Năm 2020, Bệnh viện Đa Khoa tỉnh Trà Vinh quản lý 425 bệnh nhân động kinh, trong đó có khoảng 50 bệnh nhân mới mắc, việc điều trị chủ yếu dựa vào phác đồ của Bộ y tế và kinh nghiệm của c
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ
BIỆN THỊ TRÚC HÀ
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ BỆNH NHÂN ĐỘNG KINH BẰNG
LEVETIRACETAM TẠI BỆNH VIỆN
ĐA KHOA TỈNH TRÀ VINH NĂM 2021 - 2022
LUẬN VĂN CHUYÊN KHOA CẤP II
Cần Thơ - Năm 2022
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ
BIỆN THỊ TRÚC HÀ
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ BỆNH NHÂN ĐỘNG KINH BẰNG
LEVETIRACETAM TẠI BỆNH VIỆN
ĐA KHOA TỈNH TRÀ VINH NĂM 2021 - 2022
Chuyên ngành: Nội Thần Kinh
Mã số: 87.20.15.8.CK
LUẬN VĂN CHUYÊN KHOA CẤP II
Người hướng dẫn khoa học:
BS.CKII Nguyễn Văn Khoe
Cần Thơ – Năm 2022
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả của nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan
và chưa từng được công bố bất kì nơi nào
Tác giả luận văn
Biện Thị Trúc Hà
Trang 4LỜI CÁM ƠN
Tôi xin chân thành cám ơn:
- Ban Giám hiệu trường Đại học Y Dược Cần Thơ
- Ban Giám đốc bệnh viện đa khoa tỉnh Trà Vinh
- Bộ môn thần kinh, khoa Y; phòng đào tạo sau đại học Trường Đại học
Y Dược Cần Thơ đã tạo điều kiện hỗ trợ tôi hoàn thành luận văn này
- Tôi xin chân thành cám ơn BS.CKII Nguyễn Văn Khoe và thầy TS Lê Văn Minh đã dành rất nhiều thời gian quý báu hướng dẫn tôi, những đóng góp chuyên môn quý giá của thầy đã giúp tôi có thêm nhiều kinh nghiệm để hoàn thành luận văn này
- Cuối cùng tôi xin chân thành cám ơn gia đình, đồng nghiệp, bạn bè luôn động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Tác giả luận văn
Biện Thị Trúc Hà
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan
Lời cảm ơn Mục lục Danh mục các chữ viết tắt Danh mục các bảng Danh mục các biểu đồ MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN 3
1.1 Đại cương về bệnh động kinh 3
1.2 Lâm sàng bệnh động kinh 5
1.3 Điều trị bệnh độnh kinh 13
1.4 Các yếu tố liên quan đến kết quả điều trị 21
1.5 Các nghiên cứu điều trị động kinh bằng Levetiracetam 22
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1 Đối tượng nghiên cứu 24
2.2 Phương pháp nghiên cứu 25
2.3 Đạo đức trong nghiên cứu 34
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 36
3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 36
3.2 Đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân động kinh 39
3.3 Kết quả điều trị bệnh nhân động kinh bằng Levetiracetam 43
3.4 Một số yếu tố liên quan đến kết quả điều trị bệnh nhân động kinh 47
Trang 6Chương 4: BÀN LUẬN 55
4.1 Đặc điểm chung 55
4.2 Đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân động kinh 58
4.3 Kết quả điều trị bệnh nhân động kinh bằng Levetiracetam 62
4.4 Một số yếu tố liên quan đến kết quả điều trị bệnh nhân động kinh 66
KẾT LUẬN 71
KIẾN NGHỊ 72 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Epilepsy
Phòng chống động kinh quốc tế
against Epilepsy
Liên hiệp chống động kinh quốc tế
Care Excellence
Viện Y tế và chất lượng điều trị quốc gia Anh
Social Sciences
Phần mềm thống kê cho nghiên cứu khoa học
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1 Đặc điểm về tuổi của bệnh nhân động kinh 36
Bảng 3.2 Đặc điểm về dân tộc của bệnh nhân động kinh 37
Bảng 3.3 Đặc điểm về kinh tế của bệnh nhân động kinh 37
Bảng 3.4 Đặc điểm nghề nghiệp bệnh nhân động kinh 38
Bảng 3.5 Trình độ học vấn bệnh nhân động kinh 38
Bảng 3.6 Tuổi khởi phát động kinh 39
Bảng 3.7 Đặc điểm về triệu chứng trong cơn của bệnh nhân động kinh 41
Bảng 3.8 Đặc điểm về triệu chứng sau cơn của bệnh nhân động kinh 42
Bảng 3.9 Đặc điểm thời gian kéo dài cơn động kinh 43
Bảng 3.10 Liều điều trị Levetiracetam ở bệnh nhân động kinh 44
Bảng 3.11 Kiểm định t ghép cặp về tần số cơn động kinh sau 3 tháng 45
Bảng 3.12 Tác dụng bất lợi khi dùng thuốc Levetiracetam trong 1 tháng 45
Bảng 3.13 Tác dụng bất lợi khi dùng thuốc Levetiracetam sau 3 tháng 46
Bảng 3.14 Kiểm định t ghép cặp về tác dụng bất lợi của thuốc 46
Bảng 3.15 Mối liên quan giữa giới tính và đáp ứng điều trị 47
Bảng 3.16 Mối liên quan giữa dân tộc và đáp ứng điều trị 47
Bảng 3.17 Mối liên quan giữa tình trạng kinh tế và đáp ứng điều trị 48
Trang 9Bảng 3.18 Mối liên quan giữa nghề nghiệp và đáp ứng điều trị 48 Bảng 3.19 Mối liên quan giữa tình trạng hôn nhân và đáp ứng điều trị 49 Bảng 3.20 Mối liên quan giữa tiền sử gia đình và đáp ứng điều trị 49 Bảng 3.21 Mối liên quan giữa tuổi khởi phát động kinh và đáp ứng điều trị 50 Bảng 3 22 Mối liên quan giữa thời gian động kinh và đáp ứng điều trị 50 Bảng 3.23 Mối liên quan giữa phân loại động kinh và đáp ứng điều trị 51 Bảng 3.24 Mối liên quan giữa thời gian kéo dài cơn và đáp ứng điều trị 51 Bảng 3.25 Mối liên quan giữa nguyên nhân động kinh và đáp ứng điều trị 52 Bảng 3.26 Liên quan giữa các nguyên nhân động kinh và đáp ứng điều trị 52 Bảng 3.27 Mối liên quan giữa liều Levetiracetam và kết quả điều trị 53 Bảng 3.28 Mối liên quan giữa liều điều trị và tác dụng phụ 53 Bảng 3.29 Mối liên quan giữa liều điều trị trung bình và tác dụng phụ 54
