên da, lây qua đường truyền máu và lây truyền từ mẹ sang con Biểu hiện lâm sàng chia ra làm 3 giai đoạn:
+ Giang mai I: Xuất hiện sau 3-4 tuần sau lây nhiễm Triệu chứng cơ bản là săng giang mai ở bộ phận sinh dục kèm theo viêm hạch vùng lân cận
Do không điều trị cũng tự khỏi nên người bệnh ít đến khám ở giai đoạn này
+ Giang mai II: Bắt đầu khoảng 6-8 tuần sau khi có săng Vi khuẩn vào máu Bệnh tiến triển thành nhiều đợt dai dẳng từ 1-2 năm Đây là thời kỳ lây lan mạnh Thương tổn là đào ban giang mai, sẩn đa hình thái rải rác toàn thân, ngoài ra còn có các triệu chứng mảng niêm mạc, vết loang trắng đen, viêm hạnh lan tỏa…Người bệnh thường đến khám và được phát hiện bệnh ở giai đoạn này
+ Giang mai III: Thương tổn chắc, khu trú, đặc trưng là gôm giang mai Ngoài tổn thương trên da, niêm mạc còn có tổn thương ở tim, mắt, thần kinh Giang mai kín: không có biểu hiện lâm sàng mà chỉ có xét nghiệm huyết thanh dương tính Nhiều bệnh nhân đi khám sức khỏe vô tình phát hiện bệnh Giang mai và thai nghén: do mẹ truyền sang con từ tháng thứ 4-5 gây sẩy thai, thai chết lưu, sinh non, giang mai bẩm sinh
Cận lâm sàng chẩn đoán:
Tìm xoắn khuẩn giang mai: lấy bệnh phẩm là dịch tiết từ săng, mảng niêm mạc, sẩn, hạch soi dưới kính hiển vi nền đen để tìm xoắn khuẩn Hoặc có thể nhuộm Fontana Tribondeau thấy xoắn khuẩn dưới dạng lò xo Sự có mặt của xoắn khuẩn đặc hiệu cho phép khẳng định chẩn đoán bệnh giang mai
Phản ứng huyết thanh: lấy máu, chiết lấy huyết thanh để thực hiện các phản ứng:
Trang 17- Phản ứng cổ điển (không đặc hiệu): bao gồm các phản ứng: kết hợp
bổ thể (BW) phản ứng lên bông (Kahn Citochol…)
- Các phản ứng dùng kháng nguyên cardiolipin: RPR, VDRL Độ nhạy của RPR khoảng 62.5–76.1% [54]
- Phản ứng đặc hiệu: Phản ứng bất động xoắn khuẩn (TPI), phản ứng miễn dịch huỳnh quang (FTA - Abs), phản ứng ngưng kết hồng cầu (TPHA hay MHA - TP) Xét nghiệm đặc hiệu TPHA có độ nhạy 86.2 – 100%, độ đặc hiệu 99.6 – 100% [45]
- Chủ yếu điều trị ngoại trú, chỉ điều trị nội trú trong trường hợp giang
mai thời kỳ III (có biểu hiện tim mạch và thần kinh) và giang mai bẩm sinh [8]
Trang 18- Giang mai II sơ phát, giang mai
Benzathin penicillin 2,4 triệu đơn vị, tiêm bắp, 1 lần/ tuần trong 2 tuần liên tiếp
Trong trường hợp không có benzathin penicillin, thay thế bằng phác đồ sau: Procain penicillin 1,2 triệu đơn vị, tiêm bắp sâu, 1 lần/ngày, trong 10-14 ngày
Nếu không có procain penicillin hoặc bệnh nhân có tiền sử dị ứng với penicillin, lựa chọn một trong các phác
đồ sau:
- Doxycyclin 100mg, uống 2 lần/ ngày, trong 14 ngày;
- Ceftriaxon 1g, tiêm bắp sâu, 1 lần/ ngày, trong 10-14 ngày;
- Azithromycin 2g, liều duy nhất
2 lần tiêm không quá 14 ngày
Trong trường hợp không có benzathin penicillin, thay thế bằng phác đồ sau:
- Procain penicillin 1,2 triệu đơn vị, tiêm bắp sâu, 1 lần/ngày, trong 20 ngày
Nếu không có procain penicillin hoặc bệnh nhân có tiền sử dị ứng với penicillin, lựa chọn phác đồ sau:
- Doxycyclin 100mg, uống 2 lần/ ngày, trong 30 ngày
Trang 191.2.2 Bệnh Lậu
Là bệnh lây truyền qua đường tình dục do song cầu Neisseria gonorrhoea
gây nên
Lâm sàng: biểu hiện ở nam và nữ khác nhau Bệnh lậu ở nam giới (viêm
niệu đạo do lậu) thường diễn biến cấp tính, rầm rộ Sau thời gian ủ bệnh khoảng 3-5 ngày, xuất hiện rất nhiều mủ đặc chảy từ trong niệu đạo kèm theo đái buốt, đái rắt Bệnh lậu ở nữ giới thường không có triệu chứng hoặc triệu chứng kín đáo Biểu hiện đái buốt, tiết dịch âm đạo, đau bụng dưới, đau khi giao hợp, tiết dịch nhày ở cổ tử cung và niệu đạo Cổ tử cung bị viêm Vi khuẩn lậu có thể gây viêm kết mạc mắt ở trẻ sơ sinh do trẻ được sinh qua đường sinh dục của bà
mẹ bị bệnh [9]
Chẩn đoán: Nhuộm Gram dịch niệu đạo thấy song cầu Gram (-) hình hạt
cà phê quay hai mặt lõm vào nhau; nuôi cấy trên môi trường Thayer- Martin;
- Điều trị đồng nhiễm Chlamydia
- Điều trị cả bạn tình Tất cả bạn tình có quan hệ tình dục với bệnh nhân trong vòng 60 ngày cần được khám và điều trị Nếu lần quan hệ tình dục gần nhất trên 60 ngày thì điều trị bạn tình của lần quan hệ gần nhất
