1 Bài 1 DINH DƯỠNG TRONG ĐIỀU TRỊ VÀ MỘT SỐ CHẾ ĐỘ ĂN TRONG BỆNH VIỆN MỤC TIÊU 1 Trình bày được vai trò của dinh dưỡng trong điều trị 2 Trình bày được nguyên tắc dinh dưỡng trong điều trị 3 Nêu được n[.]
Trang 11
Bài 1
DINH DƯỠNG TRONG ĐIỀU TRỊ VÀ MỘT SỐ CHẾ ĐỘ ĂN
TRONG BỆNH VIỆN
MỤC TIÊU
1 Trình bày được vai trò của dinh dưỡng trong điều trị
2 Trình bày được nguyên tắc dinh dưỡng trong điều trị
3 Nêu được nguyên tắc và xây dựng thực đơn cho bệnh nhân loét DD-TT, cao huyết áp, đái tháo đường và bệnh thận mãn trong bệnh viện
NỘI DUNG
I VAI TRÒ CỦA DINH DƯỠNG TRONG ĐIỀU TRỊ
Người ta đã biết chế độ ǎn này hay chế độ ǎn khác có thể không chỉ làm tǎng sức chống đỡ của cơ thể đối với những bệnh khác nhau mà còi có tác động ngược lại nghĩa là làm giảm sức chống đỡ cửa cơ thể Chuyển chế độ ǎn này sang chế độ
ǎn khác gây ra sự xáo trộn cơ thể trong đó có khả nǎng phản ứng của cơ thể Về phương diện này chế độ ǎn biểu hiện tác động của mình không chỉ tới toàn bộ cơ thể mà còn tới tất cả các quá trình vận chuyển trong cơ thể đang ở tình trạng bệnh lý hay kích thích gây bệnh
Nước ta đang ở trong thời kì kinh tế chuyển tiếp Bên cạnh mô hình bệnh tật của một nước đang phát triển trong đó có suy dinh dưỡng và nhiễm khuẩn, đang xuất hiện sự gia tǎng nhiều loại bệnh hay gặp ở các nước phát triển Các bệnh mạn tính không lây là mô hình bệnh tật chính ở các nước có nền kinh tế phát triển Tuy còn đôi điều chưa sáng tỏ nhưng các ý kiến cho rằng dinh dưỡng có vai trò quan trọng trong việc phòng cũng như góp phần điều trị các bệnh này Béo phì là một tình trạng sức khỏe có nguyên nhân dinh dưỡng (chiếm 60-80% các trường hợp) Các chất protein, lipit, gluxit đều có thể chuyển thành chất béo dự trữ Nhiều nghiên cứu cho thấy hàm lượng cholesterol trong máu và huyết áp tǎng lên theo mức độ béo, khi cân nặng giảm sẽ kéo theo giảm huyết áp và cholesterol Thực hiện một chế độ ǎn uống hợp và hoạt động thể lực đúng mức để duy trì cân nặng ổn định ở người trưởng thành là nguyên tắc cần thiết để tránh béo phì Hiện nay, hầu như mọi người đều thừa nhận rằng chế độ ǎn uống là một nhân tố quan trọng trong phòng ngừa và xử trí một số bệnh tim mạch, trước hết là bệnh tǎng huyết áp và bệnh mạch vành Một chế độ ǎn hạn chế muối, giảm nǎng lượng và rượu có thể đủ để làm giảm
Trang 2huyết áp ở phần lớn đối tượng có tǎng huyết áp nhẹ Ở những người tǎng huyết áp