Trang 10DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Trang Biểu đồ 3.1 Đặc điểm giới tính bệnh nhân động kinh………36
Biểu đồ 3.2 Phân bố nơi sinh sống của bệnh động kinh……….37
Biểu đồ 3.3 Biểu đồ boxplot về tuổi động kinh theo giới tính……… 39
Biểu đồ 3.4 Nguyên nhân gây bệnh động kinh……… 40
Biểu đồ 3.5 Đặc điểm về thời gian bị động kinh………40
Biểu đồ 3.6 Một số yếu tố khởi phát cơn động kinh……… 41
Biểu đồ 3.7 Đặc điểm về tiền triệu của bệnh động kinh………42
Biểu đồ 3.8 Đáp ứng điều trị với thuốc Levetiracetam……… 43
Biểu đồ 3.9 Tỉ lệ giảm tái phát cơn sau điều trị 3 tháng……….44
Trang 11MỞ ĐẦU
Động kinh là một trong những bệnh lý thường gặp nhất của chuyên khoa nội thần kinh Khoảng 50 triệu người trên toàn thế giới đang mắc động kinh, chiếm khoảng 1% gánh nặng toàn cầu về bệnh tật nói chung [57] Ở Việt Nam, tỉ
lệ mới mắc khoảng 42/100.000 dân/năm [24] Báo cáo của Bệnh viện tâm thần thành phố Hồ Chí Minh cho thấy tỉ lệ bệnh động kinh ở Việt Nam khoảng 0,33%
và ở thành phố Hồ Chí Minh là 0,5% [1] Số bệnh nhân động kinh không được điều trị đầy đủ còn cao ở các quốc gia đang phát triển từ 50-80%, đặc biệt tại các vùng nông thôn [14], [42]
Điều trị động kinh cần được cá thể hóa theo tuổi, loại động kinh, khả năng kinh tế và thường bắt đầu bằng đơn trị liệu, khi thất bại sẽ chuyển sang đa trị liệu [2], [42] Mục tiêu điều trị bằng thuốc cho bệnh nhân động kinh nhằm kiểm soát cơn động kinh với liều thuốc tối ưu và hạn chế tối thiểu tác dụng phụ của thuốc [39] Hiện nay có nhiều thuốc chống động kinh trên thị trường, các loại thuốc cổ điển vẫn được sử dụng phổ biến tại Việt Nam như carbamazepin, natri valproate
là thuốc thường gặp, dễ tìm, giá thành thấp, tác dụng trên hầu hết các thể động kinh, tuy nhiên sự xuất hiện các thuốc thế hệ mới giúp bệnh nhân động kinh có nhiều lựa chọn và tuân thủ điều trị tốt hơn do thuốc ít có tác dụng phụ, ít tương tác với các thuốc khác Levetiracetam là một trong những thuốc chống động kinh thế hệ mới có hiệu quả tốt trong tất cả các loại động kinh, ít tác dụng phụ, ít tương tác thuốc và không cần theo dõi nồng độ thuốc trong huyết thanh, điều này làm cho Levetiracetam trở thành ưu tiên chọn lựa cho điều trị khởi đầu hay thay thế các thuốc chống động kinh khác [17], [42], [47]
Trang 12Năm 2020, Bệnh viện Đa Khoa tỉnh Trà Vinh quản lý 425 bệnh nhân động kinh, trong đó có khoảng 50 bệnh nhân mới mắc, việc điều trị chủ yếu dựa vào phác đồ của Bộ y tế và kinh nghiệm của các bác sĩ, chưa có một nghiên cứu đánh giá hiệu quả điều trị của từng phác đồ, nhất là thuốc chống động kinh thế hệ mới như Levetiracetam Chính vì thế nhóm nghiên cứu chúng tôi thực hiện đề tài
“Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và đánh giá kết quả điều trị bệnh nhân
động kinh bằng Levetiracetam tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Trà Vinh năm
2021 - 2022” với các mục tiêu sau:
1 Mô tả đặc điểm lâm sàng bệnh nhân động kinh được điều trị bằng Levetiracetam tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Trà Vinh năm 2021-2022
2 Đánh giá kết quả điều trị bệnh nhân động kinh bằng Levetiracetam tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Trà Vinh năm 2021-2022
3 Khảo sát một số yếu tố liên quan đến kết quả điều trị bệnh nhân động kinh bằng Levetiracetam tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Trà Vinh năm 2021-2022
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Đại cương về bệnh động kinh
1.1.1 Định nghĩa
Thuật ngữ “động kinh” xuất phát từ tiếng Hy Lạp có nghĩa là “bị co giật” hay bị tấn công với ý niệm là sự trừng phạt của thượng đế hay các thế lực ác độc Khoảng 400 năm trước công nguyên, Hippocrates viết cuốn sách đầu tiên về bệnh động kinh “On the Scared Disease”, trong đó ông mô tả lâm sàng bệnh động kinh [11]
Từ năm 1997, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) cùng với hai tổ chức động kinh thế giới là Liên hiệp Quốc tế Chống Động kinh (ILAE) và Phòng chống Động Kinh Quốc tế (IBE) đã cố gắng nâng tầm hiểu biết về động kinh trên thế giới [10] WHO và ILAE xác định: “Động kinh là tình trạng xác định bởi cơn động kinh không do sốt cao, tái phát từ 2 cơn trở lên, cách nhau trên 24 giờ và không bị kích thích lên cơn bởi các nguyên nhân được xác định tức thì, các rối loạn chuyển hóa cấp tính hoặc sự ngừng thuốc hay rượu đột ngột” [3]
1.1.2 Dịch tễ học
Theo một thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới công bố năm 2005 [56], tỉ lệ hiện mắc động kinh trên thế giới vào khoảng 0,5% đến 1% dân số, thay đổi tùy theo địa lý, như ở Pháp và ở Mỹ là khoảng 0,85%; Canada là 0,6%
Tỉ lệ mới mắc trung bình hàng năm là 20-70 người trong 100.000 dân Tỉ
lệ này có sự khác nhau giữa các khu vực và các quốc gia [3]
Trang 14Trong khoảng 60% những bệnh nhân xuất hiện co giật, điều trị ban đầu là hoàn toàn có hiệu quả, thời gian trung bình của hoạt động động kinh thường ngắn (<5 năm) trong khoảng 50% trường hợp Trong 40% số bệnh nhân còn lại,
co giật vẫn tiếp tục diễn ra mặc dù đã được điều trị ban đầu, do đó cần có các biện pháp điều trị thay thế [5]
