1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và kết quả sử dụng tại chỗ bệnh thủy đậu bằng zincpaste tại bệnh viện da liễu thành phố cần thơ năm 2020 2022

99 9 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và kết quả sử dụng tại chỗ bệnh thủy đậu bằng ZincPaste tại Bệnh viện Da Liễu thành phố Cần Thơ năm 2020-2022
Tác giả Dương Lê Hồng Thảo
Người hướng dẫn PGs.Ts. Huỳnh Văn Bá
Trường học Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
Chuyên ngành Da liễu
Thể loại Luận văn bác sĩ nội trú
Năm xuất bản 2022
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,75 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU Thủy đậu là bệnh da nhiễm trùng cấp tính do Varicella Zoster Virus gây ra với biểu hiện lâm sàng là các hồng ban, mụn nước, mụn nước rốn lõm, bóng nước, mụn mủ, vảy tiết cùng tồn

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ

DƯƠNG LÊ HỒNG THẢO

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ KẾT QUẢ SỬ DỤNG TẠI CHỖ BỆNH THỦY ĐẬU BẰNG ZINCPASTE TẠI BỆNH VIỆN DA LIỄU THÀNH PHỐ CẦN THƠ NĂM 2020-

2022

LUẬN VĂN BÁC SĨ NỘI TRÚ

Cần Thơ, 2022

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ

DƯƠNG LÊ HỒNG THẢO

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ KẾT QUẢ

SỬ DỤNG TẠI CHỖ BỆNH THỦY ĐẬU BẰNG ZINCPASTE TẠI BỆNH VIỆN DA LIỄU THÀNH PHỐ CẦN THƠ NĂM

2020-2022

Chuyên ngành: Da liễu

Mã số: 8720109.NT LUẬN VĂN BÁC SĨ NỘI TRÚ

Người hướng dẫn khoa học:

PGs.Ts HUỲNH VĂN BÁ

Cần Thơ - Năm 2022

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng được công bố ở bất kỳ nơi nào

Tác giả luận văn

Dương Lê Hồng Thảo

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn đến PGs.Ts Huỳnh Văn Bá, người thầy hướng dẫn tôi trong thời gian học tập, thực hành lâm sàng và chỉ bảo tận tình trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Tôi xin cảm ơn Bộ môn Da liễu Đại học Y Dược Cần Thơ và Ban giám đốc Bệnh viện Da Liễu Thành phố Cần Thơ đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi hoàn thành việc thu thập số liệu nghiên cứu

Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến ba mẹ, bà nội, sự động viên của gia đình trong từng bước đi của con

Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn chân thành đến Ths.BS Nguyễn Thị Lệ Quyên, người đồng nghiệp và người chị đã tận tình chỉ bảo, động viên tôi trong quá trình học tập

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình BS.CKI Huỳnh Ngọc Nguyên Khánh và DS Khuất Thị Vân Anh đã tận tình động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến Ths.BS Trần Công Lý, cộng sự tin cậy luôn tin tưởng, ủng hộ và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập

Chân thành biết ơn sự quan tâm, động viên của bạn bè đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập

Tác giả luận văn

Dương Lê Hồng Thảo

Trang 5

MỤC LỤC

Trang Trang phụ bìa

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các biểu đồ

Danh mục các hình

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Tổng quan bệnh thủy đậu 3

1.2 Đặc điểm lâm sàng bệnh thủy đậu 11

1.3 Tổng quan các hoạt chất trong điều trị tại chỗ bệnh thủy đậu 14

1.4 Tình hình nghiên cứu bệnh thủy đậu 16

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20

2.1 Đối tượng 20

2.2 Phương pháp nghiên cứu 21

2.3 Đạo đức trong nghiên cứu 28

Chương 3 KẾT QUẢ 30

3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 30

3.2 Đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân thủy đậu 35

3.3 Kết quả điều trị bệnh thuỷ đậu 38

Chương 4 BÀN LUẬN 44

4.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 44

4.2 Đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân thuỷ đậu 51

4.3 Kết quả điều trị bệnh thuỷ đậu 56

Trang 6

KẾT LUẬN 61 KIẾN NGHỊ 63 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 1 Phiếu thu thập số liệu

PHỤ LỤC 2 Danh sách bệnh nhân tham gia nghiên cứu

PHỤ LỤC 3 Hình ảnh bệnh nhân tham gia nghiên cứu

Trang 7

Syndrome

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 2.1 Quy ước mức độ nặng của bệnh 25

Bảng 3.1 Phân bố tuổi của đối tượng nghiên cứu 30

Bảng 3.2 Phân bố theo giới tính của đối tượng nghiên cứu 31

Bảng 3.3 Phân bố tháng mắc bệnh 31

Bảng 3.4 Phân bố theo dân tộc của đối tượng nghiên cứu 32

Bảng 3.5 Phân bố theo nơi cư trú của đối tượng nghiên cứu 32

Bảng 3.6 Phân bố theo trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu 33

Bảng 3.7 Phân bố theo nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu 33

Bảng 3.8 Phân bố theo tiền sử tiếp xúc với người mắc bệnh thủy đậu 34

Bảng 3.9 Phân bố theo tiền sử tiêm chủng bệnh thủy đậu 34

Bảng 3.10 Phân bố theo số lần bôi thuốc 35

Bảng 3.11 Phân bố theo triệu chứng tại chỗ 35

Bảng 3.12 Phân bố theo triệu chứng toàn thân 35

Bảng 3.13 Phân bố theo vị trí thương tổn 36

Bảng 3.14 Phân bố theo thương tổn cơ bản 36

Bảng 3.15 Phân bố theo mức độ nặng của bệnh 37

Bảng 3.16 Phân bố theo thời gian nhập viện 37

Bảng 3.17 Phân bố theo biến chứng 37

Bảng 3.18 Phân bố theo mức độ nặng của bệnh sau điều trị 38

Bảng 3.19 Phân bố theo đáp ứng điều trị sau 15 ngày 39

Bảng 3.20 Tác dụng không mong muốn của Zincpaste 40

Bảng 3.21 Phân bố mức độ nặng của bệnh theo giới tính 41

Bảng 3.22 Phân bố mức độ nặng của bệnh theo thời gian nhập viện 41

Bảng 3.23 Phân bố biến chứng của bệnh theo thời gian nhập viện 41

Bảng 3.24 Phân bố thương tổn sẹo theo thời gian nhập viện 42

Trang 9

Bảng 3.25 Phân bố đáp ứng điều trị sau 5 ngày theo thời gian nhập viện 42Bảng 3.26 Phân bố đáp ứng điều trị sau 10 ngày theo thời gian nhập viện 42Bảng 3.27 Phân bố kết quả điều trị sau 5 ngày theo số lần bôi thuốc 43Bảng 3.28 Phân bố kết quả điều trị sau 10 ngày theo số lần bôi thuốc 43

Trang 10

DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ

Trang

Biểu đồ 3.1 Tuổi của đối tượng nghiên cứu 30

Biểu đồ 3.2 Tháng mắc bệnh 32

Biểu đồ 3.3 Phân bố theo mức độ nặng của bệnh sau điều trị 38

Biểu đồ 3.4 Phân bố theo đáp ứng điều trị sau 15 ngày 39

Biểu đồ 3.5 Phân bố theo sự hài lòng sau điều trị 40

Trang 11

DANH SÁCH CÁC HÌ NH

Trang Hình 1.1 Thương tổn bệnh thủy đậu 13

Trang 12

MỞ ĐẦU

Thủy đậu là bệnh da nhiễm trùng cấp tính do Varicella Zoster Virus gây

ra với biểu hiện lâm sàng là các hồng ban, mụn nước, mụn nước rốn lõm, bóng nước, mụn mủ, vảy tiết cùng tồn tại và rải rác cơ thể [9] Bệnh lây truyền chủ yếu do hít phải virus trong giọt nước bọt lơ lửng trong không khí hoặc tiếp xúc trực tiếp với dịch tiết của các thương tổn trên da người bệnh [54]

