Một số yếu tố liên quan đến việc sử dụng rượu bia và tình trạng chấn thương ở bệnh nhân chấn thương do tai nạn giao thông .... Một số yếu tố liên quan đến việc sử dụng rượu bia và tình t
Trang 1Cần Thơ, năm 2021
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH SỬ DỤNG RƯỢU BIA Ở BỆNH NHÂN CHẤN THƯƠNG DO TAI NẠN GIAO THÔNG TẠI KHOA CẤP CỨU BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRUNG ƯƠNG
CẦN THƠ NĂM 2018
THS BS NGUYỄN NGỌC HUYỀN
Trang 2Cần Thơ, năm 2021
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH SỬ DỤNG RƯỢU BIA Ở BỆNH NHÂN CHẤN THƯƠNG DO TAI NẠN GIAO THÔNG TẠI KHOA CẤP CỨU BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRUNG ƯƠNG
CẦN THƠ NĂM 2018
Chủ nhiệm đề tài: Ths Nguyễn Ngọc Huyền Cán bộ tham gia: PGS TS Phạm Thị Tâm
TS Nguyễn Tấn Đạt
Ts BS Nguyễn Minh Phương Ths.BS Nguyễn Ngọc Huyền
Trang 3Nhóm nghiên cứu chúng tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu và Ban chủ nhiệm Khoa Y tế công cộng đã tạo điều kiện thuận lợi giúp chúng tôi hoàn thành đề tài cơ sở này
Xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ, toàn thể cán bộ và quý đồng nghiệp tại Khoa cấp cứu Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ đã giúp đỡ, tạo điều kiện và hỗ trợ chúng tôi trong suốt thời gian thu thập số liệu và hoàn thành quyển đề tài này
Cần Thơ, ngày tháng năm 20
Chủ nhiệm đề tài
Nguyễn Ngọc Huyền
Trang 4Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của nhóm nghiên cứu Các số liệu, kết quả trình bày trong đề tài nghiên cứu là trung thực,
có nguồn gốc rõ ràng và chưa từng công bố
Cần Thơ, ngày tháng năm 20
Chủ nhiệm đề tài
Nguyễn Ngọc Huyền
Trang 5Trang Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Mục lục
PHẦN 1 TÓM TẮT ĐỀ TÀI
PHẦN 2 TOÀN VĂN CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng, biểu đồ, hình vẽ, đồ thị
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Tai nạn thương tích và tai nạn giao thông đường bộ 3
1.1.1 Định nghĩa và phân loại tai nạn thương tích 3
1.1.2 Định nghĩa và đặc điểm tai nạn giao thông đường bộ 3
1.2 Đồ uống có cồn và nồng độ cồn trong máu 6
1.2.1 Đồ uống có cồn 6
1.2.2 Tác hại của việc sử dụng rượu bia 7
1.2.3 Thuật ngữ BAC (Blood alcohol concentration) 14
1.2.4 Mức an toàn trong sử dụng rượu bia 15
1.2.5 Các yếu tố tác động đến nồng độ cồn trong máu 16
1.2.6 Ảnh hưởng của nồng độ cồn trong máu đối với cơ thể về hành vi lái xe 17
1.3 Tình hình tai nạn giao thông liên quan sử dụng rượu bia trên thế giới và tại Việt Nam 19
1.3.1 Tình hình tai nạn giao thông trên Thế giới 19
Trang 61.4 Một số nghiên cứu về tình hình tai nạn giao thông liên quan sử dụng
rượu bia 21
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1 Đối tượng nghiên cứu 23
2.1.1 Các đối tượng nghiên cứu 23
2.1.2 Tiêu chuẩn chọn mẫu 23
2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ 23
2.1.4 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 23
2.2 Phương pháp nghiên cứu 23
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 23
2.2.2 Cỡ mẫu nghiên cứu 23
2.2.3 Phương pháp chọn mẫu 24
2.2.4 Nội dung nghiên cứu 24
2.2.5 Phương pháp thu thập số liệu 27
2.2.6 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 28
2.3 Hạn chế trong nghiên cứu 28
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 29
3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 29
3.2 Tình hình sử dụng rượu bia của bệnh nhân chấn thương do tai nạn giao thông 33
3.3 Một số yếu tố liên quan đến việc sử dụng rượu bia và tình trạng chấn thương ở bệnh nhân chấn thương do tai nạn giao thông 35
Chương 4 BÀN LUẬN 40
4.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 40
Trang 74.3 Một số yếu tố liên quan đến việc sử dụng rượu bia và tình trạng chấn thương ở bệnh nhân chấn thương do tai nạn giao thông 47
KẾT LUẬN 52 KIẾN NGHỊ 54 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8Đặt vấn đề
Tai nạn giao thông (TNGT) là một trong mười nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trên Thế giới, tình hình tai nạn giao thông trên thế giới đã và đang diễn ra một cách nghiêm trọng Theo báo cáo của WHO, Việt Nam đứng thứ 2 trong khu vực Đông Nam Á về số người chết do va chạm trên đường, với tỷ lệ 26,1/100.000 người Theo thống kê, trong năm 2018 có 24.970 người thiệt mạng vì tai nạn giao thông ở Việt Nam Tai nạn giao thông đường bộ gây thiệt hại đáng kể về kinh tế cho nạn nhân, gia đình của họ và các quốc gia [13] Theo thống kê của Ủy ban An toàn giao thông quốc gia, khoảng 40% số vụ TNGT và 11% số người tử vong do tai nạn liên quan đến rượu, bia Nghiên cứu tại Bệnh viện Việt Đức và Bệnh viện Xanh Pôn cho thấy tỷ lệ nạn nhân bị TNGT có nồng độ cồn trong máu chiếm tỷ lệ 62% Viện Pháp y Quốc gia xét nghiệm 500 nạn nhân tử vong thì có 34% nạn nhân có nồng độ cồn trong máu vượt mức cho phép Nhiều chuyên gia ước tính nguyên nhân TNGT do uống rượu, bia chiếm đến 40% tổng số vụ tai nạn, bao gồm cả nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp [8]
Sự tiêu thụ rượu bia làm tăng xác suất xảy ra các vụ va chạm, đặc biệt trong tai nạn giao thông đã gây hậu quả tử vong hoặc các thương tích nghiêm trọng Tai nạn giao thông đường bộ liên quan đến rượu bia không phải là vấn đề mới, tuy nhiên nghiên cứu liên quan đến chủ đề này là cần thiết và cấp thiết trong bối cảnh hiện nay với tỷ lệ gánh nặng bệnh tật, tổn thất kinh tế do hệ quả
từ các chấn thương, hay tử vong từ tai nạn giao thông có liên quan đến sử dụng rượu bia có xu hướng ngày càng gia tăng Nghiên cứu nhằm cung cấp thêm dữ liệu mang tính khoa học về tiêu thụ rượu bia và mối liên quan đến việc sử dụng rượu bia và chân thương do tai nạn giao thông, góp phần giảm thương tích do
Trang 9Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu 1: xác định tỷ lệ sử dụng rượu bia ở bệnh nhân chấn thương do tai nạn giao thông tại khoa Cấp cứu bệnh viện Đa khoa Trung Ương Cần Thơ năm 2018
Mục tiêu 2: tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến việc sử dụng rượu bia và tình trạng chấn thương ở bệnh nhân chấn thương do tai nạn giao thông tại khoa Cấp cứu bệnh viện Đa khoa Trung Ương Cần Thơ năm 2018