Khoảng 1/3-1/2 trẻ em và khoảng 1/5 người trưởng thành bị động kinh có thêm vấn đề khó khăn trong học tập 18% người trưởng thành mắc bệnh động kinh mới được chẩn đoán có khiếm khuyết nhận thức, 6% có khiếm khuyết vận động và 6% có rối loạn tâm thần nặng Có khoảng 1 trong số 15 bệnh nhân động kinh bị phụ thuộc vào người khác trong cuộc sống hàng ngày vì động kinh và các khuyết tật kèm theo tình trạng này [5]
Lứa tuổi: khoảng 50% số bệnh nhân động kinh dưới 10 tuổi và đến 75%
số người động kinh dưới 20 tuổi Tuổi càng lớn thì tỉ lệ bị động kinh càng thấp, nhưng đến tuổi 60 trở lên thì tỉ lệ động kinh lại tăng lên, tỉ lệ gặp khoảng 0,1% (P.Loiseau 1990) Giới tính: tỉ lệ động kinh ở nam cao hơn nữ Tính chất gia đình: khoảng 10- 25% bệnh nhân động kinh có yếu tố gia đình [5]
1.1.3 Nguyên nhân
Có nhiều nguyên nhân gây động kinh, nhưng có thể xếp vào 2 nhóm chính
là bệnh lý thần kinh nguyên phát và các nhóm bệnh khác như sau [3]:
- Các bệnh thần kinh nguyên phát:
+ Co giật lành tính do sốt ở trẻ em: xảy ra từ 2-4% trẻ em từ 3 tháng đến 5 tuổi Thường xảy ra trong ngày sốt đầu tiên và không có biểu hiện của nhiễm trùng hệ thần kinh trung ương (viêm não, viêm màng não), không có biểu hiện tổn thương khu trú hệ thần kinh trung ương Tiền sử gia đình có thể có người bị
co giật tương tự hoặc các chứng co giật lành tính khác
Trang 15+ Động kinh căn nguyên ẩn: chiếm 75% số bệnh nhân động kinh Tuổi phát bệnh thường từ nhỏ đến 25 năm Trong đó có 75% có cơn đầu tiên trước tuổi 18 Không phải tất cả các bệnh nhân vô căn đều sẽ có cơn tái phát sau cơn lần đầu mà chỉ khoảng 30-70%
+ Đột quỵ não: khoảng 5-15% bệnh nhân đột quỵ có các cơn co giật Các
dị dạng mạch máu chưa vỡ cũng có thể gây động kinh do kích thích các tổ chức xung quanh não
+ Viêm màng não, viêm não: do vi khuẩn, virus, lao, nấm, ký sinh trùng + Khối u nội sọ như u não, áp xe não 50% các u não gây động kinh trên lâm sàng Đặc điểm động kinh do u não là động kinh cục bộ và thường xảy ra muộn (sau tuổi 40)
- Các bệnh khác:
Ngoài nhóm bệnh lý thần kinh nguyên phát, một số nguyên nhân khác có thể gây động kinh như: giảm đường huyết (hypoglucemia), hạ natri huyết (hyponatremia), hạ canxi huyết, tăng urea huyết, bệnh thoái hóa gan-não, porphyria, dùng thuốc quá liều, thiếu máu não toàn bộ do ngưng tim, bệnh não
tăng huyết áp, sản giật, tăng thân nhiệt…
1.2 Lâm sàng bệnh động kinh
1.2.1 Phân loại chung về co giật và các cơn động kinh
Cũng như các bệnh lý khác, lâm sàng vẫn là bước khởi đầu trong quá trình tiếp cận chẩn đoán, điều trị cũng như nghiên cứu về động kinh Phân loại co giật
và động kinh đã được ILAE đề xuất vào những năm 1970 Từ đó đến nay, các phân loại này đã được bổ sung, cập nhật dựa trên những tiến bộ trong nghiên cứu
về động kinh Vào năm 1981, ILAE đã đưa ra bảng phân loại đầu tiên về các cơn
co giật và các kiểu động kinh trên lâm sàng với các thuật ngữ thống nhất [27]
Trang 161.2.1.1 Bảng phân loại các cơn co giật và các kiểu cơn động kinh của ILAE 1981
* Cơn cục bộ
- Cơn cục bộ đơn giản (không rối loạn ý thức)
+ Với triệu chứng vận động: cục bộ vận động - không lan toả; cục bộ với hành trình Jackson; cơn quay; tư thế; rối loạn phát âm
+ Với triệu chứng cảm giác hoặc giác quan (ảo giác thô sơ): cảm giác cơ thể; thị giác; thính giác; khứu giác; vị giác; chóng mặt
+ Với dấu hiệu hoặc triệu chứng thực vật
+ Với triệu chứng tâm trí (rối loạn chức năng cao cấp, hiếm khi biến đổi ý thức): rối loạn nói; rối loạn trí nhớ (ví dụ cảm giác đã thấy rồi); nhận thức (ví dụ trạng thái mê mộng, rối loạn nhận thức thời gian); cảm tính (sợ hãi, giận dữ); ảo tưởng (ví dụ thấy to ra); ảo giác có cấu trúc (ví dụ âm nhạc, cảnh tượng)
- Cơn cục bộ phức tạp (có rối loạn ý thức)
+ Khởi phát cục bộ đơn giản tiếp theo là rối loạn ý thức: với các triệu chứng cục bộ đơn giản, tiếp theo là rối loạn ý thức; với các biểu hiện tự động
+ Khởi phát rối loạn ý thức: có rối loạn ý thức; với các biểu hiện tự động
- Cơn cục bộ toàn thể hoá thứ phát
+ Cơn cục bộ đơn giản tiến triển sang toàn bộ hoá thứ phát
+ Cơn cục bộ phức tạp tiến triển sang toàn bộ hoá thứ phát
+ Cơn cục bộ đơn giản tiến triển sang cơn cục bộ phức tạp rồi toàn bộ hoá thứ phát [16]
Trang 17Kèm theo yếu tố giật cơ (clonic)
Kèm theo yếu tố mất trương lực (atonic)
Kèm theo yếu tố tăng trương lực (tonic)
Kèm theo biểu hiện tự động
Kèm theo yếu tố thực vật
+ Cơn vắng ý thức không điển hình:
Biến đổi trương lực nặng hơn cơn vắng ý thức điển hình
Khởi phát và/ hoặc kết thúc ít đột ngột
- Cơn giật cơ (myoclonic)
- Cơn giật (clonic)
- Cơn co cứng (tonic)
- Cơn co cứng-co giật (tonic - clonic)
- Cơn mất trương lực (atonic)[16]
* Cơn chưa phân loại được [16]
+ Động kinh cục bộ liên tục tiến triển mạn tính ở trẻ em
+ Có đặc điểm là các cơn do các phương thức đặc hiệu thúc đẩy gây ra + Các hội chứng khác theo khu trú hoặc nguyên nhân
Trang 18Động kinh thuỳ thái dương
Động kinh thuỳ trán
Động kinh thuỳ chẩm
Động kinh thuỳ đỉnh
Căn nguyên ẩn [27]
* Động kinh và hội chứng toàn bộ
- Nguyên phát (khởi phát liên quan đến tuổi)
+ Co giật sơ sinh lành tính gia đình
+ Co giật sơ sinh lành tính
