BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG CỦA SINH VIÊN KHẢO SÁT THỰC TRẠNG KỸ NĂNG THỰC HÀNH NGHỀ NGHIỆP CỦA NGƯỜI BÁN THUỐC ĐỐI VỚI BỆNH TIÊU CHẢY
Trang 1BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG CỦA SINH VIÊN
KHẢO SÁT THỰC TRẠNG KỸ NĂNG THỰC HÀNH
NGHỀ NGHIỆP CỦA NGƯỜI BÁN THUỐC
ĐỐI VỚI BỆNH TIÊU CHẢY CẤP Ở TRẺ EM
TẠI CÁC CƠ SỞ BÁN LẺ THUỐC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ CẦN THƠ NĂM 2021
MAI VĂN HẬU
Cần Thơ – năm 2022
Trang 2BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ
ĐỂ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG CỦA SINH VIÊN
KHẢO SÁT THỰC TRẠNG KỸ NĂNG THỰC HÀNH
NGHỀ NGHIỆP CỦA NGƯỜI BÁN THUỐC
ĐỐI VỚI BỆNH TIÊU CHẢY CẤP Ở TRẺ EM
TẠI CÁC CƠ SỞ BÁN LẺ THUỐC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ CẦN THƠ NĂM 2021
Cán bộ hướng dẫn: TS Nguyễn Phục Hưng
Cần Thơ – năm 2022
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng nhóm chúng em, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong đề tài là trung thực, khách quan và chưa từng được công bố ở bất kỳ nơi nào
Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2022
Chủ nhiệm đề tài
Mai Văn Hậu
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên, chúng em xin chân thành cảm ơn và bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến
TS Nguyễn Phục Hưng, Trưởng bộ môn Quản lý dược, khoa Dược Trường đại học Y Dược Cần Thơ, người Thầy đã trực tiếp hướng dẫn và chỉ dạy tận tình để chúng em có thể hoàn thành đề tài này
Chúng em xin cảm ơn quý Thầy Cô trong khoa Dược, bộ môn Quản lý dược cùng Ban giám hiệu nhà trường đã tạo điều kiện và giúp đỡ chúng em trong thời gian thực hiện đề tài
Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2022
Chủ nhiệm đề tài
Mai Văn Hậu
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Phần 1 Tóm tắt đề tài v
Phần 2 Toàn văn công trình nghiên cứu x
Danh mục các từ viết tắt xi
Danh mục các bảng xii
Danh mục các hình, biểu đồ xiv
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN 3
1.1 Một số quy định pháp lý liên quan đến hoạt động bán thuốc của người bán thuốc tại nhà thuốc và quầy thuốc 3
1.2 Các hướng dẫn về điều trị tiêu chảy cấp ở trẻ em 4
1.3 Thực trạng kỹ năng thực hành nghề nghiệp của người bán thuốc tại các cơ sở bán lẻ thuốc trên thế giới và tại Việt Nam 7
1.4 Tình hình nghiên cứu về kỹ năng thực hành nghề nghiệp của người bán thuốc trong xử trí bệnh tiêu chảy cấp ở trẻ em trên thế giới và tại Việt Nam 11
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
2.1 Đối tượng 18
2.2 Phương pháp nghiên cứu 18
2.3 Đạo đức trong nghiên cứu y học 34
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 35
3.1 Kết quả về đặc điểm của người bán thuốc và một số yếu tố liên quan 35
3.2 Kết quả khảo sát thực trạng kỹ năng thực hành cơ bản của người bán thuốc đối với bệnh tiêu chảy cấp ở trẻ em tại các cơ sở bán lẻ thuốc trên địa bàn thành phố Cần Thơ năm 2021 36
Trang 63.3 Kết quả khảo sát thực trạng cấp phát thuốc của người bán thuốc trong xử trí bệnh tiêu chảy cấp ở trẻ em tại các cơ sở bán lẻ thuốc trên địa bàn thành phố Cần Thơ năm 2021 47
Chương 4 BÀN LUẬN 56
4.1 Về đặc điểm của người bán thuốc và một số yếu tố liên quan 56 4.2 Về khảo sát thực trạng kỹ năng thực hành cơ bản của người bán thuốc đối với bệnh tiêu chảy cấp ở trẻ em tại các cơ sở bán lẻ thuốc trên địa bàn thành phố Cần Thơ năm 2021 58 4.3 Về khảo sát thực trạng cấp phát thuốc của người bán thuốc trong xử trí bệnh tiêu chảy cấp ở trẻ em tại các cơ sở bán lẻ thuốc trên địa bàn thành phố Cần Thơ năm 2021 67
KẾT LUẬN 78 KIẾN NGHỊ 80 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7PHẦN 1 TÓM TẮT ĐỀ TÀI
1 Đặt vấn đề
Trong nhiều thập kỷ qua, bệnh tiêu chảy cấp ở trẻ em vẫn luôn là mối quan tâm hàng đầu ở nhiều quốc gia, đặc biệt là ở các nước đang phát triển Theo thống
kê giai đoạn 2014-2018, tiêu chảy chính là một trong năm bệnh truyền nhiễm có
tỷ suất mắc cao nhất ở thành phố Cần Thơ Tiêu chảy cấp là một bệnh lý thường gặp ở đối tượng trẻ em, nếu không được điều trị và chăm sóc đúng cách có thể dẫn đến tình trạng mất nước, điện giải và nguy cơ tử vong rất cao Do đó, vai trò của người chăm sóc sức khỏe ban đầu là vô cùng quan trọng Một trong những người chăm sóc sức khỏe ban đầu ngoài cộng đồng có thể kể đến là người dược sĩ cộng đồng hay người bán thuốc (NBT) tại các cơ sở bán lẻ thuốc Họ là những chuyên gia y tế thuộc hệ thống chăm sóc sức khỏe quốc gia, có thể cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu như tư vấn, cấp phát thuốc và điều trị các bệnh lý thông thường trong cộng đồng Tuy nhiên, kỹ năng thực hành của NBT vẫn còn nhiều hạn chế như sự thiếu chủ động, không đảm bảo trong số lượng, chất lượng thông tin trao đổi và hiệu quả tư vấn, chưa đáp ứng được việc nâng cao hiểu biết dùng thuốc của khách hàng Trong xử trí bệnh tiêu chảy cấp ở trẻ em, mặt hạn chế của người bán thuốc càng thể hiện rõ Có rất ít người bán thuốc cung cấp sản phẩm
bù nước và điện giải theo đúng yêu cầu và hướng dẫn chuyên môn Hậu quả của thực trạng này có thể ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe, sự an toàn, thậm chí là tính mạng của người bệnh cũng như chi phí cho dịch vụ y tế của cá nhân và xã hội Điều này đòi hỏi các biện pháp quản lý chặt chẽ hơn và những giải pháp nâng cao chất lượng thực hành nghề nghiệp của người bán thuốc Các nghiên cứu trước đây trên địa bàn thành phố Cần Thơ vẫn chưa đánh giá một cách toàn diện về kỹ năng thực hành nghề nghiệp của người bán thuốc tại các cơ sở bán lẻ thuốc trong xử trí
Trang 8bệnh tiêu chảy cấp ở trẻ em Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành đề tài
“Khảo sát thực trạng kỹ năng thực hành nghề nghiệp của người bán thuốc đối với bệnh tiêu chảy cấp ở trẻ em tại các cơ sở bán lẻ thuốc trên địa bàn thành phố Cần Thơ năm 2021”
2.2 Các hướng dẫn về điều trị tiêu chảy cấp ở trẻ em
Hiện nay, đa phần các trường hợp tử vong do tiêu chảy ở trẻ em có thể tránh được nếu trẻ được chăm sóc và điều trị đúng cách theo khuyến nghị của Tổ chức
Y tế Thế giới (WHO) và Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) Giải pháp bù nước-điện giải bằng đường uống và bổ sung kẽm là giải pháp bắt buộc trong điều trị tiêu chảy Đặc biệt đối tượng là trẻ em thì giải pháp bù nước-điện giải bằng đường uống lại càng quan trọng, cấp thiết hơn Ngoài ra, các thuốc phụ trợ khác cũng được cấp phát kèm theo Theo quy định, kháng sinh dùng để điều trị tiêu chảy trường hợp nhiễm trùng không được cấp phát tại các cơ sở bán lẻ thuốc khi không có đơn thuốc của bác sĩ Các trường hợp tiêu chảy nhiễm trùng phải được đưa ngay đến cơ sở y tế để được điều trị an toàn và kịp thời
Trang 9Bộ Y tế cũng đã ban hành hai tài liệu hướng dẫn chẩn đoán và điều trị tiêu chảy cấp ở trẻ em bao gồm “Tài liệu hướng dẫn xử trí tiêu chảy ở trẻ em” ban hành kèm theo quyết định số 4121/QĐ-BYT ngày 28 tháng 10 năm 2009 và “Hướng