nặng chế độ ǎn đó cũng làm giảm bớt liều lượng các thuốc giảm huyết áp cần thiết Mối liên quan giữa bệnh mạch vành với số lượng cholesterol toàn phần trong máu đã được thừa nhận rộng rãi Người ta thấy thành phần chính trong chế độ ǎn có ảnh hưởng đến hàm lượng cholesterol huyết thanh là các axit béo no Axit béo no có nhiều trong chất béo động vật Do đó một chế độ ǎn giảm chất béo động vật, tǎng dầu thực vật, bớt thịt, tǎng cá là có lợi cho người có rối loạn chuyển hóa cholesterol Chế độ ǎn nhiều rau và trái cây có tác dụng bảo vệ cơ thể đối với bệnh mạch vành tuy cơ chế còn chưa rõ rang
Có thể đó là do tác dụng của chất xơ có nhiều trong rau quả, cũng có thể một chế độ ǎn thực vật sẽ làm giảm huyết áp, một nhân tố nguy cơ của các bệnh mạch vành
Những nghiên cứu gần đây cho thấy chế độ ǎn ít xơ và nhiều chất béo đặc biệt
là chất béo bão hòa làm tǎng nguy cơ ưng thư đại tràng Tác dụng của chất xơ có thể là do chúng chống táo bón pha loãng các chất có thể gây ung thư trong thực phẩm và giảm thời gian tiếp xúc của niêm mạc đường tiêu hóa với các chất này Người ta còn thấy vai trò của chế độ ǎn trong bệnh đái đường, chế độ ǎn thực vật, nhiều rau có liên quan đến hạ thấp tỉ lệ mắc đái đường thể không phụ thuộc vào Insulin
II NGUYÊN TẮC DINH DƯỠNG TRONG ĐIỀU TRỊ
2.1 Nguyên tắc chung
Khi thực hiện chế độ ǎn điều trị có thể sử dụng những nguyên tắc khác nhau tùy đặc tính của từng bệnh, tình trạng bệnh và các đặc tính cá biệt khác Trong dinh dưỡng điều trị, người ta sử dụng các nguyên tắc hạn chế về số lượng và chất lượng
Sự giới hạn về số lượng tuỳ thuộc giới hạn chất lỏng đưa vào, như các bệnh thuộc hệ tim mạch, xơ vữa động mạch, cao huyết áp… Do đó khi xây dựng thực đơn cần chú ý các nguyên tắc sau đây:
- Khi đưa ra các chế độ ăn khác nhau phải đảm bảo sự cân đối, đầy đủ và toàn diện của nó, phù hợp với đặc tính biết trước của bệnh, chú trọng những bệnh đặc biệt
- Xác định thời hạn của chế độ ăn không cân đối, không toàn diện và không đầy đủ
- Quy định những nguyên tắc ăn uống của bệnh nhân có tiến hành các liệu pháp điều trị đặc biệt (liệu pháp sinh hoá, vật lý trị liệu, …)
Trang 33
- Đề ra nguyên tắc phối hợp giữa các yếu tố dinh dưỡng, điều trị với sử dụng kháng sinh và các phương pháp khác của liệu pháp điều trị
- Quy định chế độ ăn phải phù hợp với hoạt động của bệnh nhân, chú ý tới việc đề phòng sự hạn chế vận động sau này do ảnh hưởng của ăn uống gây ra
Dựa trên những nguyên tắc đó, khi xây dựng khẩu phần ăn cho bệnh nhân đang điều trị trong bệnh viện, cần lưu ý những điều sau:
- Chế độ ăn điều trị không kéo dài, chỉ thực hiện trong giai đoạn điều trị
- Trong khẩu phần ăn bệnh lý, tỷ lệ P:L:G thay đổi tùy theo bệnh không như bình thường
- Chế biến thức ăn đúng theo yêu cầu của điều trị
- Thức ăn hợp khẩu vị của người bệnh, hợp vệ sinh
- Sử dụng các thực phẩm có sẵn tại đia phương, theo mùa và phù hợp với tình hình kinh tế của người bệnh
- Động viên, khuyến khích người bệnh ăn đúng chế độ điều trị