Thủy đậu là bệnh phổ biến và có tính lây lan cao Nhiều nghiên cứu cho thấy tuổi mắc bệnh trung bình và sự mẫn cảm của người lớn với virus thủy đậu

ở các nước nhiệt đới cao hơn rõ rệt các nước ở vùng ôn đới [49] Tại Việt Nam, các nghiên cứu cũng đề cập đến lứa tuổi hay mắc bệnh là trẻ em, nhất là trẻ em

từ 6 tháng đến 7 tuổi [9] Tuy nhiên gần đây các nghiên cứu cho thấy bệnh không chỉ phổ biến ở trẻ nhỏ mà ở cả thanh thiếu niên và người lớn Nghiên cứu của Quách Thị Hà Giang, bệnh gặp nhiều nhất ở lứa tuổi 20-39 (42,4%) [7] Nghiên cứu của Trần Văn Tiến, tỉ lệ bệnh nhân ở độ tuổi 21-30 chiếm 35,4% Thủy đậu mức độ chiếm 38,2% [6], thủy đậu bội nhiễm chiếm 32,3% [14] Qua một số nghiên cứu trên có thể thấy bệnh thủy đậu ở nước ta có xu hướng gia tăng trong những năm gần đây Về điều trị, hiện nay trên thế giới và tại Việt Nam thường sử dụng những loại thuốc kháng virus hay hỗ trợ miễn dịch như Acyclovir, Foscarnet, Interferon, Cycloferon [52] Bên cạnh điều trị toàn thân, điều trị tại chỗ cũng đóng vai trò quyết định, không những chống nhiễm khuẩn, giảm mức độ nặng của bệnh, rút ngắn thời gian điều trị cho bệnh nhân mà còn giảm tỉ lệ bội nhiễm, sẹo lõm sau thuỷ đậu Điều trị tại chỗ thường dùng hiện nay là các chế phẩm chứa Methylene blue, tuy nhiên màu xanh đặc trưng của Methylene blue ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân, làm giảm tự tin trong giao tiếp hằng ngày Vấn đề cấp bách đặt ra

là tìm kiếm các lựa chọn kháng khuẩn thay thế cho Methylene blue trong điều

Trang 13

trị bệnh thuỷ đậu Polyhydroxy acid (PHA) là một thế hệ mới của Alphahydroxy acid, cung cấp các tác dụng dưỡng ẩm, giúp tăng cường hàng rào bảo vệ da, làm giảm các tình trạng kích ứng da đã được ứng dụng nhiều trong chăm sóc trị liệu da Zinc oxide là một hợp chất vô cơ hình thành hàng rào bảo vệ da khỏi nhiễm khuẩn, được ứng dụng nhiều trong dự phòng các kích ứng da liên quan đến phát ban, bỏng, vết trầy xước, Các nghiên cứu trên thế giới cho thấy hiệu quả và an toàn của PHA và Zinc oxide trong làm khô các thương tổn rỉ dịch, hạn chế tình trạng kích ứng da, điều trị lão hóa da do ánh nắng, mụn trứng cá, các rối loạn sắc tố [27] Tuy nhiên tại Cần Thơ chưa có nhiều nghiên cứu về kết quả sử dụng tại chỗ bệnh thủy đậu bằng Zincpaste

(PHA và Zinc oxide) Trước tình hình đó, chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên

cứu đặc điểm lâm sàng và kết quả sử dụng tại chỗ bệnh thủy đậu bằng Zincpaste tại Bệnh viện Da liễu Thành phố Cần Thơ năm 2020-2022” với

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Tổng quan bệnh thủy đậu

1.1.1 Căn nguyên gây bệnh

Tác nhân gây bệnh là Herpes Varicella hay Varicella-Zoster virus (VZV) được Weller phân lập năm 1952, thuộc gia đình Herpesviridae, gồm 8

genotype Kích thước của VZV khoảng 150-200nm Virus có vỏ lipid bao quanh nhân nucleocapsid và vật liệu di truyền là chuỗi kép acid deoxyribonucleotic (ADN) Bộ gen của VZV chứa ít nhất 71 gen, phần lớn đều có trình tự ADN và chức năng tương đồng với các herpesvirus khác [4], [8]

Tất cả các virus thuộc nhóm này đều tương tự nhau về mặt hình thái và có chung một số đặc điểm như khả năng gây nhiễm trùng tiềm ẩn kéo dài đến suốt

đời Phân loại cụ thể hơn, VZV và Herpes simplex virus (HSV) thuộc α

herpesvirus do đều tiềm ẩn ở các hạch thần kinh cảm giác sau giai đoạn nhiễm trùng tiên phát [34]

Trên lâm sàng, VZV có thể gây 2 bệnh cảnh khác nhau là bệnh thủy đậu

và bệnh Zona Người ta giải thích bệnh thủy đậu là đáp ứng miễn dịch tiên phát của kí chủ đối với virus, trong đó bệnh Zona là đáp ứng miễn dịch từng phần của kí chủ đã nhiễm virus kèm theo những yếu tố thuận lợi như chấn thương,

có thai, căng thẳng, đang điều trị với tia phóng xạ Người có miễn dịch đối với thủy đậu cũng có khả năng chống lại bệnh Zona và ngược lại [9]

VZV xâm nhập vào cơ thể qua niêm mạc ở đường hô hấp trên và hầu họng,

đi vào các tế bào lympho T tại amidan rồi vào máu gây nhiễm virus máu tiên phát Các tế bào lympho T bị nhiễm sẽ mang virus đến hệ thống võng nội mô, nơi virus sẽ nhân lên về số lượng trong suốt thời gian còn lại của thời kỳ ủ bệnh rồi đi đến da và thể hiện ra ngoài bằng các triệu chứng Tình trạng nhiễm virus

Trang 15

máu xảy ra sớm trong thời kỳ ủ bệnh nhưng việc nhân lên của VZV và biểu hiện phát ban thì trễ hơn do bị ảnh hưởng bởi các đáp ứng miễn dịch tự nhiên của cơ thể (tác động của interferon, các tế bào diệt tự nhiên) Số lượng virus nhân lên đến một thời điểm nào đó sẽ vượt quá mức mà hệ thống miễn dịch của

cơ thể có thể kiểm soát được nên sau 10-14 ngày sau khi nhiễm virus sẽ xảy ra một đợt nhiễm virus máu mới gọi là nhiễm virus máu thứ phát, kết quả dẫn đến biểu hiện triệu chứng toàn thân và tại chỗ [60]

Tại da, VZV xâm nhập vào các tế bào ở lớp đáy và lớp gai Thương tổn sẩn chuyển thành mụn nước thượng bì trong vòng 12-24 giờ do số lượng các tế bào bị nhiễm virus ngày càng tăng, phình to, thoái hóa, hình thành các tế bào

đa nhân khổng lồ và các thể vùi ưa acid trong nhân Lượng dịch phù tích lại tách lớp sừng bên trên để hình thành các mụn nước trong chứa một lượng lớn các virus tự do và các tế bào khổng lồ đa nhân với thể vùi ưa acid Các tế bào khổng lồ này hình thành nhờ sự hợp nhất của những tế bào thượng bì bị nhiễm virus với các tế bào nhiễm hoặc không nhiễm lân cận ở lớp đáy và vùng ngoại

vi của mụn nước Lớp bì bên dưới bị phù nề và thâm nhiễm bạch cầu đơn nhân Các tế bào khổng lồ đa nhân với thể vùi ưa acid là đặc trưng của nhiễm trùng VZV, HSV phân biệt với các bệnh mụn nước do virus khác [53]

Sau khi nhiễm thủy đậu một lần, các tế bào miễn dịch trong cơ thể sẽ ghi nhớ và hình thành đáp ứng miễn dịch chống lại việc tái nhiễm thủy đậu và kéo dài cả đời [34]