dẫn chẩn đoán và điều trị một số bệnh thường gặp ở trẻ em” ban hành kèm theo
quyết định số 3312/QĐ-BYT ngày 7 tháng 8 năm 2015 Bên cạnh đó, Bộ Y tế cũng đã xây dựng “Quy trình chuyên môn điều trị bệnh tiêu chảy cấp ở trẻ em” năm 2016 theo quyết định số 4068/QĐ-BYT
3 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu thực hiện trên người bán thuốc tại các cơ sở bán lẻ thuốc trên địa bàn thành phố Cần Thơ năm 2021 Thời gian thu thập số liệu nghiên cứu từ tháng 05/2021 đến tháng 12/2021 Loại trừ người bán thuốc làm việc tại các cơ sở bán
lẻ thuốc trong phạm vi bệnh viện, trạm y tế, phòng khám, các cơ sở bán lẻ dược liệu, thuốc dược liệu, thuốc cổ truyền
3.2 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện theo phương pháp mô tả cắt ngang Thực hiện chọn mẫu phân tầng Số lượng người bán thuốc cần khảo sát là 104 ở mỗi kịch bản Trong thực tế đã nghiên cứu được trên 108 người bán thuốc ở mỗi kịch bản Dựa trên cỡ mẫu đã tính toán, chúng tôi phân người bán thuốc thành 9 nhóm theo
9 quận, huyện trên địa bàn thành phố Cần Thơ: quận Ninh Kiều, quận Bình Thủy, quận Cái Răng, quận Ô Môn, quận Thốt Nốt, huyện Cờ Đỏ, huyện Phong Điền, huyện Thới Lai, huyện Vĩnh Thạnh Tại mỗi quận, huyện nêu trên, thực hiện thu thập số liệu tại 12 cơ sở bán lẻ thuốc Tiến hành chọn mẫu thuận tiện tại mỗi quận, huyện cho đến khi thu thập đủ số lượng mẫu như đã tính toán Đề tài nghiên cứu chọn kỹ thuật đóng vai khách hàng theo 2 kịch bản đã được thiết kế sẵn Cả hai
Trang 10kịch bản được xây dựng dựa trên tình huống trẻ 3 tuổi bị tiêu chảy cấp với kịch bản 1: trẻ không có triệu chứng sốt, phân không nhầy và kịch bản 2: trẻ có sốt và phân nhầy Sau khi thu thập đầy đủ số liệu và kiểm tra tính hợp lý của số liệu Tiến hành nhập và làm sạch số liệu, phân tích số liệu trên phần mềm Microsoft Excel
2016 và SPSS phiên bản 26.0 Sử dụng mức ý nghĩa quan sát (sig.) để chấp nhận hoặc bác bỏ giả thuyết ban đầu
Tiến hành thực hiện khảo sát thực trạng kỹ năng thực hành cơ bản của người bán thuốc đối với bệnh tiêu chảy cấp ở trẻ em và việc cấp phát thuốc của người bán thuốc trong xử trí bệnh tiêu chảy cấp ở trẻ em
4 Kết quả
Tổng điểm trung bình cả ba kỹ năng (khai thác thông tin, tư vấn và hướng dẫn) tương đối thấp ở cả hai kịch bản (kịch bản không sốt là 5,89 trên 29 điểm, kịch bản có sốt là 4,64 trên 29 điểm) Trong đó, kỹ năng hướng dẫn có số điểm trung bình cao nhất trong ba kỹ năng (kịch bản không sốt là 2,39 trên 5 điểm, kịch bản có sốt là 1,62 trên 5 điểm), thấp hơn là kỹ năng khai thác thông tin và sau cùng
là kỹ năng tư vấn Về việc cấp phát thuốc trong điều trị tiêu chảy cấp ở trẻ em, nhóm chất hấp phụ-bao phủ niêm mạc ruột (79,2%) và men vi sinh (84,7%) là hai nhóm thuốc chủ yếu được cấp phát Ngoài ra, tình trạng cấp phát kháng sinh và các thuốc kê đơn khác khi không có đơn vẫn còn xảy ra tại các cơ sở bán lẻ thuốc với tỷ lệ không nhỏ (15,3%) Nhóm chế phẩm cầm tiêu chảy (loperamid) vẫn được cấp phát cho trẻ với tỷ lệ 14,8% mặc dù Bộ Y tế khuyến cáo không dùng thuốc cầm tiêu chảy cho trẻ bị tiêu chảy kể cả cấp tính hay mạn tính Bù nước-điện giải
và bổ sung kẽm là lựa chọn ưu tiên trong điều trị tiêu chảy do Bộ Y tế khuyến cáo nhưng tỷ lệ cấp phát vẫn còn hạn chế với tỷ lệ người bán thuốc chủ động cấp phát chế phầm bù nước-điện giải và kẽm lần lượt là 22,2% và 19,4%
Trang 115 Kết luận
Kỹ năng thực hành cơ bản của người bán thuốc trong quản lý tiêu chảy cấp
ở trẻ em còn tồn tại nhiều điểm hạn chế trong cả 3 kỹ năng khai thác thông tin, kỹ năng tư vấn và kỹ năng hướng dẫn dùng thuốc Việc điều trị bằng thuốc chưa tuân thủ đúng theo các quy định và hướng dẫn chuyên môn về điều trị tiêu chảy cấp ở trẻ như việc cấp phát kháng sinh, thuốc cầm tiêu chảy; đồng thời, cấp phát bù nước-điện giải, bổ sung kẽm rất ít khi được thực hiện
Trang 12PHẦN 2 TOÀN VĂN CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU
Trang 13DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 14DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 2.1 Một số nội dung của hai kịch bản đóng vai khách hàng mua thuốc cho
trẻ bị tiêu chảy cấp 32
Bảng 3.1 Đặc điểm của người bán thuốc và một số yếu tố liên quan 35 Bảng 3.2 Tỷ lệ người bán thuốc khai thác thông tin về đối tượng dùng thuốc 36 Bảng 3.3 Tỷ lệ người bán thuốc khai thác thông tin về bệnh và triệu chứng bệnh
37
Bảng 3.4 Tỷ lệ người bán thuốc khai thác thông tin về tiền sử của bệnh nhân 38 Bảng 3.5 Tỷ lệ người bán thuốc tư vấn về thuốc 39 Bảng 3.6 Tỷ lệ người bán thuốc tư vấn về các vấn đề liên quan đến bệnh 40 Bảng 3.7 Tỷ lệ người bán thuốc hướng dẫn cách sử dụng thuốc 41 Bảng 3.8 Tỷ lệ người bán thuốc hướng dẫn cách sử dụng chế phẩm bù nước và
điện giải đường uống 42
Bảng 3.9 Tỷ lệ đáp ứng của người bán thuốc đối với các nội dung kỹ năng nghiên
Bảng 3.12 Mối liên quan giữa điểm số các kỹ năng của người bán thuốc với vị trí
kinh doanh của cơ sở bán lẻ thuốc 46
Bảng 3.13 Một số đặc điểm chung của các chế phẩm được cấp phát 47 Bảng 3.14 Một số đặc điểm khác của các chế phẩm được cấp phát 48 Bảng 3.15 Tỷ lệ các dạng bào chế được cấp phát bởi người bán thuốc trong xử trí
bệnh tiêu chảy cấp ở trẻ em 49
Trang 15Bảng 3.16 Tỷ lệ các nhóm chế phẩm được cấp phát bởi người bán thuốc trong xử
trí bệnh tiêu chảy cấp ở trẻ em 50
Bảng 3.17 Đặc điểm của các thuốc kháng sinh được cấp phát 54 Bảng 3.18 Tỷ lệ các hoạt chất kháng sinh được cấp phát 55
Trang 16DANH MỤC CÁC HÌNH, BIỂU ĐỒ Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ các kiểu phối hợp thuốc của người bán thuốc ở kịch bản không
sốt 52
Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ các kiểu phối hợp thuốc của người bán thuốc ở kịch bản có sốt
53
Trang 17ĐẶT VẤN ĐỀ
Dược sĩ cộng đồng hay người bán thuốc tại các cơ sở bán lẻ thuốc là những chuyên gia y tế thuộc hệ thống chăm sóc sức khỏe quốc gia Họ có thể cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu như tư vấn, cấp phát thuốc và điều trị các bệnh lý thông thường trong cộng đồng [33] Trong nhiều thập kỷ qua, bệnh tiêu chảy cấp ở trẻ em vẫn luôn là mối quan tâm hàng đầu ở nhiều quốc gia, đặc biệt
là ở các nước đang phát triển Hằng năm, bệnh tiêu chảy gây ra khoảng 4 tỷ ca cấp tính và 1,6 triệu ca tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi trên toàn thế giới [48] Tại Việt Nam, hằng năm có khoảng 500.000 đến 900.000 ca tiêu chảy được báo cáo [48].Theo thống kê giai đoạn 2014-2018, tiêu chảy chính là một trong năm bệnh truyền nhiễm có tỷ suất mắc cao nhất ở thành phố Cần Thơ [12] Tiêu chảy cấp là một bệnh lý thường gặp ở đối tượng trẻ em, nếu không được điều trị và chăm sóc đúng cách có thể dẫn đến tình trạng mất nước, điện giải và nguy cơ tử vong rất cao [48]