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện theo phương pháp mô tả cắt ngang có phân tích Bệnh nhân được chọn vào nghiên cứu là những bệnh nhân bị chấn thương
do tai nạn giao thông trong vòng 6 giờ nhập viện điều trị tại khoa Cấp cứu, bệnh viện Đa khoa Trung Ương Cần Thơ năm 2018
Nghiên cứu được thực hiện với cỡ mẫu 283 đối tượng Số liệu nghiên cứu được thu thập từ điều tra phỏng vấn bằng bộ câu hỏi soạn sẵn trên bệnh nhân đạt tiểu chuẩn chọn Xét nghiệm nồng độ cồn trong máu được thực hiện ngay khi bệnh nhân vào viện, việc xét nghiệm nồng độ cồn trong máu được thực hiện theo Quyết định 933/QĐ-BYT ngày 23/3/2010 về việc Quy định xét nghiệm nồng độ cồn trong máu của bệnh nhân TNGT [6] Đơn vị đo dựa theo quy định của Luật giao thông đường bộ là mg/100 ml (mg/dl) Phiếu phỏng vấn sẽ được điều tra viên tập hợp hàng ngày, kiểm tra tính chính xác của thông tin phỏng vấn và kết quả xét nghiệm
Kết quả nghiên cứu và kết luận
- Mục tiêu 1: xác định tỷ lệ sử dụng rượu bia ở bệnh nhân chấn thương do tai nạn giao thông tại khoa Cấp cứu bệnh viện Đa khoa Trung Ương Cần Thơ năm 2018:
Trang 10Nồng độ cồn trong máu của bệnh nhân cao nhất là 283,1 mg/dl Kết quả cho thấy ở bệnh nhân có sử dụng rượu bia, nồng độ cồn trong máu trên mức 50 mg/dl chiếm tỷ lệ cao nhất là 62,2%, dưới mức 50mg/dl là 14,8%
- Mục tiêu 2: tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến việc sử dụng rượu bia
và tình trạng chấn thương ở bệnh nhân chấn thương do tai nạn giao thông tại khoa Cấp cứu bệnh viện Đa khoa Trung Ương Cần Thơ năm 2018:
Nhóm tuổi từ 20-29 tuổi và 30-39 tuổi có sử dụng rượu bia bị TNGT chiếm
tỷ lệ cao lần lượt là 28,8% và 31,5% Nhóm tuổi từ 20-29 tuổi và 30-39 tuổi có
sử dụng rượu bia có nguy cơ bị TNGT cao hơn nhóm tuổi ≥ 50 tuổi lần lượt là 2,58 và 3,24 lần, sự khác biệt này là có ý nghĩa thống kê (p = 0,01, OR = 2,58, KTC95% OR=1,25-5,30 giữa nhóm tuổi 20-29 tuổi và nhóm tuổi ≥ 50 tuổi, p
= 0,001, OR = 3,24, KTC95% OR=1,57-6,70 giữa nhóm tuổi 20-29 tuổi và nhóm ≥ 50 tuổi) Nam giới sử dụng rượu bia có nguy cơ bị TNGT cao gấp 11,35 lần so với nữ giới, sự khác biệt này là có ý nghĩa thống kê (p < 0,001, OR
= 11,35, KTC95% OR=5,55-23,21) Bệnh nhân làm công việc có thu nhập sử dụng rượu bia có nguy cơ bị tai nạn giao thông cao gấp 2,57 lần so với người không có thu nhập, sự khác biệt này là có ý nghĩa thống kê (p = 0,002, OR=2,57, KTC95%OR= 1,38 - 4,79) Người lái xe có sử dụng rượu bia bị tai nạn giao thông chiếm tỷ lệ cao nhất 97,3%, cao hơn người không lái xe (đi bộ, hành khách) với tỷ lệ là 2,7%, sự khác biệt này là có ý nghĩa thống kê (p<0,001, OR=9,53, KTC95%OR= 2,86- 31,78) Người có sử dụng rượu bia bị TNGT có nguy cơ bị chấn thương sọ não gấp 2,75 lần so với người không sử dụng rượu bia, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p=0,002 (p =0,002, OR=2,75, KTC95%OR= 1,43-5,28) Chưa ghi nhận mối liên quan giữa phân bố mức độ nồng độ cồn trong máu với tình trạng chấn thương sọ não
Trang 11tham gia giao thông, đặc biệt với đối tượng thanh thiếu niên và người trưởng thành Cần có thêm các nghiên cứu điều tra về nồng độ cồn trong máu ở những bệnh nhân tai nạn giao thông
Trang 12ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
(Association of South East Asian Nations)
(Alcohol Use Disorder)
(Blood alcohol concentration)
(Fetal alcohol spectrum disorders)
(International Classification of Disease)
Trang 13Bảng 1.1 Ảnh hưởng của BAC đối với cơ thể và hành vi lái xe 18
Bảng 3.1 Đặc điểm chung về của đối tượng nghiên cứu (n=283) 29
Bảng 3.2 Thời gian từ lúc chấn thương đến lúc nhập khoa cấp cứu 30
Bảng 3.3 Đối tượng bị tai nạn giao thông 30
Bảng 3.4 Đặc điểm chấn thương của bệnh nhân (n=283) 31
Bảng 3.5 Tần suất sử dụng rượu bia trong 12 tháng của bệnh nhân 32
Bảng 3.6 Tỷ lệ có sử dụng rượu bia trước 1 tuần và trước 1 ngày 33
Bảng 3.7 Tỷ lệ có sử dụng rượu bia ở bệnh nhân chấn thương do TNGT 33
Bảng 3.8 Phân bố nồng độ cồn trong máu ở bệnh nhân sử dụng rượu bia (n=111) 34
Bảng 3.9 Phân bố thời gian giữa sử dụng rượu bia và tai nạn 34
Bảng 3.10 Tình hình sử dụng rượu bia theo nhóm tuổi ở bệnh nhân TNGT 35 Bảng 3.11 Tình hình sử dụng rượu bia khi tham gia giao thông theo giới 36
Bảng 3.12 Tình hình sử dụng rượu bia khi tham gia giao thông theo công việc 36
Bảng 3.13 Tình hình sử dụng rượu bia khi tham gia giao thông theo đối tượng bị TNGT 37
Bảng 3.14 Liên quan giữa việc sử dụng rượu bia và tình hình chấn thương sọ não 38
Bảng 3.15 Phân bố mức độ nồng độ cồn trong máu với tình trạng chấn thương sọ não 38
Trang 14Biểu đồ 1.1 Tỷ lệ tử vong do rượu bia ở một số quốc gia năm 2013 19 Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ tổn thương phối hợp ………32
Trang 151
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tình hình tai nạn giao thông (TNGT) trên thế giới đã và đang diễn ra một cách nghiêm trọng Tại Việt Nam, Theo số liệu báo cáo của Cục cảnh sát giao thông, năm 2017, toàn quốc xảy ra 19.798 vụ TNGT đường bộ, làm chết 8.089 người, bị thương 16.970 người Trung bình mỗi ngày trên cả nước xảy ra 55 vụ TNGT, làm chết 22 người và làm bị thương 47 người Theo báo cáo của WHO, Việt Nam đứng thứ 2 trong khu vực Đông Nam Á về số người chết do va chạm trên đường, với tỷ lệ 26,1/100.000 người Theo thống
kê, trong năm 2018 có 24.970 người thiệt mạng vì tai nạn giao thông ở Việt Nam Tai nạn giao thông đường bộ gây thiệt hại đáng kể về kinh tế cho nạn nhân, gia đình của họ và các quốc gia [13]
Rượu bia là đồ uống có cồn được sử dụng phổ biến ở nhiều nước trên thế giới Tại Việt Nam, theo ước tính, lượng tiêu thụ rượu bia gia tăng ở lứa tuổi trưởng thành, từ 4,7 lít cồn nguyên chất năm 2009-2011, và tăng 8,3 lít trong giai đoạn 2015-2017 Tổ chức Y tế Thế giới dự báo con số này có thể tăng lên 9,9 lít vào năm 2020 và 11,4 lít vào năm 2025 nếu không có biện pháp can thiệp hiệu quả vào việc kiểm soát tác hại của sử dụng rượu bia [42] Rượu bia là 1 trong 3 nguyên nhân chính làm gia tăng tỷ lệ tai nạn giao thông