2.2 Nguyên tắc xây dựng khẩu phần cho từng giai đoạn bệnh
a Giai đoạn ủ bệnh
Năng lượng cần cung cấp: 1500 Kcal/ngày Chủ yếu là nước, vitamin, khoáng chất
b Giai đoạn toàn phát
Sự hấp thu thức ăn trong giai đoạn này rất kém nhưng cơ thể vẫn phải chống chọi với bệnh tật và rất cần năng lượng Vì vậy, năng lượng được lấy từ phần dự trữ của cơ thể
Trong giai đoạn này, năng lượng cung cấp chủ yếu cho hoạt động chuyển hoá
cơ bản, giúp cơ thể tồn tại khoảng1500-2000 Kcal/ngày
c Giai đoạn hồi phục
Người bệnh ăn ngon miệng hơn, nhu cầu năng lượng của cơ thể tăng lên để bù đắp phần bị mất
- Năng lượng cần cung cấp: 3000 Kcal/ngày
- Cần tăng cung cấp protein: 1,5-2g/kg/ngày
Giai đoạn hồi phục kéo dài khoảng 1 tuần hoặc hơn tùy theo thể trạng của người bệnh Đối với người bệnh lao, giai đoạn hồi phục kéo dài và nhu cầu dinh dưỡng cao
2.3 Nguyên tắc lựa chọn thực phẩm
Khi xây dựng từng thực đơn cụ thể, vấn đề quan trọng là lựa chọn các thực phẩm, các thực phẩm sử dụng luôn tuân thủ theo nguyên tắc tác động cơ học và hóa học Để tránh các tác động cơ học khi chế biến thức ǎn cần chú ý:
Trang 4- Hạn chế hoặc loại trừ các thức ǎn thô, các thực phẩm khó tiêu nhiều xenluloza như: bánh mì đen, củ cải; bắp cải, cây họ đậu
- Xử lí các thực phẩm bằng cách nghiền nhỏ, chà xát, nhào trộn và khuấy đảo
… để đảm bảo sự tiêu hóa và hấp thu thức ǎn tốt nhất
- Sử dụng những phương pháp nấu đặc biệt nhằm làm giảm chất xơ, hòa tan propectin và làm mềm thực phẩm Cách chế biến tốt nhất là phương pháp hấp, có thể sử dụng phương pháp nướng; nhưng nên hạn chế phương pháp chiên, xào
Để loại trừ các tác động hóa học khi chế biến thực phẩm nên loại trừ các thực phẩm giàu chất chiết xuất, hạn chế biến món ăn gây kích thích tiết dịch
vị của dạ dày và ruột Trong khẩu phần ǎn nên loại trừ nước dùng đặc, súp cà chua, nước chấm đặc, nước sốt, gia vị, dưa chuột muối Phương pháp nấu là tốt nhất
III MỘT SỐ CHẾ ĐỘ ĂN CHO BỆNH NHÂN TRONG BỆNH VIỆN
3.1 Chế độ ăn cho bệnh nhân loét dạ dày – tá tràng (DD-TT)
a) Vai trò của dinh dưỡng trong điều trị loét DD-TT
Dạ dày có vai trò quan trọng trong dinh dưỡng Ngoài việc dự trữ thức ăn đưa vào để tiêu hóa dần, dạ dày còn là cơ quan nghiền nhuyễn thức ăn và tạo điều kiện thuận lợi cho tiêu hóa, hấp thu thức ăn ở ruột non Loét dạ dày – tá tràng là một bệnh khá phổ biến trên thế giới và ở Việt Nam Ở các nước đang phát triển ước tính
tỷ lệ bệnh khoảng 10%, hàng năm tăng khoảng 0,2% Ở Việt Nam theo điều tra trong những năm gần đây bệnh chiếm khoảng 26% và thường đứng đầu trong các bệnh ở đường tiêu hóa; bệnh có chiều hướng ngày càng gia tăng Cơ chế bệnh sinh chủ yếu là tăng tiết acid
Chế độ ăn trong bệnh dạ dày nhằm mục đích:
- Làm giảm tiết acid
- Giảm tác dụng của acid dạ dày tiết ra lên niêm mạc dạ dày
- Hạn chế hoặc loại bỏ những kích thích có hại để dạ dày nghỉ ngơi và các tổn thương mau lành
b) Nguyên tắc xây dựng chế độ ăn điều trị loét DD-TT
- Sử dụng thức ăn mềm, có khả năng bao bọc, che chở niêm mạc dạ dày và thích hợp cho từng người Nấu chin, ninh nhừ thức ăn, nhai kỹ, ăn chậm Không ăn thức ăn quá nóng hay quá lạnh, nhiệt độ thích hợp nhất từ 40-50oC
- Chống tăng tiết dịch vị và HCl: không để bụng đói; không ăn quá no; không
ăn nước luộc, nước hầm thịt nguyên chất; …
Trang 55
- Không ăn thức ăn quá lỏng hoặc quá đặc Thức ăn quá đặc khiến men tiêu hoá khó thấm vào thức ăn và không có tác dụng tốt, thức ăn quá loãng sẽ pha loãng men tiêu hoá, làm tăng pH môi trường dạ dày
- Nên có các bữa ăn phụ: tránh ăn nhiều trong 1 bữa làm dạ dày căng quá mức, chia nhỏ thành 4-5 bữa ăn (các bữa ăn phụ vào lúc khoảng 10 giờ, 15 giờ và 21 giờ)
- Bệnh nhân trong cơn đau: làm loãng acid dạ dày (uống nước, thuốc) và ăn thức ăn có tính trung hoà ( sữa, cháo)
c Những thức ăn không nên dùng:
- Thức ăn nhiều mùi vi, chất thơm như thịt quay, chiên, nướng, thịt, cá ướp muối, …
- Các loại thịt nguội chế biến sẵn như jambon, lạp xưởng, xúc xích và các loại nước sốt, nước thịt cá đậm đặc
- Sữa chua
- Những thức ăn cứng gây cọ xát niêm mạc dạ dày như thịt nhiều gân, sụn, quả xanh, cứng có nhiều vị chua, rau củ nhiều xơ già
- Gia vị, tỏi, tiêu, ớt… và các chất kích thích như cà phê, rượu, thuốc lá
Giá trị dinh dưỡng của thực đơn mẫu: Năng lượng 1800-2100 Kcal
(Protein 12,5%; Lipid 14%; Glucid 73,5%)
7 giờ Bánh mì, sữa
- Bánh mì: 1 ổ
- Chà bông: 20g
- Sữa: 200 ml
Cơm nếp, sữa
- Cơm nếp: 1 chén lung
- Chả lụa: 50g
- Sữa đậu nành: 200 ml
Cháo đậu xanh: 1 chén
~ 300ml Trứng gà : 1 quả
11 giờ - Cơm: 2 chén lưng
- Súp: 200g khoai tây
+ 100g thịt bằm
- Đậu hủ hấp: 200g
- Chuối: 1 quả
- Cơm: 2 chén lưng
- Thịt luộc: 100g
- Canh: 250ml (100g bắp cải+10g tôm bóc vỏ)
- Dưa hấu: 200g
- Cơm nếp: 2 chén lưng
- Cá hấp (kho lạt): 100g
- Rau cải luộc: 100g
- Thanh long: 200g
16 giờ - Cơm: 2 chén lưng
- Trứng hấp thịt: 1
quả trứng gà + 70g
thịt bằm
- Rau muống non
luộc: 100g
- Cơm: 2 chén lưng
- Thịt bò xào đậu, cà rốt:
30g thịt bò, 100g đậu cove, 1 củ cà rốt ~ 30g (+15g dầu)
- Cơm: 2 chén lưng
- Thịt viên hấp: 50g thịt bằm + 150g đậu hủ + 50g hành
- Canh rau cải: 100g
20 giờ - Bánh quy: 50g
- Chè bột sắn: 100ml
- Khoai sọ: 50g
- Chè mè đen: 100ml
- Bánh quy: 50g
- Chè đậu xanh: 200ml
Trang 63.2 Chế độ ăn cho bệnh nhân cao huyết áp
a) Vai trò của dinh dưỡng trong điều trị cao huyết áp