Do đó, vai trò của người chăm sóc sức khỏe ban đầu là vô cùng quan trọng Sau thời điểm Bộ Y tế triển khai chương trình bảo hiểm y tế toàn dân, tỷ lệ người dân tự điều trị đã giảm nhưng vẫn ở mức cao Theo kết quả nghiên cứu tại Bắc Ninh và Cao Bằng năm 2020 thì tỷ lệ này là 76,6% [8] Thực trạng đó càng nhấn mạnh tầm quan trọng về vai trò của người bán thuốc tại các cơ sở bán lẻ thuốc khi đây là nơi mà người dân thường tìm đến khi có các vấn đề sức khỏe không nghiêm trọng Tuy nhiên, kỹ năng thực hành của người bán thuốc vẫn còn nhiều hạn chế như sự thiếu chủ động, không đảm bảo trong số lượng, chất lượng thông tin trao đổi và hiệu quả tư vấn, chưa đáp ứng được việc nâng cao hiểu biết dùng thuốc của khách hàng [6].Trong xử trí bệnh tiêu chảy cấp ở trẻ em, mặt hạn chế của người bán thuốc càng thể hiện rõ Có rất ít người bán thuốc cung cấp sản phẩm bù nước và điện giải theo đúng yêu cầu và hướng dẫn chuyên môn [6] Bên
Trang 18cạnh đó, tỷ lệ cung cấp thuốc kháng sinh không có đơn trong xử trí tiêu chảy ở trẻ
em ở mức tương đối cao (16% trong tình huống trẻ bị tiêu chảy cấp phân không nhầy và 42% trong tình huống trẻ bị tiêu chảy cấp phân có nhầy) [10] Hoạt động khai thác và cung cấp thông tin khi bán thuốc kháng sinh còn rất hạn chế, đặc biệt
là các nội dung liên quan tiền sử dị ứng, tiền sử bệnh, tiền sử dùng thuốc, tác dụng không mong muốn; điều này làm tăng tình trạng sử dụng thuốc kháng sinh không hợp lý và khả năng kháng kháng sinh của các vi khuẩn gây bệnh Hậu quả của thực trạng này có thể ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe, sự an toàn, thậm chí là tính mạng của người bệnh cũng như chi phí cho dịch vụ y tế của cá nhân và xã hội Vấn đề bệnh lý tiêu chảy cấp cùng với những hạn chế về mặt kỹ năng của người bán thuốc trong xử trí bệnh ảnh hưởng sâu sắc đến sức khỏe cộng đồng, đặc biệt là đối tượng trẻ em Điều này đòi hỏi các biện pháp quản lý chặt chẽ hơn và những giải pháp nâng cao chất lượng thực hành nghề nghiệp của họ Các nghiên cứu trước đây trên địa bàn thành phố Cần Thơ vẫn chưa đánh giá một cách toàn diện về kỹ năng thực hành nghề nghiệp của người bán thuốc tại các cơ sở bán lẻ thuốc trong xử trí bệnh tiêu chảy cấp ở trẻ em.Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi
tiến hành đề tài “Khảo sát thực trạng kỹ năng thực hành nghề nghiệp của người bán thuốc đối với bệnh tiêu chảy cấp ở trẻ em tại các cơ sở bán lẻ thuốc trên địa bàn thành phố Cần Thơ năm 2021” với các mục tiêu sau:
1 Khảo sát thực trạng kỹ năng thực hành cơ bản của người bán thuốc đối với bệnh tiêu chảy cấp ở trẻ em tại các cơ sở bán lẻ thuốc trên địa bàn thành phố Cần Thơ năm 2021
2 Khảo sát thực trạng cấp phát thuốc của người bán thuốc trong xử trí bệnh
tiêu chảy cấp ở trẻ em tại các cơ sở bán lẻ thuốc trên địa bàn thành phố Cần Thơ năm 2021
Trang 19Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Một số quy định pháp lý liên quan đến hoạt động bán thuốc của người bán thuốc tại nhà thuốc và quầy thuốc
1.1.1 Quy định về ra lẻ thuốc
− Về quy cách đóng gói khi ra lẻ thuốc, Thông tư số 02/2018/TT-BYT “Quy
định về Thực hành tốt cơ sở bán lẻ thuốc” quy định như sau: trường hợp ra lẻ
thuốc mà không còn bao bì tiếp xúc trực tiếp với thuốc phải dùng đồ bao gói kín khí; đủ cứng để bảo vệ thuốc, có nút kín; không dùng các bao bì ra lẻ thuốc
có chứa nội dung quảng cáo các thuốc khác để làm túi đựng
− Theo đó, thông tư cũng quy định rõ về cách thức ghi nhãn thuốc: đối với trường hợp thuốc bán lẻ không đựng trong bao bì ngoài của thuốc thì phải ghi rõ: tên thuốc; dạng bào chế; nồng độ, hàm lượng thuốc; trường hợp không có đơn thuốc đi kèm phải ghi thêm liều dùng, số lần dùng và cách dùng [5]
1.1.2 Quy định về quy trình cấp phát thuốc
− Các cơ sở bán lẻ thuốc phải xây dựng và áp dụng quy trình thao tác chuẩn (SOP) trong cấp phát thuốc kê đơn và thuốc không kê đơn, bao gồm: quy trình bán thuốc, thông tin, tư vấn hướng dẫn sử dụng thuốc phải kê đơn và quy trình bán thuốc, thông tin, tư vấn hướng dẫn sử dụng thuốc không kê đơn
− Các bước cơ bản trong hoạt động bán thuốc
+ Người bán lẻ hỏi người mua những câu hỏi liên quan đến bệnh, đến thuốc
mà người mua yêu cầu
+ Người bán lẻ tư vấn cho người mua về lựa chọn thuốc, cách dùng thuốc, hướng dẫn cách sử dụng thuốc bằng lời nói; trường hợp không có đơn thuốc kèm theo, người bán lẻ phải hướng dẫn sử dụng thuốc thêm bằng cách viết
Trang 20tay hoặc đánh máy, in gắn lên đồ bao gói Ngoài ra, người bán lẻ phải xác định rõ trường hợp nào cần sự tư vấn của người có chuyên môn phù hợp với loại thuốc cung cấp để tư vấn cho người mua thông tin về thuốc, giá cả và lựa chọn các thuốc không cần kê đơn Đối với người bệnh đòi hỏi phải có chẩn đoán của thầy thuốc mới có thể dùng thuốc, người bán lẻ cần tư vấn
để bệnh nhân tới khám thầy thuốc chuyên khoa thích hợp hoặc bác sĩ điều trị Đối với những người mua thuốc chưa cần thiết phải dùng thuốc, người bán thuốc (NBT) cần giải thích rõ cho họ hiểu và tự chăm sóc, tự theo dõi triệu chứng
+ Người bán lẻ cung cấp các thuốc phù hợp; kiểm tra, đối chiếu với đơn thuốc (nếu có) các thuốc bán ra về nhãn thuốc, cảm quan về chất lượng, số lượng, chủng loại thuốc [5]
1.2 Các hướng dẫn về điều trị tiêu chảy cấp ở trẻ em
Theo định nghĩa của WHO, tiêu chảy cấp là việc đi ngoài phân lỏng hoặc tóe nước từ 3 lần trở lên trong một ngày hoặc thường xuyên hơn mức bình thường Tiêu chảy cấp thường là một triệu chứng của nhiễm trùng đường tiêu hóa-có thể
do nhiều loại vi khuẩn, vi rút và ký sinh trùng gây ra [49]
So với những năm 1980, tỷ lệ mắc và tử vong ở trẻ em do tiêu chảy cấp không còn là một con số quá đáng lo ngại nhưng vẫn luôn là một con số rất cần được kiểm soát Hiện nay, đa phần các trường hợp tử vong do tiêu chảy ở trẻ em có thể tránh được nếu trẻ được chăm sóc và điều trị đúng cách theo khuyến nghị của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) Chăm sóc này bao gồm các giải pháp bù nước bằng đường uống và bổ sung kẽm [45]; bên cạnh đó, điều chỉnh chế độ dinh dưỡng phù hợp cũng là một yếu tố then chốt trong việc cắt đứt vòng xoắn bệnh lý suy dinh dưỡng và tiêu chảy cấp ở trẻ em [49]
Trang 21Tại Việt Nam, Bộ Y tế cũng đã ban hành hai tài liệu hướng dẫn chẩn đoán và điều trị tiêu chảy cấp ở trẻ em Một là “Tài liệu hướng dẫn xử trí tiêu chảy ở trẻ em” ban hành kèm theo quyết định số 4121/QĐ-BYT ngày 28 tháng 10 năm 2009
[1] Hai là “Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị một số bệnh thường gặp ở trẻ em”
ban hành kèm theo quyết định số 3312/QĐ-BYT ngày 7 tháng 8 năm 2015 [2] Bên cạnh đó, Bộ Y tế cũng đã xây dựng “Quy trình chuyên môn điều trị bệnh tiêu chảy cấp ở trẻ em” năm 2016 theo quyết định số 4068/QĐ-BYT [3]
Đối với các trường hợp tiêu chảy cấp ở trẻ em, phụ huynh thường có xu hướng mua thuốc tự điều trị cho trẻ Vì thế, những NBT tại các cơ sở bán lẻ thuốc đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc xử trí các trường hợp này và họ phải đưa