ở nam giới từ 15-49 tuổi tại Việt Nam Tổng số vụ tai nạn giao thông liên quan tới rượu bia chiếm 32,4% ở nam giới và 19,6% ở nữ giới [42] Phân tích
số liệu điều tra quốc gia ở 1.061 trường hợp tử vong do tai nạn giao thông tại Việt Nam cho thấy 1/5 các trường hợp có nguyên nhân là sử dụng rượu bia
[14] Theo thống kê của Ủy ban An toàn giao thông quốc gia, khoảng 40% số
vụ TNGT và 11% số người tử vong do tai nạn liên quan đến rượu, bia
Sử dụng rượu bia làm gia tăng nguy cơ xảy ra tai nạn do làm giảm khả năng phản ứng của cơ thể, hạn chế khả năng phối hợp động tác, giảm thị lực,
Trang 162
hạn chế tầm nhìn, gây buồn ngủ Nghiên cứu cho thấy người điều khiển xe máy có nồng độ cồn trong máu trên 50mg/dl có nguy cơ gặp tai nạn gấp 40 lần so với người không sử dụng Hậu quả của các vụ TNGT do người điều khiển phương tiện có sử dụng rượu, bia thường rất nghiêm trọng cả về tính chất của vụ việc lẫn mức độ thiệt hại về người và tài sản [5] Nghiên cứu tại Bệnh viện Việt Đức và Bệnh viện Xanh Pôn cho thấy tỷ lệ nạn nhân bị TNGT
có nồng độ cồn trong máu chiếm tỷ lệ 62% Viện Pháp y Quốc gia xét nghiệm
500 nạn nhân tử vong thì có 34% nạn nhân có nồng độ cồn trong máu vượt mức cho phép Nhiều chuyên gia ước tính nguyên nhân TNGT do uống rượu, bia chiếm đến 40% tổng số vụ tai nạn, bao gồm cả nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp [8]
Tai nạn giao thông đường bộ liên quan đến rượu bia không phải là vấn
đề mới, tuy nhiên nghiên cứu về tình hình tai nạn này ở khía cạnh y tế chưa được quan tâm đúng mực, do đó chúng tôi thực hiện nghiên cứu này nhằm cung cấp dữ liệu mang tính khoa học về tiêu thụ rượu bia và mối quan hệ giữa sử dụng rượu bia với tai nạn thương tích do tai nạn giao thông Từ các
phân tích vừa nêu, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu tình hình sử
dụng rượu bia ở bệnh nhân chấn thương do tai nạn giao thông tại khoa Cấp cứu bệnh viện Đa khoa Trung Ương Cần Thơ năm 2018” với hai
Trang 173
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tai nạn thương tích và tai nạn giao thông đường bộ
1.1.1 Định nghĩa và phân loại tai nạn thương tích
Theo Tổ chức Y tế thế giới, Tai nạn thương tích (TNTT) được định nghĩa như sau:
- Tai nạn là một sự kiện không định trước gây ra thương tích có thể nhận thấy được
- Thương tích là những thương tổn thực thể trên cơ thể người do tác động của những năng lượng (bao gồm cơ học, nhiệt, điện, hóa học hoặc phóng xạ) với mức độ, tốc độ khác nhau quá sức chịu đựng của cơ thể người Ngoài ra thương tích còn là sự thiếu hụt các yếu tố cần thiết cho sự sống như trong trường hợp đuối nước, bóp nghẹt hoặc đông lạnh [60]
Phân loại TNTT bao gồm:
- TNTT không chủ đích (vô ý): Thương tích gây nên không chủ ý của những người bị TNTT hay của những người khác (ví dụ: chấn thương do giao thông, do ngã, lửa cháy, chết đuối, ngộ độc)
- TNTT có chủ đích: Thương tích gây nên có sự chủ đích của người bị TNTT hay của người khác như: tự tử, giết người, bạo lực nhóm (chiến tranh), đánh nhau, hiếp dâm, hành hạ trẻ em, người già, bạo lực học đường
1.1.2 Định nghĩa và đặc điểm tai nạn giao thông đường bộ
1.1.2.1 Định nghĩa tai nạn giao thông đường bộ
Tai nạn giao thông đường bộ (TNGTĐB) là sự va chạm bất ngờ nằm ngoài ý muốn chủ quan của con người, xảy ra khi các đối tượng tham gia giao thông đang hoạt động trên đường giao thông công cộng, đường chuyên dụng hoặc ở địa bàn giao thông công cộng nhưng do chủ quan vi phạm luật
Trang 184
lệ giao thông hoặc do gặp phải các tình huống sự cố đột xuất không kịp xử trí, gây ra thiệt hại về tính mạng hoặc sức khoẻ Theo các quy định hiện hành tại Việt Nam, TNGTĐB được chia làm các mức độ [3]:
− Va chạm giao thông;
− Vụ tai nạn giao thông gây hậu quả ít nghiêm trọng;
− Vụ tai nạn giao thông gây hậu quả nghiêm trọng;
− Vụ tai nạn giao thông gây hậu quả rất nghiêm trọng;
− Vụ tai nạn giao thông gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng
Các quy định về phân loại mức độ nghiêm trọng của TNGTĐB được quy định cụ thể trong Thông tư số 58/2009/TT-BCA về Quy định và hướng dẫn thống kê, tổng hợp, xây dựng cơ sở dữ liệu, cung cấp thông tin về tai nạn giao thông đường bộ
1.1.2.2 Tình hình sử dụng các phương tiện giao thông đường bộ
Tai nạn giao thông và mức độ nghiêm trọng của chúng là kết quả của một số các yếu tố khác nhau, từ hành vi của người lái xe, đặc điểm đường xá, các loại phương tiện, điều kiện thời tiết, … là những yếu tố chính ảnh hưởng
sự xuất hiện của TNGT [36]
Nguy cơ chấn thương giao thông đường bộ có nghĩa là sự tiếp xúc với giao thông đường bộ do nhu cầu sử dụng đường bộ bị ảnh hưởng bởi lưu lượng phương tiện và chất lượng cơ sở hạ tầng đường bộ Nếu không có các biện pháp cảnh báo an toàn phù hợp cho từng khu vực và vị trí khác nhau, tất
cả những người tham gia giao thông có thể phải chịu rủi ro lớn khi lưu lượng giao thông tăng lên, đặc biệt là khi các loại phương tiện cơ giới khác nhau, một số đi với tốc độ cao không trên làn đường chuyên biệt mà đi chung trên cùng một làn đường với người đi bộ và đi xe đạp
Tại 30 quốc gia thành viên của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế,
số lượng phương tiện cơ giới tăng tới 62% từ năm 2003 đến 2012 lên 705
Trang 195
triệu [33] Ở Trung Quốc, tính đến tháng 6 năm 2020, cả nước đã có 360 triệu phương tiện cơ giới, trong đó ô tô chiếm 270 triệu chiếc, xe máy đạt 68,896 triệu chiếc Số lượng phương tiện năng lượng mới là 4,17 triệu chiếc, tăng 360.000 chiếc, tương đương 9,45% so với cuối năm ngoái Mặc dù tốc độ cơ giới hóa nhanh chóng ở Trung Quốc và các nước thu nhập thấp và trung bình khác, hầu hết các gia đình ở những nước này khó có thể sở hữu một chiếc ô
tô hoặc xe bốn bánh có động cơ khác trong nhiều năm tới bởi các chính sách nhằm cấm hoàn toàn xe máy trong các thành phố lớn và hạn chế phương tiện
di chuyển cá nhân mà cụ thể là ô tô nhằm giảm gánh nặng cho hạ tầng giao thông Tại Thái Lan, theo thống kê số lượng xe đăng ký mới trong cả năm