Cao huyết áp hiện là bệnh mãn tính phổ biến nhất trong cộng đồng Nguyên nhân chưa được tìm hiểu rõ ràng, tuy nhiên, ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy yếu tố môi trường (dinh dưỡng, lối sống) kết hợp với yếu tố di truyền là nguyên nhân chính gây ra bệnh này Khi bị cao huyết áp, ngoài dùng thuốc ra, việc lựa chọn và duy trì một chế độ ăn thích hợp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Vai trò của dinh dưỡng trong điều trị cao huyết áp (CHA) thể hiện qua những mối liên quan sau:
- Mối liên quan giữa Natri, Kali, Canxi và Magie với tăng huyết áp: những quần thể có tập quán ăn mặn thì tỷ lệ người bị CHA cao hơn hẳn so với những quần thể ăn nhạt hơn; sự thiếu hụt kali hay canxi trong khẩu phần ăn thường kết hợp với tăng huyết áp; một số nghiên cứu cắt ngang và theo dõi theo chiều dọc cho thấy magie có vai trò trong hạ huyết áp động mạch; …
- Vai trò của chất béo trong khẩu phần ăn với CHA: đặc biệt là chất béo no, nhiều thử nghiệm lâm sàng cho thấy huyết áp giảm rõ rệt khi giảm tỷ lệ chất béo no
từ 38 – 40% xuống còn 20 – 25% năng lượng khẩu phần ăn hoặc tăng tỷ số giữa chất béo không no : chất béo no từ 0,2 lên 1
b) Nguyên tắc xây dựng chế độ ăn điều trị cao huyết áp
- Khẩu phần ăn ít natri, giàu kali, canxi và magie:
Hạn chế sử dụng muối, kể cả muối trong thực phẩm (dưa, cà muối, mắm tôm, mắm tép, đồ hộp như thịt muối, …) ở mức < 6g/ngày Tăng lượng kali qua rau và hoa quả (trừ trường hợp thiểu niệu)
- Hạn chế thức ăn gây kích thích: cà phê, rượu, nước trà đặc, … Tăng sử dụng các thức ăn, uống có tác dụng an thần, hạ áp, lợi tiểu như hạt sen, trà sen, chè sen vông
- Phân bố tỷ lệ các chất dinh dưỡng hợp lý:
+ Năng lượng: 25-35 Kcal/kg cân nặng/ngày Nếu BMI>25, giảm bớt năng lượng đưa vào vì giảm cân nặng cũng nằm trong mục tiêu cần đạt của bệnh nhân CHA Lượng glucid đưa vào tốt nhất là từ các loại ngũ cốc và khoai, củ
+ Protein: 0.8 – 1g/kg trọng lượng cơ thể/ngày.Ưu tiên protein thực vật, nếu kèm suy thận cần giảm 50% lượng protein trên
+ Lipid: 15 – 20% tổng năng lượng Ưu tiên chất béo thực vật (acid béo không no), hạn chế trứng (1-2 quả trứng/tuần) và các thức ăn có cholesterol cao như phủ tạng động vật (óc, gan, tim, lòng, )
+ Cung cấp đầy đủ khoáng chất, vitamin từ rau, củ, quả… Hạn chế đường, bánh, mứt và các thức uống gây kích thích
Trang 77
c) Thực đơn mẫu cho bệnh nhân CHA:
7 giờ Sữa đậu nành:
200 ml (10g đường)
Khoai lang hoặc khoai sọ: 200g + 10g đường
Cháo đậu xanh hoặc đậu đen: 200 ml
11 giờ - Cơm gạo tẻ: 200g
- Canh bí xanh (100g)
- Tôm ram (50g tôm +
5g dầu thực vật, hành
lá)
- Cơm gạo tẻ 200g
- Canh cua rau đay, mồng tơi (100g cua, 150g rau)
- Cơm gạo tẻ: 200g
- Đậu hủ om: 100g đậu
hủ, 10g dầu
- Canh rau cải: 100g rau cải