- Không quan hệ tình dục, không làm thủ thuật tiết niệu trong thời gian điều trị và trong vòng 7 ngày sau khi kết thúc điều trị
- Xét nghiệm huyết thanh giang mai và HIV trước và sau khi điều trị
Trang 20- Chủ yếu điều trị ngoại trú, chỉ điều trị nội trú trong trường hợp có biến chứng
Điều trị cụ thể lậu sinh dục và hậu môn trực tràng
- Tốt nhất là dựa vào kháng sinh đồ
- Nếu không có kháng sinh đồ, chọn một trong các phác đồ sau:
+ Ceftriaxon 250 mg, tiêm bắp, liều duy nhất
+ Spectinomycin 2 g, tiêm bắp liều duy nhất
+ Cefixim 400 mg, uống liều duy nhất
- Kết hợp azithromycin 1g uống liều duy nhất để điều trị đồng nhiễm Chlamydia
- Phác đồ này được áp dụng cho cả phụ nữ mang thai, nhưng cần được theo dõi chặt chẽ
1.2.3 Nhiễm Chlamydia Trachomatis đường sinh dục - tiết niệu
Chlamydia Trachomatis là vi khuẩn kí sinh nội bào gây viêm niệu đạo ở
hai giới, viêm cổ tử cung, viêm vùng chậu
Lâm sàng: người bệnh có thể không có triệu chứng gì hoặc có các triệu
chứng tiết dịch niệu đạo, tiết dịch âm đạo tuy nhiên không rầm rộ như ở bệnh lậu cấp Ngoài ra ở nữ giới có thể có các triệu chứng đau bụng dưới, đau khi giao hợp, chảy máu giữa kỳ kinh hoặc sau giao hợp, đái buốt Biến chứng của bệnh là viêm mào tinh hoàn ở nam Ở nữ là áp xe, viêm phúc mạc tiểu khung,
thai ngoài tử cung, vô sinh [7]
Chẩn đoán: dựa vào test nhanh, PCR, Elisa [7]
Điều trị [7]:
- Có thể lựa chọn một trong những phác đồ ưu tiên sau:
+ Azithromycin 1g, uống liều duy nhất
Trang 21+ Doxycyclin 100mg, uống 2 lần/ngày trong 7 ngày
- Hoặc một trong các phác đồ thay thế sau:
+ Tetracyclin 500mg, uống 4 lần/ngày trong 7 ngày
+ Erythromycin 500mg, uống 4 lần/ngày trong 7 ngày
+ Ofloxacin 200-400mg, uống 2 lần/ngày trong 7 ngày
1.2.4 Bệnh sùi mào gà sinh dục
Tác nhân là vi rút Human Papilloma virus (HPV) Thời gian ủ bệnh từ
2-6 tháng
Triệu chứng: tổn thương cơ bản là các u nhú màu hồng tươi, tùy đường quan hệ tình dục mà có thể thấy tổn thương sùi ở bộ phận sinh dục, hậu môn hay ở miệng họng Phụ nữ bị nhiễm HPV type 16, 18 có nguy cơ mắc ung thư
cổ tử cung
Chẩn đoán chủ yếu dựa vào lâm sàng [49]
Điều trị:
+ Nội khoa: chấm TCA, BCA, tiêm Interferon,
+ Thủ thuật: áp Nito lỏng, đốt điện, laser, phẫu thuật
1.2.5 Bệnh herpes sinh dục
Bệnh do vi rút Herpes simplex type 2 gây nên [10]
Biểu hiện là các vết trợt nông ở bộ phận sinh dục ngoài do mụn nước vỡ
ra kèm theo ngứa, đau Khi tổn thương trong niệu đạo gây nên tiểu buốt, đau,
tiết dịch nhầy [10]
Chẩn đoán chủ yếu dựa vào lâm sàng Đặc biệt sử dụng PCR rất có hiệu
quả trong chẩn đoán [10]
Trang 22• Aciclovir 400 mg uống 3 lần/ngày trong 10 ngày
• Aciclovir 200 mg uống 5 lần/ngày trong 10 ngày
• Valaciclovir 500 mg uống 2 lần/ngày trong 10 ngày
• Famciclovir 250 mg uống 3 lần/ngày trong 10 ngày
800 mg uống 2 lần/ngày trong
5 ngày, hoặc 800 mg uống 3 lần/ngày trong 2 ngày
• Valaciclovir 500 mg uống 2 lần/ngày trong 3 ngày
• Famciclovir 250 mg uống 2lần/ngày trong 5 ngày
• Aciclovir 400 mg uống 3 lần/ngày trong
5 ngày
• Valaciclovir 500 mg uống 2 lần/ngày trong 5 ngày
• Famciclovir 500 mg uống 2 lần/ngày trong 5 ngày
12 tháng
• Valaciclovir 500 mg uống 1 lần/ngày hàng ngày, trong 6-
12 tháng
• Famciclovir 250 mg uống 2 lần/ngày hàng ngày, trong 6-
12 tháng
• Aciclovir 400 mg uống 2 lần/ngày hàng ngày, trong 6-12 tháng
• Valaciclovir 500 mg uống 2 lần/ngày hàng ngày, trong 6-12 tháng
• Famciclovir 500 mg uống 2 lần/ngày hàng ngày, trong 6-12 tháng
Trang 231.2.6 Bệnh HIV/AIDS
Đây là bệnh lây truyền qua đường tình dục gây tử vong HIV gây hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (AIDS) ở người Quá trình từ lúc nhiễm HIV/AIDS đến khi tử vong chia làm 4 giai đoạn (thông thường kéo dài từ 5 đến
12 năm) Biểu hiện lâm sàng rất đa dạng, tất cả các bộ phận của cơ thể đều có khả năng bị thương tổn do HIV gây ra Các dấu hiệu lâm sàng gồm những dấu hiệu toàn thân; các biểu hiện thương tổn ở các cơ quan tiêu hóa, mắt, tim mạch,
hô hấp, tiết niệu, khớp, thần kinh, da/niêm mạc; các nhiễm trùng cơ hội, các
