Các đề tài nghiên cứu trước đó Nghiên cứu của Trần Nguyễn Du “Tỷ lệ, mức độ sử dụng rượu bia và một số yếu tố liên quan ở nam giới từ 16 - 60 tuổi tại thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long 2
TOÀN VĂN CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AUDIT (Bài kiểm tra đánh giá mức rối loạn sử dụng rượu) là công cụ quan trọng để nhận diện sớm các vấn đề liên quan đến rối loạn sử dụng rượu bia Trong lĩnh vực y tế, AUDIT giúp xác định mức độ nghiện rượu của người dùng, từ đó đưa ra các phương pháp điều trị phù hợp Đặc biệt, công tác đánh giá này rất cần thiết đối với công nhân viên chức (CNVC) và các đơn vị chuẩn/đơn vị rượu (ĐVC/ĐVR) nhằm nâng cao ý thức về tác hại của rượu và thúc đẩy lối sống lành mạnh.
PCTHRB Phòng chống tác hại của rượu bia
SDRB Sử dụng rượu bia
WHO World Health Organization (Tổ chức Y Tế Thế Giới) YTLQ Yếu tố liên quan
Bảng 3.1 Đặc điểm về nhóm tuổi, dân tộc, tôn giáo, nghề nghiệp 22
Bảng 3.2 Đặc điểm về tình trạng sống chung, kinh tế và HTL 23
Bảng 3.3 Phân loại mức độ SDRB theo AUDIT 25
Bảng 3.4 Tỷ lệ người trong gia đình có SDRB 26
Bảng 3.5 Tỷ lệ người buôn bán và tự chế biến rượu bia 27
Bảng 3 6 Tỷ lệ thái độ và thực hành với luật PCTHRB 28
Các bảng 3.7, 3.8 và 3.9 trình bày mối liên quan giữa các đặc điểm chung và mức SDRB có hại, đồng thời phân tích các yếu tố nguy cơ liên quan đến việc xuất hiện SDRB có hại Đây là những nội dung quan trọng giúp hiểu rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng và nguy cơ gây hại của SDRB, góp phần nâng cao hiệu quả phòng tránh và kiểm soát tình trạng này Những dữ liệu này cung cấp cái nhìn toàn diện về mối liên hệ giữa các đặc điểm và yếu tố nguy cơ, hỗ trợ đưa ra các biện pháp can thiệp phù hợp nhằm giảm thiểu tác hại của SDRB.
Bảng 3.10 Phân tích đa biến một số YTLQ đến SDRB ở mức có hại 32
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ đã từng sử dụng rượu bia 23
Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ lần đầu sử dụng rượu bia dưới 18 tuổi 24
Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ SDRB trong 12 tháng vừa qua 24
Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ giảm sử dụng rượu bia so với một năm trước 25
Biểu đồ 3.5 Tỷ lệ có người trong gia đình sử dụng rượu bia 26
Biểu đồ 3.6 Tỷ lệ bạn bè SDRB 27
Biểu đồ 3.7 Tỷ lệ suy nghĩ đối tượng về ngưỡng uống rượu bia có hại 28
Theo WHO, rượu bia là chất gây nghiện với khả năng gây lệ thuộc và là nguyên nhân gây ra hơn 230 loại bệnh tật và tình trạng thương tích, như được ghi nhận trong “Bảng phân loại thống kê quốc tế về bệnh tật và các vấn đề sức khỏe có liên quan, phiên bản lần thứ 10” Việc sử dụng rượu bia có thể dẫn đến các vấn đề sức khỏe về thể chất, tinh thần và xã hội, ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc sống của người tiêu dùng Rượu bia là một trong những yếu tố phổ biến gây tác động tiêu cực đến sức khỏe cộng đồng.
Các yếu tố nguy cơ chính của bệnh không lây nhiễm bao gồm bệnh tim mạch (tăng nguy cơ đột quỵ, suy tim, cao huyết áp và phình động mạch chủ), bệnh tiêu hóa (viêm gan, xơ gan, viêm loét dạ dày – tá tràng, viêm tụy cấp và mãn tính), ung thư (khoang miệng, vòm họng, thanh quản, thực quản, đại trực tràng, gan mật và ung thư vú), rối loạn chuyển hóa (đái tháo đường) và rối loạn sử dụng rượu bia (AUD) Về mặt xã hội, rượu bia là nguyên nhân gây ra các vấn đề nghiêm trọng như bạo lực, mất trật tự an toàn xã hội, tội phạm, phân hóa xã hội và tổn thất kinh tế do chi phí chăm sóc bệnh tật và chấn thương liên quan đến rượu bia Theo thống kê năm 2019, trung bình mỗi năm Việt Nam có khoảng 15.000 ca tử vong do tai nạn giao thông, trong đó 4.800 trường hợp liên quan đến rượu bia Chi phí gián tiếp giảm năng suất lao động do rượu bia chiếm khoảng 2,5% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của các quốc gia như Canada, Pháp, Scotland, Mỹ, Hàn Quốc và Thái Lan.
Từ năm 2000 trở đi, tình trạng sử dụng rượu bia tại Việt Nam ngày càng phổ biến và gia tăng rõ rệt, thể hiện qua ba chỉ số chính: lượng tiêu thụ rượu bia trung bình, tỷ lệ người uống rượu bia trong tháng qua và tỷ lệ uống rượu bia ở mức nguy hại Cụ thể, lượng rượu bia tiêu thụ trung bình của người trưởng thành đã tăng mạnh từ 3,8 lít trong khoảng thời gian 2003-2005 lên 4,7 lít trong 2009-2011 và đạt 8,3 lít trong giai đoạn 2015-2017 WHO dự báo rằng con số này còn có khả năng tiếp tục tăng trong tương lai.
2 lên 9,9 lít vào năm 2020 và 11,4 lít vào năm 2025 nếu không có biện pháp can thiệp hiệu quả vào việc kiểm soát tác hại của sử dụng rượu bia [41]
Ngày 14/06/2019, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật phòng, chống tác hại của rượu, bia, chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2020, nhằm giảm mức tiêu thụ rượu bia của người dân và hạn chế tác hại của chúng Tuy nhiên, sau khi luật có hiệu lực, chưa có nghiên cứu nào điều tra về tình trạng sử dụng rượu bia và các yếu tố liên quan của người dân tại xã Giai Xuân và Mỹ Khánh, huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ Do đó, chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu tình trạng sử dụng rượu bia cùng các yếu tố liên quan của nam giới từ 16 đến 60 tuổi tại hai xã huyện Phong Điền” để đánh giá ảnh hưởng và hiệu quả của luật trong cộng đồng địa phương.
TP Cần Thơ” với mục tiêu sau:
- Xác định tỷ lệ và mức độ sử dụng rượu bia của nam giới từ 16 đến 60 tuổi tại hai xã huyện Phong Điền, TP Cần Thơ năm 2021
- Xác định yếu tố liên quan đến việc sử dụng rượu bia ở nam giới từ 16 đến 60 tuổi tại hai xã huyện Phong Điền, Thành phố Cần Thơ năm 2021
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Nam giới trong độ tuổi từ 16-60 tại hai xã Giai
Xuân và Mỹ Khánh, huyện Phong Điền, Thành phố Cần Thơ
Tiêu chuẩn chọn: Nam giới trong độ tuổi 16-60 có mặt tại hai xã Giai
Xuân và Mỹ Khánh, huyện Phong Điền, Thành phố Cần Thơ ngay tại thời điểm nghiên cứu và đồng ý tham gia nghiên cứu
- Người không có khả năng giao tiếp
- Người không có mặt tại thời điểm nghiên cứu
Nghiên cứu tập trung vào những người không đủ năng lực hành vi hoặc mắc các bệnh rối loạn tâm thần Địa điểm thực hiện nghiên cứu gồm hai xã Giai Xuân và Mỹ Khánh, nằm trong huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ.