1.1.2 Dịch tễ học

Bệnh thủy đậu chỉ xảy ra ở người, bệnh xảy ra ở khắp nơi trên thế giới, đặc biệt ở những nơi dân cư đông đúc như nhà trẻ, trường mẫu giáo, trường học, ký túc xá, Mọi lứa tuổi đều có thể mắc kể cả trẻ sơ sinh, nhưng 90% ở lứa tuổi <10 tuổi, nam và nữ có khả năng mắc bệnh như nhau Trẻ nhỏ có thể mắc bệnh thủy đậu sau khi tiếp xúc với người lớn bị bệnh Zona [12] Bệnh xảy

Trang 16

ra quanh năm nhưng thường tập trung vào tháng 3 đến tháng 5 hàng năm Bệnh rất dễ lây, 90% người nhạy cảm có thể bị lây bệnh sau khi tiếp xúc trực tiếp Khả năng bệnh xảy ra do lây truyền trong gia đình là 70-90% [63]

Bệnh thủy đậu lây truyền chủ yếu qua đường hô hấp do hít phải các giọt nhỏ có chứa virus trong không khí từ mũi, miệng của người bệnh Thời gian lây bệnh bắt đầu 24 giờ trước khi có phát ban và kéo dài cho đến khi những nốt thủy đậu đóng mày (trung bình 7-8 ngày) [9]

1.1.3 Lâm sàng

1.1.3.1 Các thể thủy đậu

- Thủy đậu thông thường: thời kỳ khởi phát bệnh thủy đậu thường ngắn chỉ 1 ngày với các triệu chứng nhức đầu, sổ mũi, đau cơ, mệt mỏi, sốt và kèm viêm họng, viêm xuất tiết đường hô hấp trên Thương tổn bắt đầu là hồng ban kích thước vài mm, không tẩm nhuận, nổi trên nền da bình thường tiền thân nốt thủy đậu xuất hiện khoảng 24 giờ trước khi xuất hiện nước Đặc điểm đặc trưng của bệnh thủy đậu là sự biểu hiện đồng thời các thương tổn nhiều lứa tuổi như sẩn, mụn nước, vảy tiết cùng tồn tại trên một vùng da Thương tổn phân bố rải rác khắp cơ thể, thường bắt đầu từ thân mình sau đó là ở tay chân Thương tổn ở niêm mạc ít gặp Đối với những bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch thường sốt cao hơn và thời kỳ này kéo dài hơn [9]

- Thủy đậu xuất huyết (hermorrhagic varicella): thương tổn là các mụn hoặc bọng máu sau đó hóa mủ Thể này ít gặp ở trẻ em Còn gặp thể thủy đậu xuất huyết trong hội chứng đông máu rải rác nội mạch

- Thủy đậu hoại tử (varicella gangrenosa) hay gặp ở trẻ em bị bệnh bạch cầu cấp với đặc điểm thương tổn loét hoại tử [3]

- Thủy đậu mắc lại được định nghĩa là thủy đậu xảy ra sau >42 ngày tiêm ngừa thủy đậu Bệnh nhân thường không sốt hoặc chỉ sốt nhẹ, số lượng thương tổn ít (thường <50), chủ yếu dạng dát, sẩn nhiều hơn mụn nước [39], [66]

Trang 17

1.1.3.2 Biến chứng

- Bội nhiễm: là biến chứng hay gặp nhất của bệnh thủy đậu Bội nhiễm

xảy ra do bóng nước vỡ khi bệnh nhân gãi, thường do Staphylococci hoặc

Streptococci và có thể dẫn đến bệnh chốc, viêm mô tế bào, viêm quầng hay

hiếm hơn nữa là viêm mô hoại tử [5], [65]

- Viêm não thủy đậu: là biến chứng thần kinh thường gặp nhất, có thể gây

tử vong ở người lớn Tỉ lệ viêm não ở bệnh nhân thủy đậu chiếm khoảng 0,2% Triệu chứng thần kinh thường xuất hiện sau khi xuất hiện bóng nước từ 2-6 ngày, đôi khi xảy ra ở thời kỳ ủ bệnh hoặc thời kỳ hồi phục Biểu hiện lâm sàng thường gặp nhất là thất điều, rung giật nhãn cầu, múa vờn có thể nguy hiểm đến tính mạng, hay để lại di chứng sau này, xảy ra phổ biến ở trẻ sơ sinh, người lớn và ở những người có hệ miễn dịch kém Chẩn đoán viêm não thủy đậu dựa vào kỹ thuật PCR để phát hiện DNA của VZV trong dịch não tủy [9]

0,1 Hội chứng Reye: trong giai đoạn toàn phát, nếu cho trẻ uống Aspirin để

hạ sốt hoặc giảm đau, trẻ có thể bị hội chứng Reye Hội chứng Reye bắt đầu xuất hiện ở giai đoạn hồi phục của bệnh với triệu chứng bồn chồn, lo âu, kích thích, nặng sẽ diễn tiến đến hôn mê, co giật do phù não [9]

- Dị tật bẩm sinh: trẻ em có mẹ bị bệnh thủy đậu trong 3 tháng cuối của thai kỳ, sau khi sinh ra có thể bị dị tật bẩm sinh như sẹo da, teo cơ, bất thường

ở mắt, co giật, chậm phát triển Mẹ bị thủy đậu 5 ngày trước khi sinh sẽ gây một tỉ lệ tử vong đáng kể cho trẻ sơ sinh vì phần lớn trẻ không nhận được kháng thể từ mẹ truyền cho [9], [50]

- Các biến chứng ít gặp khác bao gồm giảm tiểu cầu, xuất huyết tối cấp, viêm thanh quản gây phù thanh quản, hội chứng Guillain-Barré, viêm tủy cắt ngang, liệt thần kinh mặt, viêm cơ tim, viêm cầu thận, viêm tinh hoàn, viêm tụy, viêm dạ dày và thương tổn loét ruột, viêm khớp, viêm mạch Henoch-Schonlein, viêm dây thần kinh thị giác, viêm giác mạc, viêm mống mắt,… [34]

Trang 18

1.1.4 Cận lâm sàng

- Công thức máu: bạch cầu bình thường hoặc tăng nhẹ Bạch cầu tăng với thành phần đa nhân trung tính tăng khi có biến chứng bội nhiễm Tiểu cầu và hồng cầu bình thường

- Phản ứng chuỗi polymerase (polymerase chain reaction – PCR): được xem

là xét nghiệm chẩn đoán tốt nhất cho bệnh thủy đậu do có độ nhạy và độ tin cậy cao, tương đối dễ thực hiện và có kết quả nhanh (1 ngày hoặc ít hơn) Mẫu thử tốt nhất là dịch mụn nước nhưng cũng có thể sử dụng các mẫu cạo từ thương tổn, vảy tiết, sinh thiết mô hay dịch não tủy [34]

- Miễn dịch huỳnh quang trực tiếp tìm kháng nguyên VZV: mẫu bệnh phẩm

là phết dịch mụn nước hoặc tế bào cạo từ đáy/bờ vết loét Đây là một phương pháp nhạy và đặc hiệu để xác định các thương tổn do VZV và có hiệu quả hơn

so với nuôi cấy VZV

- Xét nghiệm tế bào học Tzanck: hình ảnh tế bào học của dịch hay mẫu cạo

từ đáy mụn nước/ mụn mủ có hiện tượng ly gai với các tế bào thượng bì khổng

lồ và đa nhân (tương tự như nhiễm HSV) Tuy nhiên độ nhạy của kỹ thuật chỉ đạt 60%

- Xét nghiệm huyết thanh: định tính hoặc định lượng các kháng thể IgM

và IgG đặc hiệu Giá trị chủ yếu là để đánh giá tình trạng miễn dịch ở các bệnh nhân bị ức chế miễn dịch có nguy cơ cao bị thủy đậu nặng như trẻ em có bệnh

lý ác tính

- Mô bệnh học: các mẫu sinh thiết thương tổn ở da và nội tạng cho thấy các

tế bào biểu mô khổng lồ và đa nhân hướng đến nhiễm HSV-1, HSV-2 hay VZV

Để xác định loại virus cụ thể gây bệnh ta dựa vào các peroxidase miễn dịch đặc hiệu cho từng loại virus