khối u [11]
Ở những nước phát triển một người từ khi nhiễm HIV đến khi tử vong là
12 năm, ở những nước nghèo chỉ 5 - 7 năm Tuy nhiên có những BN từ lúc bị nhiễm HIV đến khi tử vong tới 15 năm
Theo nhiều nghiên cứu cho thấy, HIV lây truyền từ người này sang người khác dễ dàng hơn nếu một trong hai người hoặc cả hai người mắc bệnh nhiễm trùng LTQĐTD Các STD quan trọng trong mối tương tác này là giang
mai, hạ cam, Herpes sinh dục, nhiễm Chlamydia, lậu [11]
Các bệnh này làm tăng nguy cơ lây nhiễm HIV từ 2- 9 lần khi bị phơi nhiễm Ngoài ra, viêm nhiễm có thể gây nên các tổn thương vi thể làm cho HIV dễ dàng xâm nhập vào cơ thể Các STD có viêm đóng vai trò quan trọng trong việc lây nhiễm HIV vì chúng thường gặp hơn các STD có loét sinh dục Do sức đề kháng suy giảm, nhiễm HIV sẽ làm cho người bệnh dễ bị mắc STD và khó điều trị hơn
1.2.7 Bệnh trùng roi đường sinh dục
Ở người trưởng thành, bệnh trùng roi đường sinh dục hầu như do lây truyền qua đường tình dục Ở nữ biểu hiện hội chứng tiết dịch âm đạo Ở nam
đa số không có triệu chứng Nó được coi như một nguyên nhân gây viêm niệu
Trang 24đạo không do lậu Chẩn đoán dựa vào triệu chứng lâm sàng và xét nghiệm soi tươi dịch âm đạo thấy trùng roi hình quả mơ, di động xoay tròn, có 5 roi
1.3 Các hành vi nguy cơ mắc các bệnh lây qua đường tình dục
Hành vi nguy cơ là những yếu tố quan trọng mà sự hiểu biết về nó có tác động tích cực hay tiêu cực đến tình trạng mắc STDs Ngoài ra hành vi nguy cơ còn giúp chẩn đoán bệnh lây truyền qua đường tình dục Để làm giảm nguy cơ lây truyền STD [5] thì cần có chiến dịch truyền thông giáo dục rộng rãi trong cộng đồng đặc biệt là giáo dục hành vi cho các nhóm người dễ bị mắc STD như người bệnh khám STD, gái mại dâm và khách làng chơi, người nghiện chích
ma túy, đồng giới nam, người phải đi công tác xa vợ hoặc chồng trong thời gian dài…
Một số hành vi nguy cơ gây bệnh lây qua đường tình dục
❖ Hành vi nguy cơ của người bệnh
- Tuổi quan hệ tình dục lần đầu sớm [14]
- Thường xuyên thay đổi bạn tình hoặc có nhiều bạn tình [14], [60]
- Quan hệ tình dục với các bạn tình ngẫu nhiên, với phụ nữ mại dâm
- Quan hệ đồng tính nam [28]
- Không sử dụng bao cao su đúng cách khi quan hệ tình dục với đối tác nguy cơ [60]
- Đã mắc STD trước đó
- Dùng dụng cụ bi, nhẫn sâu vào cơ quan sinh dục
- Uống rượu hoặc dùng ma tuý trước hoặc trong khi quan hệ tình dục [14], [60]
❖ Hành vi nguy cơ của bạn tình:
- Có quan hệ tình dục với bạn tình khác
- Tiêm chích ma tuý
Trang 25Quan hệ tình dục đồng tính là nguyên nhân chính lây truyền HIV/AIDS, lậu và giang mai [28] Nghiên cứu cho thấy nguy cơ lây nhiễm HIV cao khi quan hệ tình dục bằng hậu môn, với 70% tổng số người có quan hệ tình dục bằng hậu môn và 85% trong số người nhiễm HIV có quan hệ tình dục đường hậu môn trong tháng trước Nghiên cứu cho thấy rằng nam đồng tính có nguy
cơ bị bệnh lậu ở họng cao gấp 3 lần so với nam dị tính 21% người có quan hệ đồng tính nam mắc bệnh giang mai và nguy cơ mắc bệnh giang mai ở đồng tính nam cao hơn nhiều so với đàn ông dị tính Ngoài ra, đồng tính nam và người tiêm chích ma túy có nguy cơ lây nhiễm HIV rất cao [28]
Bên cạnh những hành vi nguy cơ mắc STD kể trên thì có một số hành vi bảo vệ giúp phòng tránh STD như sử dụng bao cao su đúng cách, giảm số bạn tình, chung thuỷ với một bạn tình hoặc có các hành vi tình dục ít nguy cơ như chỉ có kích thích tình dục
1.4 Thực trạng kiến thức về các bệnh lây qua đường tình dục
Kiến thức về các bệnh lây truyền qua đường tình dục là sự hiểu biết của người dân về các bệnh lây truyền qua đường tình dục (STD) Đó là những hiểu biết về một số hội chứng STD, các bệnh thuộc STD, căn nguyên và đường lây STD, triệu chứng và biến chứng của STD, cách phòng tránh STD Những kiến thức này người bệnh có thể tìm hiểu được qua sách báo, truyền hình, bạn bè, người thân, nhân viên y tế…
Sau đây là một số kiến thức về các bệnh lây truyền qua đường tình dục:
1.4.1 Căn nguyên các bệnh lây truyền qua đường tình dục
