1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Nghiên cứu khả năng tái hòa nhập cộng đồng và đánh giá kết quả liệu pháp phục hồi chức năng tâm lý xã hội trên bệnh nhân tâm thần phân liệt tại quận ninh kiều thành phố cần thơ năm 2021

103 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu khả năng tái hòa nhập cộng đồng và đánh giá kết quả liệu pháp phục hồi chức năng tâm lý xã hội trên bệnh nhân tâm thần phân liệt tại quận Ninh Kiều thành phố Cần Thơ năm 2021
Tác giả Lê Hoàng Vũ
Người hướng dẫn PGS.TS. Phạm Thị Tâm
Trường học Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
Chuyên ngành Quản lý y tế
Thể loại Luận văn chuyên khoa cấp II
Năm xuất bản 2022
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 1,8 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Người bệnh tâm thần sau khi được điều trị có thể hết các triệu chứng rối loạn tâm thần tuy nhiên các di chứng của bệnh để lại vẫn còn ảnh hưởng đến tư duy, cảm xúc và hành vi tác phong c

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ

LÊ HOÀNG VŨ

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG TÁI HÒA NHẬP

CỘNG ĐỒNG VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ LIỆU PHÁP PHỤC HỒI CHỨC NĂNG TÂM LÝ XÃ HỘI TRÊN

BỆNH NHÂN TÂM THẦN PHÂN LIỆT

TẠI QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Trang 2

Lời đầu tiên tôi xin cảm ơn Ban Giám hiệu cùng toàn thể quý Thầy, Cô trường Đại học y dược Cần Thơ đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quãng thời gian vừa qua

Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Phạm Thị Tâm, người đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành luận văn này

Tôi cũng xin được cảm ơn các cán bộ y tế đang làm việc tại Trung tâm y

tế, các trạm y tế trong địa bàn Quận Ninh Kiều, Thành phố Cần Thơ đã nhiệt tình hỗ trợ và tạo điều kiện giúp tôi thu thập số liệu thuận lợi

Dù rất cố gắng song đề tài không tránh khỏi những mặt còn hạn chế và thiếu sót, rất mong nhận được sự đóng góp của quý Thầy, Cô và bạn đọc Trân trọng!

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu do chính tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Phạm Thị Tâm Các số liệu và kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn này là trung thực, khách quan và chưa từng được công bố Quá trình nghiên cứu, thu thập số liệu tuân thủ y đức, đạo đức nghiên cứu

Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình

Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2022

Người thực hiện

LÊ HOÀNG VŨ

Trang 4

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

CLT : Chống loạn thần

DAI-10 : Drug Attitude Inventory-10

GAF : Global Assessment of Functioning

HQCT : Hiệu quả can thiệp

ICD-10 : International Classification of Diseases - 10 KIDI : Knowledge of Illness and Drugs Inventory MMSE : Mini Mental State Examination

PHCN : Phục hồi chức năng

PHCNTLXH: Phục hồi chức năng tâm lý xã hội

RLTT : Rối loạn tâm thần

RLNC : Rối loạn nhân cách

RL : Rối loạn

SKTT : Sức khỏe tâm thần

TLXH : Tâm lý xã hội

TP : Thành phố

TTPL : Tâm thần phân liệt

WHO : World Health Organization

 2 : Chi bình phương

Trang 5

BẢNG ĐỐI CHIẾU ANH VIỆT

International Classification of Diseases - 10

Phân loại Quốc tế về bệnh tật lần thứ 10

Mini Mental State Examination

Thang đánh giá tâm thần tối thiểu

World Health Organization

Tổ chức Y tế thế giới

Drug Attitude Inventory-10

Kiểm kê thái độ thuốc lần thứ 10

Global Assessment of Functioning

Bảng đánh giá chức năng toàn diện

Knowledge of Illness and Drugs Inventory

Bảnh đánh giá kiến thức về bệnh tật và kiểm kê thuốc

The Positive and Negative Syndrome Scale

Thang đánh giá hội chứng dương tính và âm tính

Brief Assessment of Cognition in Schizophrenia-Symbol Coding

Thang đánh giá ngắn về nhận thức bệnh nhân tâm thần phân liệt mã hóa biểu tượng

Trang 6

7 Bảng 3.7: Thời gian quản lý tại cộng đồng 38

8 Bảng 3.8: Loại thuốc chống loạn thần được sử dụng 38

9 Bảng 3.9: Hoạt động chăm sóc bản thân trước can thiệp 39

10 Bảng 3.10: Hoạt động chăm sóc gia đình trước can thiệp 39

11 Bảng 3.11: Hoạt động vui chơi giải trí trước can thiệp 40

12 Bảng 3.12: Hoạt động xã hội trước can thiệp 40

13 Bảng 3.13: Khả năng lao động trước can thiệp 41

14 Bảng 3.14: Mức độ tái hòa nhập cộng đồng trước can

thiệp

41

15 Bảng 3.15: Yếu tố liên quan tới tái hòa nhập cộng đồng 42

16 Bảng 3.16: Liên quan giữa tái hoà nhập cộng đồng và tuân

thủ điều trị

42

17 Bảng 3.17: Liên quan giữa tái hoà nhập cộng đồng và sự

quan tâm chăm sóc của người thân

43

18 Bảng 3.18: Liên quan giữa tái hoà nhập cộng đồng và sự

quan tâm của cán bộ y tế

43

19 Bảng 3.19: Liên quan giữa tái hoà nhập cộng đồng và sự

tin tưởng vào điều trị

44

Trang 7

20 Bảng 3.20: Liên quan giữa tái hoà nhập cộng đồng và sang

23 Bảng 3.23: Phục hồi chăm sóc bản thân sau can thiệp 46

24 Bảng 3.24: Mức độ chăm sóc bản thân không tốt 46

25 Bảng 3.25: Phục hồi chăm sóc gia đình sau can thiệp 47

26 Bảng 3.26: Mức độ chăm sóc gia đình không tốt 47

27 Bảng 3.27: Phục hồi vui chơi giải trí sau can thiệp 48

28 Bảng 3.28: Mức độ vui chơi giải trí không tốt 48

29 Bảng 3.29: Phục hồi hoạt động xã hội sau can thiệp 49

30 Bảng 3.30: Mức độ tham gia hoạt động xã hội không tốt 49

31 Bảng 3.31: Phục hồi khả năng lao động sau can thiệp 50

32 Bảng 3.32: Mức độ phục hồi lao động không tốt 50

33 Bảng 3.33: Mức độ tái hòa nhập cộng đồng sau can thiệp 51

Trang 8

MỞ ĐẦU

Tâm thần phân liệt là một bệnh loạn thần nặng, dễ tái phát, có đặc điểm

là người bệnh có những suy nghĩ, hành vi kỳ dị, khó hiểu, dần tách khỏi cuộc sống xã hội, thu rút vào thế giới bên trong, tình cảm trở nên khô lạnh, khả năng làm việc học tập ngày một sút kém Theo tài liệu của Tổ chức y tế thế giới,

tỷ lệ mắc bệnh tâm thần phân liệt là 1% dân số chung, bất kỳ ai cũng đều có thể mắc chứng bệnh này Bệnh thường phát sinh ở lứa tuổi trẻ (18 – 35 tuổi) Người bệnh tâm thần phân liệt không được quản lý tốt có thể gây các hậu quả nghiêm trọng đến an ninh trật tự tại địa phương Theo y văn, có đến 80% người bệnh tâm thần phân liệt bị bệnh lần đầu tái phát lại sau 5 năm [40]

Phục hồi chức năng tâm lý xã hội là quá trình, là cơ hội tạo cho người bệnh tâm thần phân liệt bị thiệt thòi do các di chứng bệnh tật còn sót lại đạt được mức tối đa các chức năng về sinh hoạt, giao tiếp, tâm lý xã hội, lao động nghề nghiệp để có thể sống hoà nhập cùng cộng đồng Người bệnh tâm thần sau khi được điều trị có thể hết các triệu chứng rối loạn tâm thần tuy nhiên các

di chứng của bệnh để lại vẫn còn ảnh hưởng đến tư duy, cảm xúc và hành vi tác phong của họ, dẫn đến họ không có khả năng tái hoà nhập với cộng đồng cũng như mất khả năng lao động nghề nghiệp để sinh sống Bệnh tâm thần phân liệt là một bệnh có khuynh hướng tiến triển mãn tính, người bệnh ngày một tách rời, xa lánh xã hội, khó hoà nhập với gia đình và cộng đồng Xã hội cũng

có khuynh hướng mặc cảm, kỳ thị, phân biệt đối xử Chính vì vậy, phục hồi chức năng tâm lý xã hội cho người bệnh tâm thần phân liệt để họ có ích cho bản thân, gia đình và xã hội là trách nhiệm, là nghĩa vụ của ngành y tế và cộng đồng, đem lại hiệu quả thiết thực trong cuộc sống Theo nghiên cứu của Đinh Thị Hoan tại tỉnh Khánh Hòa, tỉ lệ tái hòa nhập cộng đồng của các bệnh nhân đang được quản lý trong Chương trình mục tiêu quốc gia Bảo vệ sức khỏe tâm thần tại cộng đồng là 83% [10]

Trang 9

Để hỗ trợ trong điều trị các triệu chứng dương tính, âm tính và suy giảm nhận thức, các nhà tâm lý học lâm sàng đã nghiên cứu và đưa vào áp dụng thực

tế lâm sàng các liệu pháp tâm lý, hỗ trợ tâm lý xã hội để giúp bệnh nhân tâm thần phục hồi lại các chức năng sống Giáo dục tâm lý cho bệnh nhân và gia đình để giúp họ thay đổi các suy nghĩ không phù hợp về bệnh và cách chăm sóc, từ đó tránh được sự kỳ thị, tuân thủ điều trị, tái hòa nhập cộng đồng tốt hơn, đặc biệt gia đình và bệnh nhân biết cáchtự chăm sóc và tránh tái phát [1]

Chính vì nhận thức được tầm quan trọng của các vấn đề nêu trên, một câu hỏi nghiên cứu được đặt ra là khả năng tái hòa nhập cộng đồng và kết quả của liệu pháp phục hồi chức năng tâm lý xã hội trên bệnh nhân tâm thần phân liệt đang được quản lý trong Chương trình mục tiêu quốc gia Bảo vệ sức khỏe tâm thần tại cộng đồng hiện nay ra sao ?