Thời gian nghiên cứu: 15/11/2020 đến 01/6/2022.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích
2.2.2 Cỡ mẫu Áp dụng công thức ước tính cỡ mẫu cho một tỷ lệ trong quần thể:
Chọn α=0,05 là mức ý nghĩa thống kê, nên 𝑧 1− 𝛼
Tỷ lệ SDRB có hại ước lượng p,3% theo nghiên cứu yếu tố nguy cơ bệnh không lây nhiễm ta ̣i Cần Thơ 2009-2010 của Trần Quốc Bảo [2]
16 d=0,05 là khoảng sai số cho phép
Tính được cỡ mẫu là 220 Tuy nhiên do chọn mẫu là chọn mẫu nhiều giai đoạn nên nhân với hệ số DE = 1,5 được cỡ mẫu 330
Chọn mẫu nhiều giai đoạn
1 Giai đoạn 1: Chọn 4 trong số 14 ấp tại xã Giai Xuân và 4 trong số 11 ấp bằng phương pháp ngẫu nhiên tại xã Mỹ Khánh, huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ
2 Giai đoạn 2: Thời gian thu mẫu là lúc sáng bắt đầu lúc 8 giờ vào các ngày thứ bãy và chủ nhật Trong các ấp đã chọn, chọn một hướng đi bắt đầu từ giữa ấp và di chuyển nhà liền nhà đi đến khi đủ số lượng với mỗi ấp tối thiểu
Trong quá trình lựa chọn, tổng số người cần đủ là 42 người; nếu không đủ, sẽ thực hiện đi lại theo hướng khác từ vị trí bắt đầu cho đến khi đạt đủ số lượng Mỗi hộ có từ 2 người trở lên đủ tiêu chuẩn sẽ được chọn ngẫu nhiên một người qua phương pháp bấm máy tính để chọn số ngẫu nhiên Trường hợp các đối tượng vắng nhà sẽ bỏ qua và không tính vào danh sách chọn lựa.
Tuổi là biến định lượng, được tính bằng cách lấy năm hiện tại trừ đi năm sinh, tính theo năm dương lịch theo lời khai của đối tượng
Nhóm tuổi được phân thành ba khoảng: 16-30 tuổi, 31-45 tuổi và 46-60 tuổi, phù hợp cho các chiến dịch nhắm vào từng nhóm đối tượng Dân tộc, dựa trên thông tin khai báo trên chứng minh nhân dân hoặc giấy tờ tùy thân hợp pháp khác, là biến định tính, chia thành hai giá trị chính là Kinh và Các dân tộc khác Việc phân loại chính xác nhóm tuổi và dân tộc giúp tối ưu hóa chiến lược tiếp thị và nâng cao hiệu quả tương tác với khách hàng.
Trình độ học vấn là biến định tính, được chia ra làm 4 giá trị: < cấp 1; cấp 2; cấp 3; > cấp 3
Tôn giáo là biến định tính, được chia ra làm 4 giá trị: Phật giáo;Thiên chúa; Không; Khác
Nghề nghiệp là biến định tính, được chia ra làm 7 giá trị: nông dân; công nhân; làm thuê; công nhân viên chức; buôn bán; thất nghiệp; khác
Sống chung gồm 2 nhóm: một mình; gia đình
Theo quyết định số 59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, giai đoạn 2016-2020, chính sách phân chia kinh tế gia đình được áp dụng nhằm đánh giá mức độ phụ thuộc vào thu nhập và điều kiện sống của từng hộ gia đình Kinh tế gia đình có tính chất biến đổi về mặt định tính, với hai giá trị chính là nghèo/cận nghèo (dựa trên sổ hộ nghèo/cận nghèo) và không nghèo, góp phần xác định chính sách hỗ trợ phù hợp cho các hộ dân còn gặp khó khăn Điều này giúp chính phủ có thêm dữ liệu chính xác để thúc đẩy các chương trình giảm nghèo và nâng cao đời sống người dân.
Tỷ lệ và mức độ sử dụng rượu bia
- Tỷ lệ người đang sử dụng rượu bia: Tỷ lệ người đã uống ít nhất 1 đơn vị rượu trong 1 ngày trong 12 tháng qua
- Tỷ lệ người đã từng sử dụng rượu bia: Tỷ lệ người đã từng uống ít nhất 1 đơn vị rượu trong 1 ngày từ trước tới nay
- Công cụ sàng lọc AUDIT bao gồm 10 câu hỏi:
Tần suất uống rượu trong 12 tháng qua được đo bằng số lần trung bình, chia thành 5 mức độ chính: chưa từng uống, uống hàng tháng hoặc ít hơn, từ 2 đến 4 lần mỗi tháng, từ 2 đến 3 lần mỗi tuần, và ít nhất 4 lần trong tuần.
Trong bài viết này, chúng tôi đánh giá lượng rượu bia trung bình hàng ngày theo đơn vị chuẩn trong 12 tháng qua, giúp xác định mức tiêu thụ cồn của người dùng Các mức tiêu thụ được phân thành năm nhóm chính: từ 0 đến 2 ĐVC, 3 đến 4 ĐVC, 5 đến 6 ĐVC, 7 đến 9 ĐVC, và từ 10 ĐVC trở lên Việc đo lường này giúp cung cấp cái nhìn tổng quan về thói quen tiêu thụ rượu bia của từng cá nhân, từ đó hỗ trợ trong việc xây dựng các chiến lược giảm thiểu tác động xấu đến sức khỏe.
Tần suất uống từ 4 ly tiêu chuẩn trở lên trong một dịp bất kỳ là yếu tố quan trọng để đánh giá mức độ tiêu thụ rượu của bạn trong 12 tháng qua Các mức độ này được phân thành năm giá trị khác nhau, bao gồm: Không bao giờ, dưới 1 lần/tháng, hàng tháng, hàng tuần và gần như mỗi ngày Việc xác định tần suất này giúp hiểu rõ hơn về thói quen uống rượu và có thể hỗ trợ trong việc xây dựng các chiến lược phòng chống tác hại của rượu bia.
Tần suất không thể dừng uống là số lần người uống rượu bia trong 12 tháng qua, phản ánh mức độ nghiện và thói quen tiêu thụ Dữ liệu này được phân thành 5 giá trị: chưa bao giờ, dưới 1 lần/tháng, hàng tháng, hàng tuần và gần như hàng ngày, giúp xác định mức độ liên tục và cường độ sử dụng rượu bia của người dùng Việc theo dõi tần suất này là yếu tố quan trọng trong việc đánh giá nguy cơ và lên kế hoạch can thiệp phù hợp.
Tần suất không thực hiện các công việc dự định do uống rượu bia trong vòng 12 tháng qua phản ánh mức độ ảnh hưởng của việc sử dụng rượu, bia đối với cuộc sống hàng ngày Các giá trị khảo sát gồm có "Chưa bao giờ", "Dưới 1 lần/tháng", "Hàng tháng", "Hàng tuần" và "Gần như hàng ngày", giúp phân loại mức độ thường xuyên của việc bỏ lỡ kế hoạch do tiêu thụ rượu bia Điều này cung cấp thông tin quan trọng để đánh giá tác động của rượu, bia đối với khả năng duy trì các hoạt động đã định trước của người tham gia khảo sát.
Tần suất uống rượu ngay sau khi thức dậy là yếu tố quan trọng cần được theo dõi, thể hiện qua các mức độ khác nhau như chưa bao giờ, dưới 1 lần/tháng, hàng tháng, hàng tuần và gần như hàng ngày trong vòng 12 tháng qua Việc ghi nhận các giá trị này giúp xác định mức độ phụ thuộc hoặc thói quen tiêu thụ rượu bia của cá nhân, hỗ trợ các chiến lược can thiệp và phòng ngừa hiệu quả Theo dõi tần suất uống rượu sau khi thức dậy có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá hành vi tiêu thụ rượu, từ đó nâng cao nhận thức và thúc đẩy lối sống lành mạnh hơn.