2020, số lượng Lũy kế cả nước tính đến ngày 31/12/2020 là 41.471.345 phương tiện, trong đó nhiều nhất là xe máy 21.396.980, tiếp đến là ô tô chở người đến 7 người 10.446.505 ô tô con, ô tô tải cá nhân 6.878.050 chiếc, ô tô chở người trên 7 người 434.254 phương tiện, 170.506 mô tô công cộng, 80.172 taxi, 151.547 xe buýt và 1.173.801 xe tải
Ở Việt Nam, Theo thống kê của Dự án xây dựng chiến lược An toàn giao thông với xe máy do Quỹ hội nhập Nhật Bản - ASEAN (JAIF) tài trợ, hiện Việt Nam đang đứng đầu các nước ASEAN về tỷ lệ xe máy trên tổng số phương tiện cơ giới đường bộ Số lượng xe máy tăng từ 500.000 xe ở giai đoạn 1999 – 2000, thì đến năm 2018, số lượng này đã tăng lên gấp 48 lần, đạt 58.170.000 chiếc, tăng gần gấp đôi so với định hướng phát triển các phương tiện giao thông vận tải đến năm 2020 của Chính phủ là 36 triệu xe máy Dự báo, giai đoạn 2018 - 2021, số xe máy theo đăng ký sẽ tăng hơn 1,12 triệu xe máy, số lượng xe máy trong lưu thông tăng khoảng 1,15 triệu
xe Đến năm 2030, số lượng xe máy theo đăng ký sẽ tăng gần 1,5 triệu xe,
lượng xe máy trong lưu thông tăng hơn 1,62 triệu xe [14]
Trang 206
Sự phát triển nhanh chóng về số lượng xe cơ giới mà chủ yếu là xe máy,
hạ tầng giao thông chưa đồng bộ và ý thức giao thông chưa cao là một trong những nguy cơ tiềm ẩn của TNGT, nhất là đối với người điều khiển phương tiện chưa đủ điều kiện về tuổi, chưa có giấy phép lái xe hoặc sử dụng chất kích thích đặc biệt là rượu bia
1.2 Đồ uống có cồn và nồng độ cồn trong máu
1.2.1 Đồ uống có cồn
Đồ uống có cồn được định nghĩa bao gồm rượu, bia và các thức uống khác có chứa cồn thực phẩm
Khái niệm cồn thực phẩm, rượu, bia
− Rượu: là đồ uống có cồn thực phẩm, được sản xuất từ quá trình lên men
từ một hoặc hỗn hợp của các loại nguyên liệu chủ yếu gồm tinh bột của ngũ cốc, dịch đường của cây, hoa, củ, quả hoặc là đồ uống được pha chế
từ cồn thực phẩm
− Bia: là đồ uống có cồn thực phẩm, được sản xuất từ quá trình lên men
từ hỗn hợp của các loại nguyên liệu chủ yếu gồm mạch nha (malt), đại mạch, nấm men bia, hoa bia (hoa houblon), nước
có tên khoa học là ethanol đã được loại bỏ tạp chất, đạt yêu cầu dùng trong thực phẩm theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, có khả năng gây nghiện và gây ngộ độc cấp tính
Theo định nghĩa như trên thì các đồ uống có cồn khác pha chế với cồn thực phẩm như cocktail, nước trái cây có cồn thực phẩm theo quy trình sản xuất như rượu… cũng được phân loại là rượu [4], [16]
Trang 217
Khái niệm đơn vị cồn
Đơn vị cồn là đơn vị đo lường dùng để quy đổi rượu, bia và đồ uống có cồn khác với nồng độ khác nhau về lượng cồn nguyên chất Một đơn vị cồn tương đương 10 gam cồn (ethanol) nguyên chất chứa trong dung dịch uống Cách tính đơn vị cồn trong rượu, bia như sau:
Đơn vị cồn = Dung tích (ml) x Nồng độ (%) x 0,79 (hệ số quy đổi)
Ví dụ: chai bia 330ml và nồng độ cồn 5% sẽ có số gam cồn là:
330 x 0,05 x 0,79 = 13g; tương đương 1,3 đơn vị cồn
Như vậy, một đơn vị cồn tương đương với:
− 3/4 chai hoặc 3/4 lon bia 330 ml (5%);
− Một chai hoặc một lon nước trái cây/cider/strongbow có cồn loại 330ml (4,5%);
− Một cốc bia hơi 330 ml (4%);
− Một ly rượu vang 100 ml (13,5%);
− Hoặc một ly nhỏ/cốc nhỏ rượu mạnh 40 ml (30 - 40%) [2]
Phân loại rượu bia
Có nhiều cách phân loại khác nhau đối với rượu bia Tổ chức Y tế Thế giới thường phân loại theo nồng độ cồn và chia thành 3 loại:
1.2.2 Tác hại của việc sử dụng rượu bia
Những tác hại về sức khoẻ và xã hội do uống rượu xảy ra thông qua ba tác hại chính có liên quan cơ chế :
Trang 22Qua cơn say - các tác động thần kinh của rượu trong những giờ sau khi uống rượu [60]
1.2.2.1 Rượu, sức khỏe sinh sản, bà mẹ, trẻ sơ sinh, trẻ em và vị thành niên
Sử dụng rượu bia có ảnh hưởng đến sức khỏe của phụ nữ và trẻ em Có mối liên hệ trực tiếp từ việc sử dụng rượu với quan hệ tình dục không được bảo vệ đã được chứng minh là làm tăng nguy cơ mang thai ngoài ý muốn [39], [51] Rượu và sử dụng ma túy cũng làm tăng nguy cơ thai nhi tiếp xúc với rượu do thai phụ không biết mình đang mang thai, điều này có thể tiếp tục có tiêu cực những tác động đối với trẻ sơ sinh Sử dụng rượu trong thời
kỳ mang thai đã được coi là một yếu tố nguy cơ đối với thai kỳ bất lợi, bao gồm thai chết lưu, sẩy thai tự nhiên, sinh non, chậm phát triển trong tử cung, nhẹ cân và có thể dẫn đến một loạt các bệnh lý suốt đời được gọi là rối loạn phổ rượu của thai nhi (FASD) [20], [43], [50]
FASD được đặc trưng bởi sự tổn thương của hệ thần kinh trung ương
và các biểu hiện của nó bao gồm các đặc điểm thể chất, tinh thần và hành vi
và học tập, khuyết tật với các hệ lụy có thể xảy ra suốt đời Một đánh giá có
hệ thống và phân tích tổng hợp của Popova và các đồng nghiệp đã ước tính rằng tỷ lệ sử dụng rượu khi mang thai trong dân số chung lên tới 9,8% [44] Ngoài ra, Lange và các đồng nghiệp đã quan sát thấy, ở cấp quốc gia, uống rượu quá mức khi mang thai dao động từ 0,2% đến 13,9% [38] Uống rượu trong thời kỳ mang thai dẫn đến tỷ lệ hiện mắc FAS ước tính trong dân số chung của 14,6 trên 10.000 người và tỷ lệ hiện mắc FASD là 77,3 trên 10.000
Trang 239
người [44] Tỷ lệ FAS và FASD khác nhau tùy theo khu vực của WHO, với
tỷ lệ phổ biến làcao nhất ở Khu vực Châu Mỹ (AMR) và Khu vực Châu Âu (EUR) Một số vấn đề sức khỏe phổ biến nhất là dị tật bẩm sinh,bất thường nhiễm sắc thể, chậm phát triển trước và sau khi sinh, thiểu năng trí tuệ, rối loạn hành vi, khó nói và ngôn ngữ, khiếm thị và thính giác, dị dạng tim và các vấn đề về niệu sinh dục [42]
Sử dụng rượu ở thanh thiếu niên có liên quan đến những thay đổi trong học tập bằng lời nói, hình ảnh - không gian quá trình xử lý, trí nhớ và sự chú
ý cũng như với những thiếu sót trong quá trình phát triển và tính toàn vẹn của chất xám và trắng của hệ thần kinh trung ương [55] Những nhận thức thần kinh thay đổi do sử dụng rượu của thanh thiếu niên dường như liên quan đến hành vi, cảm xúc, xã hội và các vấn đề học thuật trong cuộc sống sau này Uống rượu của cha mẹ hoặc mối quan hệ giữa cha mẹ và trẻ vị thành niên không tốt là một trong những yếu tố liên quan đến việc sử dụng rượu ở tuổi