Để trả lời cho câu hỏi ấy, từ đó góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc

bệnh nhân tâm thần phân liệt, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu khả năng tái hòa nhập cộng đồng và đánh giá kết quả liệu pháp phục hồi chức năng tâm lý xã hội trên bệnh nhân tâm thần phân liệt tại Quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ năm 2021-2022” nhằm các mục tiêu cụ thể như sau:

1 Xác định tỉ lệ tái hòa nhập cộng đồng tốt và tìm hiểu một số yếu tố liên quan tới khả năng tái hòa nhập cộng đồng của bệnh nhân tâm thần phân liệt đang quản lý tại Quận Ninh Kiều năm 2021-2022

2 Đánh giá kết quả liệu pháp phục hồi chức năng tâm lý xã hội trên

sự tái hòa nhập cộng đồng của các bệnh nhân tâm thần phân liệt phục hồi không tốt đang quản lý tại Quận Ninh Kiều năm 2021-2022

Trang 10

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan về bệnh tâm thần phân liệt

1.1.1 Sơ lược về bệnh tâm thần phân liệt

Tâm thần phân liệt là một bệnh tâm thần nặng, hay gặp, chiếm tỉ lệ khoảng 1% dân số chung Bệnh thường khởi phát ở lứa tuổi 15-45, cao nhất là 18-26 tuổi, rất hiếm gặp trước 10 tuổi và sau 50 tuổi Về giới tính, bệnh có tỉ lệ bằng nhau ở nam và nữ, nhưng ở phái nam bệnh thường xuất hiện sớm hơn phái

nữ Bệnh nhân nữ thường có hoạt hoạt động xã hội tốt hơn bệnh nhân nam Tiên lượng ở bệnh nhân nữ tốt hơn bệnh nhân nam Tỉ lệ TTPL điều trị nội trú trong các bệnh viện tâm thần thường hơn 50% Có một tỉ lệ dưới 50% số bệnh nhân TTPL được quản lý và điều trị tại cộng đồng Do bệnh thường khởi phát

ở người trẻ tuổi nên gây ảnh hưởng nhiều đến khả năng lao động và học tập của người bệnh [2]

và môi trường xung quanh

Tính tự kỷ : Người bệnh dần tách khỏi thực tại, ngày càng thu mình vào thế giới nội tâm

- Giảm sút thế năng tâm thần : Liên quan chủ yếu đến sự giảm sút hoạt động trong các lĩnh vực xã hội như học tập, công tác, quan hệ xã hội và khả năng tự chăm sóc bản thân

- Các rối loạn tư duy:

Rối loạn hình thức tư duy : Thường gặp là tư duy nghèo nàn, tư duy ngắt quảng, tư duy không liên quan, trả lời bên cạnh, sáng tạo ngôn ngữ

Trang 11

Rối loạn nội dung tư duy: Chủ yếu là các hoang tưởng, hay gặp là hoang tưởng bị hại, bị theo dõi, bị kiểm tra, bị chi phối, hoang tưởng liên hệ, phát minh, tự cao Có thể có tư duy vang thành tiếng, tư duy bị phát thanh, tư duy

bị đánh cắp Một số bệnh nhân có thể có hoang tưởng có nội dung kỳ quái như

có khả năng điều khiển thời tiết, liên lạc với người ngoài hành tinh

- Các rối loạn tri giác: Các loại ảo giác hay gặp là ảo thanh, ảo thị Các loại khác như ảo khứu, ảo vị, ảo xúc rất hiếm gặp

- Rối loạn cảm xúc : Đặc trưng nhất là cảm xúc cùn mòn, bàng quan, vô cảm Các loại rối loạn cảm xúc khác như cảm xúc trái ngược, cảm xúc 2 chiều, cảm xúc thiếu hòa hợp cũng hay gặp Một số bệnh nhân có biểu hiện trầm cảm sau giai đoạn loạn thần

- Các rối loạn hành vi : bệnh nhân thường tỏ ra trì trệ, chậm chạp, thờ ơ với mọi việc, ăn mặc lôi thôi, có các hành vi kỳ dị, trạng thái căng cương lực, hoặc có cơn xung động la hét đập phá, tấn công người xung quanh, tự gây thương tích cho bản thân hoặc có hành vi tự sát

Trên lâm sàng người ta thường chia các triệu chứng TTPL thành 2 nhóm:

- Nhóm triệu chứng dương tính : Là hoang tưởng, ảo giác, kích động lời nói và ngôn ngữ,

- Nhóm triệu chứng âm tính : Là cảm xúc thờ ơ, cùn mòn, bàng quan, vô cảm, ngôn ngữ nghèo nàn, cách ly xã hội, sự tan rã nhân cách bệnh nhân, [3]

1.1.3.Tiêu chuẩn chẩn đoán theo ICD – 10

Để chẩn đoán bệnh TTPL, người ta thường sử dụng một trong hai tiêu chuẩn là ICD-10 và DSM-IV Tuy nhiên, trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng tiêu chuẩn chẩn đoán ICD -10

“Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh TTPL theo ICD-10 năm 1992

a/ Tư duy vang thành tiếng, tư duy bị áp đặt hay bị đánh cắp và tư duy bị phát thanh

Trang 12

b/ Các hoang tưởng bị kiểm tra, bị chi phối hay bị động có liên quan rõ rệt với vận động thân thể hay các chi hoặc có liên quan với những ý nghĩ, hành vi hay cảm giác đặc biệt và tri giác hoang tưởng

c/ Các ảo thanh bình luận thường xuyên về hành vi của bệnh nhân hay thảo luận với nhau về bệnh nhân hoặc các loại ảo thanh khác xuất hiện

từ một bộ phận nào đó của cơ thể

d/ Các hoang tưởng dai dẳng không thích hợp về mặt văn hoá và hoàn toàn không thể có được tính đồng nhất về tôn giáo hay chính trị hoặc những khả năng và quyền lực siêu nhiên như: khả năng điều khiển thời tiết hoặc đang tiếp xúc với người ở thế giới khác

e/ Ảo giác dai dẳng bất cứ loại nào, có khi kèm theo hoang tưởng thoáng qua hay chưa hoàn chỉnh, không có nội dung cảm xúc rõ rệt hoặc kèm theo ý tưởng quá dai dẳng hoặc xuất hiện hàng ngày trong nhiều tuần hay nhiều tháng

f/ Tư duy gián đoạn, hay thêm từ khi nói, đưa đến tư duy không liên quan hay lời nói không thích hợp hoặc ngôn ngữ bịa đặt

g/ Tác phong căng trương lực như: kích động, giữ nguyên dáng, uốn sáp, phủ định và không nói hoặc sững sờ

h/ Các triệu chứng âm tính như: vô cảm rõ rệt, ngôn ngữ nghèo nàn, đáp ứng cảm xúc cùn mòn hoặc không thích hợp thường dẫn đến cách li xã hội hoặc giảm sút hiệu suất lao động và các triệu chứng trên phải rõ ràng

là không do trầm cảm hay thuốc an thần gây ra

i/ Biến đổi thường xuyên và có ý nghĩa về chất lượng toàn diện của tập tính cá nhân biểu hiện như: Mất thích thú, thiếu mục đích, lười nhác, thái

độ mải mê suy nghĩ về bản thân và cách li xã hội

Yêu cầu chẩn đoán bệnh TTPL theo ICD-10:

- Phải có ít nhất 1 triệu chứng rõ ràng hoặc phải có tối thiểu 2 triệu chứng (nếu các triệu chứng đó ít rõ ràng) thuộc các nhóm từ a đến d kể trên

- Nếu là nhóm từ e đến i thì phải có ít nhất là 2 nhóm triệu chứng

Trang 13

- Thời gian của các triệu chứng phải tồn tại ít nhất là 1 tháng

- Không được chẩn đoán TTPL nếu có triệu chứng trầm cảm hoặc hưng cảm mở rộng xuất hiện trước các triệu chứng nói trên

- Không được chẩn đoán TTPL khi có bệnh não rõ rệt hoặc bệnh nhân đang ở trong trạng thái nhiễm độc ma tuý

- Không được chẩn đoán TTPL khi có bệnh động kinh và các bệnh tổn thương thực thể não khác” [4]

1.1.4 Tiến triển của bệnh TTPL

- Tiến triển theo giai đoạn có các triệu chứng di chứng giữa các giai đoạn: Bệnh nhân có các giai đoạn với đầy đủ các triệu chứng của TTPL; giữa các giai đoạn, bệnh nhân có các triệu chứng di chứng rõ ràng Kiểu tiến triển này có tiên lượng không tốt khi được điều trị

- Tiến triển theo giai đoạn không có triệu chứng di chứng giữa các giai đoạn: Bệnh nhân có các giai đoạn với đầy đủ triệu chứng của tâm thần phân liệt; giữa các giai đoạn, bệnh nhân không có các triệu chứng di chứng rõ ràng Đây là kiểu tiến triển cho tiên lượng tốt Sau điều trị, bệnh nhân phục hồi gần như hoàn toàn