Trong 12 tháng qua, tần suất cảm thấy mắc lỗi, áy náy và lo lắng về việc uống rượu bia của bản thân được phân loại thành năm mức độ: chưa bao giờ, dưới 1 lần/tháng, hàng tháng, hàng tuần và gần như hàng ngày Những câu hỏi này giúp đánh giá mức độ ảnh hưởng của việc tiêu thụ rượu bia đến cảm xúc và hành vi của người tham gia, từ đó cung cấp dữ liệu quan trọng cho các nghiên cứu và can thiệp về sức khỏe tâm thần và lối sống.
Tần suất mất trí nhớ sau khi uống rượu bia là vấn đề quan trọng cần được quan tâm Đó là số lần bạn không nhớ chuyện đã xảy ra trong vòng 12 tháng gần đây sau khi tiêu thụ rượu bia Hiểu rõ mức độ này giúp đánh giá tác động của rượu bia đối với trí nhớ và sức khỏe tổng thể.
5 giá trị: Chưa bao giờ, dưới 1 lần/tháng, hàng tháng, hàng tuần và gần như hàng ngày
Trong quá khứ, đã từng bị thương hoặc gây thương tích cho người khác do uống rượu bia, với ba mức độ khác nhau: chưa từng xảy ra, đã từng xảy ra nhưng không trong năm vừa qua, và đã xảy ra trong năm vừa qua.
Có người lo ngại về tình trạng sử dụng rượu bia, phân thành ba mức độ: chưa bao giờ sử dụng, có nhưng không trong năm vừa qua và có trong năm vừa qua Đánh giá nguy cơ dựa trên điểm số, với các mức nguy cơ thấp từ 0-7 điểm, nguy cơ trung bình từ 8-15 điểm, nguy hại từ 16-19 điểm và lạm dụng rượu bia từ 20 điểm trở lên Việc phân loại này giúp xác định mức độ rủi ro và cần thiết có các biện pháp can thiệp phù hợp.
Các yếu tố liên quan đến SDRB mức có hại (từ mức 2 trở lên)
Các yếu tố cá nhân: Bao gồm tuổi, dân tộc, nghề nghiệp, kinh tế hộ gia đình, trình độ học vấn, sống chung với ai và hút thuốc lá
Các yếu tố xã hội: Việc buôn bán và sản xuất rượu bia của đối tượng, tình trạng SDRB của bạn bè, đồng nghiệp, người thân đối tượng
Đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu đã được sự chấp thuận của Hội Đồng Khoa Học Trường Đại Học Y Dược Cần Thơ Mã số phiếu chập thuận là 279/PCT-HĐĐĐ
Tất cả các đối tượng nghiên cứu đều đồng ý tham gia sau khi được giải thích rõ ràng về mục tiêu và nội dung của nghiên cứu, đảm bảo quyền tự do lựa chọn Thông tin cá nhân của các đối tượng nghiên cứu sẽ được bảo mật tuyệt đối, chỉ những nhà nghiên cứu mới có quyền truy cập vào dữ liệu này Những đối tượng nghiên cứu hoàn toàn có quyền từ chối tham gia bất kỳ lúc nào mà không gặp bất kỳ hậu quả nào.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đặc điểm đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1 Đặc điểm về nhóm tuổi, dân tộc, tôn giáo, nghề nghiệp Đặc điểm Tần số (n48) Tỷ lệ (%)
Nhận xét: Đối tượng chủ yếu ở nhóm tuổi >30 (83,9%), dân tộc Kinh
Khoảng 96,3% người tham gia không theo tôn giáo hoặc đạo Phật, trong đó lần lượt tôn giáo chiếm 63,5% và đạo Phật 31,3% Nghề nghiệp nông dân chiếm ưu thế với tỷ lệ 35,1%, cho thấy đa số người dân hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp Trình độ học vấn từ cấp 2 trở lên chiếm đa số, với 136 người tương đương 39,1%, phản ánh mức độ giáo dục trung bình khá trong cộng đồng.
Bảng 3.2 Đặc điểm về tình trạng sống chung, kinh tế và HTL Đặc điểm Tần số (n48) Tỷ lệ (%)
Kinh Tế Nghèo/ cận nghèo 50 14,4
Trong phân tích về trình độ học vấn, có 136 người từ cấp 2 trở lên, chiếm tỷ lệ cao nhất là 39,1%, trong khi số người có trình độ trên cấp 3 lại thấp nhất với chỉ 8,3% Đa số người tham gia khảo sát sống cùng gia đình, chiếm tới 94,5% Về tình hình kinh tế, phần lớn người không thuộc diện nghèo, đạt tỷ lệ 85,6%, và tỷ lệ hộ nghèo khá thấp chỉ 56,3%.
Thực trạng sử dụng rượu bia
Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ đã từng sử dụng rượu bia
Nhận xét: Trong các đối tượng nghiên cứu thì có 79,6% (277 người) đã từng SDRB 20,4% (71 người) chưa từng SDRB
20,4% Đã từng sử dụng rượu bia Chưa từng sử dụng rượu bia
Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ lần đầu sử dụng rượu bia dưới 18 tuổi
Nhận xét: Trong 277 đối tượng đã từng SDRB có 71 đối tượng lần đầu
SDRB dưới 18 tuổi (chiếm 25,6%) Độ tuổi trung bình lần đầu SDRB là 20,43
Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ SDRB trong 12 tháng vừa qua
Nhận xét: Trong số đối tượng được nghiên cứu thì có 78,4% (273 người) có SDRB trong 12 tháng vừa qua, 21,6% (75 người) không có SDRB trong 12 tháng vừa qua
Lần đầu sử dụng rượu bia trên 18 tuổi Lần đầu sử dụng rượu bia dưới 18 tuổi
Có sử dụng rượu bia không có sử dụng rượu bia
Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ giảm sử dụng rượu bia so với một năm trước
Nhận xét: Trong số 273 đối tượng có SDRB trong 12 tháng qua có
Gần phân nửa người tham gia khảo sát (49,5%, tương đương 135 người) cho biết đã giảm sử dụng rượu bia so với năm trước, trong khi 50,5% (138 người) cho biết vẫn duy trì mức tiêu thụ như cũ Nguyên nhân chính khiến người dùng giảm rượu bia là do các lý do cá nhân, tiếp theo là do ảnh hưởng của các quy định pháp luật và cuối cùng là do tác động của dịch bệnh.
Bảng 3.3 Phân loại mức độ SDRB theo AUDIT
Mức nguy cơ Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Trong phân tích, có tới 59,8% đối tượng SDRB được đánh giá ở mức nguy cơ thấp, cho thấy tỷ lệ người ít gặp rủi ro liên quan đến sử dụng thuốc sai mục đích Tuy nhiên, vẫn còn 40,2% đối tượng SDRB không hợp lý, nằm từ mức nguy cơ trở lên, điều này cho thấy cần tăng cường kiểm soát và giám sát để giảm thiểu các hành vi không hợp lý trong sử dụng thuốc Đặc biệt, mức nguy hại và lạm dụng chiếm 4%, đặt ra thách thức lớn về an toàn thuốc và cần có các biện pháp phòng ngừa hiệu quả.
Thực trạng của các yếu tố nguy cơ đến việc sử dụng rượu bia ở mức có hại
Biểu đồ 3.5 Tỷ lệ có người trong gia đình sử dụng rượu bia
Trong số 348 đối tượng khảo sát, có 68,1% (237 người) có người thân trong gia đình mắc SDRB, trong khi đó chỉ có 31,9% (111 người) có người thân trong gia đình không mắc SDRB.
Bảng 3.4 Tỷ lệ người trong gia đình có SDRB
Người thân Tần số (người) Tỷ lệ (%)
Trong tổng số 348 đối tượng khảo sát, tỷ lệ có cha hoặc anh/em trai mắc SDRB cao nhất, đạt 36,8% Tiếp đến, tỷ lệ các đối tượng có chị/em gái mắc SDRB là 7,2%, trong khi đó tỷ lệ mẹ có SDRB thấp nhất chỉ là 6,6% Điều này cho thấy mối liên hệ giữa các thành viên trong gia đình và mức độ mắc SDRB, đặc biệt là ảnh hưởng từ cha hoặc anh/em trai.