+ Động kinh giật cơ lành tính tuổi thơ
+ Động kinh cơn vắng ý thức ở trẻ em
+ Động kinh cơn vắng ý thức thiếu niên
+ Động kinh giật cơ thiếu niên
+ Động kinh cơn lớn lúc tỉnh giấc
+ Động kinh toàn bộ nguyên phát (không nêu ở trên)
+ Động kinh với các cơn do các phương thức đặc hiệu thúc đẩy gây ra (động kinh do ánh sáng) [27]
- Căn nguyên ẩn và/hoặc triệu chứng
+ Hội chứng West
+ Hội chứng Lennox-Gastaut
+ Động kinh với cơn giật cơ - mất trương lực
+ Động kinh với cơn vắng ý thức giật cơ
+ Không có nguyên nhân đặc hiệu: bệnh não giật cơ sớm, bệnh não động kinh trẻ em sớm, động kinh toàn bộ triệu chứng (không nêu ở trên)
+ Hội chứng đặc hiệu [27]
Trang 19* Động kinh và hội chứng không xác định được cục bộ hay toàn bộ
- Với cơn toàn bộ và cục bộ:
+ Cơn động kinh sơ sinh
+ Động kinh giật cơ nặng tuổi thơ
+ Động kinh có nhọn - sóng liên tục khi ngủ
+ Động kinh thất ngôn mắc phải (hội chứng Laudau-Kleffner)
+ Các động kinh khác không rõ cục bộ hay toàn bộ (không nêu ở trên)
- Không rõ đặc điểm cục bộ hoặc toàn bộ [27]
* Hội chứng đặc biệt
- Cơn liên quan đến một trạng thái
+ Co giật do sốt cao
+ Cơn chỉ xảy ra trong bối cảnh của rối loạn chuyển hoá cấp
- Cơn đơn độc hoặc động kinh liên tục đơn độc
Gần đây nhất, liên hội quốc tế chống động kinh lại đưa ra khung phân loại mở rộng các kiểu cơn động kinh, phiên bản 2017 Trước đây, nguồn gốc phóng lực động kinh thường bắt nguồn ở vỏ não Nhưng theo phân loại năm 2017, nguồn gốc phóng lực này đã thay đổi Động kinh cục bộ là do cơn động kinh bắt nguồn
từ mạng lưới phóng lực động kinh khu trú tại một bán cầu đại não Động kinh toàn thể được quan niệm là do khởi nguồn từ điểm nào đó gắn kết nhanh vào mạng lưới phóng lực động kinh phân bố ở cả 2 bán cầu đại não [27]
1.2.1.3 Phân loại mở rộng các cơn động kinh, phiên bản 2017
Nhóm 1: Cơn với khởi phát cục bộ
Ý thức giữ nguyên trong cơn và ý thức bị suy giảm trong cơn
Khởi phát với các biểu hiện vận động
- Các cơn tự động
Trang 20- Cơn giật cứng-giật rung
- Cơn giật rung
- Cơn giật cứng
- Cơn giật cơ
- Cơn giật cơ-giật cứng-giật rung
- Cơn giật cơ-mất trương lực
- Cơn mất trương lực
- Các cơn co thắt động kinh [49]
Các biểu hiện không vận động (cơn vắng)
- Cơn vắng điển hình
Trang 21- Cơn vắng không điển hình
- Cơn vắng kèm giật cơ
- Cơn vắng kèm giật rung mi mắt [49]
Nhóm 3: cơn với khởi phát không xác định là cục bộ hay toàn thể
- Không phân loại được
* Cơn co thắt động kinh (epileptic spasms) còn được gọi là cơn co thắt trẻ bú mẹ hay cơn co thắt trẻ nhũ nhi (infantile spasms) hoặc theo cách gọi kinh điển là hội chứng West (West syndrome) [49]
+ Tiêu chuẩn lâm sàng: dựa vào định nghĩa và các loại cơn động kinh đã
mô tả Có từ 2 cơn trở lên, cơn xuất hiện đột ngột, xảy ra trong thời gian ngắn, hồi phục nhanh, có tính định hình, liên quan đến vận động, cảm giác, giác quan,
ý thức và tâm thần Hai cơn động kinh thời gian cách nhau ít nhất là 24 giờ [9]
+ Tiêu chuẩn điện não: có xuất hiện các hoạt động kịch phát dạng động kinh Những trường hợp chưa có hoạt động kịch phát trên bản ghi điện não đồ
Trang 22nhưng trên lâm sàng có ít nhất 2 cơn động kinh điển hình cách nhau trêm 24 giờ vẫn được xem là động kinh [9]
1.2.2.2 Cận lâm sàng
Điện não đồ [6]
Động kinh cơn lớn
Trong cơn:
- Trước cơn một vài giây xuất hiện rãi rác các sóng chậm biên độ thấp
- Giai đoạn cứng cơ: xuất hiện các loại kịch phát nhọn biên độ cao, tần số nhanh trên tất cả các đạo trình
- Giai đoạn co giật: đa nhọn hoặc đa nhọn - sóng kéo dài 20-30 giây
- Giai đoạn sau cơn: xuất hiện các sóng chậm, có thể tồn tại nhiều ngày
Ngoài cơn:
- Loạn nhịp điện não xen kẽ sóng chậm, biên độ lớn hoặc các nhọn
- Có thể thấy các loại kịch phát như trong cơn
Động kinh cơn giật cơ: đa nhọn-sóng 2 bên, đối xứng (ít hay nhiều)
Cơn trương lực: phóng điện đa nhọn tăng dần
Động kinh cơn nhỏ (vắng ý thức điển hình)
Trong cơn: xuất hiện đột ngột các loại kịch phát phức bộ nhọn - sóng 3Hz, hai bên, đồng thời, đối xứng, thời gian 5-8 giây
Ngoài cơn: xuất hiện phức bộ kịch phát nhọn sóng chậm hai bên, đối xứng và từng đợt các chớp nhọn, đối xứng
CT Scan sọ não
Được sử dụng trong cấp cứu để loại trừ các sang thương cấu trúc rõ ràng Tuy khả năng phát hiện tổn thương nhu mô não của CT scan trong bệnh động kinh
Trang 23tương đối thấp nhưng có thể phát hiện các vùng vôi hóa hay xuất huyết não rất nhạy [9]
MRI sọ não:
MRI với độ phân giải tốt hơn sẽ cho chẩn đoán chính xác hơn MRI não nên được thực hiện theo protocol với các bệnh nhân động kinh bao gồm các lớp cắt vành mỏng (coronal) qua kỹ thuật fast spin echo hay FLAIR ở vùng nghi sinh động kinh Không phải tất cả các bất thường trên MRI (như xơ cứng hồi hải mã,
u mạch hang, u thần kinh đệm và các dị dạng võ não) đều gây ra động kinh và cũng không phải tất cả các cơn động kinh đều bắt nguồn từ các bất thường này
Do vậy, cần thiết lập các dữ liệu lâm sàng và điện sinh lý cho thấy các sang thương này gây ra các cơn động kinh MRI được chỉ định khi [10]:
- Khởi phát cơn động kinh ở mọi lứa tuổi với bằng chứng cơn cục bộ dựa vào bệnh sử hoặc điện não đồ