- Tiến triển liên tục: Các triệu chứng của tâm thần phân liệt có liên tục ; các triệu chứng âm tính ngày càng rõ ràng trong suốt thời gian của bệnh Kiểu tiến triển này có tiên lượng xấu, kháng điều trị

- Tiến triển 1 giai đoạn, lui bệnh hoàn toàn: Bệnh nhân chỉ có 1 giai đoạn duy nhất có đủ triệu chứng của TTPL; sau đó, họ khỏi bệnh hoàn toàn và không

để lại di chứng Đây là kiểu tiến triển cho tiên lượng tốt nhất

Tâm thần phân liệt là một bệnh mạn tính, thường hay tái phát Nếu không được điều trị củng cố, tỷ lệ tái phát của bệnh TTPL là 10% số bệnh nhân/tháng Sau 1 năm kể từ ngày ngừng thuốc, đa số các bệnh nhân đều tái phát bệnh [40]

1.1.5 Tiên lượng bệnh TTPL

Các yếu tố tiên lượng tốt

- Khởi phát muộn, cấp tính

Trang 14

- Không có biểu hiện bất thường trên điện não, CT- Scan sọ não

- Có triệu chứng rối loạn cảm xúc

- Nhiều triệu chứng dương tính

- Đáp ứng điều trị tốt

- Thừa nhận bệnh và tự giác điều trị

Các yếu tố tiên lượng xấu là:

- Khởi phát sớm, từ từ

- Không có yếu tố thuận lợi cho khởi phát

- Có biểu hiện bất thường trên điện não đồ, CT-Scan sọ não

- Nhiều triệu chứng âm tính

và liên tục tại một cơ sở chuyên khoa tâm thần hoặc tại cộng đồng Trong những năm gần đây, nhờ sự ra đời của các loại thuốc chống loạn thần thế hệ mới và

sự quan tâm nhiều hơn tới các yếu tố tâm lý xã hội, bệnh TTPL đã được điều trị an toàn và hiệu quả hơn, giảm đáng kể sự nhập viện nhờ đó giảm được chi phí điều trị, đem lại nhiều hy vọng cho bệnh nhân và gia đình họ [3]

1.2.1.1 Liệu pháp hoá dược tâm thần

Hoá dược là liệu pháp thông dụng nhất và có hiệu quả nhất trong điều trị bệnh TTPL Việc lựa chọn loại thuốc nào và liều lượng thuốc ra sao phải phù hợp với từng triệu chứng lâm sàng theo thể bệnh và khả năng dung nạp của mỗi

Trang 15

cá thể Trong điều trị bệnh TTPL, sử dụng nhóm an thần mạnh là nhiều nhất, ngoài ra còn dùng các thuốc an thần nhẹ, các thuốc chống trầm cảm, các thuốc điều chỉnh khí sắc

Có thể điều trị bằng Haloperidol, Aminazin liều cao 2-3 tháng Sau đó tiếp tục điều trị củng cố bằng Aminazin từ 300-500 mg/ngày chia 3 lần hoặc Haloperidol 10-40 mg/ngày Trong tuần đầu tiêm bắp thịt sau đó chuyển sang thuốc uống

Đối với các bệnh nhân TTPL, nếu không tự nguyện tiếp tục điều trị củng

cố sau giai đoạn điều trị tấn công, có thể dùng các thuốc an thần kinh tác dụng

chậm như: Piportil, Fluphenazin decanoat, Haldol decanoat Chú ý: Cần phải

lưu ý đến biến chứng do dùng các thuốc tác dụng chậm gây ra, đôi khi rất nan giải như: Dị ứng, hội chứng an thần kinh ác tính Cần phải xét nghiệm máu (bạch cầu, công thức bạch cầu nhất là bạch cầu hạt), nước tiểu, theo dõi mạch, huyết áp định kỳ và thường xuyên

- Sử dụng các thuốc chống trầm cảm trong các cơn trầm cảm kết hợp cần phải thận trọng về liều lượng thuốc, vì có thể làm hoạt hoá các ảo giác và hoang tưởng dẫn đến nguy cơ tự sát

- Các thuốc điều hoà khí sắc có tác dụng tốt trong điều trị và dự phòng các đợt tái phát, nhất là trong các thể bệnh có rối loạn cảm xúc

- Các loại thuốc bổ, thuốc thông thường, thuốc làm giảm nhịp tim như Propranolon, các thuốc beta-block khác và các thuốc chống Parkinson cũng cần được xem xét và sử dụng cho hợp lý [3]

1.2.1.2 Liệu pháp sốc điện

Ngày nay, các chỉ định của liệu pháp sốc điện đã thu hẹp một cách đáng

kể, song đối với bệnh TTPL còn được chỉ định trong những trường hợp sau:

Trang 16

1.2.1.3 Liệu pháp tâm lý

- Phải có thái độ tâm lý tốt, thông cảm, tôn trọng người bệnh

- Tổ chức hệ thống mở cửa làm cho người bệnh được tự do thoải mái

- Giải quyết các nhu cầu và mâu thuẫn của người bệnh tại gia đình và cộng đồng

- Liệu pháp tâm lý cá nhân có thể áp dụng song song với hoá dược, giải thích hợp lý và liệu pháp hành vi

- Liệu pháp phân tích tâm lý nên tiến hành rất thận trọng

- Liệu pháp tâm lý nhóm và tâm lý gia đình cũng rất bổ ích [41]

1.2.1.4 Liệu pháp lao động và tái thích ứng xã hội

Khắc phục những triệu chứng âm tính và phục hồi chức năng cho người bệnh bằng các dạng hoạt động: lao động thủ công, sản xuất, vui chơi, giải trí Những hoạt động này làm cho người bệnh gần gũi với cuộc sống bình thường

và hoà nhập với cộng đồng

Đây là một biện pháp không thể thiếu được nhằm duy trì tính tự chủ của người bệnh và chống lại sự mạn tính hoá, chống lại các "Hội chứng bệnh viện", góp phần cải thiện tiên lượng bệnh

Sự chăm sóc tại cộng đồng và các hình thức bán trú cũng là những hình thức tái thích ứng xã hội tốt [1], [6]

1.2.2 Phòng bệnh

Nguyên nhân bệnh TTPL chưa rõ ràng nên không thể phòng bệnh tuyệt đối được Tuy nhiên, phải theo dõi sức khoẻ tâm thần ở những người có yếu tố nguy cơ cao như các nhân tố di truyền cần được theo dõi và được phát hiện sớm Chú trọng giáo dục rèn luyện trẻ em biết cách thích ứng với môi trường

và các điều kiện khó khăn của cuộc sống Hạn chế ảnh hưởng có hại từ bên ngoài như sang chấn tâm lý, nhiễm khuẩn, Áp dụng lao động và tái thích ứng

xã hội Tiếp tục quản lý theo dõi bệnh nhân sau khi ra viện tại cộng đồng, đề phòng tái phát bệnh [3], [41]

Trang 17

1.3 Chương trình mục tiêu quốc gia bảo vệ sức khỏe tâm thần tại cộng đồng

Chương trình bảo vệ sức khỏe tâm thần tại cộng đồng thuộc chương trình mục tiêu quốc gia đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt từ năm 1999 Trong mỗi giai đoạn, chương trình có những tên gọi khác nhau như:

Giai đoạn 1999-2005: Dự án chăm sóc, bảo vệ sức khỏe tâm thần tại cộng đồng thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia phòng chống một số bệnh xã hội, bệnh dịch nguy hiểm và HIV/AIDS

Giai đoạn 2006-2010: Đưa hai bệnh động kinh và trầm cảm thuộc dự án phòng chống một số bệnh không lây nhiễm vào dự án bảo vệ sức khỏe tâm thần tại cộng đồng thuộc chương trình mục tiêu quốc gia phòng chống một số bệnh

xã hội

Năm 2011: Dự án tâm thần cộng đồng thuộc dự án 2 của chương trình mục tiêu quốc gia về y tế phòng chống bệnh không lây nhiễm

Giai đoạn 2012-2015: Dự án: Phòng, chống một số bệnh có tính chất nguy hiểm đối với cộng đồng

Những năm qua, ở các địa phương mặc dù còn gặp nhiều khó khăn nhưng

đã có nhiều nỗ lực trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe tâm thần Hiện nay, tất cả các tỉnh thành phố trên toàn quốc đã triển khai mô hình chăm sóc sức khỏe tâm thần dựa vào cộng đồng nhằm phát hiện bệnh nhân mới, quản lý và chăm sóc bệnh nhân cũ, lồng ghép chương trình chăm sóc sức khỏe tâm thần vào các chương trình mục tiêu quốc gia khác Tại tuyến tỉnh, thành phố đã thường xuyên

mở các lớp đào tạo, tập huấn kiến thức về bệnh tâm thần và chương trình tâm thần cộng đồng cho cán bộ quản lý chương trình tuyến huyện và trạm y tế xã, phường, thị trấn Đẩy mạnh hoạt động giáo dục truyền thông về sức khỏe tâm thần, tránh phân biệt đối xử, coi thường và miệt thị người bệnh Nhờ có mô hình này bệnh nhân tâm thần phân liệt và động kinh, được quản lý tại cộng đồng và sự kỳ thị đã được giảm bớt, hầu hết các bệnh nhân trong chương trình quản lý đã hồi phục, hòa nhập tốt với cuộc sống Điều này góp phần rất lớn