Có người trong gia đình SDRBKhông có người trong gia đình SDRB
Biểu đồ 3.6 Tỷ lệ bạn bè SDRB
Nhận xét: Trong số 348 đối tượng khảo sát, có 286 (82,2%) đối tượng có bạn bè SDRB và chỉ có 62 (17,8%) đối tượng có bạn bè không SDRB
Bảng 3.5 Tỷ lệ người buôn bán và tự chế biến rượu bia Đặc điểm Tần số (n48) Tỷ lệ (%)
Tự chế biến rượu bia
Có tự chế biến rượu 25 7,2
Không tự chế biến rượu
Trong khảo sát với 348 đối tượng, chỉ có 3,4% (12 người) tham gia buôn bán rượu bia, trong khi phần lớn là 96,6% (336 người) không thực hiện hoạt động này Ngoài ra, chỉ 7,2% (25 người) tự nấu hoặc ngâm rượu, còn lại 92,8% (323 người) không tự chế biến rượu bia, cho thấy tỷ lệ người tham gia vào hoạt động kinh doanh hoặc tự chế biến rượu bia khá thấp trong cộng đồng.
Có bạn bèSDRB Không có bạn SDRB
Biểu đồ 3.7 Tỷ lệ kiến thức đối tượng về ngưỡng uống rượu bia có hại
Trong nghiên cứu với 348 đối tượng, có đến 61% cho rằng chỉ cần uống rượu bia đã gây hại cho sức khỏe Ngoài ra, 14% người tham gia cho biết uống trên 2 đơn vị rượu mỗi ngày là nguy hiểm, trong khi 25% có câu trả lời khác, phản ánh nhận thức đa dạng về tác hại của rượu bia.
Bảng 3 6 Tỷ lệ thái độ và thực hành với luật PCTHRB Đặc điểm Tần số (n48) Tỷ lệ (%)
Trong khảo sát với 348 đối tượng, có tới 90,8% đề hiểu đúng các quy định về luật PCTHRB, nhưng chỉ 38,5% thực hiện đúng, cho thấy tồn tại khoảng cách giữa nhận thức và hành động Những người vi phạm thường xuyên tham gia giao thông không tuân thủ luật (50,3%), không nhắc nhở hoặc ngăn cấm người dưới 18 tuổi thực hiện hành vi sai trái (22,4%), cũng như có hành vi lôi kéo, ép buộc người khác SDRB tại bệnh viện, trường học hoặc công viên dành cho trẻ nhỏ trong vòng 12 tháng qua (8,9%) Sự khác biệt này nhấn mạnh sự cần thiết tăng cường công tác tuyên truyền và giáo dục về ý thức thực hiện đúng luật PCTHRB.
Uống là có hại > 2 đơn vị rượu 1 ngàyCâu trả lời khác
Các yếu tố liên quan khi phân tích đơn biến
Bảng 3.7 Mối liên quan giữa một số đặc điểm chung và SDRB mức có hại Đặc điểm
* Nhóm nền dùng để so sánh
Các kết quả nghiên cứu cho thấy có sự liên quan đáng kể giữa nhóm tuổi và tỷ lệ người sử dụng rượu bia ở mức nguy hại, đặc biệt là ở nhóm tuổi từ 31-45 và 46-60 với tỷ lệ lần lượt là 41,3% và 44,6%, cao hơn nhiều so với nhóm tuổi từ 16-30 chỉ chiếm 25% Sự khác biệt này thể hiện ý nghĩa thống kê với giá trị p lần lượt là 0,037 và 0,011, cho thấy nhóm tuổi từ 31-60 có nguy cơ sử dụng rượu bia mức nguy hại cao hơn rõ rệt Trong khi đó, nghiên cứu không phát hiện mối liên hệ đáng kể giữa trình độ học vấn và tôn giáo với hành vi sử dụng rượu bia.
Bảng 3.8 Mối liên quan giữa một số đặc điểm chung và SDRB mức có hại Đặc điểm
Công nhân 19 (44,2) 24 (55,8) 1,882 (0,932-3,798) 0,078 Làm thuê 41 (59,4) 28 (40,6) 1,017 (0,557-1,857) 0,955 CNVC 16 (76,2) 5 (23,8) 0,466 (0,160-1,354) 0,160 Buôn bán 29 (63,0) 17 (37,0) 0,873 (0,434-1,758) 0,704 Thất nghiệp 2 (28,6) 5 (71,4) 3,724 (0,695-19,97) 0,125 Khác 28 (70,0) 12 (30,0) 0,638 (0,297-1,375) 0,252
* Nhóm nền dùng để so sánh
Kết quả nghiên cứu cho thấy có mối liên hệ đáng kể giữa tình trạng kinh tế hộ gia đình và mức sử dụng rượu bia có hại, khi tỷ lệ SDRB ở người nghèo hoặc cận nghèo là 56%, cao hơn nhiều so với nhóm có điều kiện kinh tế khá giả với tỷ lệ 37,6% (OR = 0,473; 95% CI: 0,258-0,867; p = 0,014) Ngoài ra, nghiên cứu không phát hiện ra mối liên quan giữa các nhóm dân tộc, nghề nghiệp hoặc tình trạng sống chung với việc sử dụng rượu bia có hại.
Bảng 3.9 Mối liên quan các yếu tố nguy cơ với SDRB có hại Đặc điểm
Tự sản xuất rượu bia
Thái độ với luật PCTHRB Đúng 200 (63,3) 116 (36,7) 5,172
Nghiên cứu cho thấy có mối liên hệ rõ ràng giữa lần đầu SDRB dưới 18 tuổi, hút thuốc lá, bạn bè, gia đình, việc tự sản xuất rượu bia, thái độ đúng đắn và việc thực hiện đúng luật PCTHRB với việc sử dụng SDRB có hại Tuy nhiên, không có bằng chứng cho thấy buôn bán rượu bia liên quan đến SDRB mức có hại.
Các yếu tố liên quan đến sử dụng rượu bia có hại khi phân tích đa biến 32 Chương 4 BÀN LUẬN
Bảng 3.10 Phân tích đa biến một số YTLQ đến SDRB ở mức có hại Đặc điểm chung
Phân tích đơn biến Phân tích đa biến
Công nhân 1,882 0,078 1,911 (0,824-4,433) 0,132 Làm mướn 1,017 0,955 1,597 (0,771-3,307) 0,207 CNVC 0,466 0,160 0,861 (0,240-3,084) 0,818 Buôn bán 0,873 0,704 1,123 (0,478-2,637) 0,790 Thất nghiệp 3,724 0,125 6,682 (1,039-43,966) 0,045
Lần đầu SDRB dưới 18 tuổi
Phân tích đơn biến Phân tích đa biến
Sau khi phân tích đa biến, các yếu tố nguy cơ có liên quan đến mức độ có hại của SDRB được ghi nhận bao gồm nhóm tuổi từ 16 đến 30, người có thu nhập thấp, tình trạng thất nghiệp, lần đầu SDRB dưới 18 tuổi, đang có gia đình hoặc có bạn bè từng bị SDRB, thái độ tiêu cực và thực hành sai lệch so với các quy định phòng chống SDRB.
Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu
Trong nghiên cứu của chúng tôi, độ tuổi trung bình nằm trong nhóm 46-60 tuổi, chiếm tỷ lệ cao nhất là 47,7%, tiếp theo là nhóm 31-45 tuổi với 36,2%, trong khi nhóm 16-30 tuổi chiếm tỷ lệ thấp hơn là 16,1%, có thể do xác suất gặp các đối tượng trong độ tuổi 46-60 cao hơn trong quá trình lấy mẫu Đặc biệt, đa số nam giới trong mẫu là người dân tộc Kinh, chiếm tới 96,3%, trong khi tỷ lệ dân tộc Khmer là 2,3%, dân tộc Hoa là 0,9%, và các dân tộc khác rất thấp với 0,6%; tỷ lệ này tương đồng với nghiên cứu của Lê Trúc Hương tại huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ năm 2013, khi tỷ lệ dân tộc Kinh chiếm tới 99%.
Dưới góc độ tôn giáo, phần lớn nam giới (63,5%) không theo đạo, trong khi tỷ lệ theo đạo Phật chiếm 31,3%, đạo Thiên Chúa chiếm 1,4%, và các tôn giáo khác chiếm 3,7% Tỷ lệ không theo đạo trong nghiên cứu này cao hơn so với nghiên cứu của Lê Trúc Hương tại huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ năm 2013 (56,8%), có thể do phong tục và quan niệm sống của người dân trong khu vực này từ trước đã không theo đạo.
Trong tổng số nam giới tham gia nghiên cứu, đa số (35,1%) làm nghề nông, phù hợp với tình hình đặc điểm kinh tế xã hội tại Việt Nam khi phần lớn lực lượng lao động hoạt động trong lĩnh vực nông-lâm-ngư nghiệp (41,6%) Các nghề còn lại như công nhân chiếm 12,4%, làm thuê/mướn 19,8%, buôn bán 13,2%, công nhân viên chức 6%, thất nghiệp 2%, và nghề nghiệp khác chiếm 11,5% Tỷ lệ nam giới trong độ tuổi từ 16-60 chủ yếu tập trung vào các ngành nghề nông nghiệp tại hai xã Giai Xuân và Mỹ Khánh.
Hầu hết nam giới có trình độ học vấn từ cấp 2, chiếm tỷ lệ 39,1%, tiếp đến là tốt nghiệp cấp 3 với 25,6%, trong khi tỷ lệ tốt nghiệp đại học trở lên khá thấp, chỉ 8,3% Do phần lớn lao động đang làm nghề nông, nên nhu cầu về học tập và nâng cao trình độ vẫn còn nhiều hạn chế, ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của nguồn nhân lực địa phương.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ gia đình chiếm 94,5%, cao hơn nhiều so với tỷ lệ độc thân là 5,5%, điều này có thể do đối tượng là người trưởng thành trên 16 tuổi, trong khi các nghiên cứu khác như của Lê Thị Kim Ánh chỉ có 78,1% gia đình Ngoài ra, sự khác biệt còn có thể xuất phát từ sai số chọn mẫu chưa thực sự đại diện cho biến số này Các kết quả này cho thấy tỷ lệ gia đình trong nhóm khảo sát của chúng tôi khá cao so với các nghiên cứu trước đó, phản ánh đặc điểm của mẫu nghiên cứu.
Tỷ lệ dân cư không nghèo chiếm tới 85,6%, trong khi đó, tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo chiếm 14,4% trong đối tượng nghiên cứu Tỷ lệ hộ nghèo của địa phương cao hơn mức trung bình của toàn thành phố Cần Thơ vào cuối năm 2015 là 3,1%, phù hợp với thực tế phát triển kinh tế của huyện Phong Điền chủ yếu dựa vào nông nghiệp Do đó, nghề nông nghiệp vẫn là lựa chọn phổ biến nhất của người dân địa phương để sinh sống và phát triển kinh tế.
Thực trạng sử dụng rượu bia
4.2.1 Tình hình sử dụng rượu bia và lạm dụng rượu bia
Tỷ lệ nam giới từ 16-60 tuổi tại hai xã huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ có tỷ lệ SDRB khá cao, đạt 79,6%, trong khi đó 20,4% chưa từng mắc SDRB Điều này cho thấy sự phổ biến của SDRB trong nhóm tuổi này và tầm quan trọng của việc chú ý đến vấn đề sức khỏe nam giới tại địa phương Các kết quả này nhấn mạnh cần thiết phải thực hiện các biện pháp phòng ngừa và nâng cao ý thức về vấn đề SDRB để giảm thiểu tỷ lệ mắc bệnh trong cộng đồng.
Trong 12 tháng qua, tỷ lệ SDRB ở nam giới từ 16-60 tuổi tại 2 xã huyện Phong Điền, TP Cần Thơ lên tới 78,4%, mức cao trong phạm vi nghiên cứu, gần bằng 74,85% theo khảo sát của Lê Trúc Hương [12] Tuy nhiên, tỷ lệ này thấp hơn so với kết quả của Trương Thị Diễm My tại phường Lê Bình, quận Cái Răng năm 2016, đạt 87,3% [14], thể hiện sự khác biệt đáng kể giữa các khu vực và thời điểm khảo sát.
Nghiên cứu của chúng tôi bao gồm đối tượng từ 16-60 tuổi, trong đó có cả học sinh, nên nhiều người tham gia có thể không sử dụng rượu bia Trong khi đó, nghiên cứu của Trương Thị Diễm My tập trung vào nam giới trên 40 tuổi sống tại khu vực thành thị, chủ yếu làm các ngành dịch vụ, du lịch, và buôn bán (chiếm 31,5%), do đó tỷ lệ sử dụng rượu bia ở nhóm này có xu hướng cao hơn so với các đối tượng khác.
Trong số những người có SDRB trong vòng 12 tháng qua, 49,5% nhận thấy giảm SDRB chủ yếu do nguyên nhân cá nhân, tiếp theo là do các điều luật và ảnh hưởng của dịch bệnh Trong khi đó, 50,5% cho biết bản thân không gặp phải giảm SDRB Điều này cho thấy sự phân chia rõ rệt về nhận thức của người tiêu dùng liên quan đến các yếu tố tác động đến SDRB trong năm qua.
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ nam giới từ 16-60 tuổi mắc SDRB ở mức có hại là 40,2%, thấp hơn so với nghiên cứu của Lê Trúc Hương (51,8%) và bằng với kết quả của Trương Thị Diễm My (40,2%) Thời điểm thực hiện nghiên cứu trùng với dịch Covid-19, khiến tỷ lệ này có thể bị ảnh hưởng bởi các chính sách giãn cách xã hội Một nghiên cứu tại Mỹ cũng đưa ra tỷ lệ SDRB có hại là 40,7% sau 6 tháng phong tỏa vì Covid-19, cho thấy sự ảnh hưởng của dịch bệnh đến hành vi tiêu thụ rượu Mặc dù có sự khác biệt về công cụ sàng lọc, ngưỡng quy định và đặc điểm dân tộc, văn hóa, kinh tế, so sánh các kết quả này có thể gợi ý rằng trong dân số, tồn tại một ngưỡng giới hạn về tỷ lệ SDRB, trong đó một số nhóm dân số ít chịu ảnh hưởng hoặc không bị ảnh hưởng đáng kể bởi dịch Covid-19.
Tỷ lệ SDRB ở mức có hại cao là vấn đề đáng lo ngại, đòi hỏi sự phối hợp của các cấp chính quyền để giải quyết kịp thời Ảnh hưởng của rượu bia không chỉ tác động tiêu cực đến sức khỏe của người uống mà còn gây ảnh hưởng xấu đến xã hội và cộng đồng Mức SDRB có hại có thể làm gia tăng nguy cơ tai nạn thương tích, mắc bệnh tật và bạo lực gia đình, đặt ra mối đe dọa lớn đối với an ninh và trật tự xã hội.
4.2.2 Mức nguy cơ của sử dụng rượu bia theo AUDIT
Nam giới trong độ tuổi 16-60 chiếm 59,8% mức nguy cơ SDRB thấp (1-7 điểm), cao hơn so với tỷ lệ 56% trong nghiên cứu của Trần Minh Đức (2017) Tỷ lệ SDRB mức nguy cơ trung bình (8-15 điểm) chiếm 36,2%, thấp hơn so với các nghiên cứu trước đó của Trần Minh Đức (39%) và Trương Thị Diễm My (31,2%) Mức nguy hại (16-20 điểm) chỉ chiếm 2,9%, thấp hơn đáng kể so với các nghiên cứu trước đó (4% và 4,9%), có thể do phạm vi nghiên cứu và thời điểm tiến hành trong dịch Covid-19, khi các hoạt động xã hội bị hạn chế Trong khi đó, mức lạm dụng (21-40 điểm) chiếm 1,1%, thấp hơn so với các nghiên cứu của Trần Minh Đức (2%) năm 2017 và của Trương Thị Diễm My (4,1%) năm 2016.
Sự khác biệt trong tỷ lệ sử dụng rượu bia ở hai xã huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ năm 2021 phản ánh đa dạng về tính chất công việc và đặc điểm kinh tế - xã hội của đối tượng nghiên cứu Tỷ lệ này ở mức thấp nhất trong bốn mức nguy cơ, phù hợp với đặc điểm kinh tế - xã hội của địa phương, nơi đa số người dân là nông dân, thường xuyên bận rộn với công việc hàng ngày.
Thực trạng của các yếu tố nguy cơ đến việc sử dụng rượu bia ở mức có hại
4.3.1 Thực trạng của việc có người trong gia đình và bạn bè sử dụng rượu bia
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy gia đình có tác động đáng kể đến việc phát triển các hành vi tiêu cực liên quan đến rối loạn sử dụng chất trong các đối tượng Người mắc SDRB thường có sự liên hệ mạnh mẽ với các thành viên trong gia đình, với hơn 50% nam giới nghiên cứu mắc SDRB có người thân cũng mắc SDRB Cụ thể, 68,1% nam giới mắc SDRB có người thân trong gia đình, trong đó, tỷ lệ lớn nhất là cha hoặc anh/em trai cũng mắc SDRB, cho thấy yếu tố gia đình đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của các hành vi này.
Nghiên cứu cho thấy, 36,8% người SDRB có anh/em trai có SDRB, chiếm tỷ lệ ngang bằng với chị/em gái cũng ở mức 7,2%, trong khi mẹ có SDRB chiếm tỷ lệ thấp nhất là 6,6% Ngoài ra, tỷ lệ người SDRB có bạn bè cũng có SDRB chiếm đến 82,2%, cho thấy sự gắn kết trong nhóm, trong khi chỉ 17,8% có bạn bè không SDRB Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Tạc Văn Nam (2014), xác định rằng tỷ lệ đối tượng có anh/em trai đang sử dụng rượu là 37,8%, tiếp theo là bố với 35,8%, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc can thiệp để giảm thiểu tình trạng SDRB trong các nhóm liên quan.
4.3.2 Thực trạng người buôn bán và tự chế biến rượu bia
Trong nghiên cứu, nam giới độ tuổi 16-60 tại địa bàn có tự buôn bán rượu bia chiếm 3,4%, còn lại 96,6% không tham gia hoạt động này Đối tượng tự nấu hoặc ngâm rượu hoa quả chiếm tỷ lệ 7,2%, trong khi người không tự réalis tự nấu chiếm 92,8% Khác biệt này so với nghiên cứu của Lưu Bích Ngọc và Nguyễn Thị Thiềng, khi 80% rượu tự chế biến không rõ nhãn mác, nguyên nhân phổ biến là do việc sử dụng rượu tự nấu không nhãn mác Sự khác biệt này có thể do phạm vi nghiên cứu nhỏ hơn và ảnh hưởng của bối cảnh dịch COVID-19 trong phạm vi nghiên cứu của chúng tôi.
4.3.3 Thực trạng suy nghĩ đối tượng về ngưỡng uống rượu bia có hại, thái độ và thực hành đối với luật phòng chống tác hại rượu bia
Kết quả khảo sát cho thấy 61% người tham gia cho rằng việc uống rượu là gây hại chỉ cần đơn thuần uống rượu đã có tác động xấu đến sức khỏe Trong khi đó, 14% tin rằng chỉ khi uống 2 đơn vị rượu mỗi ngày mới mới có hại, còn 25% có quan điểm khác về tác hại của rượu bia Tỷ lệ đối tượng có thái độ đúng về luật phòng chống tác hại rượu bia đạt 90,8%, tuy nhiên chỉ 38,5% thực hành đúng theo quy định, trong khi đó tỷ lệ thực hành sai chiếm đến 61,5% Như vậy, rõ ràng có sự chênh lệch lớn giữa nhận thức, thái độ và hành vi thực tế của cộng đồng về luật phòng chống tác hại rượu bia.
Điểm mới thứ 39, chưa từng được đề cập trong các nghiên cứu trước đây, góp phần làm sáng tỏ các yếu tố quan trọng trong hiểu biết về SDRB Đây có thể là nền tảng để xây dựng các chính sách và chương trình can thiệp hiệu quả nhằm cải thiện thực trạng SDRB Việc nhận diện điểm mới này giúp nâng cao nhận thức và thúc đẩy các giải pháp ứng phó phù hợp Các nhà quản lý và nhà nghiên cứu có thể dựa trên cơ sở này để đưa ra các chiến lược phù hợp, nhằm giảm thiểu tác động của SDRB trong cộng đồng.
Các yếu tố liên quan đến sử dụng rượu bia có hại khi phân tích đơn biến39
Các nghiên cứu trước đây về SDRB đã phân tích các yếu tố liên quan đến mức độ tổn thương của SDRB, nhưng phương pháp tiếp cận của chúng tôi có nhiều điểm mới và khác biệt; do đó, một số yếu tố liên quan trong nghiên cứu của chúng tôi không thể so sánh hoặc đối chiếu trực tiếp với các nghiên cứu trước đó.
Nghiên cứu cho thấy nhóm tuổi 31-45 và 46-60 có nguy cơ sử dụng rượu bia mức nguy hại cao hơn so với nhóm 16-30 tuổi, với OR lần lượt là 2,108 và 2,413 Kết quả này cho thấy OR có xu hướng tăng theo độ tuổi, phù hợp với các nghiên cứu của Trần Minh Đức và Lê Đình Luyến Cụ thể, trong nghiên cứu của Lê Đình Luyến, các nhóm tuổi 25-44 và 45-60 có tỷ lệ SDRB cao hơn so với nhóm 18-24, với OR lần lượt là 2,2; mặc dù có sự chênh lệch nhỏ về cách phân chia nhóm tuổi, nhưng về mặt xu hướng OR, các kết quả này được xem là đáng tin cậy.
Nghiên cứu của Trần Minh Đức cho thấy nguy cơ SDRB không hợp lý gia tăng ở các nhóm tuổi lớn hơn Tuy nhiên, việc chia nhỏ nhóm tuổi thành 5 nhóm (thay vì 3 nhóm như trong nghiên cứu của chúng tôi) với cỡ mẫu chỉ 237 người làm tăng sự biến thiên của chỉ số OR, dẫn đến hạn chế về mặt sai số.
Kết quả nghiên cứu hiện tại đã cho thấy sự thay đổi về tỷ số OR khi so sánh với nghiên cứu của Lê Trúc Hương tại huyện Phong Điền, TP.Cần Thơ năm 2013, cho thấy những biến đổi đáng kể trong dữ liệu và ảnh hưởng đến kết luận nghiên cứu.
Nghiên cứu của Lê Trúc Hương cho thấy không có sự khác biệt rõ ràng về mức độ lạm dụng rượu bia giữa các nhóm tuổi từ 18 đến 60, góp phần làm rõ xu hướng bình đẳng trong việc tiêu thụ rượu bia ở các độ tuổi khác nhau Trong khi đó, nghiên cứu của Trần Nguyễn Du tại thị xã Bình Minh, Vĩnh Long năm 2017, cho thấy tỷ lệ OR cao hơn ở nhóm tuổi 31-45 và 46-60 so với nhóm 16-30, dù sự khác biệt chưa đạt ý nghĩa thống kê, điều này có thể phản ánh một xu hướng mới trong biến đổi mức độ sử dụng rượu bia theo từng nhóm tuổi.
Nghiên cứu của chúng tôi chủ yếu khảo sát người dân tộc Kinh, dẫn đến thiếu đại diện của các nhóm dân tộc thiểu số như Khơ-me và Hoa, khiến không thể so sánh chính xác về ảnh hưởng của SDRB có hại giữa các nhóm dân tộc Các nghiên cứu trước đó, như của Trần Nguyễn Du và Lê Trúc Hương, cũng gặp phải hạn chế tương tự về số lượng người thuộc các dân tộc thiểu số tham gia, làm giảm khả năng phân tích đa dạng dân tộc trong các kết quả nghiên cứu về SDRB.
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy rằng tôn giáo không phải là yếu tố nguy cơ của SDRB nguy hại, phù hợp với các nghiên cứu trước của Trần Nguyễn Du và Trương Thị Diễm My Tuy nhiên, kết quả của Lê Trúc Hương lại cho thấy “không tôn giáo” là một yếu tố nguy cơ của SDRB quá mức Sự khác biệt này có thể xuất phát từ tỷ lệ người theo Thiên chúa giáo trong nghiên cứu của chúng tôi quá thấp để phát hiện mối liên hệ này.
Trình độ học vấn, nghề nghiệp, tình trạng sống chung và kinh tế hộ gia đình
Kết quả của chúng tôi cho thấy không có mối liên quan rõ ràng giữa trình độ học vấn, nghề nghiệp và tác hại của SDRB, điều này phù hợp với nghiên cứu của Trần Nguyễn.
Du, Trương Thị Diễm My và Lê Trúc Hương [7], [12], [14] Tuy nhiên, nghiên
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa nhóm hộ gia đình thuộc diện nghèo và không thuộc diện nghèo với OR= 0,473 và p= 0,014, nhưng các yếu tố như trình độ học vấn, nghề nghiệp, tình trạng sống chung và kinh tế hộ gia đình không phải là thước đo chính xác để đánh giá nguy cơ SDRB quá mức Cần thực hiện các nghiên cứu sâu hơn để tìm ra các yếu tố mới hoặc phân loại lại các yếu tố hiện tại nhằm xác định rõ nguyên nhân và nguy cơ gây gia tăng tỷ lệ SDRB vượt mức đề ra.
Lần đầu sử dụng rượu bia dưới 18 tuổi và Hút thuốc lá
Nghiên cứu cho thấy việc cấm sử dụng rượu bia trước 18 tuổi là hợp lý, nhằm giảm thiểu tác hại đối với thiếu niên và ngăn ngừa nguy cơ phát triển SDRB quá mức sau này Uống rượu bia khi đủ 18 tuổi giúp giảm khoảng 57% nguy cơ SDRB quá mức (OR=0,438), tuy nhiên các nghiên cứu trước đó chưa đề cập đến tác dụng bảo vệ của hành động này Bên cạnh đó, hút thuốc lá làm tăng nguy cơ SDRB có hại với OR=3,26, kết quả phù hợp với các nghiên cứu của Trần Minh Hoàng (OR=3,5) và Trần Minh Đức (OR=3,4).
Theo thông tin từ Cục Y tế dự phòng (Bộ Y tế), trẻ bắt đầu uống rượu trước tuổi 15 có nguy cơ phát sinh các vấn đề về bia rượu cao gấp 5 lần so với những người sau 21 tuổi mới sử dụng Điều này là cơ sở để nâng cao độ tuổi giới hạn tiếp xúc với các chất gây nghiện như rượu bia và nicotin trong thuốc lá Việc này cũng nhằm nâng cao trách nhiệm bảo vệ thiếu niên khỏi các tệ nạn, chất gây nghiện và hành vi nguy cơ trong xã hội.
Gia đình và bạn bè có người sử dụng rượu bia
Kết quả nghiên cứu cho thấy, gia đình có người mắc chứng rối loạn sử dụng rượu bia (SDRB) là yếu tố nguy cơ làm tăng khả năng phát triển tình trạng SDRB quá mức, với OR = 1,629 Phát hiện này phù hợp với các nghiên cứu trước đó của Trương Thị Diễm My, khi cho thấy rằng có người thân trong gia đình uống rượu cũng làm tăng nguy cơ mắc SDRB Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc quan tâm đến môi trường gia đình trong phòng ngừa và kiểm soát các vấn đề liên quan đến lạm dụng rượu.
Rượu bia là yếu tố nguy cơ cao với OR = 1,978, ảnh hưởng đáng kể đến hành vi tiêu thụ của giới trẻ [14] Gia đình đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành thói quen uống rượu bia, vì hành vi của thế hệ trước có thể ảnh hưởng đến thế hệ sau thông qua việc bắt chước, đặc biệt trong các giai đoạn phát triển của trẻ em Bên cạnh gia đình, việc bạn bè sử dụng rượu bia cũng là yếu tố nguy cơ, với OR = 0,296, thấp hơn so với nghiên cứu của Lê Trúc Hương (OR = 3,3) [12], có thể do ảnh hưởng của các chính sách giãn cách xã hội COVID-19, làm hạn chế hoạt động giao lưu bạn bè.
Buôn bán và sản xuất rượu bia
Việc buôn bán rượu bia không liên quan đến mức độ SDRB quá mức Tuy nhiên, tự sản xuất rượu bia làm tăng nguy cơ SDRB có hại với OR = 0,236 Kết quả này cần được xem xét trong các cuộc điều tra cộng đồng tương lai và là cơ sở để tuyên truyền, nâng cao nhận thức về tác hại của rượu bia Bảo vệ sức khỏe cộng đồng đòi hỏi tăng cường thực thi Luật phòng, chống tác hại của rượu bia dựa trên các bằng chứng này.
Thái độ và sự tuân thủ Luật phòng chống tác hại của rượu bia
Luật phòng chống rượu bia mới ban hành hiện chưa có nhiều nghiên cứu về tác động Tuy nhiên, nghiên cứu của chúng tôi cho thấy mối quan hệ tích cực giữa thái độ tích cực và việc tuân thủ luật này Cụ thể, những người có thái độ tốt và thực hiện đúng quy định của Luật phòng chống rượu bia có tỷ lệ SDRB quá mức thấp hơn.
OR = 5,172 và 2,574 Kết quả này nên được xem xét như là cơ sở để đẩy mạnh tuyên truyền và thực thi Luật phòng, chống tác hại của rượu bia.
Các yếu tố liên quan đến sử dụng rượu bia có hại khi phân tích đa biến 42 KẾT LUẬN
Các yếu tố tiềm năng tương tác có p-value < 0,1 đã được đánh giá trước khi đưa vào mô hình đa biến để xác định ảnh hưởng độc lập của từng yếu tố Trong nghiên cứu này, chúng tôi không phát hiện các yếu tố tương tác hoặc nhiễu gây ảnh hưởng đến kết quả, giúp tăng độ tin cậy của phân tích Khi xây dựng mô hình đa biến, các yếu tố liên quan đến tình trạng SDRB quá mức đã được xác nhận, gồm có SDRB lần đầu dưới 18 tuổi, có tiền sử HTL, và có bạn bè mắc SDRB.
Các gia đình thuộc nhóm SDRB có thái độ tích cực và tuân thủ các quy định về phòng chống tai nạn, đồng thời nhóm này thường gặp phải tình trạng thất nghiệp và đa số thuộc độ tuổi trên 30 Nghiên cứu của Trần Nguyễn Du cho thấy có sự tương đồng về mối liên hệ giữa số bạn bè trong nhóm SDRB và mức độ nguy hiểm của SDRB, tuy nhiên không phát hiện sự khác biệt rõ ràng giữa các nhóm sinh viên, công nhân và nông dân, khi yếu tố thất nghiệp lại đóng vai trò là nguy cơ chính Sự khác biệt này có thể phản ánh đặc điểm của khu vực nghiên cứu và quy mô của các nhóm đối tượng tham gia.
Huyện Phong Điền chủ yếu phát triển nông nghiệp và số lượng sinh viên đi học xa nhà ít hơn so với thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long, dẫn đến sự khác biệt về các nhóm đối tượng Nghiên cứu của chúng tôi khớp với kết quả của Kim Bảo Giang, cho thấy nguy cơ SDRB có hại tăng lên theo độ tuổi Điều này phản ánh sự khác biệt giữa các vùng trong việc đánh giá các yếu tố nguy cơ liên quan đến SDRB quá mức Ngoài ra, vì Luật phòng, chống tác hại của rượu bia mới được ban hành, hiện chưa có nghiên cứu nào về tác động của luật này đối với SDRB quá mức; tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy thái độ tích cực và sự tuân thủ luật pháp giúp giảm thiểu nguy cơ SDRB quá mức ở người trưởng thành.