vị thành niên Có một lượng lớn bằng chứng nhất quán chứng minh mối liên quan tỷ lệ thuận giữa việc uống rượu của cha mẹ và con cái Cha mẹ nghiện rượu có liên quan đáng kể với các triệu chứng cảm xúc thường xuyên, trầm cảm, lòng tự trọng thấp và cô đơn cả con trai và con gái, ngoài ra còn liên quan đến vấn đề giáo dục, sử dụng ma tuý, tội phạm, … [54]
Trang 2410
1.2.2.3 Rượu và sức khỏe tâm thần
Trong chương về “Rối loạn phát triển tâm thần, hành vi hoặc thần kinh” của Bảng phân loại bệnh quốc tế (ICD-11), các danh mục được chỉ định cho các tình trạng sức khỏe tâm thần do rượu gây ra, trong đó mức độ nghiêm trọng và thời gian từ say rượu cấp tính ngắn hạn đến tàn phế suốt đời các tình trạng như sa sút trí tuệ do sử dụng rượu Tiêu thụ rượu và AUD cũng có liên quan đến việc tăng nguy cơ tự tử [42]
Rối loạn sử dụng rượu (AUD), bao gồm nghiện rượu và các biến chứng
có hại của sử dụng rượu, là tình trạng sức khỏe tâm thần khá phổ biến (và phần lớn không được điều trị) liên quan đến tỷ lệ mắc bệnh và tử vong đáng
kể Ở nước ngoài, một loạt các vấn đề xã hội và giữa các cá nhân liên quan đến rượu thường liên quan trực tiếp đến say rượu [21]
Say rượu không chỉ là loại chẩn đoán xác định một loại rượu cụ thể gây
ra tình trạng sức khỏe tâm thần và một tình trạng thoáng qua rất phổ biến ở những người uống rượu Rượu là một chất kích thích thần kinh, ảnh hưởng đến các con đường thần kinh khác nhau và não, với những tác động của nó tùy thuộc vào liều lượng uống vào, vào các yếu tố di truyền, kinh nghiệm học được của người uống rượu, cũng như về các khía cạnh của bối cảnh [30] Các tác động tiềm ẩn của rượu là rất lớn, thường bao gồm suy giảm khả năng chú
ý, nhận thức và sự khéo léo (rất quan trọng đối với các hoạt động như lái xe
ô tô); hưng phấn thần kinh và mất kiểm soát hành vi (quan trọng đối với bạo lực tội phạm); và ngộ độc rượu (có thể gây tử vong) Mỗi tác động này có xu hướng ảnh hưởng đến người uống, trung bình, ở mức ngưỡng khác nhau: mức độ suy giảm khả năng lái xe ở mức nồng độ cồn trong máu (BAC) dưới 0,05%; gây hấn tại một BAC của khoảng 0,075% [22]; và quá liều ở mức BAC khoảng 0,35% [28] Tuy nhiên, các biểu hiện này có thể khác nhau ở từng cá thể riêng rẽ, ví dụ: chỉ một phần nhỏ những người uống rượu có biểu
Trang 2511
hiện gây hấn Say rượu đóng một vai trò lớn trong việc rượu bia góp phần vào gánh nặng bệnh tật toàn cầu trong các thương tích liên quan đến rượu - bao gồm cả thương tích cố ý, nhưng cũng trong các tình trạng sức khỏe khác,
ví dụ, dẫn đến tử vong do tim mạch [29] Ngoài việc gây hại cho người uống, say rượu thường là cơ chế chính gây hại cho người khác do uống rượu
1.2.2.4 Chấn thương, bạo lực, giết người và đầu độc
Thương tích do giao thông
Vai trò của rượu trong các vụ tai nạn giao thông đã được xác định một cách vô cùng rõ ràng, các chính sách và quy định về sử dụng rượu bia khi tham gia giao thông, đặc biệt là Nghị định 100/2019/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt đã và đang cho thấy các tính hiệu khả quan trong việc ngăn chặn nguy cơ gây chấn thương do tai nạn giao thông liên quan điến rượu bia Ở nhiều quốc gia, việc sử dụng rượu ba được giám sát chặt chẽ bằng việc kiểm tra nồng độ cồn trong máu Việc người lái xe không chỉ uống rượu mới góp phần gây ra thương tích khi tham gia giao thông đường bộ Một đóng góp nhỏ vào số liệu thống kê có thể đến từ những hành khách say rượu trên xe người đánh lạc hướng hoặc can thiệp vào người lái xe Quan trọng hơn nhiều
về số lượng là ở những người đi bộ say rượu, ví dụ ở Nam Phi, với tỷ lệ tử vong do tai nạn giao thông đường bộ (39,7 trên 100.000 người mỗi năm) tăng
Trang 2612
gấp đôi tỷ lệ toàn cầu, ước tính có 40% số ca tử vong do giao thông đường
bộ vào năm 2007 là của người đi bộ và hơn một nửa trong số những người đi
bộ này có BAC cao hơn giới hạn luật định để lái xe [52] Một nghiên cứu ở Tayside, Scotland, phát hiện ra rằng người đi bộ say rượu chiếm một phần ba
số ca tử vong do giao thông đường bộ liên quan đến rượu [27] Tại một trung tâm chấn thương bệnh viện ở Melbourne, Úc, từ năm 2009–2014, 24,7% người đi bộ bị thương trong các vụ va chạm giao thông đường bộ bị say rượu [40] Vai trò của rượu đối với tai nạn giao thông đã được thừa nhận rõ ràng
và luật chống uống rượu lái xe có lẽ là các biện pháp kiểm soát pháp lý phổ biến nhất đối với việc uống rượu Tuy nhiên, luật pháp cần được thực hiện một cách nghiêm túc để có hiệu quả trong việc răn đe uống rượu - lái xe và giảm tỷ lệ thương vong do rượu Tỷ lệ thương vong do rượu bia tương đối cao ở nhiều quốc gia là bằng chứng mạnh mẽ cho thấy việc thực thi pháp luật thường không được quan tâm
Gây hấn và bạo lực
Đánh giá các tài liệu gần đây về mối liên hệ giữa việc sử dụng chất kích thích và hành vi gây hấn đã cho thấy rằng có mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa tất
cả các hình thức gây hấn và sử dụng rượu [57] Các nghiên cứu thực nghiệm
đã tìm ra mối liên hệ giữa BAC và bạo lực, bạo lực trở nên đáng kể với BAC
là 0,05% và tăng lên khi có mức BAC cao hơn [23] Trong khi các nghiên cứu trước đây thường tập trung vào vai trò của rượu đối với bạo lực đường phố, chủ yếu là trong bộ phận nam giới, tuy nhiên những năm gần đây ngày càng tập trung nhiều hơn vào vai trò của rượu đối với bạo lực trong gia đình
và quan hệ thân mật, bao gồm cả bạo lực tình dục
Một nghiên cứu khảo sát ở 10 quốc gia Trung và Nam Âu phát hiện ra rằng cả hành vi xâm hại tình dục và trở thành nạn nhân tình dục đều liên quan đến việc uống rượu Tỷ lệ bạo lực trong quan hệ tình dục cũng cao hơn khi
Trang 2713
đàn ông uống rượu thường xuyên hơn trong quan hệ tình dục Đối với phụ
nữ, mối liên hệ giữa việc sử dụng rượu bia khi quan hệ tình dục và hành vi xâm hại tình dục là không đáng kể [34] Một cuộc khảo sát về nam giới ở sáu quốc gia có thu nhập trung bình và thấp ở Châu Á và Thái Bình Dương nhận thấy rằng nam giới ở các quốc gia đa số không theo đạo Hồi đã thừa nhận
“lạm dụng rượu” (dựa trên AUDIT các mục về tiêu thụ rượu và mặc định xã hội do uống rượu) được báo cáo có tỷ lệ bạo lực tình dục cao hơn, bao gồm
cả bạo lực thể chất liên quan đến tình dục (Fulu và cộng sự, 2013)