ra các quyết định hợp lý trong từng trường hợp cụ thể Do đó, để đảm bảo chất lượng điều trị, hai hướng dẫn của Bộ Y tế về vấn đề điều trị tiêu chảy cấp ở trẻ em
đã trình bày rất chi tiết và bổ sung cho nhau về cách hỏi bệnh để khai thác thông tin từ bệnh nhân cũng như cách sử dụng thuốc hợp lý và an toàn cho trẻ Theo đó, khi gặp trường hợp trẻ bị tiêu chảy cấp, cần hỏi bà mẹ hoặc người chăm sóc trẻ các thông tin sau: trẻ bị đi ngoài từ bao giờ, có máu trong phân không, số lần tiêu chảy trong ngày, số lần nôn và chất nôn, các triệu chứng khác kèm theo: ho sốt, viêm phổi, sởi , chế độ nuôi dưỡng trước khi mắc bệnh và trong khi bị bệnh, các thuốc đã dùng và các loại vaccine đã được tiêm chủng [2]
Trong các trường hợp tiêu chảy cấp thông thường ở mức độ nhẹ không có biểu hiện nhiễm khuẩn, NBT hoàn toàn có thể xử trí theo hướng dẫn điều trị của
Bộ Y tế bằng việc cấp phát các chế phẩm bù nước đường uống (ORS) hoặc tư vấn
bù dịch cho trẻ tại nhà; có thể kết hợp các thuốc điều trị hỗ trợ như probiotic, diosmectic và racecadotril trong trường hợp bệnh đã khởi phát không quá 2 ngày
và tối đa dùng trong 3 ngày nếu không hiệu quả Việc sử dụng các thuốc điều trị
Trang 22hỗ trợ cũng cần hết sức thận trọng, đặc biệt không được kết hợp giữa diosmectic
và racecadotril Bên cạnh đó, việc bổ sung kẽm là hết sức cần thiết vì các lợi ích
mà nó mang lại (theo khuyến cáo của WHO, bổ sung kẽm giúp giảm 25% thời gian bị tiêu chảy và giảm 30% khối lượng phân) Chỉ được chỉ định kháng sinh cho các trường hợp tiêu chảy cấp sau: tiêu chảy phân máu; tiêu chảy phân nước mất nước nặng nghi ngờ tả; tiêu chảy do Giardia và trường hợp trẻ mắc tiêu chảy kèm theo các nhiễm trùng khác như viêm phổi, nhiễm khuẩn huyết, nhiễm khuẩn tiết niệu… Ngoài ra, không được sử dụng thuốc cầm nôn, cầm đi ngoài trong trường hợp tiêu chảy cấp ở trẻ em [2] Tuy nhiên, về nguyên tắc thì NBT không được bán các thuốc kê đơn mà không có đơn của bác sĩ Người điều trị cũng cần quan tâm đến tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ để cung cấp vitamin A nếu tình trạng suy dinh dưỡng nặng nhằm hạn chế nguy cơ tạo lập vòng xoắn bệnh lý làm tình trạng của trẻ ngày càng nặng thêm [3]
Ngoài việc điều trị hợp lý, cần hướng dẫn người mẹ phát hiện sớm các dấu hiệu mất nước của trẻ để đưa đến cơ sở y tế kịp thời khi: trẻ đi ngoài nhiều lần, phân nhiều nước hơn; khát nhiều; sốt hoặc sốt cao hơn; phân nhày máu mũi; nôn tất cả mọi thứ; không chịu ăn Bên cạnh đó, cần tư vấn các biện pháp dự phòng tiêu chảy cấp ở trẻ bằng cách: sử dụng vaccine phòng bệnh đầy đủ; sử dụng nguồn nước sạch cho vệ sinh và ăn uống; thực hành an toàn vệ sinh thực phẩm khi chế biến hoặc bảo quản thức ăn; rửa tay thường xuyên khi chăm sóc trẻ; sử dụng hố xí hợp vệ sinh [2]
Trang 231.3 Thực trạng kỹ năng thực hành nghề nghiệp của người bán thuốc tại các
cơ sở bán lẻ thuốc trên thế giới và tại Việt Nam
1.3.1 Trên thế giới
Năm 2019, Kazeem B Yusuff và cộng sự đã tiến hành một nghiên cứu đánh giá có hệ thống về việc quản lý các bệnh nhẹ của dược sĩ cộng đồng ở các nước đang phát triển Ba mươi nghiên cứu toàn văn trong số 7876 nghiên cứu được truy xuất và sàng lọc đưa vào tổng quan hệ thống Kết quả phân tích cho thấy, có sự khác biệt lớn về chất lượng của các khuyến nghị, thông tin khai thác và nội dung
tư vấn giữa các dược sĩ cộng đồng tại các nước đang phát triển Đồng thời, nghiên cứu cũng đưa ra một kết luận về thực trạng quản lý bệnh nhẹ trong cộng đồng đã không được hướng dẫn bởi một quy trình cụ thể nào [31]
Một nghiên cứu ở Nigeria (2018) đã so sánh giữa kiến thức chuyên môn và thực hành thực tế của NBT trong điều trị tiêu chảy cấp ở trẻ em Kết quả bảng câu hỏi tự điền cho thấy, khoảng 23,8% số lượng NBT biết chính xác các hướng dẫn
về bù nước và tăng cường chế độ dinh dưỡng cho trẻ bị tiêu chảy cấp; tuy nhiên, khi thực hiện khảo sát thực tế bằng phương pháp bệnh nhân mô phỏng, chỉ 7,5%
số lượng NBT đưa ra được các hướng dẫn chính xác Bên cạnh đó, có đến 14,5% NBT không hướng dẫn bất cứ điều gì, trong khi tỷ lệ không đưa ra hướng dẫn nào chỉ là 1,4% khi khảo sát bằng bảng câu hỏi tự điền [38] Kết quả tương tự cũng thu được từ một nghiên cứu tại Iraq (2018) và một nghiên cứu tại Đức (2019) khi chưa đến 50% số lượng những NBT trong các cuộc khảo sát thực tế có hướng dẫn bệnh nhân về việc bù nước và chế độ dinh dưỡng [20] [30]
Từ những kết quả trên cho thấy, thực tế tồn tại một khoảng cách lớn giữa kiến thức chuyên môn và thực hành thực tế của NBT, cũng như những hạn chế về mặt
kỹ năng thực hành nghề nghiệp của họ, đặc biệt tại các nước đang phát triển
Trang 241.3.2 Tại Việt Nam
Tại Việt Nam, thực trạng kỹ năng thực hành nghề nghiệp của NBT tại các cơ
sở bán lẻ thuốc chưa thực sự tốt
Nghiên cứu của Hoàng Thu Thủy (2021) về thực trạng cung ứng thuốc của các cơ sở bán lẻ thuốc tư nhân và hiệu quả can thiệp tại hai huyện vùng nông thôn tỉnh Hải Dương ghi nhận đa số NBT đều nêu được cách dùng thuốc là nội dung cần được tư vấn (71,1%); NBT cũng cho rằng nội dung tư vấn đôi khi còn phụ thuộc vào nhu cầu của người mua thuốc, không hẳn khách hàng nào cũng tư vấn giống nhau Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, không phải lúc nào khách hàng cũng được NBT tư vấn, như tình huống đông khách hoặc cơ sở bán lẻ không đảm bảo yêu cầu về khu vực tư vấn để trao đổi với người mua [13]
Một nghiên cứu khác (2020) đánh giá thực trạng bán kháng sinh tại các cơ
sở bán lẻ thuốc ở Việt Nam thông qua phương pháp đóng vai khách hàng cũng cho thấy hoạt động khai thác và cung cấp thông tin khi bán kháng sinh của NBT còn rất hạn chế, đặc biệt là các nội dung liên quan đến tiền sử dị ứng, tiền sử bệnh, tiền sử dùng thuốc và tác dụng không mong muốn [16]
Kết quả phân tích một số kỹ năng thực hành của người bán lẻ thuốc tại các nhà thuốc trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc (2020) cho thấy các nội dung được NBT tư vấn nhiều nhất là cách phòng tránh bệnh (chiếm 62,3%) và tư vấn lựa chọn thuốc phù hợp với khả năng tài chính của khách hàng (chiếm 52,2%); tư vấn điều chỉnh
về chế độ sinh hoạt, dinh dưỡng (chiếm 50,4%) Các tư vấn khác được đưa ra ít hơn như: 11,8% tư vấn nên đi khám bác sĩ, 23,7% tư vấn đổi thuốc hay dùng thuốc mới; 22,8% tư vấn khi dùng thuốc nếu có bất cứ bất thường phải dừng và thông báo ngay cho nhà thuốc; đặc biệt, có đến 9,6% NBT không đưa ra bất kỳ tư vấn nào cho khách hàng Khảo sát còn ghi nhận, hầu hết các nhà thuốc đều có hướng
Trang 25dẫn khách hàng dùng thuốc; có 78,1% NBT hướng dẫn cách sử dụng thuốc cho bệnh nhân; 79,8% hướng dẫn về thời điểm dùng thuốc; 78,9% viết hướng dẫn sử dụng thuốc lên hộp/vỉ; tuy nhiên, chỉ có 41,2% hướng dẫn cho khách hàng về tác dụng phụ, tương tác thuốc, thận trọng khi dùng thuốc; đặc biệt, có đến 7,5% NBT không hướng dẫn bất cứ điều gì [7].