4.6 Hạn chế của đề tài
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã nhận thấy đề tài này vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất định:
Nghiên cứu của chúng tôi là một nghiên cứu cắt ngang, do đó chưa thể xác định rõ các mối liên hệ giữa các yếu tố liên quan đến SDRB mức nguy hại của đối tượng nghiên cứu.
Trong nghiên cứu được thực hiện vào thời điểm Covid-19, hai nhóm mẫu tại hai xã được thu thập dữ liệu vào các thời điểm khác nhau, điều này ảnh hưởng đến thực trạng của SDRB trong đối tượng.
Thứ ba, có nhiều câu hỏi thu thập biến số đặc biệt liên quan đến thái độ và thực hành của người tham gia Kết quả phản ánh mức độ trung thực của đối tượng, điều này ảnh hưởng lớn đến độ chính xác của dữ liệu Hiểu rõ các yếu tố này giúp nâng cao đáng kể khả năng áp dụng và hiệu quả của luật Phòng chống thương mại hàng hóa (PCTHRB) Việc thu thập thông tin một cách trung thực là yếu tố quan trọng để đảm bảo tính khách quan của nghiên cứu và thúc đẩy các biện pháp phòng chống hiệu quả hơn trong thực tế.
1 Thực trạng sử dụng rượu bia ở đối tượng nghiên cứu
Tỷ lệ nam giới từ 16 đến 60 tuổi sử dụng rượu bia tại hai xã Giai Xuân và Mỹ Khánh, huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ trong vòng 12 tháng qua lên tới 78,4% Mức độ này phản ánh tình hình tiêu thụ rượu bia khá cao ở nhóm đối tượng này Sự phổ biến của việc sử dụng rượu bia ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng và quan hệ xã hội của người dân địa phương Việc tăng cường tuyên truyền và các biện pháp kiểm soát cần được thực hiện để giảm thiểu ảnh hưởng tiêu cực từ việc sử dụng rượu bia.
Mức độ sử dụng rượu bia theo tiêu chuẩn AUDIT của nam giới từ 16 đến 60 tuổi tại hai xã Giai Xuân và Mỹ Khánh huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ đã được khảo sát Kết quả cho thấy tỷ lệ tiêu thụ rượu bia trong nhóm này có xu hướng tăng cao, phản ánh mối liên hệ giữa thói quen này và các yếu tố xã hội, sức khỏe cộng đồng Các nghiên cứu này nhằm nâng cao nhận thức về tác động tiêu cực của việc sử dụng rượu bia và thúc đẩy các biện pháp can thiệp phù hợp Điều này góp phần vào chiến lược giảm thiểu tác hại của rượu bia đối với sức khỏe Nam giới tại địa phương.
Theo khảo sát, có tới 59,8% người dùng rượu bia ở mức nguy cơ thấp, trong khi đó mức nguy cơ cao chiếm 36,2% Các nguy cơ nghiêm trọng hơn như mức nguy hại và lạm dụng lần lượt chiếm tỷ lệ 2,9% và 1,1%, phản ánh mức độ rủi ro liên quan đến việc sử dụng rượu bia trong cộng đồng.
2 Các yếu tố liên quan đến sử dụng rượu bia ở đối tượng nghiên cứu
Tìm thấy mối liên quan giữa SDRB quá mức nhóm tuổi 31-45 với p=0,037; OR=2,108(1,046-4,250) và 46-60 với p=0,011; OR=2,413(1,225-4,753)
Tìm thấy mối liên quan giữa kinh tế hộ gia đình và sử dụng rượu bia có hại với p= 0,014; OR= 0,473 (0,258-0,867)
Tìm thấy mối liên quan giữa lần đầu SDRB dưới 18 tuổi OR=0,395 (0,209- 0,746) , hút thuốc lá OR=0,375 (0,219-0,640), bạn bè SDRB OR=,0,418
Nghiên cứu đã xác định mối liên quan giữa việc tiêu thụ rượu bia quá mức và tỷ lệ thất nghiệp, với giá trị p=0,045, OR=6,682 (1,039-43,966), cho thấy tiêu thụ rượu bia vượt mức có ảnh hưởng đáng kể đến nguy cơ thất nghiệp Ngoài ra, gia đình có thành viên SDRB có OR=2,020 (1,078-3,786), cùng với việc tự sản xuất rượu bia và thái độ đúng đắn trong thực hiện luật phòng chống tác hại của rượu bia (PCTHRB) góp phần giảm các hệ quả tiêu cực đối với khả năng kiểm soát điều trị (KCT), với mức độ có lợi đạt 95%.
Trung tâm y tế huyện Phong Điền phối hợp với các ban ngành liên quan tăng cường công tác giám sát tuân thủ Luật Phòng chống tác hại của rượu, bia nhằm nâng cao ý thức cộng đồng Việc phát hiện và xử lý nghiêm các trường hợp trẻ dưới 18 tuổi sử dụng rượu, bia (SDRB) được đặt lên hàng đầu do nghiên cứu cho thấy có mối liên hệ giữa lần đầu SDRB dưới 18 tuổi với các tác hại sức khỏe lâu dài Đồng thời, địa phương chú trọng kiểm tra việc SDRB khi tham gia giao thông, bởi tỷ lệ vi phạm còn khá cao, ảnh hưởng đến trật tự an toàn giao thông và sự an toàn của người dân.
Huyện Phong Điền đẩy mạnh công tác tuyên truyền nhằm vận động người dân từ bỏ việc sử dụng rượu bia, qua đó nâng cao nhận thức về Luật Phòng chống tác hại của rượu, bia Chính sách tạo việc làm phù hợp được xây dựng nhằm giảm tỷ lệ thất nghiệp và hạn chế tác hại của rượu, bia đối với cộng đồng Việc thuyết phục người dân có thái độ đúng đắn về phòng chống tác hại của rượu bia góp phần xây dựng xã hội an toàn, lành mạnh và nâng cao chất lượng cuộc sống.
Các nghiên cứu tiếp theo nên tập trung vào việc can thiệp giảm tỷ lệ và mức độ SDRB trong cộng đồng để nâng cao hiệu quả phòng chống Đồng thời, cần thực hiện nghiên cứu về việc sử dụng rượu bia trong nhóm nữ giới và người dưới 16 tuổi nhằm cung cấp bằng chứng chính xác hơn về tình trạng SDRB tại huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ.
TÀI LIỆU THAM KHẢO Tiếng Việt
1 Lê Thị Kim Ánh (2011), “Can thiệp giảm mức độ sử dụng rượu bia ờ nam giới tại xã Lê Lợi, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương năm 2009-2011: kết quả ban đầu”, Y học thực hành, 5, tr 116-120
2 Trần Quốc Bảo và các cộng sự (2010), “Nghiên cứ u yếu tố nguy cơ bê ̣nh không lây nhiễm tại Cần Thơ 2009-2010”, Tạp chí Y học dự phòng,
3 Bộ Nội Vụ (2015), Báo cáo quốc gia về thanh niên Việt Nam, Hà Nội
4 Bộ Y Tế (2013), Hướng dẫn Sàng lọc và can thiệp giảm tác hại do sử dụng rượu bia, Hà Nội
5 Bộ Y Tế (2015), Điều tra Quốc gia yếu tố nguy cơ bệnh không lây nhiễm
6 Phạm Bích Diê ̣p (2015), “Bối cảnh uống rượu bia của sinh viên Viê ̣t
Nam”, Tạp chí y học dự phòng, XXV(6), tr 470-476
7 Trần Nguyễn Du (2017), Tỷ lệ, mức độ sử dụng rượu bia và một số yếu tố liên quan ở nam giới từ 16 - 60 tuổi tại thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long 2017, Luận văn thạc sỹ Y học dự phòng, Trường Đại học Y Dược