- Khởi phát các cơn không phân loại hay các cơn toàn thể trong năm đầu tiên cuộc đời hay ở người lớn
- Bằng chứng dấu thần kinh cục bộ khi khám lâm sàng
- Khó kiểm soát cơn động kinh với các thuốc hàng đầu
- Mất kiểm soát cơn động kinh hay thay đổi kiểu cơn động kinh mà gợi ý có thể xuất hiện sang thương tiến triển
1.3 Điều trị
1.3.1 Nguyên tắc điều trị
- Bệnh nhân có ít nhất 2 cơn co giật, thời gian giữa 2 cơn co giật cách nhau ít nhất 24 giờ, nguyên tắc cắt cơn co giật, giảm tần số cơn, cường độ cơn co giật, đơn trị liệu với liều tối ưu không đat hiệu quả thì đa trị liệu
Trang 24- Thuốc chống động kinh là phương pháp duy nhất để bảo vệ khỏi cơn động kinh Nhiều trường hợp điều trị chống động kinh là phương pháp hữu hiệu đưa bệnh nhân ra khỏi tình trạng cấp cứu, dự phòng các di chứng do nguy cơ động kinh gây ra
- Cần phải cân nhắc khi quyết định dùng thuốc vì hiệu lực của thuốc đều có giới hạn, điều trị động kinh là điều trị triệu chứng Thuốc có tác dụng phụ chỉ có thầy thuốc là người đưa ra quyết định liều lượng và thời gian dùng thuốc của bệnh nhân [9]
1.3.2 Lựa chọn thuốc chống động kinh
- Lựa chọn thuốc theo phác đồ của Bộ Y tế [2], [42]
- Chọn một hoặc hai hoặc ba thuốc trong số các thuốc theo bảng 1.1 và 1.2 Ngoài ra một số thuốc kháng động kinh đang được nghiên cứu: logisamon, remacemid, pregabalin…
Điều trị các rối loạn tâm thần, các bệnh cơ thể đồng mắc Thuốc hỗ trợ chức năng gan, thuốc tăng cường nhận thức,
Dinh dưỡng: bổ sung dinh dưỡng, vitamin và yếu tố vi lượng, chế độ ăn, nuôi dưỡng đường tĩnh mạch…
1.3.3 Đối với phụ nữ có thai và cho con bú
Những bà mẹ bị động kinh có nguy cơ bị sảy thai, đẻ non cao hơn do những chấn thương vùng bụng trong cơn động kinh và gia tăng tỷ lệ thai chết lưu Trẻ sinh ra từ bà mẹ động kinh có nguy cơ bị chậm phát triển trí tuệ và các cơn co giật giống động kinh ở thế hệ con cháu tăng lên gấp đôi, vì thế vẫn phải điệu trị động kinh ở phụ nữ mang thai Tuy nhiên thuốc chống động kinh có thể gây dị tật thai nhi và bài tiết qua sữa mẹ nên phải thận trọng khi sử dụng các thuốc kháng động kinh cho phụ nữ có thai và cho con bú [2]
Trang 25Bảng 1.1 Các thuốc chống động kinh cổ điển Tên thuốc và tên
thương mại
Thời gian bán hủy (giờ)
Liều lượng trẻ
em (TE), người lớn (NL)
Chỉ định
Carbamazepin (CBZ,
Tegretol CR)
8-19 giờ (TE) 5-16 giờ (NL)
TE: 10-30mg/Kg NL: 10-12mg/Kg (Uống 1-2 lần)
Động kinh cục bộ đơn giản hoặc phức tạp
Phenytoin (PHT,
Epanutin, Epilantin,
Phenydan)
12-22 giờ (TE) 8-60 giờ (NL)
TE: 5-7mg/Kg NL: 3-5mg/Kg (Uống 3 lần)
TE: 4mg/Kg NL: 3mg/Kg (Uống 1-2 lần)
Động kinh toàn thể, cơn cục bộ
NL: 10mg/ngày
TE: 30mg/Kg NL: 20-30mg/Kg (Uống 1-2 lần)
Động kinh toàn thể, động kinh cục bộ
Ethosuximid (ESM,
Suxinitin)
30 giờ (TE) 50-60 giờ (NL)
TE: 4mg/Kg NL: 3mg/Kg
Động kinh cơn vắng
Nguồn: Quyết định 2058/QĐ-BYT của Bộ y tế ngày 14/05/2020 [2]
Trang 26Bảng 1.2 Các thuốc chống động kinh thế hệ mới Tên thuốc và tên
thương mại
Thời gian bán hủy (giờ)
Liều lượng trẻ em (TE), người lớn (NL)
Cơn cục bộ hoặc cơn toàn thể
(Trileptal)
NL: 600-2400mg/ngày (Uống chia 2 lần)
Không dung nạp với carbamazepin Động kinh cục bộ
và toàn thể Topiramat
(Topamax)
NL: bắt đầu 25-50mg Sau: 200-
400mg/Kg/ngày (Uống chia 1-2 lần)
Động kinh kháng thuốc Cơn cục bộ
Levetiracetam
(Keppra)
động kinh
Nguồn: Quyết định 2058/QĐ-BYT của Bộ y tế ngày 14/05/2020 [2]
1.3.4 Theo dõi điều trị
Chủ yếu số cơn, cần có sổ ghi chép cơn
- Phát hiện tác không mong muốn bằng cách hỏi và khám lâm sàng: rối loạn tiêu hóa, chóng mặt, mệt mỏi, ban đỏ da, xét nghiệm sinh hóa, huyết học khi cần
Trang 27- Dùng điện não theo dõi điều trị ít có tác dụng vì EEG rất thất thường: có thể
có cơn lâm sàng và điện não, ngược lại điện não bình thường nhưng bệnh nhân vẫn xuất hiện cơn
- Định hướng thuốc: chỉ có ích khi dùng một vài loại thuốc hoặc ảnh hưởng khi bệnh nhân có bệnh lý gan, thận, có thai, kháng thuốc, ngộ độc thuốc
1.3.5 Ngưng thuốc
Thường khó quyết định khi nào (thậm chí không khi nào) có thể ngừng điều trị thuốc chống động kinh Quyết định nên được một thầy thuốc chuyên khoa đưa ra do họ có khả năng tính được nguy cơ tái phát động kinh Khoảng 40% bệnh nhân ngừng điều trị sẽ có cơn co giật khi giảm dần thuốc trong vòng 2 năm tới (so với 20% bệnh nhân tiếp tục dùng thuốc) Các yếu tố ảnh hưởng đến nguy
cơ tái phát động kinh bao gồm [5]:
- Thời gian lui bệnh: thời gian bệnh nhân không có cơn co giật trước khi giảm liều thuốc càng dài thì cơ hội tái phát cơn giật càng thấp Nguy cơ tái phát co giật chung sau khi ngừng thuốc, ví dụ, trường hợp với giai đoạn không có cơn co giật
- Bất thường trên điện não đồ: tồn tại dai dẳng của nhọn sóng (spike wave) trong động kinh toàn thể hóa vô căn chỉ báo cho nguy cơ tái phát cao hơn Các bất thường điện não đồ khác không có giá trị tiên lượng
Trang 281.3.6 Thuốc Levetiracetam
Levetiracetam được Ủy ban thực phẩm và dược phẩm Mỹ cho phép điều trị động kinh vào năm 1999, ở Châu Âu là năm 2000 Hiện nay Levetiracetam được nhiều nước trên thế giới và Việt Nam đưa vào phác đồ điều trị động kinh [2], [20], [42]
1.3.6.1 Ưu điểm
Là thuốc chống động kinh có phổ rộng, có thể đơn trị liệu hay phối hợp với các thuốc chống động kinh khác Levetiracetam được chỉ định trong tất cả các thể động kinh Hiệu quả nhất là động kinh cục bộ có hoặc không kết hợp đồng kinh toàn thể thứ phát ở trẻ em và người lớn Tác dụng của thuốc có thể so sánh với carbamazepin và natrivalproate Thuốc dung nạp tốt và ít ảnh hưởng đến nhận thức [43]
1.3.6.2 Tác dụng phụ
- Rất thường gặp: viêm mũi họng, buồn ngủ, đau đầu
- Thường gặp: chán ăn, trầm cảm, mất ngủ, lo lắng, gây hấn, bồn chồn, rối loạn thăng bằng, chóng mặt, đau bụng, tiêu chảy, khó tiêu, phát ban, suy nhược, mệt mỏi
- Không phổ biến: tăng cân, có ý định tử tự, rối loạn tâm thần, hành vi bất thường, ảo giác, hoảng sợ, không ổn định về cảm xúc, hay quên, suy giảm trí nhớ, dị cảm, mất tập trung, song thị, nhìn mờ, rụng tóc, chàm, ngứa, yếu cơ, đau
cơ [44], [54]
1.3.6.3 Dược động học
Thời gian bán hủy khoảng 7 giờ, ở trẻ em có thể ngắn hơn, thuốc bài tiết qua sữa mẹ [44], [54]
Trang 29- Lúc có thai và lúc nuôi con bú: không nên sử dụng Levetiracetam trong khi mang thai trừ khi thật cần thiết… [44], [54]
1.3.6.5 Tương tác thuốc của Levetiracetam
Không có bằng chứng lâm sàng về tương tác thuốc giữa Levetiracetam và các thuốc chống động kinh khác Cũng không ghi nhận tương tác có ý nghĩa giữa Levetiracetam và một loại thuốc nào khác [44], [54]
1.3.6.6 Liều lượng và cách dùng
Thuốc có thể uống trong hoặc ngoài bữa ăn Liều mỗi ngày được chia đều cho 2 lần uống [44], [54]
- Đơn trị liệu: người lớn và vị thành niên từ 16 tuổi có liều khởi đầu là 250
mg hai lần mỗi ngày và tăng lên đến 500 mg hai lần mỗi ngày sau 2 tuần Liều này vẫn có thể tiếp tục tăng lên thêm 250 mg hai lần mỗi ngày cho mỗi 2 tuần tùy vào đáp ứng lâm sàng Liều tối đa là 1500 mg hai lần mỗi ngày
- Điều trị kết hợp:
+ Người lớn (> 18 tuổi) và vị thành niên (12 đến 17 tuổi) cân nặng 50
kg trở lên có liều khởi đầu là 500 mg hai lần mỗi ngày Căn cứ trên đáp ứng lâm sàng và tính dung nạp thuốc thì có thể tăng liều lên tới 1500 mg hai lần mỗi
Trang 30ngày Điều chỉnh liều tăng lên hoặc giảm xuống 500 mg hai lần mỗi ngày cho mỗi khoảng thời gian từ 2-4 tuần
+ Người già (từ 65 tuổi trở lên): chỉnh liều dựa trên chức năng thận + Trẻ em từ 4 đến 11 tuổi và vị thành niên (12 đến 17 tuổi) cân nặng
ít hơn 50 Kg: liều điều trị ban đầu là 10 mg/Kg hai lần mỗi ngày Căn cứ trên đáp ứng lâm sàng và tính dung nạp thuốc thì có thể tăng liều lên tới 30 mg hai lần mỗi ngày Điều chỉnh liền tăng lên hoặc giảm xuống không nên vượt quá 10
mg hai lần mỗi ngày cho mỗi 2 tuần
+ Liều ở trẻ em từ 50 Kg trở lên thì giống với liều của người lớn + Bệnh nhân suy gan: không cần chỉnh liều đối với bệnh nhân suy gan từ mức độ nhẹ đến trung bình Đối với bệnh nhân suy gan nặng thì độ thanh thải creatinine có thể không đánh giá hết được mức độ suy thận Vì vậy nên giảm 50% liều duy trì hàng ngày khi độ thanh thải creatinine dưới 70 mL/phút Bệnh nhân suy thận: điều chỉnh theo độ thanh thải creatinine
Bảng 1.3 Điều chỉnh liều Levetiracetam theo độ thanh thải creatinine
Độ thanh thải creatinin
(mL/phút) Liều (mg) Khoảng cách giữa 2 liều (giờ)
Nguồn: Levetiracetam Drug information [54]
Trang 311.3.6.8 Thời gian điều trị
Thời gian điều trị bệnh động kinh từ 1 đến 2 năm bệnh nhân được đánh giá mỗi lần tái khám, theo dõi chức năng thận mỗi 3-6 tháng, giảm liều dựa vào lâm sàng, tiêu chuẩn ngưng thuốc dựa vào lâm sàng hết cơn co giật, điện não đồ bình thường
Thời gian lui bệnh: thời gian bệnh nhân không có cơn co giật trước khi giảm liều thuốc càng dài thì cơ hội tái phát cơn co giật càng thấp Nguy cơ tái phát cơn co giật chung sau khi ngừng thuốc, thí dụ trường hợp với giai đoạn không có cơn co giật là 5 năm, sẽ là dưới 10%
Thời gian động kinh hoạt động: thời gian có bệnh động kinh càng ngắn, nguy cơ tái phát càng ít, loại cơn co giật và mức độ nặng của động kinh: động kinh triệu chứng, cơn rung giật cơ hoặc cơn co giật toàn thể hóa, thiếu sót về thần kinh hoặc mất khả năng học tập làm giảm rất nhiều cơ hội thuyên giảm bệnh
Bất thường trên điện não đồ: tồn tại dai dẳng của sóng nhọn (spike wave) trong động kinh toàn thể hóa vô căn chỉ báo có nguy cơ tái phát cao hơn Các bất thường điện não đồ khác không có giá trị tiên lượng, hội chứng co giật tiên lượng thay đổi theo các hội chứng khác nhau
1.4 Các yếu tố liên quan đến kết quả điều trị bệnh nhân động kinh bằng Levetiracetam
Có nhiều yếu tố liên quan đến kết quả điều trị động kinh như loại động kinh, nguyên nhân, thuốc điều trị, thời gian điều trị, nồng độ thuốc chống động kinh trong máu [3] Tùy theo nghiên cứu của mỗi tác giả mà các yếu tố liên quan này có thể thay đổi
Trang 321.4.1 Nghiên cứu của tác giả Ting Zhao
Trong nghiên cứu này tác giả đã khảo sát 1.276 bệnh nhân được điều trị động kinh bằng Levetiracetam tại một bệnh viện ở Trung Quốc từ năm 2016 đến năm 2020 đã xác định các yếu tố liên quan đến kết quả điều trị động khi gồm: tuổi, nguyên nhân gây động kinh, loại động kinh, bất thường trên điện não, liều điều trị, phác đồ điều trị [52]
1.4.2 Nghiên cứu của tác giả Bong Su Kang
Tác giả đã thực hiện nghiên cứu 568 bệnh nhân động kinh điều trị bằng Levetiracetam trong 2 năm tại Bệnh viện Đại học quốc gia Seuol và đã rút ra kết luận: liều lượng và loại động kinh liên quan đến hiệu quả điều trị của Levetiracetam [22]
1.4.3 Nghiên cứu của tác giả Hiromi Sekimoto
Nghiên cứu 255 bệnh nhân động kinh điều trị bằng Levetiracetam tại Nhật cho thấy tuổi, giới tính, nồng độ Levetiracetam trong máu và độ lọc cầu thận không liên quan đến hiệu quả điều trị động kinh [30]
1.4.4 Nghiên cứu của tác giả Jakob I Doerrfuss
Thực hiện nghiên cứu 591 bệnh nhân động kinh ở Đức cho thấy rằng: các yếu tố tuổi, thời gian bị động kinh, thời gian kéo dài cơn, nguyên nhân động kinh
có liên đến kết quả điều trị [31]
1.5 Các nghiên cứu điều trị động kinh bằng Levetiracetam
1.5.1 Trong nước
Ninh Thị Ứng (2014): “Ứng dụng Levetiracetam trong điều trị động kinh
trẻ em” ghi nhận có 21,2% hết cơn; 57,8% giảm cơn từ 50% đến 70% tần số cơn;
15,7% bệnh nhân giảm dưới 50% tần số cơn Liều Levetiracetam trung bình là 23,6mg/Kg (20-50mg/Kg/ngày) Không thấy tác dụng phụ của thuốc [15]
Trang 331.5.2 Ngoài nước
1.5.2.1 Nghiên cứu của Bassel Abou-Khalil: “Levetiracetam in the treatment of
epilepsy” (Nghiên cứu Levetiracetam trong điều trị động kinh) Tác giả đã kết luận: Levetiracetam được chỉ định cho đơn trị liệu hoặc phối hợp với thuốc chống động kinh khác trong động kinh cục bộ hay toàn thể, co giật kèm giật cơ ở trẻ vị thành niên và co giật tăng trương lực 81,5% bệnh nhân hết cơn [20]
1.5.2.2 Nghiên cứu của Hiromi Sekimoto: “Efficacy and safety of Levetiracetam
in Japanese epilepsy patients: A retrospective cohort study” (Hiệu quả và an toàn của Levetiracetam trong điều trị bệnh động kinh ở Nhật) đã kết luận: Levetiracetam có hiệu quả và an toàn trong điều trị động kinh [30]
1.5.2.3 Nghiên cứu của Linda J.Stephen: “Levetiracetam monotherapy-Outcomes
from an epilepsy clinic” (kết quả điều trị động kinh với đơn trị Levetiracetam) cho thấy 49,1% không có cơn co giật với đơn trị bằng Levetiracetam [37]
1.5.2.4 Nghiên cứu của Tony Wu: “A randomized, blind,
double-dummy, multicenter trial comparing the efficacy and safety of extended and immediate-release Levetiracetam in people with partial epilepsy” (so sánh hiệu quả và an toàn của Levetiracetam tác dụng nhanh và phóng thích chậm trong điều trị bệnh động kinh) đã kết luận: cả 2 dạng tác dụng nhanh (IR) và phóng thích chậm (ER) của Levetiracetam đều có hiệu quả như nhau [53]
1.5.2.5 Nghiên cứu của Zhan-Miao Yi, “Neuropsychiatric Disease and Treatment” (Điều trị bệnh tâm thần kinh) đã rút ra kết luận: Levetiracetam có hiệu quả và an toàn trong điều trị động kinh tương tự carbamazepine (CBZ), oxcarbazepine (OBZ), phenobarbital (PBT) và lamotrigine (LTG), có ưu thế trên phụ nữ mang thai bị động kinh nhưng giá thành cao hơn, 58,7% bệnh nhân sử dụng Levetiracetam kiểm soát được cơn động kinh [58]
Trang 34Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Bệnh nhân động kinh từ 18 tuổi trở lên được điều trị bằng Levetiracetam tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Trà Vinh từ tháng 3 năm 2021 đến tháng 4 năm 2022
2.1.2 Tiêu chuẩn chọn mẫu
Bệnh nhân được chọn thỏa các tiêu chuẩn chọn mẫu sau:
- Lâm sàng: phải có từ 2 cơn co giật trở lên có tính chất xuất hiện đột ngột, xảy ra trong thời gian ngắn, hồi phục nhanh, có tính định hình, liên quan đến vận động, cảm giác, giác quan, ý thức và tâm thần, 2 cơn động kinh thời gian phải cách nhau ít nhất 24 giờ [9]
- Bệnh nhân được chẩn đoán động kinh, điều trị đơn trị bằng Levetiracetam và theo dõi tiếp trong 3 tháng
- Đồng ý tham gia nghiên cứu
2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ
- Bệnh nhân không thể cung cấp thông tin về thuốc chống động kinh và quá trình điều trị trong thời gian nghiên cứu hoặc có sử dụng thuốc chống động kinh khác
- Bệnh nhân có bệnh lý nặng làm ảnh hưởng quá trình đánh giá điều trị: suy tim nặng, ung thư, bệnh thận mạn từ giai đoạn 4, bệnh não cấp tính…
- Bệnh nghi ngờ cơn co giật phân ly, có thai hoặc nghi ngờ có thai
2.1.4 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm: Khoa Khám bệnh Bệnh viện Đa khoa tỉnh Trà Vinh
-Thời gian: từ tháng 3 năm 2021 đến tháng 4 năm 2022
Trang 352.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu: mô tả cắt ngang
α: xác xuất sai lầm loại I = 0,05
Z: trị số từ phân phối chuẩn (Z 0.975 = 1,96)
p: tỉ lệ bệnh nhân động kinh kiểm soát tốt được cơn co giật khi điều trị bằng thuốc Levetiracetam theo nghiên cứu của Linda J.Stephen và cộng sự (2011) thì tỉ lệ này là 49,1% [37]
d: sai số cho phép là 0,1
Áp dụng công thức tính cỡ mẫu tính được n = 96 (thực tế chúng tôi nghiên
cứu 101 bệnh nhân)
2.2.3 Phương pháp chọn mẫu
Chọn mẫu thuận tiện: các bệnh nhân động kinh được đơn trị bằng
Levetiracetam thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu sẽ được chọn vào nghiên cứu cho đến
khi đạt cỡ mẫu nghiên cứu Những bệnh nhân đang điều trị phải có thời gian điều
trị ít nhất 3 tháng; những bệnh nhân mới được chỉ định điều trị hoặc đã điều trị ít