Tại thành phố Cần Thơ, phần lớn NBT tại các nhà thuốc tư nhân trên địa bàn chưa có sự đáp ứng tốt và đầy đủ về yêu cầu chuyên môn trong thực hành nghề nghiệp Nhiều hạn chế được ghi nhận liên quan đến hiểu biết và thực hiện các kỹ năng của NBT Về kỹ năng hỏi, NBT tuy có hiểu biết tốt về yêu cầu trong việc chủ động thực hiện khai thác thông tin người bệnh nhưng thực tế phần lớn đã không duy trì và làm theo yêu cầu đó Số lượng và chất lượng thông tin trong câu hỏi đưa ra rất thấp, chưa đáp ứng yêu cầu chuyên môn Về kỹ năng điều trị, NBT với hiểu biết và năng lực chuyên môn có trách nhiệm tư vấn và hỗ trợ khách hàng lựa chọn giải pháp điều trị phù hợp; đồng thời, sử dụng thuốc theo đúng quy cách
để phát huy tối đa các giá trị hiệu quả của thuốc Nhưng từ kết quả khảo sát, cả hai khía cạnh yêu cầu trong thực hành kỹ năng điều trị trên đều không được thực hiện tốt Về kỹ năng tư vấn, đây là bước cuối cùng trong quá trình thực hành của NBT, thế nhưng tương đồng với kết quả ghi nhận trước đó ở hai kỹ năng hỏi và điều trị, việc thực hiện kỹ năng tư vấn vẫn chưa đáp ứng đầy đủ Tóm lại, NBT trong môi trường thực hành hàng ngày đã không duy trì làm theo hiểu biết và các quy trình thao tác chuẩn (SOPs) dẫn đến nhiều hạn chế như sự thiếu chủ động, không đảm bảo trong số lượng, chất lượng thông tin tư vấn và hiệu quả về nâng cao hiểu biết dùng thuốc của khách hàng [6]
Nghiên cứu “Khảo sát kỹ năng bán thuốc trị cảm cúm của nhân viên tại một
số nhà thuốc trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh” (2018) đã ghi nhận trong ba kỹ
Trang 26năng được khảo sát bao gồm kỹ năng ra lẻ thuốc, kỹ năng cung cấp thông tin cho người bệnh và kỹ năng khai thác thông tin người bệnh thì kỹ năng cung cấp thông tin cho người bệnh được thực hiện tốt nhất với 55% thông tin theo yêu cầu của nghiên cứu được cung cấp cho người bệnh; tuy nhiên, giá thuốc và tương tác thuốc lại không được tư vấn Kỹ năng khai thác thông tin người bệnh được hoàn thành với tỷ lệ đáp ứng yêu cầu nghiên cứu là 39% Kỹ năng ra lẻ chỉ đáp ứng 15% yêu cầu nghiên cứu, thấp nhất trong ba kỹ năng Tổng kết lại, ba kỹ năng được hoàn thành với tỷ lệ đáp ứng là 41%, điều này thể hiện rằng kỹ năng bán thuốc của nhân viên nhà thuốc còn tồn tại nhiều hạn chế [43].
Một nghiên cứu về hoạt động thông tin, tư vấn sử dụng thuốc tại 48 nhà thuốc,
97 quầy thuốc đạt tiêu chuẩn Thực hành tốt cơ sở bán lẻ thuốc (GPP) và 417 người mua thuốc tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai từ tháng 05 đến tháng 11 năm
2012 cho thấy trình độ chuyên môn của NBT còn thấp (chỉ có 8,3% là dược sĩ đại học, còn lại là dược sĩ trung cấp) trong khi nhu cầu được thông tin và tư vấn sử dụng thuốc của người mua thuốc rất cao (81% có nhu cầu thông tin và 51,8% có nhu cầu tư vấn sử dụng thuốc) Qua đánh giá của người mua thuốc, các dược sĩ trung cấp tuy có thể thực hiện hoạt động thông tin thuốc (76,3% người mua thuốc tán thành) nhưng chưa đủ khả năng đáp ứng nhiệm vụ tư vấn sử dụng thuốc (chỉ 18,2% người mua thuốc tán thành) [9]
Trước điều kiện thực tế hiện nay, vai trò của NBT tại các cơ sở bán lẻ thuốc ngày càng trở nên quan trọng trong hệ thống chăm sóc sức khỏe ban đầu, đặc biệt trong việc giảm tải gánh nặng cho hệ thống y tế Tuy nhiên, vẫn tồn tại nhiều hạn chế về mặt con người-NBT chưa có thói quen và chưa đủ kiến thức, kỹ năng tư vấn hướng dẫn sử dụng thuốc cũng như còn hạn chế trong cách tiếp cận và khai thác thông tin người bệnh
Trang 271.4 Tình hình nghiên cứu về kỹ năng thực hành nghề nghiệp của người bán thuốc trong xử trí bệnh tiêu chảy cấp ở trẻ em trên thế giới và tại Việt Nam
1.4.1 Trên thế giới
Nghiên cứu cắt ngang của Bernhard Langer và Christian Kunow được thực hiện vào năm 2018 trên một mẫu ngẫu nhiên các hiệu thuốc cộng đồng được phân tầng theo vị trí ở bang Mecklenburg-Vorpommern của Đức Mục đích của nghiên cứu này là để xác định xem các dược sĩ và những người không phải dược sĩ có giới thiệu bệnh nhân đến bác sĩ trong các trường hợp cần thiết hay không, chất lượng của câu hỏi và chất lượng của thông tin cung cấp Mỗi nhà thuốc sẽ được một trong bốn điều tra viên đã được đào tạo đến khảo sát một lần Họ mô phỏng một yêu cầu dựa trên triệu chứng liên quan đến một người bà bị tiêu chảy cấp Phân tích hồi quy logistic nhị phân đa biến để xác định các yếu tố dự báo cho việc giới thiệu đến bác sĩ Kết quả là tất cả 199 lượt khảo sát theo kế hoạch đã được thực hiện; 59,8% (n=119) lượt đã tư vấn đến bác sĩ; câu hỏi thường gặp nhất là
“thuốc dành cho ai?” (75,4%, n=150), trong khi câu hỏi “đã được thăm khám bởi bác sĩ chưa?” được thực hiện ít nhất (17,6%, n=35); trong 87,9% (n=175) lượt, ít nhất một loại thuốc đã được cấp phát; phân tích hồi quy cho thấy, những người không phải là dược sĩ có khả năng tư vấn đến bác sĩ cao hơn gấp 2,446 lần so với những người là dược sĩ (p=0,044; 95%CI=1,025-5,835) [21]
Nghiên cứu của Olubukola Oyetunde và Veronika Williams (2018) về quan điểm của các hiệu thuốc cộng đồng tại Lagos, Nigeria trong việc sử dụng các chế phẩm bù nước đường uống đã được thực hiện Cuộc khảo sát được tiến hành bằng phương pháp nghiên cứu định tính để khám phá quan điểm của các dược sĩ về rào cản và các yếu tố thúc đẩy việc cấp phát các chế phẩm bù nước đường uống Kết quả cho thấy, các yếu tố rào cản chủ yếu bao gồm sự tin tưởng cao về hiệu quả
Trang 28của các nhóm thuốc kháng khuẩn, cụ thể là metronidazol và sự nghi ngờ về hiệu quả khi chỉ sử dụng các chế phẩm bù nước đường uống [38]