- Phân lập và nuôi cấy VZV: bệnh phẩm là thương tổn bóng nước hoặc phát ban được cấy vào canh tế bào Thời gian cấy VZV từ 7-10 ngày Xét

Trang 19

nghiệm để chẩn đoán xác định bệnh thủy đậu VZV rất khó nuôi cấy, chỉ khoảng 30-60% các mẫu từ những ca đã chẩn đoán xác định nuôi cấy thành công Để tối ưu hóa tỉ lệ này, mẫu thử cần được cấy vào tế bào ngay lập tức Nên chọn mẫu là dịch từ các mụn nước còn mới vì tỉ lệ nuôi cấy thành công giảm nhanh khi dịch đã hóa mủ Gần như không phân lập được VZV từ các vảy tiết của thương tổn

- Xét nghiệm khác: xquang ngực khi phát hiện các triệu chứng hô hấp

1.1.5.2 Chẩn đoán phân biệt

- Chốc lở bóng nước: thường gây ra do vi khuẩn liên cầu khuẩn β tan huyết nhóm A Bệnh thường xuất hiện trên nền da sau khi da bị trầy xước, bị thương tổn như ghẻ hoặc chàm Bóng nước lúc đầu trong sau đó một thời gian ngắn hóa đục, kế đó vỡ ra rồi đóng mày màu vàng như mật ong, nếu gỡ mày đi sẽ thấy lớp da bên dưới đỏ không loét Dấu hiệu toàn thân xuất hiện khi có biểu hiện viêm mô tế bào hoặc nhiễm trùng thứ phát rộng

- Thương tổn bóng nước do virus Herpes Simplex: nhiễm trùng do Herpes

Simplex thường gặp trên những vùng da có thương tổn sẵn như chàm, viêm da

tiếp xúc Chẩn đoán dựa vào phân lập virus [9]

Trang 20

- Thương tổn bóng nước do Coxsackie nhóm A: virus Coxsackie nhóm A

có thể gây bóng nước toàn thân nhưng đa số thương tổn dạng phát ban có xuất huyết hơn dạng bóng nước, còn gọi là bệnh tay chân miệng [9]

Bệnh thường xảy ra vào cuối mùa hè và đầu mùa thu Biểu hiện lâm sàng thường gặp là sốt, sang thương nhỏ vài mm, dạng bóng nước ở da và niêm mạc,

đa số có bóng nước dạng xuất huyết ở lòng bàn tay, lòng bàn chân, mông, gối

và họng Ở họng, bóng nước vỡ ra gây loét làm trẻ đau khó nuốt Thương tổn không hóa mủ và khi lành không để lại sẹo Chẩn đoán dựa vào PCR [9]

1.1.6 Điều trị

Mục đích điều trị bệnh thủy đậu ở những người có miễn dịch bình thường

là để giảm nguy cơ biến chứng [9]

1.1.6.1 Nguyên tắc điều trị

Điều trị càng sớm càng tốt, tốt nhất trong vòng 72 giờ đầu sau khi xuất hiện thương tổn đầu tiên

Xử lý tốt các mụn nước, vết trợt để đề phòng bội nhiễm [13]

Không dùng thuốc bôi có Salicylate hay thuốc uống có Aspirin tránh nguy cơ hội chứng Reye

Điều trị triệu chứng: hạ sốt, chống ngứa

Kháng virus

1.1.6.2 Điều trị toàn thân

Bệnh thủy đậu có diễn tiến lành tính Thuốc kháng virus thường được sử dụng ở người bị bệnh nặng nhằm rút ngắn thời gian bệnh, hạn chế biến chứng như viêm phổi thủy đậu, biến chứng nội tạng đặc biệt ở những bệnh nhân có suy giảm miễn dịch như HIV/AIDS, phụ nữ có thai, người được ghép tủy hoặc ghép cơ quan, người đang dùng corticoid, [13]

Ngoài rút ngắn thời gian nổi bóng nước, thuốc có khả năng làm giảm thương tổn da mới khoảng 25%, làm giảm triệu chứng thực thể khác ở 1/3 bệnh

Trang 21

nhân Thuốc có hiệu quả nhất nếu sử dụng trong vòng 24 giờ trước khi nổi bóng nước [13]

Nhiều nghiên cứu cho thấy, nếu điều trị sớm trong vòng 24 – 72 giờ đầu sau phát ban, Acyclovir giúp giảm thời gian nằm viện cũng như giảm tỉ lệ xảy

ra biến chứng [5]

Liều dùng:

- Trẻ em dưới 2 tuổi: 10mg/lần x3 lần/ngày

- Từ 2-16 tuổi: 20mg/kg/lần x4 lần/ngày, không quá 800mg/ngày

- Người lớn: 800mg/lần x5 lần/ ngày

Thời gian điều trị là 5-7 ngày hoặc đến khi bóng nước mới không xuất hiện nữa Trong một số trường hợp có thể sử dụng Acyclovir bằng đường tĩnh mạch: ở người suy giảm miễn dịch dùng đường tiêm tĩnh mạch 10-12,5mg/kg mỗi 8 giờ trong 7 ngày [13]

Một số thuốc kháng virus khác cũng thường dùng như Valacyclovir, Famciclovir, Amciclovir, Foscarnet, Mangoherpin và Interferon α [47]

1.1.6.3 Điều trị tại chỗ

Dùng các hoạt chất diệt khuẩn như Methylene blue, Zinc oxide, Polyhydroxy acid [9], [13] Tránh dùng các loại kem có chứa corticoid [7] Trường hợp bội nhiễm dùng các thuốc bôi chống nhiễm trùng như dung dịch đỏ eosin, mỡ mupirocin và nếu cần dùng kháng sinh toàn thân

Việc điều trị nhằm mục đích chống nhiễm trùng các thương tổn để phòng ngừa biến chứng tại chỗ và nặng hơn là nhiễm trùng huyết có thể xảy ra Khi mắc bệnh cần vệ sinh hàng ngày để tránh nhiễm trùng nhưng cần tắm bằng nước ấm, ở nơi kín gió để phòng biến chứng viêm phổi Không được bôi, tắm hoặc đắp các loại lá vì có thể gây nhiễm trùng, cũng không được bôi rượu hay cồn vì có thể gây viêm tấy các thương tổn Tránh cọ xát, mặc quần áo mềm

Trang 22

mại thoáng mát cho trẻ, cắt sạch đầu móng tay cho trẻ và tránh tiếp xúc với người xung quanh [8]

1.1.6.4 Điều trị triệu chứng

- Ngứa là triệu chứng hay ở gặp ở bệnh nhân thủy đậu, đặc biệt ngứa nhiều hơn ở những bệnh nhân nổi nhiều bóng nước Có thể chống ngứa bằng thuốc kháng histamin [13]

- Giảm đau hạ sốt bằng Acetaminophen Không sử dụng Aspirin vì có thể gây hội chứng Reye [13]

1.1.6.5 Phòng ngừa và điều trị bội nhiễm

- Làm sạch da bằng vệ sinh thân thể là quan trọng nhất, bao gồm tắm rửa bằng dung dịch sát trùng và thay quần áo nhiều lần trong ngày, cắt ngắn và vệ sinh móng tay [13]

- Không gãi làm vỡ bóng nước

- Sử dụng kháng sinh khi có dấu hiệu bội nhiễm Khi sử dụng kháng sinh cần chú ý tác nhân gây bệnh Đối với các thương tổn viêm da mủ thường do