Tội phạm giết người
Uống rượu của tọi phạm hoặc của nạn nhân hoặc bởi cả hai thường là một yếu tố dẫn đến án mạng, được cho là hình thức bạo lực cực đoan nhất Mối liên hệ giữa uống rượu và giết người mạnh nhất trong các xã hội nơi thường uống rượu đủ nặng để gây ra say rượu; do đó, những thay đổi về mức
độ tiêu thụ rượu của dân số có ảnh hưởng đáng kể đến tỷ lệ giết người ở Bắc
và Đông Âu so với ở Nam Âu [45] Các nghiên cứu về việc uống rượu của người phạm tội và nạn nhân trong các vụ giết người chủ yếu ở trong các nhóm dân cư thường xuyên say xỉn Phân tích tổng hợp của các nghiên cứu này đã phát hiện ra rằng 48% cả nạn nhân và thủ phạm đã uống rượu say khi vụ án mạng xảy ra, 37% người phạm tội có uống rượu trong khi tỷ lệ này ở nạn nhân là 33–35 [35]
Ngộ độc rượu
Ngộ độc rượu là hậu quả của việc uống một lượng lớn rượu trong thời gian ngắn, đièu này có thể ảnh hưởng đến hô hấp, nhịp tim, nhiệt độ cơ thể, phản xạ nôn, có thể dẫn đến hôn mê và tử vong So với các chất kích thích thần kinh khác, rượu là một trong những chất gây chết người chiếm tỷ lệ cao nhất về mức độ sử dụng Vì vậy, sử dụng 33 gam etanol (khoảng ba ly) làm
"liều lượng hiệu quả thông thường" của rượu, Gable [28] đã nhận thấy rằng
Trang 2814
khi một người tiêu thụ một lượng gấp 10 lần liều thông thường được xác định
là "liều lượng gây chết thông thường", khoảng 330 gram Liều lượng này tương tự đối với heroin tiêm tĩnh mạch, methamphetamine và cocaine Đối với nhiều chất tác động thần kinh khác, tỷ lệ này cao hơn đáng kể, và việc sử dụng do đó ít có khả năng dẫn đến tử vong hơn [37], [42] Số liệu thống kê
về ngộ độc rượu đặc biệt cao ở Liên bang Nga và một số nước Đông Âu [56] Kinh nghiệm của Nga trong những thập kỷ gần đây cho thấy tỷ lệ ngộ độc rượu có thể bị ảnh hưởng bởi các chính sách về rượu và hoàn cảnh kinh tế [46]
1.2.3 Thuật ngữ BAC (Blood alcohol concentration)
Thuật ngữ BAC nghĩa là lượng cồn trong máu hay thường gọi là nồng
độ cồn trong máu Nồng độ cồn trong máu là đơn vị chính để thiết lập mối liên quan giữa chất có cồn và thương tích giao thông đường bộ Nồng độ cồn trong máu có thể dễ dàng đánh giá qua xét nghiệm một mẫu nhỏ máu và có thể đo trực tiếp trong phòng xét nghiệm của bệnh viện Lượng cồn trong máu được đề cập dưới thuật ngữ là BAC BAC thường được đo như sau:
Gram cồn trên 100 ml máu (g/100 ml) hay gram cồn trên mỗi decilit máu (g/dl)
Miligram cồn trên 100 ml máu (mg/100 ml) hay miligram cồn trên mỗi decilit máu (mg/dl)
Hoặc các đơn vị đo tương đương khác hiển thị trên kết quả xét nghiệm tại bệnh viện như mmol/L hoặc mg/L, hệ số chuyển đổi:
mmol/L x 4,608 = mg/100ml hoặc mmol/L x 0,04608 = g/L
Pháp luật quy định mức độ BAC có sự khác biệt tại mỗi quốc gia Tại Việt Nam, Luật giao thông đường bộ số 23/2008/QH12 tại khoản 8 điều 8 quy định nghiêm cấm người điều khiển điều khiển xe mô tô, xe gắn máy có nồng độ cồn được vượt quá 50 mg/100 ml máu và nghiêm cấm người điều
Trang 2915
khiển ô tô có nồng độ cồn trong máu [11] Đến năm 2019, một số luật đã có điều chỉnh, theo Luật Phòng chống tác hại rượu bia năm 2019 số 44/2019/QH14 tại khoản 1 điều 35 đã sửa đổi, bổ sung khoản 8 Điều 8 của Luật Giao thông đường bộ 2008 “nghiêm cấm điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn” [15] Gần đây, Thủ tướng chính phủ cũng đã ban hành Nghị định 100/2019/NĐ-
CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ
và đường sắt cũng quy định nghiêm cấm điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn [7]
1.2.4 Mức an toàn trong sử dụng rượu bia
Hiện nay các phương pháp nghiên cứu và phân tích tiến bộ hơn đã tiếp tục cho thấy sử dụng rượu bia góp phần gây ra gánh nặng lớn bệnh tật và tử vong trên toàn cầu, vì vậy cần thay đổi quan điểm lâu nay về lợi ích sức khỏe
mà rượu bia đem lại Mức độ an toàn trong sử dụng rượu bia được đề ra theo những căn cứ từ kết quả nghiên cứu về các nguy cơ do rượu bia gây ra đối với sức khoẻ Để giúp hướng tới một chế độ ăn uống lành mạnh và giảm thiểu rủi ro liên quan đến việc uống rượu, người lớn trong độ tuổi uống rượu hợp pháp có thể chọn không uống hoặc uống có chừng mực bằng cách hạn chế uống 2 ly trở xuống trong ngày đối với nam giới và 1 ly trở xuống ở một ngày dành cho phụ nữ Đây không phải là giá trị trung bình trong vài ngày, mà là
số lượng tiêu thụ vào bất kỳ ngày nào Nên tránh uống 5 ly trở lên đối với nam giới trưởng thành hoặc 4 ly trở lên đối với phụ nữ trưởng thành trong khoảng 2 giờ Các bằng chứng mới nổi cho thấy rằng ngay cả khi uống trong giới hạn khuyến nghị cũng có thể làm tăng nguy cơ tử vong tổng thể do nhiều nguyên nhân khác nhau, chẳng hạn như do một số loại ung thư và một số dạng bệnh tim mạch Rượu làm tăng nguy cơ ung thư và đối với một số loại ung thư, nguy cơ tăng lên ngay cả khi uống rượu ở mức độ thấp (ít hơn 1 ly
Trang 3016
mỗi ngày) do đó, nên thận trọng Đồ uống có cồn không phải là một thành phần của Mô hình Chế độ ăn uống của USDA Lượng cồn và calo trong đồ uống khác nhau và nên được tính trong giới hạn của các mô hình ăn kiêng lành mạnh, để không vượt quá giới hạn calo Khoảng 60% người lớn cho biết
họ tiêu thụ đồ uống có cồn trong tháng qua Trong số đó, khoảng 30% uống
vô độ, đôi khi nhiều lần mỗi tháng Trong những ngày đàn ông và phụ nữ uống rượu, mức tiêu thụ của họ thường vượt quá hướng dẫn hiện hành Ở người trưởng thành, bao gồm cả những người không uống rượu, đồ uống có cồn đóng góp khoảng 5% lượng calo (3 đến 4% lượng calo đối với phụ nữ
và 5 đến 7% đối với nam giới); điều này chuyển thành khoảng 9 phần trăm calo trong số những người uống rượu Nhiều nước trên thế giới đã tuyên truyền rộng rãi trong nhân dân những khuyến nghị về mức độ sử dụng rượu bia an toàn [25]
1.2.5 Các yếu tố tác động đến nồng độ cồn trong máu
Lượng rượu được sử dụng: sử dụng càng nhiều rượu thì càng nhanh ngấm vào máu
Mức độ sử dụng rượu: gan, cơ quan chịu trách nhiệm phân hủy cồn, và mỗi giờ có thể xử lý được lượng cồn tương đương một đơn vị uống chuẩn Giới tính: với lượng rượu uống như nhau, phụ nữ thường có nồng độ cồn trong máu cao hơn đàn ông Một phần là do phụ nữ sản sinh ít enzyme trong dạ dày để phân hủy cồn
Cân nặng của cơ thể và loại cơ thể: nồng độ cồn trong máu là lượng cồn trên lượng nước trong cơ thể Với cơ thể to lớn, chứa nhiều nước hơn, nồng
độ cồn sẽ ít hơn Cũng như vậy, những mô mỡ không hấp thu nhiều cồn Nếu một người có tỷ lệ mỡ nhiều hơn thì nồng độ cồn cao hơn trong cơ thể Đây cũng là một lý do khác giải thích việc phụ nữ, những người có xu hướng có
Trang 31sự nhạy cảm của cơ thể với nồng độ cồn
1.2.6 Ảnh hưởng của nồng độ cồn trong máu đối với cơ thể về hành vi lái xe
Lái xe là một hoạt động phức tạp đòi hỏi một số kỹ năng bậc cao trong
đó thông tin liên quan đến môi trường đường thay đổi liên tục phải được xử
lý nhanh chóng và hiệu quả để cho phép người lái xe phản ứng thích hợp Các yếu tố như say rượu, uống thuốc và mệt mỏi đều được công nhận là có ảnh hưởng xấu đến quá trình này
Một số công trình trong phòng thí nghiệm đã chỉ ra rằng việc thiếu khả năng kiểm soát ức chế có thể góp phần dẫn đến việc lái xe liều lĩnh trong mô phỏng lái xe Những người lái xe có khả năng kiểm soát ức chế kém, được
đo bằng nhiệm vụ đi/không đi, có nhiều khả năng tăng tốc, vượt đèn đỏ và hiển thị độ chính xác khi lái xe kém hơn Kiểm soát ức chế kém cũng có thể dẫn đến tăng độ nhạy cảm với tác động làm suy giảm hiệu suất lái xe của rượu Chúng tôi đã chỉ ra rằng những người lái xe liều lĩnh và những người lái xe có khả năng kiềm chế kém thể hiện sự nhạy cảm lớn nhất đối với tác động gây rối của rượu đối với hiệu suất lái xe của họ Trong một nghiên cứu, thử nghiệm 14 người lớn uống rượu khỏe mạnh ở độ tuổi từ 21 đến 30 trong một nhiệm vụ có đi hoặc không có cố định sau khi uống 0,65g/kg rượu và giả dược Kết quả cho thấy hiệu suất lái xe khi uống rượu có liên quan đến khả năng kiềm chế của người lái xe Những người lái xe thể hiện khả năng kiểm soát ức chế kém hơn khi uống rượu bia cho thấy khả năng lái xe của họ
bị suy giảm nhiều hơn, thể hiện qua độ lệch của vị trí làn đường, đường giữa
Trang 3218
và mép đường tăng lên và tốc độ lái tăng [26] Do đó, có bằng chứng sơ bộ cho thấy việc thiếu kiểm soát ức chế có thể góp phần làm tăng độ nhạy cảm đối với tác động làm suy giảm hiệu suất lái xe của rượu, mặc dù bằng chứng dựa trên cỡ mẫu khá nhỏ gồm 14 đối tượng [58]
Bảng 1.1 Ảnh hưởng của BAC đối với cơ thể và hành vi lái xe [9] BAC (mg/100ml) Những ảnh hưởng tới cơ thể
10 - 50
Tăng nhịp tim và nhịp thở
Giảm các chức năng thần kinh trung ương
Mâu thuẫn khi thể hiện các hành vi cư xử
Giảm khả năng phán đoán và sự ức chế
Cảm thấy phấn chán, thư giãn và thoải mái
60 - 100
Giảm đau về mặt sinh lý ở hầu như toàn bộ cơ thể Giảm sự chú ý và cảnh giác, phản ứng chậm, làm giảm sự phối hợp và giảm sức mạnh của các cơ bắp Giảm khả năng đưa ra các quyết định dựa trên lý trí hoặc khả năng đánh giá
Tăng sự lo âu và chán nản
Giảm tính kiên nhẫn
100 - 150
Phản ứng chậm một cách rõ ràng
Suy giảm khả năng giữ cân bằng và di chuyển
Suy giảm một số chức năng thị giác
Nói líu lưỡi
Nôn, đặc biệt nếu nồng độ cồn trong máu tăng lên nhanh
của nhận thức về các kích thích bên ngoài
Trang 3319
BAC (mg/100ml) Những ảnh hưởng tới cơ thể
Suy yếu trầm trọng cơ vận động/ thần kinh vận động,
ví dụ như thường xuyên bị choáng ngã
300 - 390
Không có phản ứng
Bất tỉnh
Có thể so sánh với việc bị gây mê khi phẩu thuật
Tử vong (nhiều trường hợp)
400 và nhiều hơn
Hôn mê
Ngừng thở
Tử vong, thường do suy hô hấp
1.3 Tình hình tai nạn giao thông liên quan sử dụng rượu bia trên thế giới và tại Việt Nam
1.3.1 Tình hình tai nạn giao thông trên Thế giới
Nguồn: WHO, Global Health Observatory
Biểu đồ 1.1 Tỷ lệ tử vong do rượu bia ở một số quốc gia năm 2013 [41]
Trang 3420
đưa ra bởi WHO, trên thế giới có khoảng 1,35 triệu người chết mỗi năm do tai nạn giao thông đường bộ Các vụ va chạm giao thông đường bộ khiến hầu hết các quốc gia thiệt hại 3% tổng sản phẩm quốc nội của họ, trong đó hơn một nửa số ca tử vong do tai nạn giao thông đường bộ là ở những người tham gia giao thông dễ bị tổn thương: người đi bộ, đi xe đạp và xe mô tô, 93% số
ca tử vong trên đường trên thế giới xảy ra ở các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình, mặc dù các quốc gia này có khoảng 60% số phương tiện giao thông trên thế giới Tai nạn giao thông đường bộ cũng là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong cho trẻ em và thanh niên từ 5-29 tuổi [62]
1.3.2 Tình hình tai nạn giao thông liên quan sử dụng rượu bia ở Việt Nam
Việt Nam đứng thứ 2 trong khu vực Đông Nam Á về số người chết do
va chạm trên đường, với tỷ lệ 26,1/100.000 người Theo thống kê, trong năm
2018 có 24.970 người thiệt mạng vì tai nạn giao thông ở Việt Nam Theo số liệu báo cáo của Cục CSGT, năm 2017, toàn quốc xảy ra 19.798 vụ TNGT đường bộ, làm chết 8.089 người, bị thương 16.970 người So với năm 2016, giảm 1.322 vụ (-6,26%), giảm 329 người chết (-3,91%), giảm 2.064 người bị thương [13] Phân tích số liệu điều tra quốc gia ở 1.061 trường hợp tử vong
do tai nạn giao thông tại Việt Nam cho thấy 1/5 các trường hợp có nguyên
nhân là sử dụng rượu bia [14] Theo thống kê của Ủy ban An toàn giao thông
quốc gia, khoảng 40% số vụ TNGT và 11% số người tử vong do tai nạn liên quan đến rượu, bia
Tại Việt Nam, 75% số người thiệt mạng trên đường của cả nước là người
đi xe máy Hầu hết những người tử vong là thanh niên Tai nạn giao thông đường bộ là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong cho những người từ 15 đến
Trang 3521
29 tuổi Việt Nam đã thực hiện các bước quan trọng để giải quyết cuộc khủng hoảng tai nạn giao thông Sau khi cả nước ban hành luật đội mũ bảo hiểm xe máy vào năm 2007, tỷ lệ đội mũ bảo hiểm đã tăng từ dưới 30% lên hơn 95% Chỉ riêng sự thay đổi này đã được ước tính là đã cứu sống hơn 1500 người
và ngăn ngừa gần 2500 trường hợp bị thương nghiêm trọng Nhiều thách thức
về an toàn đường bộ vẫn còn nhận thức về rủi ro va chạm vẫn còn tương đối thấp và việc thực thi luật an toàn đường bộ có thể được cải thiện Những sơ
hở trong luật hiện hành có nghĩa là nhiều người Việt Nam không đội mũ bảo hiểm chất lượng và việc thực thi các yếu tố nguy cơ chính như uống rượu lái
xe vẫn chưa hoàn toàn hiệu quả Ngoài ra, các quy định, luật và nghị định mới liên quan đến hạn chế sử dụng rượu bia, tăng mức xử lý vi phạm đã và đang mang lại những hiệu quả đáng kể [61]
1.4 Một số nghiên cứu về tình hình tai nạn giao thông liên quan sử dụng rượu bia
Nghiên cứu của Nguyễn Văn Beo (2011) về tình hình vi phạm quy định
về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ ở một số tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và giải pháp phòng chống, cho thấy sử dụng rượu, bia ở Việt Nam nói chung và ở đồng bằng sông Cửu Long nói riêng được xem như một nét văn hóa Đã có một giai đoạn, ở nước ta cấm hành vi nấu rượu, uống rượu nhưng đã không thành công Trước tác hại của bia, rượu đối với sức khỏe và đặc biệt có ảnh hưởng không nhỏ đến việc làm gia tăng tai nạn giao thông đường bộ, cũng như số người chết và bị thương vì lý do này Việc phòng ngừa hành vi sử dụng rượu, bia có điều khiển phương tiện giao thông đường
bộ được xem là một giải pháp hiệu quả [2]
Lê Thu Huyền (2015) cũng đã phân tích hành vi sử dụng rượu bia khi tham gia giao thông và khảo sát cho thấy nhận thức về lượng bia hoặc rượu
có thể sử dụng (an toàn/không vi phạm pháp luật) không thực sự đúng đắn
Trang 3622
trong nhóm các đối tượng được phỏng vấn Đa phần những người trả lời phỏng vấn (trên 50%) không biết chính xác quy định pháp luật về lượng chất uống có cồn được sử dụng Gần 2/3 số sinh viên cao đẳng/đại học trả lời mỗi lần uống từ 5 cốc trở lên [8]
Trang 3723
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Các đối tượng nghiên cứu
Bệnh nhân bị chấn thương do tai nạn giao thông trong vòng 6 giờ nhập viện điều trị tại khoa Cấp cứu, bệnh viện Đa khoa Trung Ương Cần Thơ năm
2018
2.1.2 Tiêu chuẩn chọn mẫu
Bệnh nhân từ 16 tuổi trở lên bị nạn giao thông có thời gian bắt đầu xảy
ra tai nạn trong vòng 6 giờ nhập viện tại khoa Cấp cứu, bệnh viện Đa khoa
Trung Ương Cần Thơ
Bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu
2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ
Bệnh nhân đến khám rồi về ngay hoặc tử vong trước khi đến bệnh viện; tình trạng sức khỏe của bệnh nhân không có khả năng trả lời được phỏng vấn (mắc bệnh thần kinh thực thể, dị tật không thể giao tiếp, bệnh nhân quá nặng không thể giao tiếp, )
2.1.4 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Khảo sát được thực hiện từ tháng 7/2018 đến tháng 9/2018 tại khoa Cấp cứu, bệnh viện Đa khoa Trung Ương Cần Thơ
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích
2.2.2 Cỡ mẫu nghiên cứu
Cỡ mẫu nghiên cứu, với công thức tính cỡ mẫu:
Trang 38d = 0,06 => n=257, với 10% dữ liệu khuyết, cỡ mẫu nghiên cứu thực
hiện 283 đối tượng
2.2.3 Phương pháp chọn mẫu
Chọn mẫu toàn bộ
Chọn toàn bộ đối tượng đạt tiêu chuẩn chọn mẫu, bệnh nhân từ 16 tuổi trở lên bị nạn giao thông có thời gian bắt đầu xảy ra tai nạn trong vòng 6 giờ nhập viện tại khoa Cấp cứu, bệnh viện Đa khoa Trung Ương Cần Thơ Thu thập số liệu dừng lại khi đủ mẫu
2.2.4 Nội dung nghiên cứu
2.2.4.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
Thông tin chung về đối tượng:
− Tuổi: là biến liên tục, được tính bằng cách lấy năm hiện tại trừ đi năm sinh (tính theo dương lịch) của đối tượng
− Nhóm tuổi: là biến phân loại từ tuổi, gồm 5 giá trị (≤ 19 tuổi, 20– 29 tuổi, 30 – 39 tuổi, 40-49 tuổi, ≥ 50 tuổi)
− Giới: là biến định tính, gồm 2 giá trị (nam, nữ)
− Công việc của đối tượng nghiên cứu, gồm 2 giá trị: công việc có thu nhập (được đánh giá là công việc mà bệnh nhân làm ít nhất 30 giờ hoặc hơn trong một tuần có thu nhập) và công việc không có thu nhập (điển hình các công việc như nghỉ hưu, nội trợ, học sinh, sinh viên, tự do, công việc không lương, tình nguyện, …)
Trang 3925
Thông tin về tai nạn giao thông:
− Thời gian từ lúc xảy ra tai nạn đến lúc nhập khoa cấp cứu: là biến định lượng, thời gian từ lúc xảy ra tai nạn đến lúc nhập khoa cấp cứu được tính bằng giờ
− Đối tượng bị tai nạn giao thông: bệnh nhân bị tai nạn giao thông thuộc đối tượng là người lái xe hay người không lái xe (là người bị tai nạn/đi bộ và người ngồi phía sau/hành khách)
Thông tin về tình trạng thương tích:
− Đặc điểm chấn thương: là biến định tính gồm các giá trị sau: Gãy xương; Rạn, bong gân, biến dạng; Vết thương hở; Xay xát hoặc bầm, vết thương nông; Bỏng; Chấn thương sọ não, chấn thương đầu kín; Chấn thương nội tạng
− Tỷ lệ tổn thương phối hợp: là tỷ lệ bệnh nhân TNGT bị tổn thương phối hợp nhiều loại đặc điểm chấn thương, biến số gồm 4 giá trị: 1 tổn thương, 2 tổn thương, 3 tổn thương và 4 tổn thương
Thông tin về sử dụng rượu bia:
− Tần suất sử dụng rượu bia trong 12 tháng: mức độ sử dụng rượu bia theo ngày, tuần, tháng, năm Bao gồm các giá trị (mỗi ngày/gần như mỗi ngày; 3-
4 lần/ tuần; 1-2 lần/tuần; 2-3 lần/tháng; khoảng 1 lần/ tháng; 6-11 lần/năm; 1-5 lần/năm; không uống rượu trong 12 tháng qua; không biết)
− Tỷ lệ sử dụng rượu bia trước 1 tuần: là tỷ lệ bệnh nhân chấn thương do tai nạn giao thông là có sử dụng rượu bia tại thời điểm cùng giờ tai nạn trước
1 tuần
− Tỷ lệ sử dụng rượu bia trước 1 ngày: là tỷ lệ bệnh nhân chấn thương do tai nạn giao thông là có sử dụng rượu bia tại thời điểm cùng giờ tai nạn trước
1 ngày
Trang 40Một số biến số về tình hình sử dụng rượu bia ở bệnh nhân chấn thương
do tai nạn giao thông:
− Tỷ lệ sử dụng rượu bia ở bệnh nhân chấn thương do tai nạn giao thông
là tỷ lệ đối tượng có kết quả xét nghiệm máu có nồng độ cồn trong máu > 0 mg/dl trên tổng số bệnh nhân tai nạn giao thông
− Nồng độ cồn trong máu của bệnh nhân sử dụng rượu bia: là biến định lượng, được xác định thông qua kết quả xét nghiệm máu (đơn vị mg/dl)
− Phân bố mức độ cồn trong máu của bệnh nhân sử dụng rượu bia, gồm các giá trị: < 50 mg/dl; 50 – < 300 mg/dl
− Phân bố mức độ cồn trong máu của bệnh nhân sử dụng rượu bia ở đối tượng khi bị tai nạn giao thông (người lái xe và không lái xe)
− Thời gian sử dụng rượu bia của bệnh nhân trước khi bị giao thông đến lúc kết thúc: là biến định lượng, xác định giá trị lớn nhất, nhỏ nhất và trung