Trang 18

trong việc giảm gánh nặng về tinh thần, kinh tế cho bệnh nhân và gia đình

họ Chương trình chăm sóc sức khỏe tâm thần tại cộng đồng đã giúp cho người

bệnh tâm thần được điều trị và chăm sóc ngay tại gia đình và giảm tải cho các

cơ sở điều trị chuyên khoa Đồng thời người dân cũng giảm di thái độ kỳ thị,

xa lánh bệnh nhân tâm thần Điều này cũng giúp cho người bệnh mau bình phục

và tái hòa nhập với cộng đồng Mặc dù đã đạt được những thành công nhất định, song công tác chăm sóc sức khỏe tâm thần ở các địa phương vẫn còn nhiều khó khăn về cơ sở vật chất và nguồn nhân lực Công tác chăm sóc sức khỏe tâm thần tại cộng đồng mới chỉ quản lý và điều trị chủ yếu cho 2 thể bệnh

là tâm thần phân liệt và động kinh, các thể bệnh khác chưa được quan tâm, nhất

là hiện nay số người mắc rối loạn tâm thần do nghiện rượu, nghiện game, đặc biệt là ảo giác do dùng ma túy đá ngày càng gia tăng, để lại nhiều hậu quả nặng

nề cho gia đình và xã hội Bên cạnh đó, sự phối hợp liên ngành trong chăm sóc sức khỏe tâm thần hiện chưa hiệu quả Trong những năm tới, để chương trình chăm sóc sức khỏe tâm thần cộng đồng đạt hiệu quả cao hơn cần có sự vào cuộc của các cấp, các ngành của địa phương và sự nỗ lực phấn đấu của ngành

y tế về quản lý, chăm sóc, điều trị bệnh nhân tốt hơn Tuyên truyền cho cộng đồng hiểu rõ về bản chất của những rối loạn tâm thần giảm bớt sự kỳ thị đối với bệnh nhân tâm thần để những người bệnh sớm hòa nhập cộng đồng [1], [6]

1.4 Liệu pháp phục hồi chức năng tâm lý xã hội tại cộng đồng

1.4.1 Khái niệm

Phục hồi chức năng tâm lý xã hội tại cộng đồng (viết tắt: PHCNTLXH)

là quá trình, là cơ hội tạo cho người bệnh tâm thần vốn đã bị thiệt thòi do các

di chứng bệnh tật còn sót lại đạt được mức tối đa các chức năng về sinh hoạt, giao tiếp, tâm lý xã hội, lao động nghề nghiệp để có thể sống hoà nhập cùng cộng đồng [1]

1.4.2 Tại sao phải tiến hành phục hồi chức năng tâm lý xã hội cho người bệnh tâm thần

Trang 19

Người bệnh tâm thần sau khi được điều trị có thể hết các triệu chứng rối loạn tâm thần nặng, tuy nhiên, các di chứng của bệnh để lại vẫn còn ảnh hưởng đến tư duy, cảm xúc và hành vi tác phong của họ dẫn đến họ không tái hoà nhập cộng đồng cũng như lao động nghề nghiệp và đau khổ nội tâm Bệnh nhân tâm thần, đặc biệt là bệnh TTPL, là một bệnh có khuynh hướng tiến triển mãn tính, người bệnh ngày một tách rời, xa lánh xã hội, khó hoà nhập với gia đình và cộng đồng Xã hội cũng có khuynh hướng mặc cảm, kỳ thị, phân biệt đối xử cho rằng người bệnh tâm thần không còn khả năng giúp ích gì cho gia đình và cho xã hội Chính vì vậy, phục hồi chức năng tâm lý xã hội cho người bệnh tâm thần để họ trở nên có ích cho cho bản thân, gia đình và xã hội là trách nhiệm,

là nghĩa vụ của ngành y tế và cộng đồng, đem lại hiệu quả thiết thực và thể hiện

sự ưu việt, tiến bộ và nhân đạo của nhà nước ta

1.4.3 Những thành phần tham gia công tác phục hồi chức năng tâm lý xã hội tại cộng đồng: Gồm có

- Mạng lưới cán bộ y tế cơ sở xã, phường, quận, huyện, thị trấn

- Chính quyền địa phương, tổ dân phố

- Cộng tác viên: Thanh viên, phụ nữ, chữ thập đỏ, cựu chiến binh và những người tình nguyện

- Gia đình, người thân, người nuôi dưỡng

- Người bệnh [6]

1.4.4 Trách nhiệm của gia đình và cộng đồng đối với người bệnh tâm thần

Bệnh tâm thần là một bệnh của não, có nhiều biến đổi sinh học phức tạp

và chịu tác động rất mạnh của môi trường tâm lý xã hội không thuận lợi Người bệnh tâm thần bị nhiều thiệt thòi cho bản thân, cho gia đình và cho xã hội do bệnh gây ra các di chứng như rối loạn hành vi, cảm xúc, tư duy, Vì vậy, mọi người trong cộng đồng phải phối hợp với cán bộ y tế để: Phát hiện sớm người bệnh tâm thần để đưa người bệnh đi chữa bệnh sớm tại cơ sở y tế chuyên khoa tâm thần Như vậy sẽ ngăn chặn được tác hại do người bệnh gây ra cho gia đình

và xã hội Việc điều trị sớm sẽ có hiệu quả tốt giúp người bệnh nhanh chóng

Trang 20

khỏi bệnh trở về với gia đình Vì bệnh TTPL có khuynh hướng tiến triển mãn tính, vì vậy, gia đình và cán bộ y tế phải phối hợp một cách kiên nhẫn, hiểu biết, chia sẽ trong việc chăm sóc, phục hồi chức năng, giảm bớt thiệt thòi cho người bệnh Bên cạnh đó, người bệnh tâm thần cần được hưởng quyền lợi chăm sóc, chữa trị như những bệnh tật khác theo qui định của luật pháp Không phân biệt đối xử, kỳ thị, hành hạ ngược đãi người bệnh dưới bất cứ hình thức nào Không được sử dụng những tà thuật và những phương pháp chữa bệnh không

có cơ sở khoa học làm ảnh hưởng đến sức khoẻ và sự an toàn của người bệnh [6]

1.4.5 Các hình thức tổ chức phục hồi chức năng tâm lý xã hội tại cộng đồng

Thứ nhất: Truyền thông Truyền thông về sự hiểu biết, thái độ, hành động

về sức khoẻ tâm thần qua các buổi phát thanh trên đài phát thanh địa phương, các buổi tập huấn do cán bộ y tế thực hiện, các tài liệu, tờ rơi, tranh ảnh phát đến tay đối tượng, các thông tin cơ bản về sức khoẻ tâm thần đăng tải trên mạng internet

Thứ hai: Phục hồi chức năng tâm lý xã hội và tái hoà nhập cộng đồng

Tổ chức cho người bệnh tâm thần tại xã, phường, thị trấn vào một câu lạc bộ, một nhóm có người phụ trách, có nội qui và lịch sinh hoạt hàng tuần, hàng tháng, luôn luôn kết nạp thành viên mới nếu có Định kỳ sinh hoạt người bệnh, tìm hiểu tâm tư nguyện vọng, năng lực, khiếm khuyết của từng thành viên Tổ chức các hoạt động văn nghệ, thể dục thể thao, dã ngoại du lịch theo nhóm, thăm hỏi khi ốm đau bệnh tật theo nhóm tập thể, hoà nhập, tạo cho người bệnh các điều kiện sinh hoạt như người bình thường Mời cán bộ chuyên môn tâm thần nói chuyện với câu lạc bộ về bệnh tâm thần, cách uống thuốc, tác dụng phụ của thuốc, cách phòng chống bệnh tái phát

Thứ ba: Huấn luyện các kỹ năng Đối với người bệnh tâm thần sau khi

ổn định và ra viện, khôi phục lại các kỹ năng cơ bản là điều kiện tiên quyết để

họ có thể tái hoà nhập với gia đình và cộng đồng Việc huấn luyện kỹ năng có

Trang 21

thể thực hiện cho từng cá nhân hoặc có thể thực hiện theo từng nhóm Bao gồm các kỹ năng cơ bản sau: Kỹ năng chăm sóc bản thân, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng chăm sóc gia đình, kỹ năng vui chơi giải trí, kỹ năng hoạt động xã hội và kỹ năng lao động Tuỳ theo điều kiện cơ sở vật chất mà tổ chức huấn luyện kỹ năng thích hợp cho người bệnh, có thể tại câu lạc bộ, có thể tại gia đình nào đó hoặc chính tại gia đình người bệnh do người thân huấn luyện Hầu hết các kỹ năng là cơ bản không cầu kỳ phức tạp Ví dụ: Huấn luyện người bệnh tự vệ sinh cá nhân như tắm, giặt, đánh răng, rửa mặt, cư xử giao tiếp với người thân, tham gia lễ hội tại địa phương, nghe đài, xem tivi, làm các công việc đơn giản trong gia đình

Thứ tư: Phục hồi chức năng lao động nghề nghiệp Tuỳ theo điều kiện kinh tế xã hội của từng địa phương và thói quen lao động của người dân mà người ta tổ chức lựa chọn loại hình lao động phù hợp Ở nước ta, trên 80% dân

số là nông nghiệp, do vậy, loại hình lao động chính là trồng trọt, chăn nuôi và lao động thủ công Đối với người bệnh tâm thần, công việc bắt đầu trở lại là những công việc đơn giản, nhẹ nhàng, không đòi hỏi chi tiết phức tạp Tại cộng đồng, có thể tổ chức một nhóm lao động phục hồi chức năng như trồng trọt, chăn nuôi hoặc gia công, sản xuất các sản phẩm thủ công, đồ dùng vật dụng công đoạn thô sơ cho các nhà máy, xưởng sản xuất tư nhân Cũng có thể gởi người bệnh vào làm việc tại các hợp tác xã, công xưởng và nhà máy Khi tiến hành liệu pháp lao động cần lưu ý một số nguyên tắc sau: Lao động phải có người hướng dẫn kèm cặp nhằm hổ trợ đảm bảo an toàn cho người bệnh; bắt đầu từ dễ tới khó, từ đơn giản đến phức tạp, ưu tiên những việc trước đây người bệnh đã từng làm, có năng khiếu và niềm ham thích; lao động với hình thức tập thể là chủ yếu; có sự đánh giá động viên khen thưởng; ít nhiều phải có trả tiền công thích hợp cho người bệnh