Staphylococcus aureus, điều trị bằng Oxacillin hoặc Vancomycin Biến chứng

viêm phổi có thể điều trị bằng kháng sinh Cephalosporin thế hệ 3 (Ceftazidim) hay nhóm Quinolon (Levofloxacin) Chú ý không dùng Quinolon cho phụ nữ

có thai và trẻ em <12 tuổi [13]

1.2 Đặc điểm lâm sàng bệnh thủy đậu

- Thời kỳ ủ bệnh: thay đổi từ 10-21 ngày sau lần tiếp xúc đầu tiên với người nhiễm bệnh , nhưng thường từ 14-17 ngày [12]

- Thời kỳ khởi phát: ở trẻ nhỏ, triệu chứng tiền triệu thường không phổ biến, thường trẻ không chịu chơi và quấy khóc Ở trẻ lớn và người lớn, trước phát ban 2-3 ngày, bệnh nhân thường có các biểu hiện như sốt, ớn lạnh, khó chịu, mệt mỏi, chán ăn, đau lưng [54] Một số tác giả nhận thấy thời kỳ khởi phát bệnh thủy đậu thường ngắn chỉ 1 ngày với các triệu chứng nhức đầu, sổ

Trang 23

mũi, đau cơ, mệt mỏi, sốt và kèm viêm họng, viêm xuất tiết đường hô hấp trên Hồng ban kích thước vài mm, không tẩm nhuận, nổi trên nền da bình thường là tiền thân nốt thủy đậu xuất hiện khoảng 24 giờ trước khi có bóng nước Đối với những bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch thường sốt cao hơn và thời kỳ này kéo dài hơn [9]

Đặc điểm đặc trưng của bệnh thủy đậu là sự biểu hiện đồng thời các thương tổn nhiều lứa tuổi như sẩn, mụn nước, vảy tiết Bệnh nhân được điều trị sớm bằng acyclovir đã hồi phục mà không xuất hiện thêm biến chứng nào [55]

- Thời kỳ toàn phát: sau khi có các dấu hiệu viêm họng từ 24-36 giờ, trên

da xuất hiện những bóng nước hình tròn hoặc hình giọt nước trên viền da màu hồng, có đường kính thay đổi từ 3-13mm Bóng nước lúc đầu chứa dịch trong, sau đó khoảng 24 giờ thì hóa đục do thâm nhiễm tế bào miễn dịch và chuyển thành mụn mủ, sau đó khô dần, bắt đầu từ trung tâm, hình thành các mụn mủ

có rốn lõm rồi đóng vảy tiết Vảy tiết tự bong sau 1-3 tuần, để lại các mảng hồng ban, hơi lõm rồi dần biến mất mà không để lại sẹo trừ trường hợp bội nhiễm [9]

+ Vị trí: ban đầu bóng nước xuất hiện ở thân mình sau đó lan đến mặt và

tứ chi Ở thân mình, mụn nước mọc nhiều ở lưng, vùng liên bả hơn là vị trí xương bả vai và mông Bóng nước mọc nhiều đợt khác nhau trên một vùng da,

do đó có thể thấy bóng nước có nhiều lứa tuổi khác nhau trên cùng một diện tích da: dạng phát ban, dạng bóng nước trong, dạng bóng nước đục và bóng nước già nhất là dạng đóng mài [8]

+ Mụn nước cũng có thể xuất hiện ở màng nhầy của miệng, mũi, hầu, họng, thanh quản, khí quản, đường tiêu hóa, đường tiết niệu, âm đạo Những mụn nước này nhanh chóng vỡ để lại những vết loét nông đường kính 2-3mm Bóng nước mọc ở niêm mạc gây nuốt đau, ói mửa, đau bụng, tiêu chảy, ho, khó thở, tiểu rắt, tiểu máu, Một số bệnh nhân có bóng nước ở mi mắt hoặc kết

Trang 24

mạc mắt Ngứa là triệu chứng khiến bệnh nhân khó chịu nhất, bắt đầu ngay từ khi phát ban cho đến khi tất cả thương tổn đã đóng mài [34]

+ Sốt kéo dài cho đến khi không còn xuất hiện thương tổn mới và thường tỉ

lệ thuận với tình trạng phát ban Đôi lúc, các ca bệnh nhẹ có thể không có sốt nhưng nhiệt độ cũng có thể tăng lên đến 40,5oC trong các trường hợp nặng với nhiều thương tổn Sốt kéo dài hoặc sốt trở lại sau hạ sốt có thể là dấu hiệu của nhiễm trùng thứ phát hay các biến chứng khác

- Thời kỳ hồi phục: sau 1 tuần, hầu hết bóng nước đóng mài, bệnh chuyển sang giai đoạn hồi phục Những bệnh nhân suy giảm miễn dịch hoặc có bệnh

da sẵn có như chàm, sạm da do nắng, thương tổn da sẽ hồi phục chậm hơn Giảm sắc tố da tại vị trí nổi bóng nước kéo dài nhiều ngày đến nhiều tuần nhưng hiếm khi để lại sẹo, nếu có thường là sẹo lõm, hình hạt đậu [34]

Hình 1.1 Thương tổn bệnh thủy đậu

Nguồn: Bệnh viện Da liễu Thành phố Cần Thơ (2022)

Trang 25

1.3 Tổng quan các hoạt chất trong điều trị tại chỗ bệnh thủy đậu

1.3.1.1 Polyhydroxy acid

Hydroxy axid (HAs) đại diện cho một nhóm các hợp chất, như α-hydroxy acids, β-hydroxy acids và Polyhydroxy acids Các ứng dụng của chúng được trình bày như là các tác nhân điều trị và làm đẹp, trong điều trị lão hóa da do ánh nắng, mụn trứng cá, bệnh vảy nến, trứng cá đỏ và các rối loạn sắc tố [37] Các αHA là các cacboxylic acid có một nhóm hydroxyl gắn vào vị trí α của nhóm carboxyl Đại diện đơn giản nhất của αHA là Glycolic acid, là hợp chất đầu tiên của αHA được đưa vào các sản phẩm chăm sóc da Lactic acid, với hoạt tính sinh học tối ưu ở dạng L, cũng được sử dụng trong các công thức thuốc bôi khác nhau để tẩy da chết và cũng để cung cấp các đặc tính chống lão hóa Glycolic acid tăng cường phá huỷ liên kết giữa các tế bào sừng, thúc đẩy quá trình sửa chữa cấu trúc bề mặt của lớp biểu bì, đặc biệt là lớp tế bào sừng nhanh chóng và hiệu quả, từ đó cải thiện kết cấu da, nếp nhăn và sắc tố [46] Ngoài ra, Lactic acid có một vị trí gắn glycoprotein cụ thể trên nguyên bào sợi gây giữ ẩm ở lớp hạ bì và lớp biểu bì Tăng độ ẩm cho da làm tăng thể tích biểu

bì và hạ bì, do đó làm giảm nếp nhăn và tăng độ sáng của da Glycolic acid cũng có tác dụng chống viêm, chống oxy hóa và an toàn khi sử dụng với tất cả các tuýp da Fitzpatrick [41]

Polyhydroxy acids (PHAs) là một thế hệ mới của αHAs, là cacboxylic acid

có 2 hoặc nhiều nhóm hydroxyl gắn với các nguyên tử carbon hoặc chuỗi alicyclic PHAs phổ biến nhất trên thị trường hiện nay là Gluconolactone và Lactobionic acid PHAs cung cấp các tác dụng giữ ẩm tương đương với αHAs, chống oxi hoá và tăng cường hàng rào bảo vệ da PHAs có trọng lượng phân tử cao, tốc độ hấp thu trên da chậm hơn nên giảm kích ứng hơn so với αHAs Bên cạnh đó, PHAs giảm pH da, tạo ra môi trường không thuận lợi cho sự phát triển

Trang 26

của vi khuẩn đồng thời ức chế tế bào hắc tố, giảm tình trạng tăng sắc tố sau viêm [2], [18], [57]