Langer B và Kunow C đã thực hiện một nghiên cứu cắt ngang từ ngày 1 tháng 5 đến ngày 31 tháng 7 năm 2017 tại 21 hiệu thuốc cộng đồng ở một thành phố quy mô trung bình của Đức nhằm khảo sát việc cấp phát thuốc, các khuyến nghị điều trị bổ sung và thực hành đánh giá bệnh tiêu chảy cấp Nghiên cứu sử dụng 2 kịch bản khác nhau (một kịch bản dựa trên triệu chứng và một kịch bản dựa vào thuốc liên quan) Các kịch bản được tiến hành với 5 bệnh nhân mô phỏng tại tất cả các hiệu thuốc (tổng cộng 84 lượt khảo sát) Cuộc khảo sát này thu được một số kết quả nổi bật sau: trong 84 lượt, ít nhất một chế phẩm đã được cấp phát; tuy nhiên, nhóm bù nước bằng đường uống không được bán trong bất kỳ lượt nào; mặt khác, trong 74/84 lượt (88%), thuốc có thành phần hoạt chất loperamid được cấp phát; chỉ có 35/84 lượt (42%), bệnh nhân được khuyến cáo uống đủ nước bên cạnh việc được cấp phát thuốc Bên cạnh đó, có sự khác biệt khá lớn về chi phí thuốc giữa và trong các kịch bản [20]
Nghiên cứu cắt ngang của Getnet Mengistu được thực hiện vào năm 2017 tại hai thị trấn miền Đông Ethiopia nhằm đánh giá kiến thức và thực hành thực tế của các dược sĩ cộng đồng đối với việc quản lý bệnh tiêu chảy ở trẻ em Bảng câu hỏi
và bệnh nhân mô phỏng được sử dụng để thu thập dữ liệu Kết quả phân tích cho thấy: tuổi là yếu tố thường xuyên được hỏi; trong khi đó, cân nặng của trẻ, tiền sử dùng thuốc và tình trạng dinh dưỡng ít khi được khai thác Mặc dù, hơn 90% số người tham gia nghiên cứu cho rằng nên sử dụng nhóm bù nước bằng đường uống kết hợp với kẽm Nhưng thực tế, hơn 85% trong số họ lại cấp phát chất kháng khuẩn Liều dùng (96%), số lần dùng trong ngày (98%), cách pha ORS (98%) và
số ngày dùng (98%) là những thông tin được đưa ra thường xuyên nhất trong cuộc
Trang 29khảo sát sử dụng bảng câu hỏi Bên cạnh đó, nghiên cứu sử dụng bệnh nhân mô phỏng cho thấy thông tin về các tác dụng phụ thường gặp và các tương tác chính
đã không được cung cấp cho bệnh nhân [28]
Inas R Ibrahim đã thực hiện một nghiên cứu bằng phương pháp bệnh nhân
mô phỏng trên 75 nhà thuốc cộng đồng tại Baghdad, Iraq từ tháng 2 đến tháng 5 năm 2015 nhằm mục đích đánh giá thực hành cấp phát thuốc và tư vấn của các dược sĩ cộng đồng trong xử trí tiêu chảy cấp Kịch bản đóng vai như sau: “nữ bệnh nhân mô phỏng phàn nàn về bệnh tiêu chảy cấp kéo dài 1 ngày và yêu cầu thuốc
để điều trị tình trạng của mình” Sau khi rời khỏi mỗi hiệu thuốc, cô ấy đánh giá thực hành của các dược sĩ cộng đồng thông qua việc sử dụng bảng kiểm; trong đó, các câu hỏi thu thập bệnh sử sẽ được tính điểm Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng,
đa số dược sĩ đã hỏi ít nhất 4 câu hỏi khi khai thác tiền sử bệnh; các câu hỏi phổ biến nhất là số lần tiêu chảy (n=62; 82,7%), thời gian xuất hiện triệu chứng (n=59; 78,7%), các bệnh mắc kèm và các thuốc đã dùng (n=58; 77,3%) Dược sĩ nữ có tổng điểm trung bình cao hơn (6,45; SD=1,33) trong việc khai thác bệnh sử khi so sánh với các đồng nghiệp nam (4,34, SD = 2,13); p<0,001 Sự kết hợp giữa diphenoxylate và atropin (n=34; 27,9%) là thường xuyên nhất trong khi nhóm bù nước bằng đường uống rất hiếm được sử dụng (n=1; 0,8%) Khoảng 20% (n=15) dược sĩ cấp phát kháng sinh Hơn một nửa (n=46; 61,3%) dược sĩ ghi số lần dùng thuốc trên bao bì thuốc [30]
Nghiên cứu của Christian Kunow được thực hiện vào năm 2014 bằng phương pháp bệnh nhân mô phỏng nhằm đánh giá chất lượng tư vấn đối với bệnh nhân tiêu chảy cấp của các hiệu thuốc ở một thành phố phía đông nước Đức Nghiên cứu được thực hiện trên 21 hiệu thuốc cộng đồng (tổng 84 lượt khảo sát) và sử dụng 4 tình huống khác nhau liên quan đến việc tự dùng thuốc điều trị tiêu chảy
Trang 30cấp Biểu mẫu đánh giá được điều tra viên hoàn thành ngay sau khi rời khỏi hiệu thuốc, bao gồm 9 mục được chấm điểm bằng cách sử dụng thang đo 2 mức độ để tạo ra thang điểm từ 0 đến 9 Kết quả cho thấy, chất lượng tư vấn của NBT khá kém (điểm trung bình 3,3/9 (37%)); thông tin phổ biến nhất được cung cấp là liều dùng (87% lượt) trong khi thông tin ít phổ biến nhất được đưa ra là tác dụng phụ (4% lượt) [22]
Nghiên cứu sử dụng bệnh nhân mô phỏng của M Sancar, E Tezcan và cộng
sự được thực hiện vào năm 2011 trên tổng số 100 hiệu thuốc cộng đồng ở Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ với mục đích đánh giá thực hành tư vấn của dược sĩ cộng đồng và kỹ thuật viên dược đối với bệnh tiêu chảy Họ thiết lập nhiều kịch bản với các nhóm tuổi của đối tượng bệnh nhân khác nhau và chỉ định cho những bệnh nhân mô phỏng đến các hiệu thuốc để thực hiện kịch bản Kết quả cho thấy, dược sĩ và kỹ thuật viên dược ít khi hỏi về nhân khẩu học và tiền sử bệnh của bệnh nhân; loại thuốc được khuyên dùng nhiều nhất là men vi sinh dùng đơn lẻ hoặc kết hợp với các loại thuốc khác [37]
Năm 2008, Getnet Mengistu đã thực hiện nghiên cứu tại một thành phố ở miền nam của Thái Lan với 115 hiệu thuốc được lựa chọn ngẫu nhiên nhằm đánh giá thái độ và thực hành của các dược sĩ cộng đồng trong việc quản lý bệnh tiêu chảy ở trẻ em Phương pháp được sử dụng để đánh giá thái độ là bảng kiểm và sử dụng khách hàng mô phỏng để đánh giá thực hành thực tế của họ Theo kết quả thống kê, chỉ có 5,2% hiệu thuốc cấp phát thuốc phù hợp cho trẻ bị tiêu chảy do virus; việc cấp phát ORS không bị ảnh hưởng bởi loại hình hiệu thuốc và thời gian khảo sát Bên cạnh đó, có đến 52,2% hiệu thuốc đã cấp phát thuốc kháng sinh không hợp lý Trong khảo sát sử dụng bảng câu hỏi, các hiệu thuốc làm việc trong năm 2008 nhất trí mạnh mẽ hơn rằng “ORS hiệu quả, an toàn, được nhiều bệnh
Trang 31nhân yêu cầu” so với năm 2001 (p<0,05) Đã không có yếu tố nào ảnh hưởng đến việc cấp phát ORS theo thực tế dữ liệu thu được [46]
Năm 1999, Em Seston cũng đã thực hiện một nghiên cứu nhằm đánh giá việc quản lý tiêu chảy cấp của các dược sĩ cộng đồng cũng như thái độ và niềm tin của
họ với tình trạng phổ biến này Nghiên cứu được tiến hành trên 1401 dược sĩ cộng đồng được lựa chọn ngẫu nhiên trong tổng số 2500 dược sĩ cộng đồng tại Vương quốc Anh Các câu trả lời của họ cho thấy sự thiếu hiểu biết trong việc điều trị tiêu chảy cấp, đặc biệt là thái độ đối với nhóm bù nước bằng đường uống và nhóm thuốc giảm nhu động [41]