hơn 3 tháng sẽ được lấy đầy đủ số liệu sau khi điều trị đủ 3 tháng
2.2.4 Nội dung nghiên cứu
2.2.4.1 Đặc điểm chung đối tượng nghiên cứu
- Tuổi: được tính tròn năm bằng cách lấy năm nghiên cứu trừ đi năm sinh
của đối tượng nghiên cứu
Trang 36+ Nông thôn: có địa chỉ không phải ở thành phố, thị xã, thị trấn
- Dân tộc: có 3 giá trị: Kinh, Khmer, dân tộc khác
- Nghề nghiệp: là công việc chiếm nhiều thời gian nhất và làm ít nhất trên
12 tháng Có 3 giá trị:
+ Lao động trí óc: công chức, viên chức, nhân viên văn phòng
+ Già, mất sức: lớn hơn hay bằng 60 tuổi và/hoặc mất sức
+ Lao động chân tay: công nhân, nội trợ, buôn bán, tự do
- Kinh tế gia đình: có 3 giá trị: nghèo, cận nghèo, không nghèo Định nghĩa hộ nghèo và cận nghèo theo quyết định số 59/2015/QĐ-TTg của Thủ Tướng Chính Phủ ban hành ngày 19 tháng 11 năm 2015 [13]
Chia làm 2 nhóm:
+ Nghèo, cận nghèo: thành thị thu nhập bình quân đầu người từ 900
nghìn đến dưới 1,3 triệu đồng/ tháng Nông thôn thu nhập bình quân đầu người
từ 700 nghìn đồng đến dưới 1 triệu đồng/ tháng
+ Khá, giàu: thành thị thu nhập bình quân đầu người trên 1,3 triệu đồng/ tháng Nông thôn thu nhập bình quân đầu người trên 1 triệu đồng/ tháng
Trang 37- Trình độ học vấn: là cấp học cuối cùng theo học trước khi nghỉ để làm việc Là biến thứ tự, định danh, có 4 giá trị:
+ Mù chữ, tiểu học
+ Trung học cơ sở, trung học phổ thông
+ Trung cấp, cao đẳng
+ Đại học, sau đại học
- Tình trạng hôn nhân: là biến số danh định, có 3 giá trị:
+ Độc thân
+ Đang có vợ (chồng)
+ Ly dị, ly thân, góa
2.2.4.2 Đặc điểm lâm sàng của đối tượng nghiên cứu
- Tuổi khởi phát: là tuổi bắt đầu có cơn động kinh đầu tiên, có 3 nhóm:
+ Mệt mỏi quá mức: lao động chân tay, trí óc
+ Căng thẳng
Trang 38+ Quên uống thuốc
- Các yếu tố tiền triệu + Cảm giác lo lắng bất chợt
+ Chảy nước dãi hoặc chép miệng
+ Đau đầu, chóng mặt
+ Khác + Không có tiệu chứng tiền triệu
- Các triệu chứng trong cơn
+ Mất ý thức, ảo giác
+ Đau đầu, chóng mặt
+ Sùi bọt mép
+ Tiêu tiểu trong quần
- Các triệu chứng sau cơn
- Thời gian kéo dài trung bình của cơn động kinh: là thời gian từ khi xảy
ra cơn co giật cho đến lúc kết thúc cơn co giật
Trang 39- Nguyên nhân bệnh động kinh: dựa vào tiền sử bệnh nhân, ghi nhận được khi hỏi bệnh nhân hoặc người nhà bệnh nhân Có các giá trị
+ Chấn thương sọ não: được ghi nhận là chấn thương phần đầu không rõ có chấn thương sọ não hay không hoặc xác nhận bằng giấy ra viện, mức độ nhẹ không gây tổn thương nặng phải điều trị dài ngày Chấn thương xảy ra trước khi xảy ra cơn động kinh đầu tiên ít nhất 1 tuần, thường chấn thương nặng có liên quan với động kinh rõ ràng hơn Tỉ lệ động kinh tăng ít nhất 10 năm sau chấn thương đầu trong đời sống bình thường, ngược lại những bệnh nhân với những vết thương chiến tranh xuyên thấu có nguy cơ động kinh kéo dài hơn
+ Nhiễm trùng hệ thần kinh trung ương: là yếu tố gây bệnh quan trọng của động kinh mắc phải từ nhỏ cho đến 35 tuổi Đối với những bệnh nhân còn sống sau nhiễm trùng hệ thần kinh trung ương thì có nguy cơ tăng gấp 3 lần và gần như độc lập với tuổi bị nhiễm trùng nhưng thay đổi nhiều theo loại nhiễm trùng
và sự xuất hiện các cơn động kinh sớm
+ Xuất huyết não màng não, nhồi máu não: Bệnh mạch máu não là nguyên nhân gây động kinh chính của người già, đó là tình trạng động kinh mắc phải Tỉ
lệ bệnh nhân đột quỵ có các cơn động kinh xa từ 3 đến 8% Các sang thương vỏ
là yếu tố tiên đoán động kinh sau đột quỵ
+ Bất thường mạch máu não: dị dạng, túi phình, dò động tĩnh mạch… + U não: gây động kinh gặp ở mọi lứa tuổi, nguyên nhân này chiếm tỉ lệ đáng kể ở người già
+ Bất thường chu sinh
+ Não úng thủy
+ Chưa rõ nguyên nhân: không có tiền sử bệnh nêu trên hoặc không xác định
Trang 402.2.4.3 Đánh giá kết quả điều trị
Phác đồ sử dụng Levetiracetam
Liều khởi đầu là 1000mg chia hai lần mỗi ngày và có thể tăng 2000mg chia hai lần mỗi ngày nếu sau 2 tuần chưa đáp ứng Liều tối đa là 3000mg mỗi ngày Trong trường hợp bệnh nhân đang ổn định bằng Levetiracetam thì tiếp tục duy trì với liều đang sử dụng trong 2 tuần tiếp theo, sau đó cân nhắc thay đổi liều
Thời điểm theo dõi:
- Bệnh nhân được theo dõi mỗi 2 tuần theo lịch hẹn tái khám
- Trong trường hợp có bất thường bệnh nhân có thể được đánh giá sớm hơn lịch hẹn
- Nếu bệnh nhân không tái khám đúng lịch, có thể liên hệ qua điện thoại
Cách đánh giá:
- Tác dụng bất lợi: là biến số không liên tục, được định nghĩa là những tác dụng không mong muốn xuất hiện sau khi điều trị và đánh giá sau 2 tuần, so
sánh với tác dụng không mong muốn sau điều trị 3 tháng
- Kết quả điều trị bằng Levetiracetam sau 3 tháng: là biến không liên tục, được định nghĩa
+ Đáp ứng tốt: tần suất cơn giảm >50% sau khi uống thuốc từ 3 tháng
+ Đáp ứng chưa tốt: tần suất cơn giảm ≤50% sau khi điều trị từ 3 tháng
2.2.4.4 Khảo sát các yếu tố liên quan đến kết quả điều trị
- Khảo sát liên quan giữa đặc điểm của đối tượng nghiên cứu với kết quả điều trị: kiểm định sự liên quan giữa các biến số độc lập (tuổi, giới tính, địa chỉ, dân tộc, nghề nghiệp, trình độ học vấn, kinh tế gia đình, tình trạng hôn nhân) với kết quả điều trị