- Căn nguyên là vi khuẩn như lậu cầu, xoắn khuẩn giang mai, Chlamydia
trachomatis, Mycoplasma hominis, Ureaplasma urealyticum, trực khuẩn hạ
cam, vi khuẩn kỵ khí âm đạo [59]
Trang 26- Căn nguyên là vi rút như Herpes simplex virus (HSV), Human
papilloma virus (HPV), Molluscum contagiosum virus (MCV), Human immuno-deficiency virus (HIV), Hepatitis B virus (HBV) [59]
- Căn nguyên là đơn bào, nấm, ký sinh trùng như Trichomonas vaginalis,
nấm candida, cái ghẻ, rận mu [59]
1.4.2 Cách lây truyền
Các STD có thể lây qua các phương thức sau: quan hệ tình dục không bảo vệ; lây truyền từ mẹ sang con trong thời kỳ thai nghén, khi chuyển dạ, sau khi sinh, qua sữa mẹ (chỉ đối với HIV); truyền máu hoặc tiếp xúc với máu và các sản phẩm của máu, tiêm chích và các thủ thuật đâm xuyên qua da không vô khuẩn
Tuy nhiên, không phải tất cả các trường hợp giao hợp không được bảo vệ đều dẫn đến hậu quả lây nhiễm STD từ người bệnh sang bạn tình của họ Sự nhiễm bệnh còn chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố sinh học và hành vi [59]
1.4.3 Biến chứng của STDs
STDs có thể dẫn đến nhiều hậu quả nghiêm trọng, đặc biệt là ở phụ nữ, chẳng hạn như bệnh viêm tiểu khung mạn tính, vô sinh, thai ngoài tử cung, ung thư cổ tử cung, nhiễm khuẩn bà mẹ, tử vong chu sinh, và các nhiễm khuẩn mắt có khả năng làm mù ở trẻ sơ sinh
Ở nam giới STD có thể gây biến chứng viêm tinh hoàn, viêm mào tinh hoàn có thể dẫn đến vô sinh Trừ một số STD có biểu hiện lâm sàng cấp tính rầm rộ ngay thời kỳ đầu thì đa phần các triệu chứng và dấu hiệu của nhiễm khuẩn nhiều khi rất kín đáo và chỉ được nhận biết khi đã quá muộn với các biến chứng và tổn thương cho cơ quan sinh sản
Ngoài ra, STD là yếu tố quan trọng trong việc thúc đẩy việc nhiễm và lây truyền HIV Các STD có loét làm tăng nguy cơ lây nhiễm HIV qua quan
hệ tình dục một cách đáng kể bởi vì các vết loét và tổn thương ở sinh dục
Trang 27cho phép các tác nhân gây bệnh xâm nhập dễ dàng vào cơ thể người bệnh Ngoài ra, các viêm nhiễm ở niệu đạo và cổ tử cung cho phép trao đổi hiệu quả hơn các chất tiết có chứa HIV, làm tăng khả năng lây truyền
1.5 Các nghiên cứu về thực trạng bệnh lây qua đường tình dục trên thế giới và tại Việt Nam
1.5.1 Thực trạng bệnh lây qua đường tình dục trên thế giới
Nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục (STD) khá phổ biến trên thế giới, đặc biệt là ở các nước đang phát triển Đứng về khía cạnh cộng đồng, bệnh giang mai, bệnh lậu, chlamydia và trichomonas có tầm quan trọng rất lớn trong chiến lược phòng chống STDs [58] Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ước tính rằng ngoài AIDS, nếu chỉ tính 4 bệnh có thể chữa khỏi được là trichomonas, Chlamydia, lậu và giang mai thì mỗi năm trên toàn thế giới có hơn 340 triệu trường hợp mới mắc ở độ tuổi từ 15-49 [58] Ngoài ra, hàng triệu trường hợp mắc STD do virus cũng xảy ra hàng năm, chủ yếu là do lây nhiễm HIV, herpes sinh dục, sùi mào gà và viêm gan virus B [58]
STDs là nguyên nhân chính gây vô sinh nhưng có thể ngăn ngừa được, đặc biệt là ở phụ nữ Có khoảng 10% đến 40% phụ nữ bị nhiễm chlamydia không được điều trị gây viêm vùng chậu (PID) Tổn thương vòi tử cung sau viêm nhiễm gây vô sinh cho 30-40% các trường hợp vô sinh nữ Phòng chống PID, sẽ ngăn chặn được phần lớn các trường hợp tử vong liên quan đến thai ngoài tử cung Phòng chống nhiễm HPV sẽ giảm số lượng phụ nữ chết vì ung thư cổ tử cung, một bệnh ung thư phổ biến thứ hai ở phụ nữ sau ung thư vú [58]
Ở phụ nữ mang thai, mắc bệnh giang mai sớm không được điều trị thì có 25% thai bị chết lưu và 14% trẻ sơ sinh tử vong Bệnh lậu không được điều trị
ở phụ nữ mang thai có thể dẫn đến sảy thai, sinh non, và có thể có 10% tử vong chu sinh Trẻ sinh ra từ các bà mẹ bị lậu và/hoặc nhiễm Chlamydia sẽ bị viêm
Trang 28mắt, có thể dẫn đến mù lòa ở khoảng 4.000 trẻ sơ sinh hàng năm trên toàn thế giới [58] Tóm lại, khả năng phòng ngừa, giảm tỉ lệ mắc và tử vong liên quan đến STD là rất cao, điều đó làm cho việc phòng chống và kiểm soát STD trở thành vấn đề ưu tiên của y tế cộng đồng [58]