Thứ năm: Tập huấn kiến thức cho gia đình người bệnh Tổ chức các lớp tập huấn kiến thức về chăm sóc người bệnh tâm thần, giải đáp thắc mắc của gia đình do cán bộ chuyên môn phụ trách Các gia đình thành lập nhóm tự giúp đỡ

Trang 22

nhằm động viên chia sẽ nâng đỡ tương trợ lẫn nhau Nội dung tập huấn bao gồm: Cách theo dõi người bệnh, nhận biết các triệu chứng của bệnh, cách ghi chép các triệu chứng vào sổ theo dõi, báo cáo đều đặn cho cán bộ y tế; cách phát hiện dấu hiệu bệnh tái phát; cách phát hiện các biểu hiện bệnh nặng cần phải cấp cứu để đi điều kịp kịp thời; cách quản lý thuốc và cách cho uống thuốc; cách quản lý và chăm sóc tại nhà

Thứ sáu: Các liệu pháp tâm lý cần áp dụng đối với bệnh nhân tâm thần đang được quản lý và phục hồi chức năng tại cộng đồng cần phải thực hiện thường xuyên như: Liệu pháp tâm lý gia đình tức là tổ chức gặp gỡ trao đổi, trò chuyện với từng gia đình người bệnh; liệu pháp tâm lý cá nhân tức là tổ chức gặp gỡ, trao đổi, trò chuyện với từng cá nhân người bệnh; liệu pháp tâm lý nhóm tức là tổ chức gặp gỡ, trao đổi, trò chuyện với một nhóm người bệnh [6]

1.4.6 Điều kiện cần thiết để tiến hành phục hồi chức năng tâm lý xã hội tại cộng đồng

Để tiến hành liệu pháp phục hồi chức năng tâm lý xã hội tại cộng đồng cần thiết phải có sẳn các điều kiện như sau: Các thành phần tham gia phải được huấn luyện, trang bị những kiến thức cơ bản về bệnh tâm thần, trang bị kỹ năng giao tiếp với người bệnh, trang bị các kỹ năng chăm sóc người bệnh tâm thần; phải có sự hướng dẫn giám sát của cán bộ y tế; phải có cơ sở vật chất, kinh phí đáp ứng cho việc tổ chức các hoạt động chuyên môn; bên cạnh đó, phải tăng cường công tác truyền thông giáo dục toàn dân về công tác bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ tâm thần [1], [6]

1.5 Tình hình nghiên cứu tâm thần phân liệt

1.5.1 Tình hình nghiên cứu tâm thần phân liệt trên thế giới

Năm 2017, Christopher I.O và cộng sự nghiên cứu trên việc điều trị cho

103 bệnh nhân TTPL tại cộng đồng trong 02 năm cho thấy: Tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 35,96 tuổi, nam giới chiếm 48,5%, nữ giới chiếm 51,5%, không nghề nghiệp là 33%, tiền sử có nhập viện điều trị là 38% Về

Trang 23

thuốc sử dụng tại cộng đồng: Chủ yếu là chống loạn thần cổ điển chiếm 98% Thời gian sử dụng thuốc chống loạn thần trung bình là 7,78 năm Có tới 56,3%

số bệnh nhân được thay đổi thuốc chống loạn thần khi có tác dụng phụ của thuốc Tất cả các bệnh nhân đều được sử dụng thuốc điều trị tác dụng phụ ngoại tháp là Trihexyphenidyl [29]

Năm 2017, Nobuhiko Yanagida và cộng sự nghiên cứu sự hiệu quả của tâm lý liệu pháp trên bệnh nhân TTPL dựa trên 03 thang đánh giá là: Global Assessment of Functioning (GAF), Drug Attitude Inventory-10 (DAI-10), and Knowledge of Illness and Drugs Inventory (KIDI) Mỗi bệnh nhân được làm liệu pháp tâm lý kéo dài trong 01 tuần Kết quả: Điểm trung bình của thang KIDI, DAI-10 tăng một cách đáng kể sau khi can thiệp Liệu pháp tâm lý còn làm gia tăng về nhận thức và thái độ đúng đắn về việc dùng thuốc chống loạn thần trong các bệnh nhân TTPL mãn tính Điều đó cho thấy: Liệu pháp tâm lý

có hiệu quả về sự tuân thủ điều trị và khả năng tái hòa nhập cộng đồng trên bệnh nhân TTPL lâu năm [53]

Năm 2017, Laura Asher và cộng sự nghiên cứu hồi cứu về hiệu quả của liệu pháp tâm lý xã hội dựa vào cộng đồng trên 1.580 bệnh nhân TTPL ở các nước có thu nhập trung bình thấp Sau khi can thiệp 18 tháng, có sự thay đổi như giảm nhiều các triệu chứng nặng, tái phục hồi các chức năng tâm lý xã hội

và giảm hẳn tỉ lệ tái nhập viện ở bệnh nhân TTPL [44]

Năm 2018, Susan S Kuo và cộng sự nghiên cứu trên 636 bệnh nhân TTPL cho thấy khả năng nhận thức và chức năng tâm lý xã hội có mối liên quan chặt chẽ với sự chi phối của yếu tố di truyền trên người bệnh TTPL [61]

Năm 2018, Takeo Tominaga và cộng sự nghiên cứu trên 55 bệnh nhân TTPL tại cộng đồng trong đó: Khả năng nhận thức được đánh giá bằng thang the Brief Assessment of Cognition in Schizophrenia-Symbol Coding (BACS-SC), các triệu chứng lâm sàng bằng The Positive and Negative Syndrome Scale (PANSS) cho thấy: Thang này có thể tiên lượng một số khía cạnh của khả năng

Trang 24

nhận thức nhưng các triệu chứng âm tính chiếm phần lớn nguyên nhân gây suy giảm nhận thức ở bệnh nhân TTPL [62]

Năm 2020, trong nghiên cứu của Frances R Frankenburg và cộng sự cho rằng phương pháp điều trị bệnh TTPL đòi hỏi sự kết hợp của liệu pháp hóa dược và liệu pháp tâm lý xã hội Để đạt được điều đó, cần phải có sự chung tay của nhiều người tham gia điều trị cho bệnh nhân như: Bác sĩ chuyên khoa tâm thần, dược lý tâm thần, cộng tác viên, điều dưỡng, nhà tâm lý liệu pháp và nhân viên quản lý cộng đồng Trong khi quản lý và điều trị, không nên bỏ qua các yếu tố bệnh lý khác trên bệnh nhân TTPL như béo phì, tiểu đường, bệnh tim mạch, bệnh phổi [36]

1.5.2.Tình hình nghiên cứu tâm thần phân liệt ở Việt Nam

Năm 2003, Nguyễn Văn Siêm và cộng sự nghiên cứu dịch tễ học bệnh tâm thần phân liệt là đề tài được thực hiện lần đầu tiên ở Việt Nam tại một phường thành thị, một xã nông thôn đồng bằng và một xã miền núi với tổng dân số 23.758 Kết quả: Phát hiện 131 bệnh nhân tâm thần phân liệt Tỷ lệ mắc chung là 0,52 – 0,61% dân số Tỷ số bệnh nhân nữ/nam là 0,9 Số bệnh nhân khởi phát ở độ tuổi 15 – 25 có tỷ lệ cao nhất (49 – 65%) Tuổi khởi phát trung bình ở nam là 20 – 25, ở nữ là 25 – 30 Tỷ lệ độc thân ở bệnh nhân nam là 40,58%, ở bệnh nhân nữ là 38,71% Tỷ lệ ly hôn, ly thân là 5,33% Tỷ lệ bệnh nhân mạn tính và hay tái phát là 88 – 94% Tiên lượng: số bệnh nhân lành bệnh (ổn định trên 7 năm) khoảng 13% (bệnh nhân nữ lành bệnh so với nam là 5/1);

tỷ lệ thuyên giảm tốt là 33%, cả khá và tốt là 50 – 77% [18]

Năm 2012, Đinh Thị Hoan và cộng sự nghiên cứu trên 2.603 bệnh nhân đang quản lý tại cộng đồng tại tỉnh Khánh Hòa trong đó có 1.257 tâm thần phân liệt, 1.040 động kinh, 286 bệnh nhân rối loạn tâm thần khác cho thấy: Tình hình bệnh nhân bỏ thuốc và uống thuốc không đều là 18 %; có 90 % bệnh nhân lãnh thuốc từ chương trình và 10% thuốc uống tự túc; tỉ lệ bệnh nhân điều trị ổn định (không tái phát và không gây rối) đạt 83% Trong nghiên cứu đã đưa ra khỏi

Trang 25

diện quản lý 285 bệnh nhân, trong đó chuyển địa chỉ quản lý là 52 (18,2%), tử vong là 64 trường hợp (22,4%) và ổn định cho thôi điều trị là 169 (59%) [10]

Năm 2014, Tôn Thất Hưng và cộng sự tiến hành nghiên cứu do trên 144 bệnh TTPL đang được quản lý điều trị tại 7 phường nội thành, thành phố Huế

có kết quả như sau: Bệnh nhân mất khả năng lao động: Trước quản lý: 96,5%; sau quản lý: vẫn còn 91% Người nhà nghỉ việc để chăm sóc: Trước quản lý: 53,5%; sau quản lý: còn 31,2% Bệnh nhân phá hoại tài sản gây thiệt hại: Trước quản lý: có 39,6%; sau quản lý: chỉ còn 16,0% Được điều trị: Trước quản lý: 83,3% có chữa trị; sau quản lý: 86,1% vẫn tiếp tục điều trị [14]