14 giờ Nước chanh: 250ml (1
quả chanh + 15g
đường)
1 quả chuối hoặc 1 miếng đu đủ chín (100g)
Sữa chua: 150ml
18 giờ - Cơm gạo tẻ: 200g
- Đậu hủ chiên: 100g
+ 10g dầu thực vật
- Nộm rau muống
(300g rau muống +
đậu phộng, giấm…)+
nước luộc rau
- Cơm gạo tẻ: 200g
- Thịt lợn rim (50g)
- Dưa leo trộn dầu, giấm (300g dưa leo, 10g dầu thực vật, giấm, đậu phộng, …)
- Cơm gạo tẻ: 200g
- Cá om: nạc cá 100g, 10g dầu
- Nộm giá đỗ: 100g giá
đỗ, giấm, đường, tỏi…
3.3.Chế độ ăn cho bệnh nhân đái tháo đường (ĐTĐ)
a) Vai trò của dinh dưỡng trong điều trị ĐTĐ
Chế độ ăn là vấn đề quan trọng nhất trong điều trị tiểu đường với mục đích nhằm đảm bảo cung cấp đủ dinh dưỡng, cân bằng đủ cả về số lượng và chất lượng
để có thể điều chỉnh tốt đường huyết, duy trì cân nặng theo mong muốn, đảm bảo cho người bệnh có đủ sức khoẻ để hoạt động và công tác phù hợp với từng cá nhân Đái đường do tổn thương tuyến tuỵ có 2 thể (type)
• Thể phụ thuộc Insulin (type I): thường gặp ở người trẻ tuổi, gầy nhiều và thường có nhiều biến chứng
• Thể không phụ thuộc Insulin (type II): thường gặp ở người tuổi trên 40, người béo và ít biến chứng
Với type I, chế độ ăn thích hợp kết hợp với dùng thuốc theo chỉ dẫn của bác sĩ
sẽ giúp cho bệnh ổn định, hạn chế biến chứng Với type II chỉ cần chế độ ăn thích hợp kết hợp với hoạt động thể lực điều độ thường xuyên là kiểm soát được đường huyết giai đoạn đầu của điều trị
Trang 8Trước năm 1921, bệnh nhân đái tháo đường bị yêu cầu nhịn ăn và hậu quả là
họ ngày càng bị suy nhược cơ thể Sau đó, người ta chỉ định chế độ ăn giàu lipid cho người bệnh với khẩu phần có glucid tương đương 20%, protid 10% và lipid 70%
Tới những năm 1950, các nghiên cứu cho thấy chế độ ăn nhiều glucid hơn sẽ giúp ổn định đường huyết tốt hơn Một chế độ ăn mới được đề xuất với glucid là 40%, protid 20% và lượng lipid giảm còn 40% Đến năm 1986, lượng glucid hợp lý được đề nghị ở mức 50-60% tùy từng trường hợp, protid 12-20% và lượng lipid dưới 30%
Càng ngày, các nhà khoa học càng nhận thức được vai trò quan trọng của chế
độ dinh dưỡng hỗ trợ cho điều trị Chế độ ăn trị liệu hiệu quả không chỉ giúp bình
ổn đường huyết theo tiêu chuẩn điều trị mà còn phải hướng đến cải thiện các rối loạn lipid, rất thường gặp ở người bị bệnh tiểu đường, góp phần làm giảm các biến chứng lên hệ thống tim mạch Hiện nay, khuynh hướng mới về dinh dưỡng trị liệu cho cộng đồng nói chung và đặc biệt cho người bị đái tháo đường là khuyến khích chế độ ăn cân đối, có lợi cho sức khỏe, nghĩa là cung cấp đầy đủ tất cả các chất dinh dưỡng và vi chất cần thiết cho cơ thể một cách thích hợp
b) Nguyên tắc xây dựng chế độ ăn điều trị ĐTĐ
- Nhu cầu năng lượng: giống như người bình thường Nhu cầu tăng hay giảm
và thay đổi khác nhau tuỳ thuộc tình trạng của mỗi người Tuy nhiên cũng có những điểm chung như:
• Tùy theo tuổi, giới
• Tuỳ theo loại công việc (nặng hay nhẹ)
• Tuỳ theo thể trạng (gầy hay béo)
- Mức nhu cầu năng lượng chung cho bệnh nhân điều trị tại bệnh viện là 25 Kcal/kg/ngày
- Tỷ lệ các chất sinh năng lượng: Theo khuyến cáo dinh dưỡng năm 2004 của Hiệp hội Đái tháo đường Mỹ, tỷ lệ protid nên ở mức 15-20%, lượng carbohydrat và lipid tùy theo mỗi cá nhân, nhưng lipid dưới 30% Theo khuyến cáo của Hiệp hội châu Âu nghiên cứu về đái tháo đường, carbohydrat có thể ở mức 45-60%, lipid 25-35% Tuy nhiên, tất cả các khuyến cáo đều nhấn mạnh mặc dù lipid có vai trò cung cấp năng lượng cho cơ thể, giúp hấp thu các vitamin A, D, E, K nhưng cũng phải
sử dụng cân đối Chỉ nên sử dụng chất béo bão hòa dưới 10% tổng lượng chất béo
ăn vào
- Giờ ăn: chia nhỏ các bữa ăn trong ngày (tính theo tổng năng lượng) Bữa sáng 10%; bữa phụ sáng 10%; bữa trưa 30%; bữa phụ chiều 10%; bữa tối 30%; bữa phụ tối 10% Nếu bệnh nhân có tiêm Isulin, phải tính đến thời điểm lượng đường
Trang 99
huyết tăng cao sau bữa ăn phù hợp với thời điểm Isulin có tác dụng mạnh nhất Đối với bệnh nhân điều trị bằng Isulin tác dụng chậm, dễ có xu hướng hạ đường huyết trong đêm, nên cho ăn bữa phụ trước khi đi ngủ
c) Chọn lựa thực phẩm
- Để bệnh nhân tiểu đường dễ dàng trong việc lựa chọn thực phẩm, người ta chia thức ăn thành từng loại có hàm lượng gluxit khác nhau:
• Loại có hàm lượng gluxit ≤ 5%: người bệnh có thể sử dụng hàng ngày, gồm các loại thịt, cá, đậu phụ (số lượng vừa phải), hầu hết các loại rau xanh còn tươi và một số trái cây ít ngọt như: dưa hấu, nho ta, (sử dụng không hạn chế)
• Loại có hàm lượng gluxit từ 10-20%: nên ăn hạn chế (một tuần có thể ăn 2-3 lần với số lượng vừa phải) gồm một số hoa quả tương đối ngọt như quýt, táo,
vú sữa, hồng xiêm, xoài chín, sữa đậu nành, các loại đậu quả (đậu vàng, đậu
hà lan )
• Loại có hàm lượng gluxit từ ≥ 20%: cần kiêng hay hạn chế tối đa vì khi ăn vào làm tăng nhanh đường huyết gồm các loại bánh, mứt, kẹo, nước ngọt và các loại trái cây ngọt nhiều (mít khô, vải khô, nhãn khô )
- Chất xơ đã được chứng minh là làm giảm tình trạng tăng đường huyết, tăng lipid sau ăn, giúp tiêu hóa thuận lợi, chống táo bón và góp phần phòng ngừa ung thư đại tràng Mỗi ngày chúng ta nên sử dụng 25-35 g chất xơ Một bát súp-lơ xanh có thể cung cấp 25% chất xơ cần thiết cho một ngày, trong lúc nó chỉ mang lại có 45 calo
3.4 Chế độ ăn cho bệnh nhân mắc bệnh thận
a) Vai trò của dinh dưỡng trong điều trị cho bệnh nhân bệnh thận
Thận là một cơ quan đảm nhận nhiều chức năng sinh lý quan trọng của cơ thể đặc biệt là đào thải qua nước tiểu các sản phẩm giáng hóa protein tức là các nitơ phi protein như urê, creatinin, acid uric…Mặt khác thận cũng là cơ quan chủ đạo trong việc điều chỉnh cân bằng nước, các chất điện giải như natri, kali, điều chỉnh bằng toan kiềm để duy trì sự hằng định của nội môi Ngoài ra thận còn sản xuất nhiều nội
tố như erythropoietin để tạo hồng cầu chống thiếu máu, sản xuất 1,2,5 dihydrocalciferol để tăng hấp thu calci ở ruột chống loãng xương, gãy xương… Khi thận tổn thương mạn tính, dù có tổn thương ban đầu là ở cầu thận, ống kẽ hay mạch thận thì cuối cùng cũng dẫn đến suy thận mạn tính Mức lọc cầu thận cũng sẽ giảm dần rất khó hồi phục Biện pháp điều trị nội khoa bằng chế độ ăn giảm đạm (UGG) và thuốc men là nhằm ngăn chặn các biện chứng và làm chậm bước tiến của suy thận mạn
Trang 10Khi mức lọc cầu thận giảm xuống dưới 10ml/phút, cretinin máu tăng trên 500nmol/lít thì thận sẽ không còn đủ khả năng đảm nhiệm các chức năng sinh lý quan trọng nói trên Các sản phẩm giáng hóa, các độc chất nội sinh, ngoại sinh sẽ bị tích tụ trong máu, các rối loạn về chuyển hóa muối, nước, toan kiềm sẽ ngày càng trầm trọng mà các biện pháp điều trị nội khoa không còn hiệu quả Bệnh nhân bắt buộc phải lọc máu ngoài thận để cơ thể khỏi lâm vào tình trạng nhiễm độc toàn thân
mà lâm sàng gọi là “Hội chứng urê máu cao” và tử vong
Ở giai đoạn này thì việc dinh dưỡng bệnh nhân có khác với khi còn điều trị bảo tồn nhưng cũng rất quan trọng vì lọc máu nhân tạo chỉ giải quyết được một số rối loạn cơ bản Nếu không có chế độ ăn uống hợp lý thì bệnh nhân sẽ bị suy dinh dưỡng, chóng suy tim, chất lượng sống bị giảm sút
b) Nguyên tắc xây dựng chế độ ăn điều trị bệnh nhân bệnh thận
- Đối với bệnh nhân suy thận mạn chưa cần lọc máu định kỳ (chạy thận
nhân tạo): chế độ ăn thường xuyên được thay đổi, ít đạm, giàu calories (còn gọi là chế độ ăn UGG) dựa trên mức độ nặng của suy thận – hay GRF, bao gồm những nguyên tắc sau:
+ Ít đạm
Giai đoạn
suy thận
Mức lọc cầu
thận ml/ph
Creatinin máu mg/l
Lượng đạm cần: g/kg /ngày
+ Đủ năng lượng
Năng lượng hàng ngày phải cung cấp đủ 35-40kcal/kg/ngày (1800-2000kcal/ngày)
Khi không cung cấp đủ năng lượng, cơ thể sẽ dị hoá đạm của bản thận làm tăng urê máu Năng lượng được cung cấp chủ yếu bằng glucit (bột, đường) và lipit (dầu thực vật, bơ)
+ Cân bằng lượng nước, khoáng chất, vitamin:
Lượng nước đưa vào bao gồm cả nước trong thức ăn, phải được cân bằng dựa trên lượng nước tiểu thải ra, cụ thể: 300 – 500 ml+ lượng nước tiểu
Hạn chế muối, thay bằng 2 thìa nhỏ nước mắm trong chế độ ăn Chú ý trong lựa chọn thực phẩm để giảm lượng kali Cân bằng calci và phospho, vì phospho làm