Nghiên cứu về kiến thức, nhận thức và thái độ của các cô gái vị thành niên đối với STDs/HIV về giáo dục giới tính và tình dục an toàn tại Delhi, Ấn Độ cho thấy phần lớn số người được hỏi (71%) không có kiến thức về những ảnh hưởng của nhiễm Herpes sinh dục, không biết hậu quả khi mắc giang mai (43%)
và 28% không biết rằng bệnh Lậu là một STD Một phần ba các cô gái (33%)
đã không biết các vết loét ở vùng sinh dục và đau khi đi tiểu (31%) là dấu hiệu
và triệu chứng của STD ở phụ nữ 22% các cô gái không biết tiết dịch âm đạo
là một dấu hiệu quan trọng về các bệnh LTQĐTD ở phụ nữ Ngoài ra, các đối tượng trong cuộc điều tra cho rằng đau ngực (24%) và đau cổ họng (9%) là triệu chứng của các bệnh LTQĐTD ở phụ nữ [22] Khi hỏi các đối tượng về các câu hỏi liên quan đến dự phòng HIV/STD thấy có 18% và 31% các đối tượng trong cuộc điều tra đã không biết rằng bao cao su là một phương pháp hiệu quả ngừa HIV/AIDS và các bệnh LTQĐTD [22]
Năm 2008, nghiên cứu trên đối tượng là gái mại dâm cho thấy hành vi tiêm chích ma túy cao gấp 2,83 lần so với nhóm không nghiện chích ma túy, ngoài nghiện chích ma túy họ còn nghiện rượu khi quan hệ với khách, đối tượng này có tỉ lệ mắc cao gấp 3,6 lần so với người không nghiện rượu [22]
1.5.2 Thực trạng bệnh lây qua đường tình dục tại Việt Nam
Ở nước ta, theo số liệu báo cáo thống kê của BVDLTW về tình hình STD của tất cả các tỉnh thành trong cả nước thì số người bệnh ngày càng tăng Cụ thể là, nếu chỉ tính trong 3 năm từ 2006 đến 2008, số người bệnh STD tăng từ 202.856 lên tới 297.897 Nhóm tuổi từ 14 - 49 là chủ yếu [2] Tuy nhiên, có không ít người bệnh STD tự điều trị hoặc tìm đến các cơ sở y tế tư nhân hoặc
Trang 29nhà thuốc mà không thống kê được Vì vậy, số lượng người bệnh mắc STD thực sự là cao hơn số đã được thống kê từ các cơ sở y tế nhà nước Theo ước tính thì ở Việt Nam hàng năm có khoảng 1 triệu người mới mắc STD [2] Năm 2021, cả nước phát hiện được 13.223 trường hợp nhiễm HIV, trong
đó tỷ lệ nhiễm tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long cao nhất (27%) và TP
Hồ Chí Minh (26%) 84,7% là nam giới, đường lây chủ yếu là quan hệ tình dục không an toàn (79,1%) và qua đường máu (9,9%) Nhìn chung, tỷ lệ nhiễm HIV trong các nhóm nguy cơ cao đã giảm đáng kể và tỷ lệ chung trong cộng đồng được kiểm soát ở mức dưới 0,3% Tuy nhiên, tình hình dịch HIV/AIDS trong vài năm gần đây có diễn biến đáng quan ngại Tỷ lệ nhiễm HIV có xu hướng gia tăng ở một số địa phương, đặc biệt là các tỉnh phía Nam Trong khi tỷ lệ nhiễm HIV ở nhóm phụ nữ bán dâm được khống chế ở mức thấp (trên dưới 3%) trong nhiều năm, thì tỷ lệ này ở nhóm tiêm chích ma túy vẫn còn khá cao (trên 12%) Đặc biệt, tỷ lệ nhiễm HIV ở nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới (MSM) tăng lên một cách đáng lo ngại, từ 6,7% năm 2014 lên 12,2% (2017)
và 13,3% (2020) Một số địa phương, tỷ lệ MSM chiếm đến 50-70% tổng số
các trường hợp nhiễm HIV được phát hiện [12]
Một nghiên cứu về các yếu tố liên quan đến bệnh lây truyền qua đường tình dục tại Hải Phòng cho thấy đa số gái mại dâm được hỏi về các triệu chứng bất thường của bệnh STD thì có tới 90,8% trả lời là có, các triệu chứng như ngứa, tiết dịch âm đạo, loét sùi… Nghiên cứu cũng cho thấy có mối liên quan giữa kiến thức của đối tượng tham gia nghiên cứu về các triệu chứng bệnh và đường lây truyền bệnh STDs [40] Kết quả trên cho thấy, phụ nữ có kiến thức không tốt về STD có tỉ lệ mắc bệnh cao hơn rất nhiều so với những phụ nữ nhận thức tốt, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê [40]
Qua kết quả phỏng vấn những phụ nữ ở vùng nông thôn Việt Nam về kiến thức STD cho thấy số người trả lời biết về phân loại STD là bệnh lậu và giang
Trang 30mai (83% các câu trả lời), tiếp theo là mụn cóc sinh dục và HIV (50% -52%),
và viêm gan B, nhiễm trichomonas, herpes sinh dục, và Chlamydia (30% 37%) Chỉ có 17% số người được hỏi phân loại chấy rận là STD, trong khi 52%