Năm 2014, Nguyễn Thái Bình và cộng sự nghiên cứu trên 110 bệnh nhân TTPL đang quản lý tại Quận Cái Răng, TP Cần Thơ cho thấy: Tỷ lệ người bệnh tham gia hoạt động xã hội chưa cao, các kỹ năng làm việc nhà, bảo quản và sử dụng thuốc còn thấp, trung bình khoảng 35%, kỹ năng thư giãn, giải trí thì khoảng 20% bệnh nhân cải thiện Đa số bệnh nhân khó tìm được việc làm và mức độ hoàn thành công việc còn thấp, kỹ năng lao động cải thiện trung bình khoảng 15% trên tổng số bệnh nhân Kết quả điều trị cải thiện 58,2%, không cải thiện 22,7%, 19,1% sa sút hơn Kết quả kiểm tra trạng thái tâm thần sơ bộ theo thang đánh giá MMSE: 56,4% có rối loạn nhận thức [7]

Năm 2015, Đặng Duy Thanh và cộng sự nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng với cỡ mẫu là 77 bệnh nhân tâm thần phân liệt bị xiềng xích, cách ly, đi

lang thang trong cộng đồng tại tỉnh Khánh Hòa Kết quả: Thời gian bị xích/cách

ly, đi lang thang trung bình là 8,9 năm Lý do của việc xích/cách ly là do bệnh nhân hay sử dụng chất (bia, rượu, thuốc lá) chiếm 67,7%; có hành vi nguy hiểm với người khác và đập phá tài sản chiếm tỷ lệ cao với 61,8% Lý do của việc không đưa bệnh nhân lên bệnh viện để điều trị là do bệnh nhân từ chối (63,2%)

và khó khăn về tài chính (47,4%) Sự tăng điểm của kỹ năng sống cơ bản, kỹ năng giao tiếp và kỹ năng giải trí giữa hai nhóm ở từng thời điểm so với thời điểm trước nhập viện cho thấy ở thời điểm xuất viện, tỉ lệ điểm ở nhóm can

Trang 26

thiệp gia tăng nhiều hơn có ý nghĩa thống kê so với tỉ lệ tăng điểm ở nhóm chứng [21]

Năm 2017, Võ Cánh Sinh và cộng sự nghiên cứu trên 403 bệnh nhân TTPL đang quản lý tại cộng đồng tại TP Cần Thơ cho thấy: Độ tuổi trung bình của mẫu là 46,69 tuổi, tuổi từ 40 trở lên chiếm 72,5% Nam giới chiếm 61,8%, dân tộc Kinh chiếm đại đa số (95,8%), 74,7% không có tôn giáo, 92,3% bệnh nhân có nghề nghiệp lao động tự do Trình độ học vấn của người bệnh khá thấp, cấp 1 chiếm 35%, mù chữ và chỉ biết đọc biết viết lần lượt là 17,9% và 3,2%

Đa phần người bệnh sống độc thân (69,7%), tỷ lệ người bệnh có vợ/chồng cùng sống chung là 21,8% Tỷ lệ người bệnh có khả năng độc lập hoàn toàn rất thấp chỉ có 5%, sống độc lập của người bệnh phụ thuộc vào thời gian lên cơn bệnh chiếm tỷ lệ 75,2% Người bệnh phụ thuộc hoàn toàn vào sự chăm sóc đặc biệt

là 23,6% Người bệnh chủ yếu bị hạn chế khả năng hòa nhập sinh hoạt, chiếm 80,1% Người bệnh tham gia sinh hoạt bình thường chiếm 11,7% và cách ly xã hội là 8,2% Khả năng phục hồi lao động, người bệnh làm được việc nhẹ, chiếm

tỷ lệ 73,9%, người bệnh lao động bình thường là 9,9% và người bệnh không lao động chiếm 16,1% Sau 06 tháng can thiệp, khả năng sống độc lập của bệnh nhân được cải thiện, khả năng hòa nhập sinh hoạt của bệnh nhân được cải thiện

và khả năng phục hồi lao động của bệnh nhân cũng đã được cải thiện hơn lúc trước Mức độ thuyên giảm của bệnh nhân sau can thiệp có kết quả chuyển biến tích cực hơn so với ban đầu, tăng tỷ lệ bệnh nhân thuyên giảm tốt và khá, số bệnh nhân có kết quả thuyên giảm kém giảm rõ rệt, không có bệnh nhân không thuyên giảm [19]

Năm 2018, Tôn Thị Thu Thảo và cộng sự nghiên cứu trên 115 bệnh nhân TTPL đang quản lý tại Quận Cái Răng TP Cần Thơ trong thời gian 02 năm cho thấy: Kết quả điều trị của người bệnh TTPL có 71% cải thiện, 16% không cải thiện và 13% sa sút hơn Kết quả điều trị theo 7 kỹ năng qua 2 năm nghiên cứu

có sự cải thiện có ý nghĩa thống kê (p<0,001) Trong đó, đạt 6/7 kỹ năng có sự

Trang 27

cải thiện có ý nghĩa thống kê: làm việc nhà (p<0,001), xã hội cơ bản (p=0,008), lao động (p<0,001), thư giãn giải trí (p<0,001), hoạt động xã hội (p=0.002), bảo quản và sử dụng thuốc (p=0,001) Còn lại, kỹ năng tự phục vụ bản thân không

có sự khác nhau có ý nghĩa thống kê (p>0,05) [23]

Trang 28

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Bệnh nhân TTPL đang được quản lý trong Chương trình mục tiêu quốc gia Bảo vệ sức khỏe tâm thần cộng đồng tại Quận Ninh Kiều trong giai đoạn 2021-2022

2.1.2 Tiêu chuẩn chọn mẫu

Tất cả bệnh nhân TTPL đang quản lý tại cộng đồng (có ít nhất một người thân của bệnh nhân) tại các trạm y tế thuộc Quận Ninh Kiều đủ tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh TTPL theo ICD-10

2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ

Những trường hợp bệnh TTPL được quản lý tại Quận Ninh Kiều mà đang nhập viện điều trị nội trú tại Bệnh viện tâm thần, Trung tâm bảo trợ nuôi dưỡng người bệnh tâm thần, nhập viện điều trị bệnh lý nội ngoại khoa nặng, bệnh lý mãn tính như ung thư, lao phổi,

2.1.4 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

Chúng tôi tiến hành nghiên cứu tại các Trạm Y tế của Quận Ninh Kiều, nơi đang trực tiếp quản lý và điều trị các bệnh nhân TTPL theo Chương trình mục tiêu quốc gia bảo vệ sức khỏe tâm thần tại cộng đồng trong thời gian từ 04/2021 đến 04/2022

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả có phân tích và nghiên cứu can thiệp so sánh trước sau

không nhóm chứng

2.2.2 Cỡ mẫu nghiên cứu

Được tính theo công thức ước lượng một tỉ lệ:

Trang 29

n =

d

2 2 / 1

)1( 

 

Trong đó: - n : Cỡ mẫu nghiên cứu nhỏ nhất hợp lý

- p: Là tỉ lệ tái hòa nhập cộng đồng của bệnh nhân TTPL

- d: Là sai số cho phép của nghiên cứu, là sự khác biệt giữa tỉ lệ

p thu được trên mẫu và tỉ lệ p thật trong quần thể Chọn d = 0,06

95%)

Cỡ mẫu cho mục tiêu 1:

Chọn p = 0,83 (theo nghiên cứu của Đinh Thị Hoan năm 2012 tại Khánh Hòa về tỉ lệ bệnh nhân TTPL tái hòa nhập tốt với cộng đồng) [10] Thế số vào công thức, ta được n ≈ 148 Vậy cỡ mẫu tối thiểu cho nghiên cứu là 148 bệnh nhân Thực tế, có 177 bệnh nhân được đưa vào nghiên cứu

Cỡ mẫu cho mục tiêu 2:

Chọn tất cả bệnh nhân có khả năng tái hòa nhập cộng đồng không tốt trong mục tiêu 1 để thực hiện can thiệp bằng liệu pháp phục hồi chức năng tâm

lý xã hội trong 06 tháng Thực tế, có 89 bệnh nhân được đưa vào can thiệp

2.2.3 Phương pháp chọn mẫu: Phương pháp lấy mẫu thuận tiện Chọn toàn

bộ bệnh nhân phục hồi chức năng thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu đang được quản lý tại Quận Ninh Kiều năm 2021-2022

2.2.4 Nội dung nghiên cứu

2.2.4.1 Đặc điểm dân số nghiên cứu

- Tuổi: Biến số được chia thành 04 giá trị nghiên cứu là:

Trang 30

 Cao đẳng hoặc đại học

- Nghề nghiệp: Biến số định tính với 03 giá trị nghiên cứu là:

+ Thất nghiệp: Là tình trạng người lao động muốn có việc làm để có thu nhập mà không tìm được việc làm hoặc không được tổ chức, công ty và cộng đồng nhận vào làm việc

+ Lao động chân tay: Lao động chân tay (hay lao động thủ công) một loại công việc con người sử dụng chân tay, cơ bắp là chủ yếu để hoàn thành Ví dụ: Công nhân, nông dân, thợ xây dựng, thợ mộc, thợ rèn,

+ Lao động trí óc: Lao động trí óc là một loại lao động phức tạp, sử dụng trí óc là chủ yếu Ví dụ: Kỹ sư, bác sĩ, viên chức nhà nước, nhân viên văn phòng, lập trình viên,

- Tuổi phát bệnh: Là độ tuổi mà bệnh khởi phát lần đầu tiên trong đời Đây

là biến số được nghiên cứu theo 04 giá trị:

Trang 31

 Từ 5 -10 năm

 Trên 10 năm

-Thời gian được quản lý tại cộng đồng: Là khoảng thời gian tính từ lúc bệnh nhân được đưa vào quản lý tại cộng đồng cho đến thời điểm nghiên cứu Đây là biến số được nghiên cứu theo 04 giá trị là:

cụ thể Mỗi hoạt động được đánh giá thành hai mức độ: Tốt và không tốt + Tốt: Khi người bệnh thực hiện được hoạt động đó từ ≥ 04 ngày/tuần + Không tốt: Khi người bệnh thực hiện được hoạt động đó từ ≤ 03 ngày/tuần

* Chức năng chăm sóc bản thân: Đây là biến số định tính với 02 giá trị là:

Trang 32

+ Tốt : Khi người bệnh thực hiện tốt tất cả các hoạt động trong nhóm chức năng chăm sóc bản thân

+ Không tốt: Khi người bệnh thực hiện không tốt ít nhất 01 hoạt động trong nhóm chức năng chăm sóc bản thân

Các hoạt động trong nhóm chăm sóc bản thân là:

- Không còn bị xiềng xích, cùm nhốt, lang thang

- Có khả năng vệ sinh cá nhân như: Tắm rửa, chãi đầu, đánh răng, rửa mặt, tiêu tiểu đúng qui định trong gia đình

- Ăn mặc sạch sẽ

- Tự ăn uống được

* Chức năng quan tâm và chăm sóc gia đình: Đây là biến số định tính với

Các hoạt động trong nhóm quan tâm, chăm sóc gia đình là:

- Biết quan tâm hỏi han người thân

- Biết ăn cơm chung cùng với gia đình

- Biết phụ giúp việc nhà

* Chức năng vui chơi giải trí: Đây là biến số định tính với 02 giá trị là:

+ Tốt : Khi người bệnh thực hiện tốt tất cả các hoạt động trong nhóm chức năng vui chơi, giải trí

+ Không tốt: Khi người bệnh thực hiện không tốt ít nhất 01 hoạt động trong nhóm chức năng vui chơi, giải trí

Các hoạt động trong nhóm chức năng vui chơi, giải trí là:

- Biết thưởng thức văn nghệ, ca múa

- Nghe đài

- Xem ti vi

Trang 33

* Chức năng hoạt động xã hội: Đây là biến số định tính với 02 giá trị là:

+ Tốt : Khi người bệnh thực hiện tốt tất cả các hoạt động trong nhóm chức năng hoạt động xã hội

+ Không tốt: Khi người bệnh thực hiện không tốt ít nhất 01 hoạt động trong nhóm chức năng hoạt động xã hội

Các hoạt động trong nhóm chức năng hoạt động xã hội là:

- Biết giao tiếp, ứng xử

- Biết tham gia lễ hội

- Biết tham gia đám tiệc

* Chức năng lao động: Đây là biến số định tính với 02 giá trị là:

+ Tốt : Khi người bệnh thực hiện tốt tất cả các hoạt động trong nhóm chức năng lao động

+ Không tốt: Khi người bệnh thực hiện không tốt ít nhất 01 hoạt động trong nhóm chức năng lao động

Các hoạt động trong nhóm chức năng lao động là:

- Biết trở lại với nghề cũ trước khi mắc bệnh

- Biết làm công việc đơn giản khác

*Mức độ tái hòa nhập cộng đồng: Đây là biến số định tính với 02 giá trị là:

+ Tốt : Khi người bệnh thực hiện tốt tất cả các nhóm chức năng

+ Không tốt: Khi người bệnh thực hiện không tốt ít nhất 01 nhóm chức năng

2.2.4.3 Các yếu tố liên quan tới mức độ tái hòa nhập cộng đồng của bệnh nhân TTPL

Theo y văn, có nhiều yếu tố có liên quan tới mức độ tái hòa nhập cộng đồng của bệnh nhân TTPL, cụ thể có các yếu tố như sau:

- Sự tuân thủ điều trị: Là sự hợp tác tự nguyện của bệnh nhân sử dụng thuốc theo đơn đã được kê bao gồm thời gian sử dụng thuốc, liều dùng và số lần dùng Đây biến số định tính với 02 giá trị nghiên cứu là:

Trang 34

+ Có

+ Không

- Sự quan tâm chăm sóc của gia đình người thân: Người thân trong gia đình thường xuyên quan tâm tới bệnh nhân như : Lãnh thuốc đều đặn hàng tháng, cho bệnh nhân uống thuốc đúng liều và thời gian qui định, theo dõi tác dụng phụ của thuốc, Đây biến số định tính với 02 giá trị nghiên cứu là: + Có

+ Không

- Sự quan tâm hướng dẫn điều trị của cán bộ y tế: Mỗi tháng, có cán bộ phụ trách chương trình tâm thần có vãng gia thăm khám tại gia đình người bệnh hoặc tại trạm y tế Đây biến số định tính với 02 giá trị nghiên cứu là: + Có

+ Không

- Sự tin tưởng vào hiệu quả điều trị của thuốc: Bệnh nhân và gia đình người bệnh tin tưởng vào hiệu quả điều trị của thuốc cấp phát trong chương trình Đây biến số định tính với 02 giá trị nghiên cứu là:

+ Có

+ Không

- Lạm dụng rượu bia: Đương sự có uống rượu bia ≥ 04 ngày trong tuần Đây là biến số định tính với 02 giá trị là:

Trang 35

+ Có

+ Không

2.2.4.4 Hiệu quả của liệu pháp phục hồi chức năng tâm lý xã hội trên bệnh nhân TTPL đang quản lý

Chúng tôi đánh giá khả năng tái hòa nhập cộng đồng của bệnh nhân TTPL

và so sánh trước can thiệp và sau can thiệp 06 tháng bằng liệu pháp phục hồi chức năng tâm lý xã hội dựa vào các yếu tố (Can thiệp chỉ áp dụng cho các đối tượng có mức độ tái hòa nhập cộng đồng không tốt):

+ Chức năng chăm sóc bản thân: Đánh giá dựa trên các hoạt động đã nêu

ở phần trên Đây biến số định tính với 02 giá trị nghiên cứu là: Tốt và không tốt

+ Chức năng quan tâm và chăm sóc gia đình người thân: Đánh giá dựa trên các hoạt động đã nêu ở phần trên Đây là biến số định tính với 02 giá trị nghiên cứu là: Tốt và không tốt

+ Chức năng vui chơi giải trí: Đánh giá dựa trên các hoạt động đã nêu ở phần trên Đây là biến số định tính với 02 giá trị nghiên cứu là: Tốt và không tốt

+ Chức năng hoạt động xã hội: Đánh giá dựa trên các hoạt động đã nêu ở phần trên Đây là biến số định tính với 02 giá trị nghiên cứu là: Tốt và không tốt

+ Chức năng lao động học tập: Đánh giá dựa trên các hoạt động đã nêu ở phần trên Đây là biến số định tính với 02 giá trị nghiên cứu là: Tốt và không tốt

Mức độ tái hòa nhập cộng đồng: Đánh giá dựa trên kết quả đánh giá 04 chức năng nói trên Đây là biến số định tính với 02 giá trị nghiên cứu là: Tốt và không tốt

Đánh giá của người nhà bệnh nhân về mức độ thuyên giảm: Trong bảng đánh giá kết quả chăm sóc người bệnh tâm thần phân liệt tại cộng đồng của Chương trình mục tiêu quốc gia bảo vệ sức khoẻ tâm thần cộng đồng có qui

Trang 36

định về đánh giá mức độ thuyên giảm của bệnh dựa trên nhận xét của người nhà bệnh nhân như sau:

 Không thuyên giảm: Khi các triệu chứng bệnh không thay đổi gì sau khi điều trị

 Thuyên giảm ít: Người bệnh có thuyên giảm, nhưng còn tồn tại nhiều triệu chứng, không thể làm việc được

 Thuyên giảm vừa: Người bệnh đã mất các triệu chứng bệnh, nhưng còn di chứng, khả năng lao động giảm sút

 Thuyên giảm nhiều: Người bệnh ổn định, có thể làm việc, học tập nhưng còn có các dấu hiệu bệnh lý như: Thay đổi tính tình, mau mệt

 Thuyên giảm hoàn toàn: Người bệnh hoàn toàn bình phục, không còn di chứng nào, trở lại làm việc, học tập bình thường

Tính Chỉ số hiệu quả can thiệp dựa trên công thức sau:

𝐶ℎỉ 𝑠ố ℎ𝑖ệ𝑢 𝑞𝑢ả 𝑐𝑎𝑛 𝑡ℎ𝑖ệ𝑝 (%) =𝑃0 − 𝑃1

𝑃0 𝑋 100%

Trong đó:

P0: Tỉ lệ tái hòa nhập cộng đồng không tốt trước khi can thiệp

P1: Tỉ lệ tái hòa nhập cộng đồng không tốt sau khi can thiệp 06 tháng Chỉ số hiệu quả can thiệp = 0 nếu P0 - P1 ≤ 0 [16]

2.2.5 Phương pháp thu thập số liệu

2.2.5.1 Thu thập số liệu

Bước 1: Xây dựng, thử nghiệm và hoàn thiện bộ câu hỏi nghiên cứu Các câu hỏi sẽ do nghiên cứu viên tự xây dựng dựa vào các khái niệm, đặc điểm dân số nghiên cứu, tái hòa nhập cộng đồng, các yếu tố liên quan và việc thực hiện liệu pháp tâm lý xã hội cho đối tượng nghiên cứu Sau khi hoàn thiện,

bộ câu hỏi nghiên cứu sẽ được in ấn, soạn sẳn để phục vụ cho công tác tập huấn

và điều tra

Trang 37

Bước 2: Tập huấn

- Đối tượng tập huấn: Cán bộ quản lý chương trình tâm thần tại trạm y tế

- Người tập huấn: Nhóm tác giả nghiên cứu

- Nội dung tập huấn:

+ Bảng câu hỏi phỏng vấn

+ Liệu pháp phục hồi chức năng tâm lý xã hội tại cộng đồng cho bệnh nhân TTPL

Bước 3: Điều tra thu thập thông tin

Sau bước tập huấn, nhóm nghiên cứu sẽ liên hệ với cán bộ quản lý chương trình tâm thần tại các trạm y tế thuộc Quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ và trao đổi

kế hoạch làm việc

Tiến hành điều tra: Nghiên cứu viên sẽ tham gia cùng các điều tra viên quan sát, phỏng vấn để hỗ trợ, phát hiện sai sót nếu có và tìm cách khắc phục kịp thời Việc điều tra được thực hiện tại thời điểm trước can thiệp và sau khi can thiệp

Bước 4: Tổng hợp và quản lý kết quả điều tra

Sau khi điều tra xong, nghiên cứu viên sẽ thu thập và quản lý phiếu điều tra Tiến hành kiểm tra toàn diện phiếu điều tra để đảm bảo về số lượng và chất lượng Nếu có phiếu không đạt thì phải điều tra lại phiếu đó

2.2.5.2 Phương pháp thực hiện liệu pháp phục hồi chức năng tâm lý xã hội tại cộng đồng

- Người thực hiện liệu pháp: Cán bộ quản lý chương trình tâm thần tại trạm y tế, cộng tác viên chương trình các khu vực, thân nhân người bệnh

- Đối tượng: Tất cả bệnh nhân TTPL được đưa vào nghiên cứu

- Phương tiện thực hiện liệu pháp: Tài liệu, tờ rơi hướng dẫn thực hiện liệu pháp phục hồi chức năng tâm lý xã hội tại cộng đồng cho bệnh nhân TTPL Mỗi bệnh nhân TTPL có một bệnh án theo dõi tại trạm y tế phường

- Giám sát: Chủ nhiệm đề tài kết hợp cán bộ quản lý chương trình tại trạm

y tế tổ chức việc giám sát tiến trình thực hiện liệu pháp 01 lần/tháng

Trang 38

- Theo dõi đánh giá liệu pháp: Mỗi tháng, cán bộ quản lý chương trình cùng với cộng tác viên vãng gia 01 lần, ghi nhận các hoạt động tâm lý xã hội của bệnh nhân trong tháng vào hồ sơ bệnh án

- Nội dung tiến hành liệu pháp:

+ Thời gian: Hàng tháng, cán bộ quản lý chương trình tại trạm y tế sẽ tiến hành các cuộc tư vấn, hướng dẫn trực tiếp bằng cách cầm tay chỉ việc với các cộng tác viên, bệnh nhân và thân nhân người bệnh (có mức tái hòa nhập cộng đồng không tốt) vào các ngày phát thuốc và họp thân nhân người bệnh tại các trạm y tế phường thuộc quận Ninh Kiều

+ Nội dung cụ thể về phục hồi chức năng tâm lý xã hội:

Hướng dẫn gia đình cần đưa bệnh nhân đến trạm y tế để được khám bệnh, hướng dẫn điều trị hàng tháng và lãnh thuốc một cách đầy đủ Phải đảm bảo cho người bệnh hàng tháng có đủ thuốc điều trị và đảm bảo chắc chắn họ sử dụng thuốc theo đúng hướng dẫn Cán bộ y tế hẹn người bệnh đến khám vào những ngày nhất định trong tháng

Hướng dẫn những hoạt động sinh hoạt hàng ngày có tác dụng giúp bệnh nhân phục hồi, giúp bệnh nhân tập trung chú ý vào một việc và giảm thiểu các hành động bất thường Gia đình có thể nhắc nhở nhẹ nhàng người bệnh đi tắm, làm vệ sinh thân thể, chải tóc, thay quần áo, Những người bệnh nhẹ có thể khuyến khích họ tham gia công việc nhẹ nhàng nhưng cần có sự giám sát và trợ giúp khi cần thiết Không nên để người bệnh tâm thần làm một việc gì lâu

mà nên nghỉ giải lao thường xuyên hơn

Huấn luyện cho bệnh nhân thực hiện các chức năng sinh hoạt hàng ngày cần thiết như chăm sóc vệ sinh, ăn uống vì người bệnh tâm thần có nhân cách thay đổi, có khi không còn tự chăm sóc được bản thân Huấn luyện cho họ giữ

vệ sinh vì họ thường xuyên bẩn thỉu, lôi thôi do họ không còn biết đến giữ gìn

vệ sinh nữa Huấn luyện cho họ làm những việc dễ dàng như tắm rửa, đánh răng, chải đầu, rửa tay trước và sau khi ăn, tự đi tiểu tiện đúng qui định, ăn mặc sạch sẽ

Trang 39

Giải thích cho mọi người trong cộng đồng rõ thay đổi hành vi là do bệnh chứ không phải do người bệnh cố ý làm vậy Làm sao để mọi người trong cộng đồng quan tâm giúp đỡ người bệnh, chăm sóc họ làm cho họ hòa nhập với xã hội, làm cho họ có cảm giác được yêu thương và là thành viên của gia đình và toàn xã hội

Thuyết phục bệnh nhân trở lại với vai trò và trách nhiệm với gia đình và cộng đồng Càng tham gia vào các hoạt động xã hội sớm thì sự phục hồi càng nhanh Làm cho người bệnh tâm thần quan tâm tới cuộc sống, tham gia vào các hoạt động vui chơi giải trí Huấn luyện họ làm các công việc đơn giản như nấu

ăn, dọn dẹp nhà cửa, khuyến khích người bệnh tâm thần tìm việc làm để có thu nhập [2]

2.2.6 Phương pháp kiểm soát sai số

Việc thu thập số liệu do chính tác giả và cộng sự (đã được tập huấn về phương pháp thu thập số liệu) thực hiện Số liệu sau khi thu thập sẽ được xử lý làm sạch, kiểm soát sai số trước khi tiến hành phân tích

Kiểm soát sai lệch thông tin: Định nghĩa rõ ràng, cụ thể các biến số nghiên cứu Các thông tin về chẩn đoán và phân loại theo tiêu chuẩn thống nhất Người phỏng vấn hỏi bệnh sử, thăm khám, thu thập thông tin thông qua bảng câu hỏi phỏng vấn thống nhất

Kiểm soát sai lệch chọn lựa: Tuân thủ tiêu chuẩn chọn mẫu và tiêu chuẩn loại trừ và quy trình tiến hành nghiên cứu

Nhập số liệu và xử lý thống kê bằng nhà thống kê độc lập, tiến hành 02 lần để đối chiếu kết quả

Sử dụng phần mềm thống kê Stata 8.0 để mã hóa và phân tích kết quả thu được Quá trình nhập và mã hóa số liệu được kiểm tra nhiều lần (3 lần) để tránh sai sót Đa số các biến số nghiên cứu là định tính, kết quả là các biến nhị giá Việc sử dụng phép kiểm chi bình phương để phân tích mối liên hệ giữa các biến liên quan là phù hợp và cho kết quả đáng tin cậy Đối với các trường hợp các ô

số liệu kỳ vọng dưới 5, chúng tôi sẽ sử dụng phép kiểm chính xác Fisher để

Trang 40

kiểm định Các kết quả thu được thông qua thống kê và phân tích bằng phần

mềm xử lý số liệu trong nghiên cứu này sẽ không tạo ra sự sai lệch về thống kê

số liệu do đã được kiểm tra kỹ khi nhập liệu và chọn phương pháp phân tích

phù hợp đáp ứng được mục tiêu nghiên cứu [16]

2.2.7 Phương pháp xử lý số liệu

- Số liệu sẽ được quản lý bằng phần mềm Epidata 3.0

- Phân tích thống kê sẽ được thực hiện bằng phần mềm Stata 8.0

- Các biến số định tính như đặc điểm dân số nghiên cứu, sự tuân thủ điều

trị, khả năng tái hòa nhập cộng đồng, kết quả của can thiệp bằng Liệu pháp

phục hồi chức năng tâm lý xã hội sẽ được mô tả bằng tần số, tỉ lệ % với khoảng

tin cậy 95%

- Phép kiểm chi bình phương dùng để kiểm định sự khác biệt tỉ lệ giữa 02

nhóm có biến số định tính Giá trị p ≤ 0,05 biểu thị giả thuyết về sự khác biệt

giữa 02 nhóm biến số định tính có ý nghĩa thống kê

- Kết quả phân tích thống kê sẽ được biểu diễn dưới dạng bảng hoặc biểu

đồ

2.3 Y đức trong nghiên cứu

- Nghiên cứu được tiến hành một cách trung thực và nghiêm túc

- Đối tượng nghiên cứu được thông báo về mục đích nghiên cứu

- Khi được sự đồng ý của đối tượng nghiên cứu, người nghiên cứu mới

được đưa đối tượng vào mẫu nghiên cứu

- Mọi thông tin của đối tượng đều được giữ bí mật và chỉ sử dụng cho mục

đích nghiên cứu Tất cả các thông tin chỉ có người nghiên cứu mới được tiếp

cận

- Nghiên cứu đã được Hội đồng đạo đức trong nghiên cứu y sinh Trường

Đại học Y dược Cần Thơ thông qua và cấp phiếu chấp thuận số

556/PCT-HĐĐĐ ngày 30/3/2021

Vì những lý do trên, chúng tôi cho rằng việc thực hiện đề tài này là phù

hợp với những quy định về y đức trong nghiên cứu khoa học [16]

Ngày đăng: 13/03/2023, 22:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm