Đánh giá kết quả điều trị bệnh ghẻ bằng sulfur 5% và các yếu tố liên quan đến kết quả điều trị tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ và Bệnh viện Da liễu Thành phố Cần Thơ năm 2021
Trang 3Tôi xin cam đoan đề tài là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nêu trong đề tài là trung thực, có nguồn gốc trích dẫn rõ ràng
và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào
Tác giả luận văn
Trần Văn Hiếu
Trang 4Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của các thầy,
cô, gia đình và bạn bè khắp nơi Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến:
Ban Giám hiệu, Phòng đào tạo Sau đại học, Khoa Y, Hội đồng xét duyệt
đề cương và đề tài, Hội đồng Y đức Trường Đại học Y – Dược Cần Thơ đã chấp thuận cho tôi được thực hiện đề tài nghiên cứu này
Ban Giám đốc, Phòng Kế khoạch Tổng hợp, Phòng Chỉ đạo tuyến, phòng Công Nghệ Thông Tin của Bệnh viện Trường Đại học Y – Dược Cần Thơ đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành luận văn này
Ban Giám đốc, Phòng Kế khoạch Tổng hợp, Phòng Chỉ đạo tuyến, phòng Công Nghệ Thông Tin của Bệnh viện Da liễu Thành Phố Cần Thơ đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin đặc biệt cám ơn đến PGS.TS Huỳnh Văn Bá và BS.CKII Từ Tuyết Tâm và Ths.BS Nguyễn Thị Thuỳ Trang đã tận tâm, tận lực, ân cần chỉ bảo, hướng dẫn giúp đỡ tôi từ khi xây dựng đề cương cho đến khi hoàn thành luận văn này
Tôi xin cảm ơn những người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp của tôi đã động viên tinh thần giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn đến tất cả bệnh nhân và gia đình của họ đã tham gia vào công trình nghiên cứu của tôi
Tác giả luận văn
Trần Văn Hiếu
Trang 5Danh mục bảng
Danh mục biểu đồ
Danh mục các hình
ĐẶT VẤN ĐỀ 1 Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 31
PHỤ LỤC: BẢNG THU THẬP SỐ LIỆU
Trang 6Chữ viết tắt Thuật ngữ tiếng Việt Thuật ngữ tiếng Anh
HIV Vi rút gây suy giảm miễn
dịch ở người
Human immuno-deficiency virus
Trang 7Bảng 3.1 Phân bố bệnh nhân theo tuổi 32
Bảng 3.5 Phân bố bệnh nhân theo vị trí thương tổn 36 Bảng 3.6 Phân bố bệnh nhân theo triệu chứng ngứa 36
Bảng 3.8 Phân bố bệnh nhân theo có sử dụng chung phòng ngủ 40 Bảng 3.9 Sử dụng chung phòng ngủ và thời gian mắc bệnh 41 Bảng 3.10 Sử dụng chung phòng ngủ và mức độ bệnh 41 Bảng 3.11 Số lượng thành viên trong gia đình và thời gian mắc bệnh 42 Bảng 3.12 Số lượng thành viên trong gia đình và mức độ bệnh 42 Bảng 3.13 Sự thay đổi thương tổn lâm sàng theo thời gian điều trị 44 Bảng 3.14 Sự xuất hiện thương tổn mới theo thời gian điều trị 44
Bảng 3.17 Kết quả điều trị và thời gian mắc bệnh 47
Trang 8Biểu đồ 3.1 Đặc điểm về giới 31 Biểu đồ 3.2 Phân bố bệnh nhân theo thời gian mắc bệnh 34
Biểu đồ 3.3 Phân bố bệnh nhân theo sang thương da 35
Biểu đồ 3.4 Phân bố bệnh nhân theo thể lâm sàng 37
Biểu đồ 3.5 Phân bố bệnh nhân theo kết quả soi ghẻ 38
Biểu đồ 3.6 Phân bố bệnh nhân theo tháng mắc bệnh 39 Biểu đồ 3.7 Phân bố bệnh nhân theo số lượng thành viên trong gia đình 40 Biểu đồ 3.8 Sự thay đổi triệu chứng ngứa theo thời gian điều trị 43
Trang 9Hình 1.1 Sarcoptes scabiei hominis 4
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh ghẻ là bệnh phổ biến ở nhiều loài động vật khác nhau, với hơn
100 động vật có vú được biết đến Bệnh ghẻ ở người là sự nhiễm trùng da do
con cái ghẻ gây nên (Sarcoptes scabiei Hominis) Là một bệnh da khá phổ
biến, thường xuất hiện ở những vùng dân cư đông đúc, nhà ở chật hẹp, thiếu
vệ sinh, thiếu nước sinh hoạt Bệnh ảnh hưởng trên toàn thế giới, mọi lứa tuổi, mọi mức độ kinh tế-xã hội Tỷ lệ bệnh thay đổi đáng kể ở một số quốc gia kém phát triển từ 4% đến 100% dân số và với hơn 300 triệu trường hợp mới mỗi năm [19]
Bệnh do cái ghẻ Sarcoptes scabiei hominis, lây truyền qua tiếp xúc trực
tiếp khi bắt tay, ôm, thậm chí ngồi cùng bàn, nằm cùng giường cũng có thể bị lây nhiễm cái ghẻ hoặc qua quần áo, chăn màn Thương tổn cơ bản là các mụn nước ở vùng da mỏng, đường hầm ghẻ, sẩn hồng ban ở trẻ sơ sinh Bệnh ghẻ ảnh hưởng đến hàng triệu người trên toàn thế giới, nhưng rất khó chẩn đoán bằng xét nghiệm cạo da bình thường, và chẩn đoán giả định thường dựa trên các dấu hiệu lâm sàng như phát ban và ngứa dữ dội Bệnh nhân thường ngứa dai dẵng, gãi nhiều, có thể dẫn đến các biến chứng như nhiễm trùng, chàm hoá, viêm cầu thận cấp Có nhiều phương pháp điều trị tại chỗ được FDA công nhận như permethrin 5%, crotamiton 10%, benzyl benzoate 25% nhưng các phương pháp trên hạn chế sử dụng cho phụ nữ có thai và trẻ sơ sinh Thuốc bôi lưu huỳnh 2-10% là phương pháp ưu tiên lựa chọn cho trẻ nhỏ và phụ nữ có thai vì nó an toàn và giá thành phù hợp [20], [43], [4]
Bệnh ghẻ là bệnh thường gặp và rất lây Bệnh ghẻ trên toàn thế giới là một trong những bệnh nhiễm trùng da ký sinh trùng phổ biến nhất, nhưng bị
bỏ quên Bệnh ghẻ làm suy yếu sức khoẻ con người và động vật, gây ra thiệt hại kinh tế nặng nề Tuy nhiên tại Cần Thơ chưa có nhiều nghiên cứu về kết quả điều trị bệnh ghẻ bằng lưu huỳnh 5% dạng kem Trước tình hình đó,
Trang 11chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, soi tươi, một số yếu tố liên quan và kết quả điều trị bệnh ghẻ bằng sulfur 5% năm 2021- 2022” với các mục tiêu sau:
1 Mô tả đặc điểm lâm sàng, hình ảnh soi tươi và một số yếu tố liên quan bệnh ghẻ tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ và Bệnh viện
Da liễu Thành phố Cần Thơ năm 2021-2022
2 Đánh giá kết quả điều trị bệnh ghẻ bằng sulfur 5% và các yếu tố liên quan đến kết quả điều trị tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ và Bệnh viện Da liễu Thành phố Cần Thơ năm 2021-2022
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan về bệnh ghẻ
1.1.1 Định nghĩa
Bệnh ghẻ là bệnh nhiễm ký sinh trùng bắt buộc ở người, do con cái ghẻ Sarcoptes scabiei hominis gây ra [21], [27] Bệnh ghẻ đã được thêm vào danh sách các bệnh nhiệt đới bị bỏ qua vào năm 2017, thể hiện nhu cầu hiểu rõ hơn
về gánh nặng bệnh tật và hành động kiểm soát bệnh tật trên quy mô lớn [23]
Bệnh thường gặp ở trẻ em và phụ nữ, lây lan chủ yếu do tiếp xúc trực tiếp với da bị bệnh, hoặc gián tiếp qua vật mang kí sinh trùng như quần áo, đồ dùng, nội thất
Ở người trẻ, trong giai đoạn hoạt động tình dục, ngoài lây lan theo con đường thông thường, bệnh còn có thể lây qua đường tình dục, đây là cơ sở để
Tổ chức Y tế thế giới xếp bệnh ghẻ là bệnh lây lan qua đường tình dục [56]
1.1.2 Dịch tễ học bệnh ghẻ
1.1.2.1 Tác nhân gây bệnh
Do Sarcoptes scabiei hominis phát triển và sinh sản duy nhất trên da
người Ở tất cả các giai đoạn phát triển, ghẻ đào rãnh vào lớp thượng bì ngay sau khi tiếp xúc, không đào sâu hơn lớp gai và để lại phân trong các đường hầm đó [31] Ký sinh trùng ghẻ, hình bầu dục có màu nâu sáng có 8 chân, 2 đôi chân trước có ống giác, 2 đôi chân sau có lông tơ, lưng có gai xiên về phía sau, đầu có vòi để hút thức ăn đồng thời để đào hầm vào lớp thượng bì [50]
Ghẻ cái có kích thước khoảng 0,3-0,35mm đường kính, có chiều dài gấp 2 lần ghẻ đực Chu kỳ sống của cái ghẻ kéo dài 30 ngày nếu cư trú ở thượng bì Khi trên ở da người, ghẻ đực tìm kiếm những con ghẻ cái chưa được thụ tinh, giao phối trên bề mặt da và chết ngay khi giao phối [27],[24]
Trang 13Cái ghẻ đẻ 1-5 trứng mỗi ngày trong rãnh ghẻ, sau 3-7 ngày trứng nở thành ấu trùng, ấu trùng lột xác nhiều lần trở thành cái ghẻ trưởng thành Chúng đào rãnh vào buổi tối, mỗi ngày đào 2-3mm, đẻ trứng vào ban ngày
Ấu trùng di chuyển lên mặt da và phát triển thành cái ghẻ trưởng thành [47]
Hình 1.1 Sarcoptes scabiei hominis
(Nguồn: Habif’s clinical dermatology (2020) [22])
1.1.2.2 Dịch tễ học
Tỷ lệ mắc: ước tính 300 triệu ca/năm trên toàn thế giới Trong quá khứ, dịch bệnh xảy ra theo chu kỳ mỗi 15 năm; đợt dịch mới nhất bắt đầu vào cuối thập kỷ 60 [23], [11],[54]
Tuổi khởi phát: trẻ em thường ≤ 5 tuổi; thanh niên thường lây nhiễm qua tiếp xúc cơ thể; bệnh nhân nhân già hoặc nằm liệt giường liên quan đến chăm sóc sức khỏe ở bệnh viện, dùng chung thiết bị chăm sóc sức khỏe, nhà dưỡng lão
Trang 14Yếu tố nguy cơ: nhà dưỡng lão > 30 năm, > 120 giường, tỷ lệ giường: nhân viên y tế > 10:1
Khu vực lưu hành: Trung và Nam Mỹ Ở Bangladesh, số lượng trẻ em
bị ghẻ nhiều hơn số trẻ em bị tiêu chảy và bệnh đường hô hấp
Bệnh phổ biến ở Việt Nam, thường gặp ở vùng dân cư đông đúc, nhà ở chật hẹp, thiếu vệ sinh, thiếu nước sinh hoạt Ở Việt Nam bệnh ghẻ chiếm 3,56% các bệnh da, đứng hàng thứ tư trong các bệnh da trong quân đội Ở bệnh nhân HIV, bệnh ghẻ chiếm 49,6% Người nghiện ma túy HIV (+) có khả năng nhiễm ghẻ cao gấp 2,3 lần người nghiện ma túy HIV (-) Bệnh có tỷ lệ mắc cao nhất trong các bệnh da ở người >60 tuổi [2]
1.1.2.3 Đường lây truyền
Bệnh lây qua tiếp xúc với da bị bệnh hoặc qua tiếp xúc với vật mang kí sinh trùng như quần áo, đồ dùng và đồ nội thất Ghẻ có thể sống hơn 2 ngày trên quần áo hoặc trên giường chiếu, chăn da; do đó, người bình thường cũng
có thể bị ghẻ khi không tiếp xúc trực tiếp với da người bị bệnh ghẻ Với bệnh nhân ghẻ tăng sừng, hàng ngày ghẻ thường rơi ra rất nhiều vào môi trường, gây nguy cơ cao lây nhiễm cho những người xung quanh, bao gồm cả nhân viên y tế [27],[50]
1.1.3 Sinh bệnh học
Sự quá mẫn cảm xảy ra tức thì và sau khi xuất hiện của các thương tổn khác ngoài những thương tổn do cái ghẻ đào rãnh gây ra Sự nhiễm ký sinh gây bệnh thường xảy ra sau khi nhiễm khoảng 10 con cái ghẻ Biểu hiện
nhiễm đầu tiên: ngứa xảy ra khi xuất hiện sự nhạy cảm với S scabiei Đối với
những trường hợp nhiễm lần đầu, sự nhạy cảm này thường xuất hiện sau vài tuần Tái nhiễm: ngứa có thể xảy ra trong 24 giờ Người suy giảm miễn dịch thường bị bệnh ghẻ tăng sừng Số lượng có thể lên đến hơn 1 triệu cái ghẻ [27]
Trang 151.1.4 Đặc điểm lâm sàng
Thời gian ủ bệnh tùy thuộc vào khả năng miễn dịch của người bị nhiễm: nhiễm lần đầu khoảng 21 ngày, tái nhiễm thường 1-3 ngày [31],[49],[41]
Ghẻ thông thường được đặc trưng bởi sẩn hồng ban, rãnh ghẻ và ngứa
dữ dội Đối với trẻ nhỏ hơn 2 tuổi, phát ban thường là mụn nước, sẩn mụn nước, sẩn mụn mủ [31],[35],[30]
1.1.4.1 Triệu chứng cơ năng
Ngứa dữ dội
Ngứa trên diện rộng, thường gặp ở vùng da mỏng, ít gặp ở cổ và đầu Thường ngứa nhiều về đêm, triệu chừng ngứa làm ảnh hưởng giấc ngủ, gây khó ngủ
Thường xuất hiện ngứa ở các thành viên khác trong gia đình
Mức độ ngứa khác nhau tùy cơ địa mỗi người Tuy nhiên khoảng 66,01% bệnh nhân cảm thấy ngứa nhiều, 80,3% bệnh nhân cảm thấy ngứa nhiều nhất vào lúc ngủ [35]
1.1.4.2 Triệu chứng thực thể
Phát ban: từ không phát ban đến đỏ da diện rộng Bệnh nhân thường biểu hiện chà xát ở người có cơ địa dị ứng, viêm da dạng chàm hóa Một số bệnh nhân ngứa nhiều tháng không có phát ban
Triệu chứng toàn thân: thường không có, một số bệnh nhân có viêm mạch bạch huyết
Không điều trị có thể dẫn đến nhiễm khuẩn thứ phát (bội nhiễm)
Thương tổn tại nơi nhiễm ghẻ:
Trang 16- Mụn nước: trên nền da lành, sắp xếp rải rác, riêng rẽ Mụn nước thường
ở vùng da mỏng như kẽ ngón tay, mặt trước cổ tay, cẳng tay, vú, quanh thắt lưng, rốn, kẽ mông, mặt trong đùi và bộ phận sinh dục Ở trẻ sơ sinh, mụn nước ở lòng bàn tay, chân và qui đầu Ở vùng sinh dục thương tổn thường tròn đường kính 5-7mm, ở giữa trợt da khá đặc biệt gọi là săng ghẻ, dễ nhầm với săng giang mai
Hình 1.2 Thương tổn mụn nước
(Nguồn: Habif’s clinical dermatology, 2020)[22]
- Rãnh ghẻ: các đường lằn màu da hoặc màu xám, dài 0,5-1cm có thể theo đường thẳng hoặc lượn sóng, có mụn nước hoặc sẩn nhỏ ở cuối đường hầm Mỗi ghẻ cái thường đào một rãnh Ghẻ dài khoảng 0,5mm Rãnh ghẻ thường dài 5mm có thể lên đến 10cm Ở người da trắng, rãnh ghẻ màu trắng với lác đác đốm đen do ghẻ thải phân Đầu rãnh là nơi cư trú của ghẻ thường cao hơn một chút và có một quầng ban đỏ nhỏ hoặc giống mụn nước Lấy kim chích dịch chảy ra để lộ màu xám hoặc đen, dùng kim khêu bắt được cái ghẻ
Trang 17bám trên đầu kim, di động khi đặt lên mặt kính (mắt thường khó nhìn, có thể nhìn rõ hơn qua kính lúp) Phân bố: khu vực có ít hoặc không có lông, nơi lớp sừng mỏng và mềm, thường gặp ở kẽ giữa hai ngón tay > cổ tay > thân dương vật > mặt trước khuỷu tay > chân > bộ phận sinh dục > mông > nách Ở trẻ sơ sinh, thường gặp ở đầu và cổ
Hình 1.2: Rãnh ghẻ
(Nguồn: Habif’s clinical dermatology, 2020) [22]
- Sẩn ghẻ: sẩn cục hay sẩn huyết thanh Các nốt sần hoặc sẩn viêm; Thương tổn dạng sẩn xuất hiện ở 7-10% bệnh nhân ghẻ Sẩn có đường kính 5-20mm màu đỏ, hồng, nâu vàng (màu rám nắng) hoặc màu nâu, mịn Thay đổi với hiện tượng tăng sắc tố sau viêm nhiễm Có thể rõ hơn sau điều trị giống như phát ban dạng eczema Vị trí: hay gặp ở lưng trên, cạnh bên bàn chân, dương vật, bìu, nách, bẹn, thắt lưng, mông, quầng vú
Ghẻ tăng sừng hay ghẻ Na Uy (Norwegian Scabies):
- Yếu tố nguy cơ: điều trị bằng glucocorticoid dài ngày, suy giảm miễn dịch (HIV/AIDS, nhiễm HTLV-I, người được ghép tạng, dùng các thuốc ức chế miễn dịch, suy dinh dưỡng, người già,…) Bệnh nhân mắc ghẻ tăng sừng
Trang 18thường có rối loạn hệ thần kinh như hội chứng Down, bệnh mất trí nhớ, đột quỵ, tổn thương tủy sống, bệnh thần kinh, bệnh phong,…[18],[26],[45],[17],[34],[36],[42]
Hình 1.4 Sẩn hồng ban, sẩn cục
(Nguồn: Fitzpatrick's Color Atlas and Synopsis of Clinical Dermatology,
6th Edition, 2012) [33]
- Có thể khởi phát như ghẻ bình thường
- Ở các trường hợp khác, biểu hiện lâm sàng là eczema mạn tính, viêm
da dạng vảt nến, viêm da tiết bã Thương tổn thường xuất hiện ở dạng sừng hóa và/hoặc đóng vảy
- Thương tổn cơ bản là các vảy chồng lên nhau và lan tỏa gần như toàn thân, có thể tìm thấy hàng nghìn cái ghẻ trong các vảy này Tại các khu vực bị nhiễm ghẻ tăng sừng nặng, các mảng có ranh giới rõ được bao phủ bởi một lớp vảy rất dày Ở tay/chân gây nên bệnh da dạng hạt cơm với giường móng tăng sừng Phản ứng ban đỏ có vảy xuất hiện trên mặt, cổ, da đầu, thân mình
Trang 19- Vị trí: phân bố toàn thân (cả ở đầu và cổ ở người lớn) hoặc cục bộ từng vùng chủ yếu ở các vùng nếp kẽ Lớp vảy da/ vảy tiết ở mặt duỗi bàn tay, cổ tay, ngón tay, khớp bàn ngón tay, lòng bàn tay, mặt duỗi của khuỷu tay, da đầu, tai, lòng bàn chân và ngón chân
Hình 1.5: Các vị trí thường gặp của bệnh ghẻ
(Nguồn: Habif’s clinical dermatology, 2020) [22]
- Ghẻ ở trẻ sơ sinh/ trẻ em: thương tổn không điển hình, trên diện rộng, tập trung ở bàn tay/ bàn chân/ nếp gấp, lòng bàn tay, chân Khó phân biệt với vảy nến mụn mủ đầu chi ở trẻ sơ sinh, đó có thể là một phản ứng không đặc hiệu sau khi bị ghẻ
- Ghẻ ở người cao tuổi: phản ứng viêm bị thay đổi có thể làm chậm chẩn đoán Ở bệnh nhân nằm liệt giường, thương tổn có thể tập trung ở lưng
- Biểu hiện ở người quá mẫn cảm với ghẻ: ngứa mà không có biểu hiện
về da, phản ứng mẫn cảm, mày đay, viêm da dạng chàm
Trang 20- Tổn thương thứ cấp do gãi và chà xát mạn tính: trầy da, viêm da thần kinh, sẩn ngứa, viêm da dạng chàm diện rộng, thương tổn dạng vảy nến, chứng đỏ da, tăng hoặc giảm sắc tố sau viêm
Chàm hóa: ở bệnh nhân bị ngứa nhiều, gãi nhiều dẫn đến chàm hóa Ngoài thương tổn ghẻ còn có các mụn nước tập trung thành từng đám, vị trí ở bàn tay, kẽ ngón tay, cổ tay, nách, mông Ở trẻ nhỏ còn xuất hiện ở da đầu, mặt và lưng, lòng bàn tay, lòng bàn chân
Trang 21Bội nhiễm: thường gặp tụ cầu, liên cầu nhóm A Thương tổn là mụn nước xen kẽ mụn mủ, phù nề, có thể chốc hóa, viêm mô bào
Lichen hóa: do bệnh nhân gãi nhiều, da dày lên, sậm màu, tạo thành các sẫn đứng riêng lẽ hoặc tập trung thành đám
Viêm cầu thận cấp thương gặp ở trẻ bị ghẻ bội nhiễm liên cầu nhóm A không điều trị hoặc tái đi tái lại nhiều lần [9],[10]
Soi da Dermoscopy: đây là phương pháp không xâm lấn, độ nhạy 91%,
độ đặc hiệu 86%, phát hiện ghẻ qua hình ảnh “vệt khói máy bay”
Giải phẩu bệnh: Rãnh ghẻ nằm ở lớp sừng đến cuối lớp hạt, ghẻ cái nằm
ở cối rãnh ở sẩn ghẻ có thâm nhiễm bạch cầu ái toan
Huyết học: tăng bạch cầu ái toan Các nghiên cứu gần đây cho thấy 27% bệnh nhân có tăng IgG, 2,2% tăng IgE [10]
Trang 22Hình 1.7 Cái ghẻ dưới kính hiển vi
(Nguồn: Fitzpatrick's Color Atlas and Synopsis of Clinical Dermatology, 6th
Edition, 2012) [33]
1.1.6 Chẩn đoán [9],[10]
1.1.6.1 Chẩn đoán xác định
- Thương tổn cơ bản: mụn nước rải rác trên da lành và khu trú ở những
vị trí đặc hiệu: kẽ ngón tay, sinh dục, mặt trong đùi, bụng (ở vùng da mỏng) trẻ nhỏ có thể thấy mụn nước ở lòng bàn tay, chân
- Triệu chứng cơ năng: ngứa nhiều ban đêm
- Dịch tễ: trong gia đình, tập thể, nhà trẻ có nhiều người có triệu chứng tương tự
- Cận lâm sàng: soi tươi thấy cái ghẻ, trứng, phân, dermoscopy, giải phẫu bệnh, huyết học (tăng bạch cầu ái toan trong ghẻ tăng sừng), nuôi cấy khi có nhiễm trùng thứ phát
Gần đây, những tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh ghẻ do Hội kiểm soát bệnh ghẻ Quốc tế phát triển, đồng thuận thông qua và ban hành bao gồm các tiêu chí trong bảng sau:
Trang 23Bảng 1.1 Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh ghẻ
Bệnh ghẻ đƣợc xác định: đáp ứng ít nhất 1 trong các tiêu chí sau
- Tìm thấy cái ghẻ, trứng hoặc phân trên mẫu bệnh phẩm bằng kính hiển vi
- Tìm thấy cái ghẻ, trứng hoặc phân trên người bệnh bằng thiết bị hình ảnh công suất cao
- Soi da tìm thấy cái ghẻ
Bệnh ghẻ trên lâm sàng: đáp ứng ít nhất 1 trong các tiêu chí sau
- Rãnh ghẻ
- Xuất hiện những thương tổn điển hình ở cơ quan sinh dục nam
- Xuất hiện những thương tổn điển hình tại những vị trí đặc hiệu và có 2 yếu
tố tiền sử bệnh
Nghi ngờ ghẻ: đáp ứng 1 trong các tiêu chí sau
- Xuất hiện những thương tổn điển hình tại những vị trí đặc hiệu và có 1 yếu
tố tiền sử bệnh
- Xuất hiện thương tổn không điển hình hoặc tại những vị trí không đặc hiệu
và 2 yếu tố tiền sử bệnh
* Yếu tố tiền sử bệnh bao gồm: Ngứa và có tiếp xúc với người mắc bệnh ghẻ
* Chẩn đoán bệnh ghẻ lâm sàng hoặc nghi ngờ ghẻ chỉ nên được xác lập sau khi đã loại trừ các chẩn đoán phân biệt
1.1.6.2 Chẩn đoán phân biệt [9],[10]
- Sẩn ghẻ: mày đay sắc tố (trẻ nhỏ), sẩn mày đay (côn trùng cắn), bệnh Darier, sẩn ngứa, giang mai II, viêm hạch lympho giả u, u bạch huyết dạng sẩn, viêm mạch
- Sẩn ngứa: do ký sinh trùng súc vật (chó, mèo, bò, ngựa, lạc đà)
- Tổ đĩa: mụn nước ở cạnh bên rìa ngón tay, mô cái, mô út và mụn nước nằm sâu, gắn chặt vào thượng bì
Trang 24- Săng giang mai: trợt nông, không ngứa, tiền sử quan hệ tình dục không
an toàn
- Ngứa, phát ban khu trú hoặc lan tỏa: viêm da cơ địa, viêm da tiếp xúc, viêm da do rối loạn bài tiết mồ hôi, chứng da vẽ nổi, mày đay vật lý, bệnh vảy phấn hồng, viêm da dạng herpes, rận mu, lichen phẳng, sẩn ngứa do rối loạn chuyển hóa
- Ghẻ tăng sừng chẩn đoán phân biệt với vảy nến, viêm da dạng chàm, viêm da tiết bã, chứng đỏ da có vảy, viêm mô tế bào Langerhans
1.1.7 Các yếu tố liên quan đến bệnh ghẻ
1.1.7.1 Mối liên quan giữa tiếp xúc với nguồn bệnh và bệnh ghẻ
Bệnh ghẻ lây qua tiếp xúc trực tiếp với người bị ghẻ, nằm chung giường, mặc chung quần áo, dùng chung khăn tắm, hay thậm chí là ở chung, khi các con ghẻ bị rơi rớt xuống nền nhà do gãi, sau đó bò lên cơ thể người lành…
1.1.7.2 Mối liên quan giữa điều kiện kinh tế, nhà ở và bệnh ghẻ
Bệnh ghẻ ngứa có thể gây thành dịch ở những nước đang phát triển, thường liên quan đến mật độ đông đúc, vệ sinh kém, điều kiện kinh tế xã hội thấp, mặc dù nó có thể ảnh hưởng đến các cá nhân ở bất kỳ cấp độ kinh tế xã hội nào Ở nước ta, bệnh vẫn còn lưu hành khắp các vùng trong cả nước, ngay
cả những thành phố lớn, bệnh ghẻ vẫn tồn tại Ký sinh trùng ghẻ thường có ở vùng nước bẩn, môi trường ô nhiễm
1.1.7.3 Mối liên quan giữa gia đình có nhiều người và bệnh ghẻ
Môi trường sống đông đúc là nguyên nhân phổ biến dẫn tới bùng phát ghẻ Hầu hết sự lây truyền bệnh ghẻ xảy ra mang tính chất gia đình vì nếu một thành viên trong nhà bị bệnh ghẻ thì khả năng những người khác trong gia đình dễ mắc bệnh theo
1.2 Điều trị [9],[10]
1.2.1 Nguyên tắc điều trị
Trang 25Bệnh nhân và những người tiếp xúc gần, sống cùng cần được điều trị cùng lúc dù có triệu chứng hay không
Giặt, phơi, nấu quần áo, chăn đệm, màn, đồ dùng giặt sạch phơi khô, là
kĩ (ở nhiệt độ >50oC), niêm phong trong túi nhựa trong vòng 1 tuần
Bôi thuốc hiệu quả hơn sau khi làm sạch da Bôi vào tất cả các vị trí da, đặc biệt là bẹn, xung quanh móng tay, sau tai bao gồm cả mặt và da đầu Không tắm gội sau khi bôi 8-12 giờ
Tầm soát các bệnh lây qua đường tình dục với các người bệnh >18 tuổi
1.2.2 Điều trị tại chỗ [32]
- Permethrin 5% cream
Được FDA công nhận cho điều trị ghẻ, là thuốc được lựa chọn đầu tiên cho bệnh nhân ghẻ từ 2 tháng tuổi trở lên
Permethrin có tác dụng chọn lọc lên động vật không xương sống, thuốc
ức chế vận chuyển Natri, dẫn đến sự khử cực làm ngừng dẫn truyền thần kinh
Tác dụng phụ: gây viêm da tiếp xúc
Hạn chế của Permethrin là khá đắt tiền so với các thuốc bôi khác trong điều trị bệnh ghẻ
- Gamma benzene hexachloride (Lindane 1%)
Được sử dụng điều trị vào năm 1948, có tác dụng ức chế hoạt động hệ thần kinh trung ương dẫn đến tăng kích thích, co giật và tử vong
Trang 26Cách dùng: bôi 3 lần/ ngày, sau 8 tiếng tắm rữa sạch sẽ, để khô sau đó bôi lần tiếp theo
Chống chỉ định tương đối cho trẻ < 2 tháng tuổi, xếp loại C khi dùng cho phụ nữ có thai Nhiều báo cáo cho thấy trẻ bị sinh non, dị tật bẩm sinh, chậm phát triển tâm thần khi mẹ tiếp xúc với Lindane
Tác dụng phụ: gây độc cho hệ thần kinh trung ương nếu dùng quá liều, triệu chứng bao gồm buồn nôn, nôn hoặc động kinh
Benzyl benzoate được xếp loại C trong thai kỳ
Một nghiên cứu của Thái Lan trên 444 phụ nữ mang thai sử dụng Benzyl benzoate 25% cho thấy không có dị tật bẩm sinh nào được phát hiện
- D.E.P
Trang 27Đơn giản, rẻ tiền, thích hợp cho điều trị cộng đồng nhưng hiệu quả điều trị không cao
- Lưu huỳnh 2-10% trong điều trị ghẻ
Lưu huỳnh là chất có hoạt tính kháng nấm, kháng khuẩn và tiêu sừng
Từ lâu, lưu huỳnh đã được dùng để điều trị các rối loạn về da như mụn trứng
cá, trứng cá đỏ, viêm da tiết bã, bệnh ghẻ và mụn cóc Thuốc bôi lưu huỳnh là một trong những biện pháp điều trị ghẻ hiệu quả ở tất cả mọi lứa tuổi đặc biệt
là ở trẻ sơ sinh Nhiều tác giả khuyến cáo ưu tiên lựa chọn lưu huỳnh cho trẻ
sơ sinh, trẻ nhỏ hơn 2 tuổi và phụ nữ mang thai Kết hợp điều trị thuốc diệt ghẻ và giải quyết vật dụng bị nhiễm Thuốc diệt ghẻ tại chỗ nên bôi vào ban đêm trên toàn bộ bề mặt da từ cổ xuống đến chân (trẻ nhỏ từ đầu đến chân) chú ý đặc biệt kẽ ngón tay, ngón chân, nếp mông, dưới móng tay, móng chân Liều điều trị được khuyến cáo trong bệnh ghẻ là thuốc bôi sulfur nồng
độ 5%, 10%, bôi thuốc liên tiếp trong 5 ngày Tắm 24 giờ sau mỗi lần bôi Tác dụng phụ gây kích ứng da nhẹ, bẩn quần áo và có mùi Đối với các sản phẩm lưu huỳnh dạng bôi tương đối an toàn khi thoa lên da một cách thích hợp, trong thời gian ngắn Sản phẩm có chứa lưu huỳnh với nồng độ lên đến 10% đã được sử dụng an toàn trong tối đa 8 tuần Ở một số người, bôi các sản phẩm chứa lưu huỳnh lên da có thể khiến da bị khô
1.2.3 Điều trị toàn thân [9],[10]
Ivermectin được FDA chấp nhận cho điều trị ghẻ, có tác dụng kích thích GABA trước synap làm ức chế dẫn truyền thần kinh ở ghẻ
Cách dùng liều duy nhất 200 µg/kg Có thể lập lại sau 1 tuần đối với trường hợp ghẻ nặng, người suy giảm miễn dịch
Tác dụng phụ: nhức đầu, ngứa, đau cơ Không dùng Ivermectin cho trẻ
<15kg, phụ nữ có thai và cho con bú
1.2.4 Biện pháp loại trừ nguồn bệnh
Trang 28Sự thành công của việc điều trị phụ thuộc vào việc điều trị đồng thời tất
cả những người tiếp xúc gần gũi với bệnh nhân Đối với những người tiếp xúc không có triệu chứng, chỉ cần điều trị duy nhất với permethrin hoặc ivermectin Vì bọ ghẻ chỉ tồn tại trong 1 thời gian ngắn nếu rồi xa cơ thể vật chủ, nên các phương pháp khử khuẩn nơi ở là không cần thiết
Các biện pháp loại trừ nguồn bệnh được khuyến nghị bao gồm:
- Giặt máy ở nhiệt độ ≥50oC trong ít nhất 35 phút đối với tất cả hàng dệt may vùa sử dụng gần đây (đồ lót, đồ ngủ, khăn trải giường, khăn tắm)
- Bảo quản quần áo còn lại và các vật dụng khác có sử dụng trong thời gian gần đây (giày dép, thú nhồi bông,…) trong túi nhựa kín, đặt ở nơi khô ráo ở nhiệt độ ≥ 21oC trong ít nhất 3-4 ngày hoặc ở nhiệt độ < -10oC trong ít nhất 5 giờ
- Làm sạch tất cả các bề mặt tiếp xúc
- Hút bụi các đồ nội thất, đệm, giường, thảm, sàn,…
- Nên đeo găng tay khi thực hiện các công việc trên
Những bệnh nhân có khả năng lây lan cao nên được điều trị nội trú Sau khi bệnh nhân xuất viện, đệm và các đồ vật khác tiếp xúc nhiều với da bệnh nhân nên được hấp tiệt trùng hoặc làm sạch kĩ lưỡng và không sử dụng lại trong 1 đến 2 tuần sau đó Các vật dụng hằng ngày dùng một lần nên được ưu tiên sử dụng cho bệnh nhân
1.3.Tình hình nghiên cứu bệnh ghẻ
1.3.1 Tình hình nghiên cứu bệnh ghẻ trên thế giới
Năm 2002, một tác giả ở Thái Lan cho thấy sử dụng lưu huỳnh điều trị ghẻ cho trẻ từ 2 tháng tuổi đến 6 tuổi ở cô nhi viện sau 2 tuần tỉ lệ khỏi bệnh
là 47%, sau 4 tuần là 71% [43]
Trang 29Tác giả Díaz (2004) ở Venezuela kiến nghị sử dụng lưu huỳnh tại chỗ cho trẻ dưới 5 tuổi, phụ nữ có thai và đang cho con bú, người lớn tuổi vì tính
an toàn và giá thành rẻ [37]
Năm 2017, một nghiên cứu so sánh hiệu quả điều trị của Permethrin, Crotamin và Lưu huỳnh điều trị cho thấy cả ba thuốc đều có tác dụng điều trị như nhau sau 4 tuần điều trị [39]
1.3.2 Tình hình nghiên cứu bệnh ghẻ ở Việt Nam
Tác giả Trần Việt Đệ (2010) xác định tỉ lệ mắc các bệnh da ở người trên
60 tuổi cho thấy bệnh ghẻ chiếm tỉ lệ cao nhất trong bệnh da, 32,7% ở người lớn tuổi, 42,9% trường hợp ghẻ có biến chứng, trong đó 2 biến chứng thường gặp là bội nhiễm chiếm 20%, chàm hóa chiếm 20,9% [1]
Năm 2010, Trần Hữu Sáu nghiên cứu trên 10.033 bệnh nhân trong 3 năm cho thấy ghẻ chiếm 2% trong các bệnh da, trong đó 71,2% là ghẻ thông thường Bệnh thường gặp ở nam nhiều hơn nữ, tăng cao vào tháng 10, 11 hàng năm [8]
Tác giả Võ Quang Đỉnh (2010) cho thấy 49,6% người HIV (+) mắc bệnh ghẻ, người nghiện ma túy HIV (+) có nguy cơ mắc ghẻ cao gấp 2,3 lần người nghiện ma túy HIV (-) Các thuốc Permethrin, Lindane, D.E.P vẫn có hiệu quả trong điều trị ghẻ [2]
Năm 2011, tác giả Phạm Hoàng Khâm nghiên cứu hồi cứu 203 bệnh án bệnh nhân ghẻ cho thấy vị trí hay gặp nhất trong bệnh ghẻ là kẽ ngón tay, lòng bàn tay 100% có mụn nước và 66,01% bệnh nhân cảm thấy ngứa nhiều, nhất là về đêm [5]
Năm 2012, tác giả Nguyễn Khánh Hòa Đồng quan sát trên bệnh nhân tâm thần cho thấy bệnh ghẻ đứng thứ 4 trong các bệnh da, chiếm 14,4%, tương tự bệnh đứng thứ 4 trong các bệnh da thường gặp trong quân đội [3]
Trang 30Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Tất cả bệnh nhân được chẩn đoán ghẻ điều trị tại Bệnh viện Da liễu thành phố Cần Thơ và Bệnh Viện Trường Đại Học Y Dược Cần Thơ năm 2021-2022
2.1.2 Tiêu chuẩn chọn mẫu
Tiêu chuẩn chẩn đoán: chẩn đoán chủ yếu dựa vào lâm sàng [2]:
Bệnh nhân được chẩn đoán xác định là bệnh ghẻ (theo ICD 10 là Bệnh ngứa da ghẻ)
Lâm sàng có 4/5 tiêu chuẩn:
- Thương tổn mụn nước rải rác trên nền da non, sẩn hồng ban ở nách và bìu, săng ghẻ ở vùng sinh dục ngoài
Bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu
2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ
Bệnh nhân đã được bôi thuốc điều trị ghẻ trước đó trong vòng 1 tuần Bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu, không theo dõi được bệnh nhân sau 4 tuần
Trang 31Bệnh nhân có tiền sử dị ứng, không dung nạp với Sulfur
Bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu
Bệnh nhân bị khiếm khuyết về khả năng nghe nhìn, không thể cung cấp đầy đủ, chính xác thông tin
2.1.4 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Địa điểm: Bệnh viện Da liễu Thành phố Cần Thơ và Bệnh viện Trường Đại Học Y Dược Cần Thơ
Thời gian: từ tháng 07/2021 – 07/2022
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Mô tả cắt ngang có phân tích
2.2.2 Mẫu nghiên cứu
2.2.2.1 Cỡ mẫu
⁄ Trong đó: n: là cỡ mẫu nhỏ nhất hợp lý
Z: với mong muốn mức tin cậy là 95% thì ⁄ : Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Lệ Quyên (2019) [7] cho thấy kết quả điều trị ghẻ vào tuần thứ 2 chiếm 91.3% nên chọn p=0,913
d: là sai số cho phép trong nghiên cứu 5%,
Vậy , bệnh nhân được lấy ngẫu nhiên nhóm nghiên cứu tối thiểu 123 bệnh nhân
2.2.2.2 Phương pháp chọn mẫu
Chọn mẫu thuận tiện các trường hợp bệnh nhân ghẻ điều trị bằng sulfur 5% tại Bệnh viện Da liễu thành phố Cần Thơ và Bệnh viện Trường Đại Học
Y Dược Cần Thơ trong thời gian nghiên cứu đến khi đủ mẫu
2.2.3 Nội dung nghiên cứu
Trang 322.2.3.1 Nghiên cứu đặc điểm chung của đối tƣợng nghiên cứu
- Tuổi: tính bằng năm Trẻ nhỏ hơn 6 tuổi, số tuổi được tính theo tròn năm dương lịch Chia làm 5 nhóm:
+ Nhóm 1: Trẻ dưới 6 tuổi
+ Nhóm 2: Trẻ nhỏ: 6-15 tuổi
+ Nhóm 3: Thanh thiếu niên: 16-35 tuổi
+ Nhóm 4: Trung niên: 36-59 tuổi
+ Nhóm 5: Lão niên: ≥60 tuổi
- Giới tính: chia 2 nhóm: nam và nữ
- Nghề nghiệp:
+ Còn nhỏ: trẻ em ở độ tuổi chưa đi học
+ Nông dân: gồm những người lao động ở nông thôn như làm ruộng, làm vườn, làm rẫy bằng dụng cụ thô sơ hay máy móc trong sản xuất nông nghiệp + Công nhân: gồm những người như thợ hàn, thợ tiện, thợ cơ khí, thợ máy, thợ hồ, trong các cơ sở sản xuất công nghiệp nhà nước hoặc tư nhân + Công viên chức: gồm những người làm việc trong các tổ chức, đơn vị,
cơ quan của nhà nước và những người thực hiện các công việc mang tính nghiệp vụ, chuyên môn ở các đơn vị sự nghiệp nhà nước, các tổ chức xã hội + Học sinh, sinh viên: gồm những người học ở các trường tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông, đại học, cao đẳng
+ Nghề khác: gồm những việc làm như buôn bán, nội trợ, thợ làm tóc, tài
xế, và một số nghề khác không thuộc các nhóm trên
- Nơi cư trú:
+ Thành thị: gồm các đối tượng ở trung tâm thành phố, thị trấn, thị xã, nơi tập trung dân cư đông đúc, công nghiệp và thương nghiệp phát triển + Nông thôn: các đối tượng ở làng, xã, sống bằng sản xuất nông nghiệp
2.2.3.2 Đặc điểm lâm sàng bệnh ghẻ
Trang 33- Thời gian mắc bệnh: tính từ lúc xuất hiện triệu chứng đầu tiên của bệnh Tính bằng tuần, chia làm 4 nhóm:
+ Rãnh ghẻ là một đường gồ lên mặt da, màu da hoặc màu xám, ở người
da trắng có màu trắng lác đác đen, có thể theo đường thẳng hoặc lượn sóng,
có mụn nước hoặc sẩn nhỏ ở cuối đường hầm là nơi ghẻ cái ở và đẻ trứng + Mụn nước trên nền da lành, rải rác, riêng rẽ, thường ở vùng da mỏng như ở kẽ ngón tay, mặt trước cổ tay, cẳng tay, vú, quanh thắt lưng, rốn, kẽ mông, mặt trong đùi và bộ phận sinh dục
+ Sẩn hồng ban là nốt nhô cao, trên đầu có thể có mụn nước, đường kính 5-20 mm, màu đỏ, hồng hoặc nâu, thường gặp ở trẻ em, hay gặp ở nách và bìu
Trang 34+ Ghẻ chàm hóa: thương tổn là các mụn nước tập trung thành từng đám,
vị trí ở bàn tay, kẽ ngón tay, cổ tay, nách, mông
- Mức độ bệnh: theo tác giả Phạm Hoàng Khâm [5] dựa theo thương tổn,
vị trí thương tổn chia làm 3 nhóm:
+ Mức độ nhẹ: thương tổn chỉ khu trú ở tay, sinh dục
+ Mức độ trung bình: thương tổn khu trú ở tay, chân, đùi, mông, sinh dục ngoài
+ Mức độ nặng: thương tổn rải rác toàn thân
2.2.3.3 Xét nghiệm soi tươi và những yếu tố liên quan đến bệnh ghẻ
- Soi ghẻ bằng kính hiển vi tại nơi thương tổn: có cái ghẻ hoặc không
- Các yếu tố liên quan bệnh ghẻ:
+ Tháng mắc bệnh: biến định tính, bao gồm 12 tháng trong năm
+ Sử dụng chung phòng ngủ: biến định tính, gồm 2 giá trị: có và không
2.2.3.3 Kết quả điều trị bệnh ghẻ bằng Scabio cream (Sulfur 5%)
Kết quả điều trị được đánh giá sau 1, 2, 3, 4 tuần qua các chỉ số sau: Triệu chứng ngứa: Khỏi hoặc không khỏi
Thương tổn da: khỏi hoặc không khỏi hoặc xuất hiện thương tổn mới
Trang 35- Tiêu chí đánh giá kết quả điều trị:
+ Khỏi bệnh: không có tổn thương mới, cải thiện các tổn thương da, cải thiện triệu chứng ngứa
+ Không khỏi bệnh: nếu đến cuối tuần thứ 4 mà tổn thương và triệu chứng ngứa không cải thiện
- Kết quả sau 4 tuần điều trị theo mức độ, lâm sàng, theo lứa tuổi
- Tác dụng phụ: biến định tính, chia 3 nhóm:
+ Nhóm 1: viêm da dị ứng
+ Nhóm 2: đỏ da
+ Nhóm 3: tác dụng phụ khác
2.2.4 Phương pháp thu thập và đánh giá số liệu
Tất cả bệnh nhân bệnh ghẻ điều trị tại Bệnh viện Da liễu thành phố Cần Thơ và Bệnh viện Trường Đại Học Y Dược Cần Thơ Mỗi bệnh nhân tham gia nghiên cứu được khảo sát qua phiếu thu thập số liệu (phụ lục 1), với quá trình nghiên cứu như sau:
Bước 1: Hỏi thông tin hành chánh, tiền sử, bệnh sử chi tiết
Bước 2: Thăm khám lâm sàng tìm các thương tổn bệnh ghẻ
Khám lâm sàng bệnh nhân, chụp ảnh bệnh nhân khi khám
- Chỉ định kết quả cận lâm sàng
- Phân loại thể bệnh dựa vào thương tổn: ghẻ thông thường, ghẻ bội nhiễm, ghẻ chàm hóa Đánh giá mức độ bệnh dựa vào thương tổn: nhẹ, trung bình, nặng
Bước 3: Theo dõi và ghi nhận hiệu quả điều trị
- Tại chỗ: SCABIO CREAM
+ Thành phần chính: Sulfur 5%
+ Chỉ định: bệnh ghẻ, sẩn ngứa, các tổn thương da do tiếp xúc côn trùng + Sản xuất: CÔNG TY TNHH MỸ PHẨM HỒNG NHUNG
Trang 36+ Địa chỉ: 14/14 Lý Tự Trọng, P An Cư, Q Ninh Kiều, TP Cần Thơ + SPTN:001/19/CBMP-CT
Hình 2.1 Kem bôi Scabio cream – FOB + Cách sử dụng: Bôi ngày 2 lần lúc sáng và tối từ mặt trở xuống ở người trưởng thành, toàn cơ thể đối với trẻ em, người lớn tuổi
Bước 4: Đánh giá kết quả điều trị sau mỗi 1, 2, 3, 4 tuần Bệnh nhân được đánh giá là khỏi bệnh khi không có tổn thương mới, cải thiện các tổn thương da, cải thiện triệu chứng ngứa
Bước 5: nhập và phân tích số liệu
2.2.5 Phương pháp soi tìm ghẻ
Bệnh nhân được lấy mẫu da vùng tổn thương để tiến hành xét nghiệm soi tìm ghẻ tại phòng xét nghiệm Bệnh viện Da liễu Cần Thơ và Bệnh viện Trường Đại Học Y Dược Cần Thơ
Thời gian tiến hành: trước điều trị
Vật liệu dùng để soi ghẻ:
- Dao cùn
- Lam kính
- Dung dịch KOH 30%
Trang 37- Kính hiển vi OLYMPUS CX21 số 5C91380
Xác định vùng da cần lấy mẫu, dùng dao cùn cạo vảy da rồi để vào lam kính, cố định mẫu vào trung tâm lam kính rồi nhỏ 1 giọt KOH 30% , rồi soi dưới kính hiển vi quang học ở vật kính 10x, 40x
Kết quả dương tính khi thấy ghẻ cái kích thước khoảng 0.4 x 0.3 mm, hình bầu dục, có bốn cặp chân, lưng có gai xiên về phía sau, đầu có vòi hút thức ăn đồng thới với trứng và phân của chúng
Hình 2.2 Hình ảnh cái ghẻ trên kính hiển vi Kết quả âm tính khi không thấy ghẻ cái hoặc trứng
Sơ đồ nghiên cứu:
Trang 382.2.6 Phương pháp kiểm soát sai số
Chúng tôi trực tiếp thu thập số liệu, với sự hướng dẫn và giám sát của
cán bộ hướng dẫn Phiếu thu thập số liệu đã được thử nghiệm và chỉnh sửa
cho phù hợp trước khi đưa vào phỏng vấn lấy mẫu chính thức Quá trình nhập
và mã hoá số liệu được kiểm tra nhiều lần để tránh sai sót
2.2.7 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
Số liệu được nhập, mã hoá và xử lý bằng phần mềm SPSS 20.0
Các biến định tính thì tính được mô tả bằng tần số và tỉ lệ phần trăm
Scabio cream (sulfur 5%) bôi hai lần/ngày
Đánh giá kết quả điều trị sau 1 tuần
Đánh giá kết quả điều trị sau 2 tuần
Đánh giá kết quả điều trị sau 3 tuần
Đánh giá kết quả điều trị sau 4 tuần
Mục tiêu
2
Trang 39Các biến định lượng dung kiểm định One-Sample Kolmogorov-Smimov
để kiểm định tính chuẩn của số liệu: phân phối chuẩn thì dung giá trị trung bình, độ lệch chuẩn để mô tả
Dùng phép kiểm Paired-Samples T test để so sánh trung bình tại hai thời điểm của một nhóm, dùng phép kiểm Independent sample T-Test để so sánh trung bình của hai nhóm độc lập; dùng phép kiểm One Way ANOVA để so sánh trung bình của nhiều nhóm
Các thông số thống kê được trình bày với khoảng tin cậy 95% Các kiểm định p<0,05 được xem có ý nghĩa thống kê
2.3 Đạo đức trong nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện sau khi thông qua Hội đồng đạo đức trường Đại Học Y dược Cần Thơ
Các bước thực hiện tuân thủ theo tiêu chí về đạo đức trong nghiên cứu
y học: các đối tượng nghiên cứu được giải thích cụ thể, rõ ràng mục đích, việc
sử dụng kết quả, quy trình nghiên cứu Nghiên cứu thực hiện đều dựa trên tinh thần tự nguyện, không làm tổn hại đến sức khoẻ, đảm bảo tôn trọng bí mật riêng tư cá nhân, đảm bảo không đánh giá hay xâm phạm các giá trị liên quan đến văn hoá truyền thống, tín ngưỡng của đối tượng Bệnh nhân tham gia nghiên cứu đều bình đẳng với nhau
Trang 40Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Sau quá trình nghiên cứu tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ và Bệnh viện Da liễu Cần Thơ, trong thời gian từ tháng 7/2021 đến tháng 7/2022, có 124 bệnh nhân thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu, được điều trị ghẻ bằng sulfur 5% Kết quả như sau:
3.1 Đặc điểm chung đối tượng nghiên cứu
3.1.1 Tuổi và giới tính
Biểu đồ 3.1: Đặc điểm về giới
Nhận xét: Trong số 124 bệnh nhân có 80/124 (64,5%) là nam và
44/124 (35,5%) là nữ
n=80 (64,5%)
n=44 (35,5%)
Nam Nữ