-và 34% thực hiện phân loại này cho candida -và viêm âm đạo do vi khuẩn [46] Hầu như tất cả những người phụ nữ ở vùng nông thôn đều trả lời về tầm quan trọng của hành vi tình dục cá nhân là yếu tố nguy cơ gây ra STD Khoảng 60%
số người được hỏi cho biết đường lây truyền STD như chia sẻ quần áo (vì chấy rận có thể lây lan bằng cách chia sẻ quần áo, ngủ, hoặc khăn) hoặc chia sẻ thức
ăn hoặc hôn 70% số người được hỏi trả lời rằng điều trị bạn tình là cần thiết
khi viêm âm đạo do vi khuẩn hoặc candida [46]
Một nghiên cứu khảo sát sự hiểu biết về STD của 109 người bệnh đến khám tại BVDLTW cho thấy đa số các người bệnh hiểu biết về các bệnh STD (90,8%), trong đó: các bệnh truyền nhiễm (87,25%) Phần lớn các người bệnh hiểu biết được về đường lây truyền chính là đường quan hệ tình dục và tiêm chích ma túy chiếm 91,7% và người bệnh nam hiểu biết nhiều hơn so với người bệnh nữ, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê [2] Bên cạnh những hiểu biết về đường lây truyền, thì hiểu biết của người bệnh về các biện pháp phòng chống STD cũng chiếm tỉ lệ khá cao chủ yếu là các biện pháp: dùng BCS (57,8%) và chung thủy (40,4%) [2]
Qua khảo sát về kiến thức, thái độ của ngư dân các tỉnh miền trung về STD cho thấy tỉ lệ ngư dân nghe nói về các bệnh LTQĐTD là 286 (chiếm 68,6%) số người được phỏng vấn Về triệu chứng bất thường liên quan đến bộ phận sinh dục trong 12 tháng qua, tỉ lệ ngư dân có triệu chứng tiết dịch ở bộ phận sinh dục là 7%; tỉ lệ ngư dân bị loét, sùi hoặc viêm bộ phận sinh dục chiếm 6,7% [17]
Giám sát kết hợp hành vi và các chỉ số sinh học (IBBS) vòng II được thực hiện từ tháng 6 năm 2009 đến tháng 2 năm 2010 trên 13 tỉnh thuộc các vùng
Trang 31trong cả nước cho thấy tỉ lệ sử dụng chung bơm kim tiêm ở mức tương đối cao
trong phần lớn các tỉnh được khảo sát [6] Tỉ lệ người tiêm chích ma túy
(TCMT) báo cáo có sử dụng chung bơm kim tiêm trong 6 tháng nghiên cứu là 24% và trong tháng cao nhất là 15% Trên 20% người TCMT báo cáo có sử dụng chung bơm kim tiêm trong 6 tháng qua ở tất cả các tỉnh ngoại trừ 3 tỉnh (Hải Phòng, Cần Thơ và An Giang), và tỉ lệ này lên tới 35% ở Lào Cai Điểm đáng quan tâm là trong nhóm TCMT nhiễm HIV, phần lớn (lên tới 82% ở Quảng Ninh) báo cáo đã từng sử dụng chung bơm kim tiêm, ngoại trừ An Giang và Hải Phòng So sánh số liệu giữa 2006 và 2009, sử dụng chung bơm kim tiêm trong 6 tháng đã giảm ở Hải Phòng, TP HCM, Cần Thơ, và An
Giang, tăng lên ở Hà Nội và Quảng Ninh và không thay đổi ở Đà Nẵng [6]
Sử dụng bao cao su thường xuyên, được định nghĩa là luôn luôn sử dụng bao cao su trong các lần QHTD Tỉ lệ sử dụng bao cao su thường xuyên trong
12 tháng của nhóm TCMT ở mức thấp với bạn tình thường xuyên là vợ và bạn gái (từ 15%-56%) và ở mức cao với PNMD (từ 39%-84%) Trong nhóm TCMT nhiễm HIV, cỡ mẫu ở một vài tỉnh quá nhỏ để có thể rút ra kết luận khẳng định, tuy nhiên vẫn có thể ước tính khoảng 1/3 không sử dụng bao cao su thường xuyên với bạn tình thường xuyên QHTD không an toàn với PNMD ít thay đổi
so với 2006, ngoại trừ việc sử dụng bao cao su thường xuyên tăng lên ở An
Giang (45% lên 73%), và giảm đi ở Quảng Ninh (81% xuống 69%) [6]
Tiêm chích ma túy là yếu tố quan trọng làm tăng nguy cơ lây nhiễm HIV cho nhóm PNMD và được xem là ở mức cao tại Hà Nội, Hải Phòng, TP HCM,
và Cần Thơ Mại dâm đường phố dường như báo cáo tiêm chích ma túy nhiều hơn mại dâm nhà hàng (MDNH) (8% so với 13% tại TPHCM; 5% so với 15% tại Hà Nội; 4% và 18% tại Hải Phòng và 1% so với 16% tại Cần Thơ) Các nghiên cứu cho thấy tỉ lệ STDs chiếm khoảng 33% đến 50% PNMD Quan hệ tình dục không sử dụng bao cao su đúng cách với khách hàng trong số
Trang 32gái mại dâm là dưới 40% và đặc biệt thấp khi quan hệ với chồng/bạn tình thường xuyên [53] Có tới 18% đến 59% người nghiện chích ma túy thường có quan hệ tình dục với gái mại dâm [26], [52] đồng thời họ cũng thường có quan
hệ tình dục với bạn tình [53] (vợ hoặc bạn gái) Trong khi đó chỉ có 16-36% số người này sử dụng bao cao su thường xuyên 30% trong số người nghiện chích