Các nghiên cứu lâm sàng in vivo đã chứng minh các lợi ích có thể đo lường được bao gồm các tác dụng chống lão hóa và làm săn chắc da, giảm kích ứng của các công thức có chứa gluconolactone so sánh với các αHA thường được sử dụng (ví dụ glycolic acid) [32]

Bên cạnh đó, Gluconolactone rất phù hợp để sử dụng bổ trợ với các loại thuốc bôi Nó giúp rút ngắn chu kỳ tế bào biểu bì, giải thích các lợi ích bổ trợ của PHAs trong điều trị mụn trứng cá Một nghiên cứu lâm sàng mù đôi trên bệnh nhân mụn trứng cá từ nhẹ đến trung bình đã chứng minh tác dụng kháng viêm và ít kích ứng của Gluconolactone 14% so với Peroxit 5% [48]

Do trọng lượng phân tử cao 178,14g/mol, PHAs cũng được sử dụng để dưỡng ẩm trong quá trình điều trị bằng các loại thuốc làm khô hoặc gây kích ứng da bao gồm retinoids tại chỗ, Benzyl peroxide và Azelaic acid Lợi ích này

đã được chứng minh trong một nghiên cứu lâm sàng đánh giá hiệu quả của việc

sử dụng bổ sung PHAs kết hợp với Azelaic acid 15% trong điều trị hồng ban Kết quả cho thấy sự cải thiện đáng kể trong triệu chứng toàn thân và hồng ban

ở vách tế bào vi khuẩn gram âm dày 7-8nm Kích thước này cho phép phân tử Zinc oxide tiếp xúc trực tiếp với thành tế bào dẫn đến phá hủy tính toàn vẹn của tế bào vi khuẩn, giải phóng các ion kháng khuẩn Zn2+ ức chế quá trình vận

Trang 27

chuyển tích cực cũng như quá trình chuyển hoá acid amin, phá vỡ hệ thống enzyme, ức chế sự tăng trưởng của tế bào và gây chết tế bào vi khuẩn [51] 1.3.1.3 Methylene blue

Methylene blue hay Methythioninium cloride được điều chế lần đầu tiên năm 1876 bởi nhà hoá học người Đức Heinrich Caro Methylene blue liên kết không hồi phục với acid nucleic của virus và phá vỡ phân tử virus khi tiếp xúc

với ánh sáng Nhờ vậy, Methylene blue được sử dụng để điều trị tại chỗ Herpes

simplex, chốc, viêm da mủ, sát khuẩn đường tiết niệu sinh dục Ngoài tác dụng

sát khuẩn, Methylene blue còn có tác dụng nhuộm màu các mô Tác dụng điều trị và độc tính của Methylene blue được giải thích do sự ức chế hệ thống tín hiệu Nitric oxide/cyclic guanylyl monophosphate (NO/cGMP) và ngăn chặn sự sản xuất Prostacyclin (PGI2) Methylene blue ức chế trực tiếp trên cả Nitric oxide synthase cấu thành (iNOS) và Nitric oxide synthase cảm ứng (NOS) Methylene blue cùng với guanylyl cyclase hòa tan làm tăng thêm sự ức chế hệ thống tín hiệu NO/cGMP Bên cạnh đó, tác dụng kháng viêm của Methylene blue đã được chứng minh bằng cơ chế ngăn chặn sản xuất PGI2 có hoặc không

sự hiện diện của cytokine gây viêm trong các tế bào cơ trơn động mạch phổi của con người và các động mạch thận của chó [29], [56]

1.4 Tình hình nghiên cứu bệnh thủy đậu

1.4.1 Tình hình nghiên cứu bệnh thủy đậu trên thế giới

Nghiên cứu của Tatina T.Todorova (2018) tại Bulgaria ghi nhận trẻ em dưới 10 tuổi chiếm tỉ lệ cao nhất (81%) và 51,8% là nam giới [59]

Chen YF và cộng sự (2020) nghiên cứu đặc điểm bệnh thủy đậu trong gia đình ở Thượng Hải, Trung Quốc năm 2009-2018 đã ghi nhận lây nhiễm xảy ra

ở 278 hộ gia đình, trong đó 134 trường hợp lây nhiễm xảy ra giữa trẻ em; 7,6% các vụ dịch ở trường xuất phát từ lây nhiễm trong gia đình; tỉ lệ lây thứ phát trong gia đình là 70-80% [24]

Trang 28

Irina Brouda và cộng sự (2011) nghiên cứu 24 bệnh nhân vảy nến điều trị tại chỗ bằng kem chứa 20% PHAs 2 lần mỗi ngày trong 2 tuần ghi nhận cải thiện các sang thương vảy nến hiệu quả hơn so với Salicyclic acid 6% [22] Kornphaka Kantikosum (2019) thực hiện nghiên cứu mù đôi trên 25 BN mụn trứng cá mức độ nhẹ - trung bình Mỗi BN đã bôi nửa mặt với Glycolic acid, Salicyclic acid, Gluconolactone và Licochalcone A kết hợp với 0,1% Adapalene; nửa mặt còn lại với 0,1% Adapalene trong 28 ngày Kết quả: nửa bên mặt bôi Glycolic acid, Salicyclic acid, Gluconolactone và Licochalcone A kết hợp với 0,1% Adapalene giảm viêm đáng kể vào ngày thứ 7 điều trị [35]

Godfrey HR (2001) nghiên cứu 46 BN nhiễm Herpes simplex mặt hoặc

quanh miệng Nhóm nghiên cứu (n=23) bôi Zinc oxide, Glycine, nhóm đối chứng (n=23) bôi giả dược Kết quả: nhóm nghiên cứu có thời gian điều trị ngắn hơn và giảm mức độ phồng rộp, đau nhức, ngứa [30]

Agren và cộng sự (2006) nghiên cứu 64 bệnh nhân 17-60 tuổi sau phẫu thuật được điều trị bằng Zinc oxide 3% tại chỗ (n=33) hoặc giả dược (n=31) Thời gian điều trị trung bình là 54 ngày (42-71 ngày) đối với nhóm Zinc oxide

và 62 ngày (55-82 ngày) đối với nhóm giả dược [15]

Nghiên cứu của Ahmad Tavakoli và cộng sự (2018) dùng PCR real-time

xác định tác động ức chế đối với các virus Herpes simplex type 1 (HSV-1) của

các hạt nano Zinc oxide được phủ bằng Polyethylene glycol Kết quả: 200μg/ml hạt nano Zinc oxide được phủ bằng Polyethylene glycol ức chế 92% số lượng bản sao DNA HSV-1 [58]

A Di Altobrando (2019) quan sát 51 bệnh nhân viêm da mủ ở chân trong

10 năm cho thấy nhóm bệnh nhân điều trị tại chỗ bằng Zinc oxide kết hợp với Corticosteroid có tỉ lệ tái phát thấp hơn ở nhóm chỉ điều trị Corticosteroid [25] Nghiên cứu của A Minhas nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học bệnh thuỷ đậu tại Ấn Độ năm 2015-2021 ghi nhận tỉ lệ mắc bệnh cao nhất vào tháng 1 [42]

Trang 29

1.4.2 Tình hình nghiên cứu bệnh thủy đậu tại Việt Nam

Nghiên cứu của Ngô Tùng Dương về đặc điểm lâm sàng bệnh thủy đậu tại bệnh viện 103 (01/2004-6/2007) ghi nhận lứa tuổi mắc bệnh chủ yếu là >16 tuổi (76,5%) Triệu chứng ngứa (59,36%) và rát (37%) Tất cả BN thủy đậu đều

có mệt mỏi (100%) Trong đó viêm long đường hô hấp (97,5%), sốt (77,8%), hạch sưng đau (35,8%) Vị trí thương tổn có ở đầu mặt cổ và thân mình (100%), tay (94,7%), chân (79%) Tất cả bệnh nhân có mụn nước, mụn nước lõm giữa (90,1%), hồng ban (80,2%), mụn mủ (82,7%), vảy tiết (82,7%) Chủ yếu gặp thương tổn có các lứa tuổi khác nhau trên một vùng da của bệnh nhân (82,7%) Mức độ nặng của bệnh chủ yếu là mức độ vừa (59,3%) và nặng (38,2%) Biến chứng chủ yếu là bội nhiễm (38,3%) [6]

Nghiên cứu của Đặng Lê Như Nguyệt về đặc điểm bệnh thủy đậu trẻ em tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 (2/2007-12/2008) ghi nhận tỉ lệ nhập viện cao nhất vào tháng 3 Biến chứng thường gặp nhất là bội nhiễm da (48,3%), kế tiếp là viêm phổi (4,4%) và viêm não - màng não (4,4%) [11]

Nghiên cứu của Quách Thị Hà Giang tại Bệnh viện Da Liễu Trung Ương (2011) cho thấy bệnh gặp nhiều ở lứa tuổi 20-39 tuổi (42,4%) Tất cả bệnh nhân đều có thương tổn ở đầu, mặt, cổ và thân mình; 32,3% bệnh nhân có thương tổn ở niêm mạc Tất cả bệnh nhân có thương tổn cơ bản là mụn nước, hồng ban

là 96,9% Các loại thương tổn khác chiếm tỉ lệ ít hơn như vết trợt 63,1%, mụn

mủ 15,4%, vảy tiết ẩm 13,8% Hầu hết trường hợp đều có ngứa 97% [7] Nghiên cứu của Trần Văn Tiến và Trần Thị Huyền về thủy đậu bội nhiễm tại Bệnh viện Da liễu Trung Ương (2013) cho thấy: hầu hết thương tổn là mụn

mủ và mụn nước lõm giữa xuất hiện đầu tiên ở vùng mặt, sốt (83,3%), thương tổn hồng ban (41,7%), hạch cổ to (8,3%), ngứa (41,7%) [14]

Nghiên cứu của Đoàn Thu Nga về bệnh thuỷ đậu tại Bệnh viện Da liễu Cần Thơ (2015) cho thấy lứa tuổi 21-30 mắc bệnh nhiều nhất (41,5%) Triệu

Trang 30

chứng thường gặp là ngứa (88,3%), sốt (83%), mệt mỏi (66%), sưng hạch ngoại biên (27,7%), viêm đường hô hấp trên (25,5%), đau nhức cơ (19,1%) Thương tổn cơ bản là mụn nước (100%), mụn nước lõm giữa (97,7%), hồng ban (86,2%), mụn mủ (25,5%) Đa số bệnh nhân thuỷ đậu ở mức độ vừa (60,6%),

kế đến là mức độ nhẹ (28,7%), mức độ nặng (10,6%) [10]

Trang 31

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Tất cả bệnh nhân được chẩn đoán thuỷ đậu điều trị tại Bệnh viện Da Liễu Thành phố Cần Thơ từ tháng 7/2020 đến tháng 6/2022

2.1.2 Tiêu chuẩn chọn mẫu

Tiêu chuẩn chẩn đoán: chủ yếu dựa vào lâm sàng

- Thương tổn cơ bản là các mụn nước, đường kính 1-5mm mọc trên nền hồng ban, sau vài ngày vùng trung tâm hơi lõm xuống, có thể vảy tiết

ở phía trên

- Vị trí khu trú: rải rác toàn thân, thường xuất hiện tuần tự từ đầu, mặt đến thân mình và tay chân

- Có thể kèm theo sốt, mệt mỏi, viêm long đường hô hấp

2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ

Bệnh nhân có rối loạn chức năng tim, gan, phổi, thận nặng

Bệnh nhân có tiền sử dị ứng, không dung nạp với Acyclovir, Polyhydroxy acid, Zinc oxide

Bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu

Bệnh nhân bị khiếm khuyết về khả năng nghe nhìn, không thể cung cấp đầy đủ, chính xác thông tin

2.1.4 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

Địa điểm: tại Bệnh viện Da Liễu Thành phố Cần Thơ

Thời gian: từ tháng 7/2020 đến tháng 6/2022

Trang 32

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Mô tả cắt ngang

2.2.2 Cỡ mẫu

𝑛 = 𝑍1−∝ 22 ⁄ 𝑝 × (1 − 𝑝)

𝑑2Trong đó: n: là cỡ mẫu

Z: với mong muốn mức tin cậy là 95% thì 𝑍1−∝ 2⁄ = 1,96

𝑝: tỉ lệ hiệu quả điều trị tại chỗ bệnh thuỷ đậu bằng acyclovir đạt kết quả tốt theo Quách Thị Hà Giang (2011) là 24,6%, chọn 𝑝 = 0,246 [7]

d: là sai số cho phép trong nghiên cứu 4%, 𝑑 = 0,04

n: cỡ mẫu nhóm nghiên cứu (điều trị tại chỗ bằng Zincpaste)

Vậy 𝑛 = 227, bệnh nhân được lấy ngẫu nhiên vào nhóm nghiên cứu 227 bệnh nhân

2.2.3 Phương pháp chọn mẫu

Chọn mẫu thuận tiện các trường hợp bệnh nhân thủy đậu điều trị bằng Zincpaste (Polyhydroxy acid, Zinc oxide) tại Bệnh viện Da Liễu Thành phố Cần Thơ trong thời gian nghiên cứu đến khi đủ mẫu

2.2.4 Nội dung nghiên cứu

2.2.4.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

Tuổi được tính bằng năm Chia thành 7 nhóm:

Trang 33

Nghề nghiệp được chia thành 7 nhóm:

- Trẻ nhỏ: trẻ em ở độ tuổi chưa đi học

- Nông dân: gồm những người lao động ở nông thôn như làm ruộng, làm vườn, làm rẫy bằng dụng cụ thô sơ hay máy móc trong sản xuất nông nghiệp

- Công nhân: gồm những người như thợ hàn, thợ tiện, thợ cơ khí, thợ máy, thợ hồ, trong các cơ sở sản xuất công nghiệp nhà nước hoặc tư nhân

- Công viên chức: gồm những người làm việc trong các tổ chức, đơn vị,

cơ quan của nhà nước và những người thực hiện các công việc mang tính nghiệp

vụ, chuyên môn ở các đơn vị sự nghiệp nhà nước, các tổ chức xã hội

- Học sinh, sinh viên: gồm những người học ở các trường tiểu học, THCS, THPT, đại học, cao đẳng

- Nội trợ

- Nghề khác: gồm những việc làm như buôn bán, thợ làm tóc, tài xế, và một số nghề khác không thuộc các nhóm trên

Trang 34

Nơi cư trú được chia thành 2 nhóm:

- Thành thị: gồm các đối tượng ở trung tâm thành phố, thị trấn, thị xã, nơi tập trung dân cư đông đúc, công nghiệp và thương nghiệp phát triển

- Nông thôn: các đối tượng ở làng, xã, sống bằng sản xuất nông nghiệp Tiền sử tiếp xúc được chia thành 3 nhóm:

- Có tiếp xúc với người mắc bệnh thuỷ đậu

- Không tiếp xúc với người mắc bệnh thuỷ đậu

- Không biết

Tiền sử tiêm chủng thuỷ đậu được chia thành 4 nhóm:

- Tiêm chủng đúng theo khuyến cáo của Ủy ban tư vấn về việc thực hành tiêm chủng (ACIP) và trung tâm phòng ngừa và kiểm soát bệnh tật Hoa Kỳ (CDC) tiêm chủng 2 liều cho trẻ em với liều đầu tiên lúc trẻ 12-15 tháng Liều

2 tiêm lúc trẻ được 4-6 tuổi hoặc cách liều đầu tiên ít nhất 3 tháng Đối với người từ 13 tuổi trở lên, khuyến cáo tiêm 2 liều cách nhau từ 4-8 tuần Đối với trẻ ≥4 tuổi mà chưa được tiêm liều 1 trước đó thì tiêm chủng 2 liều Khoảng cách giữa các liều tối thiểu 3 tháng đối với lứa tuổi <13 tuổi và tối thiểu 4 tuần đối với trường hợp ≥13 tuổi [64]

- Tiêm chủng không đúng: không theo khuyến cáo trên

- Chưa tiêm chủng: bệnh nhân hoặc người nhà nhớ chính xác là bệnh nhân chưa được tiêm chủng bệnh thủy đậu

Trang 35

- Bóng nước là thương tổn nhô cao trên mặt da, bên trong chứa dịch, đường kính >5mm

- Mụn mủ là thương tổn nhô lên trên mặt da, bên trong chứa dịch đục

- Vảy tiết là thương tổn do dịch ở mụn nước khô đọng lại, màu vàng, đỏ sẫm hay nâu đen

- Sẹo là thương tổn lõm dưới mặt da

- Nhiều hơn 1 loại thương tổn

Trang 36

Bảng 2.1 Quy ước mức độ nặng của bệnh

(Nguồn: Bệnh viện Da liễu Trung ương [7])

- Hồng ban dày hơn và

có xu hướng liên kết lại với nhau

- T >37,5°C - 38,5°C

- Ho có đờm

- Đau cơ

- Có từ 2 thương tổn niêm mạc miệng trở lên

- Xung huyết hầu họng

- Hồng ban dày đặc và liên kết lại với nhau

- Xung huyết hầu họng

2.2.4.3 Kết quả điều trị bệnh thuỷ đậu

Điều trị theo phác đồ Bộ Y tế (2015) bao gồm:

- Điều trị toàn thân

+ Kháng virus (Acyclovir 800mg): uống 1 viên 800mg, 5 lần/ngày, trong

7 ngày Trẻ em 2-12 tuổi: uống 20mg/kg (tối đa không quá 800mg), 4 lần mỗi ngày, trong 7 ngày

+ Hạ sốt: uống paracetamol 10 - 15mg/kg/ngày (khi nhiệt độ > 38,5oC)

Trang 37

+ Kháng histamin (Clopheniramin 4mg, Cetirizine 10mg, Loratadin 10mg): AH1 2 viên/ngày, AH2 1 viên/ngày Thời gian dùng đến khi triệu chứng lâm sàng cải thiện

- Điều trị tại chỗ: Zincpaste (Polyhydroxy acid, Zinc oxide)

- Đánh giá mức độ nặng của bệnh thuỷ đậu (nhẹ, trung bình, nặng) sau

5 ngày, sau 10 ngày, sau 15 ngày điều trị

- Đánh giá đáp ứng điều trị sau 15 ngày: tốt, khá, không đáp ứng + Tốt: cải thiện triệu chứng lâm sàng, giảm mức độ nặng của bệnh + Khá: cải thiện triệu chứng lâm sàng nhưng không giảm mức độ nặng của bệnh

+ Không đáp ứng: không cải thiện triệu chứng lâm sàng và không giảm mức độ nặng của bệnh

- Cảm nhận sự hài lòng của bệnh nhân sau 15 ngày điều trị

- Đánh giá tác dụng không mong muốn của thuốc bôi: tăng ngứa da, tăng đỏ da, nóng rát tại chỗ

2.2.5 Phương pháp thu thập và đánh giá số liệu

Tất cả bệnh nhân thuỷ đậu điều trị tại Bệnh viện Da Liễu Thành phố Cần Thơ, mỗi bệnh nhân tham gia nghiên cứu được khảo sát qua phiếu thu thập số liệu (phụ lục 1), với quá trình nghiên cứu như sau:

Bước 1: Hỏi thông tin hành chính, tiền sử, bệnh sử

Bước 2: Thăm khám lâm sàng tìm các thương tổn bệnh thuỷ đậu

- Xác định mức độ nặng của bệnh khi nhập viện: nhẹ, trung bình, nặng (Bảng 2.1)

Bước 3: Theo dõi và ghi nhận các thuốc điều trị, số lần bôi thuốc

Nhóm nghiên cứu: n=227 bệnh nhân

Trang 38

- Toàn thân:

+ Kháng virus (Acyclovir 800mg): uống 1 viên 800mg, 5 lần/ngày, trong

7 ngày Trẻ nhỏ 2-12t: uống 20mg/kg (tối đa không quá 800mg), 4 lần mỗi ngày, trong 7 ngày

+ Hạ sốt: uống paracetamol 10 - 15mg/kg/ngày (khi nhiệt độ > 38,5oC) + Kháng histamin (Clopheniramin 4mg, Cetirizine 10mg, Loratadin 10mg): AH1 2 viên/ngày, AH2 1 viên/ngày Thời gian dùng đến khi triệu chứng lâm sàng cải thiện

- Tại chỗ: Zincpaste (Polyhydroxy acid, Zinc oxide)

+ Thành phần: Zinc oxide, Titan dioxide, Glycerin, Gluconolactone, nước tinh khiết vừa đủ

+ Công dụng: Chăm sóc rôm sảy, hăm kẽ, nước ăn chân, làm khô các thương tổn rỉ dịch, thủy đậu, làm se da, hạn chế tình trạng kích ứng da

+ Cách sử dụng: Lắc đều trước khi sử dụng Thoa ngày 2-3 lần trên vùng

da có nhu cầu

+ TC: 071.027.15

+ SPTN: 031/16/CBMP-CT

+ Sản xuất: CÔNG TY TNHH MỸ PHẨM HỒNG NHUNG

+ Địa chỉ: 14/14 Lý Tự Trọng, P An Cư, Q Ninh Kiều, TP Cần Thơ Bước 4: Đánh giá kết quả điều trị

- Đánh giá mức độ nặng của bệnh thuỷ đậu (nhẹ, trung bình, nặng) sau

5 ngày, sau 10 ngày, sau 15 ngày điều trị

- Đánh giá đáp ứng điều trị sau 15 ngày: tốt, khá, không đáp ứng + Tốt: cải thiện triệu chứng lâm sàng, giảm mức độ nặng của bệnh + Khá: cải thiện triệu chứng lâm sàng nhưng không giảm mức độ nặng của bệnh

Trang 39

+ Không đáp ứng: không cải thiện triệu chứng lâm sàng và không giảm mức độ nặng của bệnh

- Cảm nhận sự hài lòng của bệnh nhân sau 15 ngày điều trị

- Đánh giá tác dụng không mong muốn của thuốc bôi: tăng ngứa da, tăng

Quá trình nhập và mã hoá số liệu được kiểm tra nhiều lần để tránh sai sót

2.2.7 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu

Số liệu được nhập, mã hoá và xử lý bằng phần mềm SPSS 20.0

Các biến định tính được mô tả bằng tần số và tỉ lệ phần trăm

Dùng phép kiểm Crosstabs để mô tả mối liên quan giữa 2 biến định tính Các thông số thống kê được trình bày với khoảng tin cậy 95%

Các kiểm định p<0,05 được xem có ý nghĩa thống kê

Đồ thị, biểu đồ được vẽ bởi phần mềm Microsoft Excel 2013

2.3 Đạo đức trong nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện sau khi thông qua Hội đồng đạo đức trong nghiên cứu y sinh Trường Đại học Y Dược Cần Thơ

Các bước thực hiện tuân thủ theo tiêu chí về đạo đức trong nghiên cứu y học: các đối tượng nghiên cứu được giải thích cụ thể, rõ ràng mục đích, việc sử dụng kết quả, quy trình nghiên cứu

Nghiên cứu thực hiện đều dựa trên tinh thần tự nguyện, không làm tổn hại đến sức khoẻ, đảm bảo tôn trọng bí mật riêng tư cá nhân, đảm bảo không đánh

Trang 40

giá hay xâm phạm các giá trị liên quan đến văn hoá truyền thống, tín ngưỡng của đối tượng Bệnh nhân tham gia nghiên cứu đều bình đẳng với nhau

Ngày đăng: 13/03/2023, 22:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w