1.4.2 Tại Việt Nam
Tại Cần Thơ, Nguyễn Minh Cường đã thực hiện nghiên cứu đánh giá chất lượng hành nghề dược của các nhà thuốc trên địa bàn vào năm 2019 với 200 nhà thuốc (n=200) được lựa chọn ngẫu nhiên Trong đó, nghiên cứu đã khảo sát một
số kỹ năng thực hành cơ bản của NBT như kỹ năng hỏi, kỹ năng tư vấn và kỹ năng điều trị; được thực hiện dựa trên kịch bản đóng vai mua thuốc điều trị tiêu chảy cấp cho đối tượng trẻ em Một số kết quả đáng chủ ý như: không có lượt tiếp xúc nào NBT cung cấp oresol (0%); bên cạnh, hai biệt dược hỗ trợ cần thiết khác là kẽm (3%) và racecadotril (14%) cũng rất ít được cung cấp, trong khi đó nhóm men tiêu hóa (87%) và nhóm thuốc smectit (71%) xuất hiện với tỷ lệ khá cao Kết quả này phản ánh một cách tương đối về thực trạng kỹ năng của NBT trong xử trí tiêu chảy cấp ở trẻ em [6]
Nghiên cứu của Nguyễn Minh Nhân được thực hiện vào năm 2016 tại huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu nhằm đánh giá thực trạng bán thuốc kháng sinh trong điều trị tiêu chảy cấp ở trẻ em tại các nhà thuốc trên địa bàn Nghiên cứu này
đã sử dụng phương pháp khách hàng mô phỏng với hai kịch bản khác nhau Điểm
Trang 32khác nhau của hai kịch bản là việc cung cấp thông tin về tính chất phân và triệu chứng sốt Theo đó, tỷ lệ bán thuốc kháng sinh trong trường hợp đi tiêu phân nhầy,
có triệu chứng sốt (41,7%) cao gấp gần 2,6 lần trường hợp đi tiêu phân nước, không có triệu chứng sốt (16,3%); loại kháng sinh được sử dụng chủ yếu trong hai trường hợp là cefixim và amoxicillin; các loại thuốc thường được cấp phát bao gồm men vi sinh (77% và 60%), thuốc hấp phụ (56% và 47%), kháng sinh, thuốc
hạ sốt, thuốc giảm nhu động, thuốc kháng tiết, các chế phẩm bù nước bằng đường uống, khoáng chất, vitamin và một vài loại thuốc khác; bên cạnh đó, các chế phẩm
bù nước bằng đường uống rất ít khi được cung cấp (7% và 2%) Nghiên cứu đã thực hiện trên 2 kịch bản khác nhau dựa trên triệu chứng, đó là một ưu điểm lớn của nghiên cứu về độ bao phủ vấn đề Tuy nhiên, các khía cạnh về kỹ năng thực hành chưa được khai thác trong khi đó chính là những điểm mấu chốt giúp nâng cao chất lượng điều trị [10]
Nghiên cứu của Dương Văn Đạt và cộng sự được thực hiện vào năm 1996 tại quận Ba Đình, Hà Nội trên mẫu 29 nhà thuốc được lựa chọn ngẫu nhiên theo
“phương pháp Abramson” nhằm xác định kiến thức và hành vi của nhân viên nhà thuốc trong việc xử lý các trường hợp tiêu chảy cấp ở trẻ em Cuộc khảo sát được thực hiện bằng phương pháp bệnh nhân mô phỏng với kịch bản người mẹ mua thuốc cho con gái khoảng 12 tháng tuổi và đang gặp tình trạng tiêu chảy trong 3 ngày qua, không sốt, phân không có nhầy hay máu Cuộc khảo sát cho thấy rằng,
có đến 10% các trường hợp nhân viên nhà thuốc không đưa ra bất kỳ câu hỏi nào; chỉ khoảng một nửa các trường hợp hỏi về tuổi, về phân, về tần suất tiêu chảy và rất hiếm khi hỏi về tổng trạng, về các thuốc đã dùng cũng như về chế độ dinh dưỡng; phần lớn trường hợp sẽ được cấp phát kháng sinh (45%) và thuốc cầm tiêu chảy (69%) trong khi đó các chế phẩm bù nước bằng đường uống chỉ được cấp
Trang 33phát duy nhất 1 trường hợp; trong các trường hợp được cấp phát kháng sinh, số ngày dùng kháng sinh chỉ dao động trong khoảng 1 đến 2 ngày Nghiên cứu còn hạn chế về cỡ mẫu và độ bao phủ vấn đề khi chỉ có một kịch bản duy nhất [26] Tại Việt Nam, từ khi Bộ Y tế triển khai Chương trình quốc gia về phòng chống tiêu chảy ở trẻ em thì có rất nhiều nghiên cứu về vấn đề này Tuy nhiên, vấn đề quản lý tiêu chảy cấp ở trẻ em tại cộng đồng còn rất hạn chế do hầu hết được thực hiện ở bệnh viện các tuyến Năm 2019, Nguyễn Minh Cường đã thực hiện một nghiên cứu đánh giá chất lượng hành nghề của các nhà thuốc trên địa bàn thành phố Cần Thơ Nghiên cứu khảo sát một số kỹ năng thực hành cơ bản của NBT (kỹ năng hỏi, kỹ năng tư vấn và kỹ năng điều trị) bằng việc sử dụng một số kịch bản đóng vai khách hàng, trong đó có một kịch bản mua thuốc điều trị tiêu chảy cấp cho đối tượng trẻ em Việc sử dụng kịch bản này chỉ là một phần nhỏ nhằm phục vụ mục tiêu chính nên việc triển khai cũng như phân tích các khía cạnh
là chưa triệt để Cụ thể, nghiên cứu chỉ sử dụng duy nhất một kịch bản và chỉ trên đối tượng các nhà thuốc trên địa bàn nên vấn đề khai thác chưa bao phủ Từ những hạn chế đó, chúng tôi đã quyết định tiến hành nghiên cứu này với các mục tiêu đã
đề ra nhằm đánh giá một cách toàn diện hơn các thiếu sót mà nghiên cứu trước đã
để lại
Trang 34Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
NBT tại các cơ sở bán lẻ thuốc trên địa bàn thành phố Cần Thơ năm 2021 Các số liệu được thu thập trong khoảng thời gian từ tháng 05/2021 đến tháng 12/2021
2.1.2 Tiêu chuẩn chọn mẫu
NBT làm việc tại các cơ sở bán lẻ thuốc trên địa bàn thành phố Cần Thơ
2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ
- NBT làm việc tại các cơ sở bán lẻ thuốc trong phạm vi bệnh viện, trạm y tế, phòng khám
- NBT làm việc tại các cơ sở bán lẻ dược liệu, thuốc dược liệu, thuốc cổ truyền
2.1.4 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm: thành phố Cần Thơ
- Thời gian: từ tháng 05/2021 đến tháng 04/2022
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện theo phương pháp mô tả cắt ngang
2.2.2 Cỡ mẫu
Do mục tiêu nghiên cứu có xác định tỷ lệ sử dụng thuốc kháng sinh trong xử trí bệnh tiêu chảy cấp có sốt ở trẻ em nên cỡ mẫu được tính theo công thức ước lượng một tỷ lệ trong quần thể:
Trang 35Trong đó:
- n: số đối tượng nghiên cứu;
- α: xác suất sai lầm loại 1 (chọn α=0,05);
- Z(1-α/2): trị số từ phân phối chuẩn (với α=0,05 thì Z=1,96);
𝑛 =1,96
2 0,42(1 − 0,42)0,12
n=94 NBT tại các cơ sở bán lẻ thuốc cần khảo sát ở mỗi kịch bản Chúng tôi sẽ điều tra thêm 10% mẫu nghiên cứu (tương ứng với 10 NBT) để phòng trường hợp
có nhà thuốc, quầy thuốc tạm ngưng hoạt động trong thời gian nghiên cứu Như vậy, số lượng NBT cần khảo sát là 104 ở mỗi kịch bản Trong thực tế chúng tôi đã nghiên cứu được trên 108 NBT ở mỗi kịch bản
2.2.3 Phương pháp chọn mẫu
Thực hiện chọn mẫu phân tầng Dựa trên cỡ mẫu đã tính toán, chúng tôi phân NBT thành 9 nhóm theo 9 quận, huyện trên địa bàn thành phố Cần Thơ: quận Ninh Kiều, quận Bình Thủy, quận Cái Răng, quận Ô Môn, quận Thốt Nốt, huyện Cờ
Đỏ, huyện Phong Điền, huyện Thới Lai, huyện Vĩnh Thạnh Tại mỗi quận, huyện nêu trên, chúng tôi thực hiện thu thập số liệu tại 12 cơ sở bán lẻ thuốc Tiến hành chọn mẫu thuận tiện tại mỗi quận, huyện cho đến khi thu thập đủ số lượng mẫu như đã tính toán
Trang 362.2.4 Nội dung nghiên cứu
2.2.4.1 Đặc điểm của người bán thuốc và một số yếu tố liên quan
+ Khu dân cư
− Loại hình kinh doanh: chia thành 2 nhóm:
+ Nhà thuốc;
+ Quầy thuốc
− Thời điểm khảo sát: chia thành 2 nhóm:
+ Buổi sáng (từ 7 giờ 30 phút đến 11 giờ 30 phút);
+ Buổi chiều (từ 13 giờ 30 phút đến 17 giờ 30 phút)
− Thời gian một lượt mua thuốc: chia thành 2 nhóm:
+ Thời gian một lượt mua thuốc: ≤3 phút;
+ Thời gian một lượt mua thuốc: >3 phút
Cách tính: thời gian một lượt mua thuốc tính từ lúc người đóng vai bước vào nhà
thuốc hoặc quầy thuốc đến lúc NBT hoàn thành việc cấp phát thuốc (đơn vị tính: giây)
− Mức độ bận rộn của người bán thuốc tại thời điểm khảo sát: chia thành 2 nhóm:
Trang 37+ Số lượng NBT ≥ số lượng người mua thuốc;
+ Số lượng NBT < số lượng người mua thuốc
− Mối liên quan giữa các nhóm tuổi, giới tính với vị trí kinh doanh, loại hình kinh doanh và thời điểm khảo sát
2.2.4.2 Khảo sát thực trạng kỹ năng thực hành cơ bản của người bán thuốc đối với bệnh tiêu chảy cấp ở trẻ em tại các cơ sở bán lẻ thuốc trên địa bàn thành phố Cần Thơ năm 2021
− Tỷ lệ người bán thuốc thực hiện kỹ năng khai thác thông tin
Cách tính chung: tỷ lệ NBT thực hiện kỹ năng khai thác thông tin bằng số NBT
có thực hiện khai thác thông tin được đề cập chia số NBT được khảo sát
+ Tỷ lệ NBT khai thác thông tin về đối tượng dùng thuốc:
• Độ tuổi;
• Cân nặng
+ Tỷ lệ NBT khai thác thông tin về bệnh và triệu chứng bệnh:
• Thời điểm bị tiêu chảy;
• Tần suất bị tiêu chảy;
• Dấu hiệu mất nước
+ Tỷ lệ NBT khai thác thông tin về tiền sử của bệnh nhân:
• Các thuốc đã dùng;
Trang 38• Tiền sử dị ứng thuốc;
• Bệnh mắc kèm;
• Chế độ dinh dưỡng trước khi bị tiêu chảy;
• Chế độ dinh dưỡng trong khi bị tiêu chảy;
• Vắc xin đã tiêm
− Tỷ lệ người bán thuốc thực hiện kỹ năng tư vấn
Cách tính chung: tỷ lệ NBT thực hiện kỹ năng tư vấn bằng số NBT có thực hiện
tư vấn về thông tin được đề cập chia số NBT được khảo sát
+ Tỷ lệ NBT tư vấn về thuốc:
• Lựa chọn thuốc: NBT tư vấn lựa chọn một chế phẩm bất kỳ hoặc tư vấn lựa chọn một trong nhiều chế phẩm tương tự về tác dụng điều trị nhưng khác nhau về nhà sản xuất, giá, ;
• Dạng chế phù hợp cho trẻ: NBT tư vấn lựa chọn dạng bào chế mà trẻ có thể dùng bằng đường uống;
• Tác dụng phụ của thuốc: NBT tư vấn về tác dụng phụ của bất kỳ chế phẩm nào trong các chế phẩm được cấp phát;
• Tương tác thuốc: NBT tư vấn về tương tác thuốc-thuốc hoặc thuốc-thức
ăn liên quan các chế phẩm được cấp phát
+ Tỷ lệ NBT tư vấn về các vấn đề liên quan đến bệnh:
• Bù nước và điện giải (BN&ĐG): NBT tư vấn về các biện pháp bù nước
và điện giải cho trẻ;
• Lưu ý các trường hợp cần đưa trẻ đến bác sĩ để thăm khám;
• Chế độ dinh dưỡng cho trẻ: NBT tư vấn về chế độ dinh dưỡng phù hợp cho trẻ bị tiêu chảy cấp;
Trang 39• Các biện pháp phòng bệnh tiêu chảy: tư vấn ít nhất 1 trong các nội dung sau:
▪ Tiêm vắc xin phòng bệnh tiêu chảy;
▪ Sử dụng nguồn nước sạch cho vệ sinh và ăn uống;
▪ Thực hành an toàn vệ sinh thực phẩm khi chế biến hoặc bảo quản thức ăn;
▪ Rửa tay thường xuyên khi chăm sóc trẻ;
▪ Sử dụng hố xí hợp vệ sinh
− Tỷ lệ người bán thuốc thực hiện kỹ năng hướng dẫn
Cách tính chung: tỷ lệ NBT thực hiện kỹ năng hướng dẫn bằng số NBT có thực
hiện hướng dẫn về thông tin được đề cập chia số NBT được khảo sát
+ Tỷ lệ NBT hướng dẫn cách sử dụng thuốc:
• Liều dùng trên một lần dùng thuốc;
• Số lần dùng thuốc trong ngày;
• Số ngày dùng thuốc;
• Thời điểm dùng thuốc (trong ngày hay so với bữa ăn);
• Kiểm tra sự ghi nhớ của người mua thuốc
+ Tỷ lệ NBT hướng dẫn cách sử dụng chế phẩm BN&ĐG đường uống:
• Tỷ lệ NBT cấp phát sản phẩm BN&ĐG đường uống:
Trang 40• Loại nước dùng để pha;
• Thời gian dùng tối đa sau khi pha;
• Cách bảo quản;
• Lượng uống;
• Thời điểm uống
− Tỷ lệ các nội dung kỹ năng được thực hiện bởi người bán thuốc
Cách tính: tỷ lệ các nội dung kỹ năng được thực hiện bởi người bán thuốc bằng số
nội dung kỹ năng được thực hiện chia tổng số nội dung kỹ năng khảo sát Trong
đó, số nội dung kỹ năng được thực hiện được xem như điểm số kỹ năng của mõi người bán thuốc; tổng số nội dung kỹ năng khảo sát được xem như điểm số tối đa
mà mỗi người bán thuốc có thể đạt được
Điểm số thực tế và điểm số tối đa của ba kỹ năng mà người bán thuốc có thể đạt được: với mỗi nội dung kỹ năng nghiên cứu đặt ra (bao gồm 16 nội dung cho
kỹ năng khai thác thông tin, 8 nội dung cho kỹ năng tư vấn và 5 nội dung cho kỹ năng hướng dẫn) mà NBT chủ động thực hiện thì điểm số sẽ được cộng dồn thêm
1 điểm vào mốc điểm ban đầu là 0 Như vậy, điểm số tối đa có thể đạt được là 29 điểm cho cả ba kỹ năng; 16 điểm cho kỹ năng khai thác thông tin; 8 điểm cho riêng kỹ năng tư vấn và 5 điểm cho riêng kỹ năng hướng dẫn Các nội dung kỹ năng có tính điểm được trình bày cụ thể tại Phụ lục 5
− Một số yếu tố liên quan đến điểm số các kỹ năng thực hành của người bán thuốc:
+ Mối liên quan giữa điểm số các kỹ năng thực hành với giới tính của NBT; + Mối liên quan giữa điểm số các kỹ năng thực hành với nhóm tuổi dự đoán của NBT;