ma túy mắc STDs (trừ HIV) [26], có 66% - 74% nhiễm HIV [40] Tỉ lệ STDs/HIV cao và các hành vi nguy cơ cao trong nhóm tiêm chích ma túy cho thấy khả năng tiềm tàng lây truyền STD/HIV cho cộng đồng nói chung và nhóm này có vai trò chính trong việc lây truyền HIV tại Việt Nam [26]
Mặt khác, một số nghiên cứu cho thấy nhóm đồng giới nam (MSM) có tỉ
lệ mắc STDs cao và sử dụng bao cao su thấp, thường xuyên thay đổi bạn tình [20], [37] Nhiễm HIV trong nhóm này lên đến 9%, và STD là 16-22% Nhiều người trong số họ bán dâm cho nam và mua dâm nữ trong khi chỉ có 51% sử dụng bao cao su [37]
Trang 33Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Người bệnh đến khám và điều trị bệnh lây truyền qua đường tình dục tại phòng khám Ngoại niệu, bệnh viện Lê Văn Thịnh, thành phố Thủ Đức
2.1.2 Tiêu chuẩn chọn mẫu
- Người bệnh > 18 tuổi
- Người bệnh mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục không phân biệt giới, nghề nghiệp, nơi sống…
- Người bệnh đồng ý tham gia nghiên cứu
2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ
Người bị bệnh tâm thần, không kiểm soát được hành vi và các bệnh gan, thận, phổi nặng
Những người bệnh STDs không theo dõi được sau 3 tháng tính từ ngày khám đầu tiên
2.1.4 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
− Địa điểm: phòng khám Ngoại niệu, bệnh viện Lê Văn Thịnh, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh
− Thời gian: từ tháng 7 năm 2021 đến tháng 7 năm 2022
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu so sánh trước và sau can thiệp không có nhóm chứng
Trang 34- n: cỡ mẫu cần nghiên cứu
- Z1-α/2l = 1,96 với độ tin cậy 95%
- P: Tỉ lệ bệnh nhân hiểu biết về các bệnh lây qua đường tình dục là 90,8%
[2]
- ε là giá trị tương đối Chọn ε là 0,06
Thay các giá trị vào công thức trên ta có cỡ mẫu tối thiểu cho nghiên cứu
là 108 người bệnh
2.2.3 Phương pháp chọn mẫu
Chọn tất cả bệnh nhân mắc các bệnh lây qua đường tình dục đến khám và điều trị tại phòng khám Ngoại niệu, bệnh viện Lê Văn Thịnh trong thời gian nghiên cứu và thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu
Lấy mẫu cho đến khi đủ số liệu nghiên cứu
Trên thực tế, số bệnh nhân đến khám nhiều hơn 108 người
2.2.4 Nội dung nghiên cứu
2.2.4.1 Nhóm biến số thông tin chung
- Tuổi: Là tuổi của người bệnh tính theo dương lịch Là biến số định lượng,
được tính bằng cách lấy năm hiện tại trừ cho năm sinh của người bệnh
Trang 35- Nghề nghiệp: Là nghề nghiệp hiện tại mang lại thu nhập chính cho người
bệnh Là biến số định danh, bao gồm các giá trị:
+ Học sinh – sinh viên
Trang 36+ THPT: người bệnh đã hoàn thành chương trình đào tạo của bậc trung học phổ thông (học hết lớp 12)
+ CĐ/ ĐH/ Sau ĐH: người bệnh đã tốt nghiệp cao đẳng, đại học hoặc các chương trình đào tạo sau đại học
- Nơi sống: là nơi cư trú hiện tại của người bệnh Là biến số danh định,
khai thác thông tin địa chỉ cụ thể và phân thành hai khu vực:
+ Thành thị: thành phố, thị xã, nơi tập trung đông dân cư, công nghiệp
và thương nghiệp phát triển
+ Nông thôn: các địa phương (thôn, xã), người dân sinh sống chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp
- Tình trạng hôn nhân: tình trạng hôn nhân hiện tại của người bệnh Là
biến số danh định, gồm các giá trị:
- Tình trạng mắc STDs: được chẩn đoán lâm sàng và có kết quả xét
nghiệm Là biến số danh định, ghi nhận tình trạng của người bệnh:
+ Không mắc STDs
+ Mắc các STDs như lậu, giang mai, Chlamydia tracomatis, trùng roi
âm đạo, sùi mào gà, HIV hoặc các STDs khác
Trang 372.2.4.2 Tỉ lệ các bệnh và hành vi nguy cơ mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục
Các bệnh lây truyền qua đường tình dục bao gồm:
qua đường tình dục tại bệnh viện Lê Văn Thịnh
Hành vi nguy cơ:
- Tình trạng bạn tình: Là số lượng bạn tình của người bệnh trong 6
tháng gần đây Là biến số nhị giá, gồm 2 giá trị:
+ 1 người
+ Từ 2 người trở lên
- Quan hệ với PNMD: Là người bệnh có quan hệ tình dục với phụ nữ
mại dâm trong vòng 6 tháng gần đây Là biến số nhị giá, có 2 giá trị:
+ Có
+ Không
- Sử dụng bao cao su: Là biến số nhị giá, có 2 giá trị:
+ Có sử dụng: Khi người bệnh sử dụng thường xuyên, đúng cách + Không sử dụng: Khi người bệnh không bao giờ sử dụng, sử dụng không thường xuyên hoặc không sử dụng BCS trong lần QHTD gần nhất
Trang 38- Quan hệ đồng giới nam: Là biến số nhị giá, có 2 giá trị:
- Hành vi nguy cơ: Là biến số nhị giá, có 2 giá trị:
+ Có: Khi người bệnh có một trong các hành vi nguy cơ như có từ 2 bạn tình, QHTD với PNMD, không sử dụng BCS khi QHTD, quan hệ đồng giới
+ Không: Khi không có bất cứ hành vi nguy cơ nào
2.2.4.3 Nhóm biến số về kiến thức các bệnh lây qua đường tình dục
- Kiến thức về các bệnh thuộc STDs (tổng điểm: 7 điểm):
Người bệnh phân loại được các bệnh thuộc STDs
Mỗi bệnh (bao gồm: Giang mai, lậu, nhiễm chlamydia đường sinh dục - tiết niệu, sùi mào gà, herpes sinh dục, HIV/AIDS, trùng roi đường sinh dục) được xem như một biến số nhị giá, có 2 giá trị:
+ Đúng: Khi người bệnh trả lời các bệnh trên là STDs (điểm tương ứng:
1 điểm)
+ Chưa đúng: Khi người bệnh trả lời các bệnh trên không phải là bệnh thuộc STDs (điểm tương ứng: 0 điểm)
- Kiến thức về căn nguyên gây STDs (tổng điểm: 3 điểm): Người bệnh
trả lời các câu hỏi về các căn nguyên gây STDs:
+ Kiến thức về vi khuẩn gây STDs: Là biến số nhị giá (có 2 giá trị: đúng và chưa đúng)
Trang 39+ Người bệnh trả lời được vi khuẩn là căn nguyên gây STDs được đánh giá là có kiến thức đúng (điểm tương ứng: 1 điểm)
Người bệnh trả lời vi khuẩn không phải căn nguyên gây STDs được đánh giá là có kiến thức chưa đúng (điểm tương ứng: 0 điểm)
+ Tương tự, người bệnh trả lời được vi rút là căn nguyên gây STDs được đánh giá là có kiến thức đúng (điểm tương ứng: 1 điểm)
+ Người bệnh trả lời được Trichomonas vaginalis, nấm candida, cái
ghẻ, rận mu là căn nguyên gây STDs, được đánh giá là có kiến thức đúng (điểm tương ứng: 1 điểm)
- Kiến thức về các triệu chứng của STDs (tổng điểm: 1 điểm): Người
bệnh liệt kê các triệu chứng nghi ngờ của STDs Là biến số nhị giá, có 2 giá trị:
+ Đúng: Khi người bệnh liệt kê đúng từ 3 triệu chứng nghi ngờ của STDs (điểm tương ứng: 1 điểm)
+ Chưa đúng: Khi người bệnh liệt kê được ít hơn 3 triệu chứng nghi ngờ của STDs (điểm tương ứng: 0 điểm)
- Kiến thức về yếu tố nguy cơ của STDs (tổng điểm: 4 điểm): Người
bệnh trả lời được các nguy cơ của STDs
Mỗi yếu tố nguy cơ (bao gồm: có nhiều bạn tình, không dùng BCS khi quan
hệ, quan hệ với mại dâm, truyền máu không an toàn) được xem như một biến
số nhị giá, có 2 giá trị:
+ Đúng: Khi người bệnh trả lời các yếu tố trên là yếu tố nguy cơ của STDs (điểm tương ứng: 1 điểm)
+ Chưa đúng: Khi người bệnh trả lời các yếu tố trên không phải là yếu
tố nguy cơ của STDs (điểm tương ứng: 0 điểm)
- Kiến thức về đường lây truyền STDs (tổng điểm: 4 điểm):
Người bệnh trả lời được các đường lây truyền của STDs
Trang 40Mỗi đường lây truyền (bao gồm: quan hệ tình dục, truyền máu không an toàn, từ mẹ sang con, dùng chung bơm kim tiêm) được xem như một biến số nhị giá, có 2 giá trị:
+ Đúng: Khi người bệnh trả lời các đường lây trên là đường lây truyền của STDs (điểm tương ứng: 1 điểm)
+ Chưa đúng: Khi người bệnh trả lời các đường lây trên không phải là đường lây truyền của STDs (điểm tương ứng: 0 điểm)
- Kiến thức về các biến chứng của STDs (tổng điểm: 1 điểm): Người
bệnh liệt kê các biến chứng của STDs Là biến số nhị giá, có 2 giá trị:
+ Đúng: Khi người bệnh liệt kê đúng từ 3 biến chứng của STDs (điểm tương ứng: 1 điểm)
+ Chưa đúng: Khi người bệnh liệt kê được ít hơn 3 biến chứng của STDs (điểm tương ứng: 0 điểm)
- Kiến thức chung về STDs:
Được đánh giá dựa trên 5 nội dung kiến thức: các bệnh thuộc STDs, căn nguyên gây STDs, triệu chứng nghi ngờ, yếu tố nguy cơ, đường lây và các biến chứng của STDs Là biến số thứ tự, gồm 4 giá trị:
+ Tốt: Khi tổng điểm được tính từ 5 nội dung kiến thức đạt từ 16/20 điểm và điểm của từng nội dung phải đạt ít nhất 1 điểm
+ Khá: Khi tổng điểm được tính từ 5 nội dung kiến thức đạt từ 13/20 điểm
+ Trung bình: Khi tổng điểm được tính từ 5 nội dung kiến thức đạt từ 10/20 điểm
+ Yếu – kém: Khi tổng điểm được tính từ 5 nội dung kiến thức đạt dưới 10/20 điểm