mã gia nhà họ mã Tả Phín ta fin’ RFE ta prin’ dai binh bai bing lon Qua những vị dụ trên chúng ta thấy bạn đầu đầy là những địa danh hoàn toán theo âm đọc Hán và để có những địa đanh
Trang 1CHINH
ISSN: 0866-7705 VIEN NGHIEN CUU DIA CHÍNH - BỘ TÀI NGUYEN & MOI TRUONG
i
AMT 2 ge 3i tg ĐỂ th Movant N VIEC CHUYEN HE ODSGRD >
LRND ADMINISTRATION MAGAZINE
Trang 2Số 2-4/2007
Tổng biên tập TS NGUYÊN DŨNG TIẾN
PGS TSKH HA MINH HOA
@ PGS TSKH Ha Minh Hoà - Giải quyết một số vấn đề liên quan đến việc chuyển hệ độ cao được xác định từ mặt nước biển trung bình ở trạm thuỷ
Thư ký toà soạn
S ® ThS Nguyễn Phi Sơn - Ứng dụng công nghệ DGPS và phần mềm ITR3.0
để thành lập bản đồ địa chính từ bản đồ địa chính cơ sở khu vực miễn núi 12 Ban biên tập
TS NGUYÊN ĐÌNH BỒNG
TS NGUYÊN THỊ THANH BÌNH = ® TS Phạm Quang Vinh - Đề xuất nguyên tắc xây dựng hệ thống phân loại
TS TRẤN BẠCH GIANG ® ThS Nguyễn Duy Đö, KS Nguyễn Gia Trọng - Xác định toạ độ tuyệt
TS NGUYEN VAN LANG ® Ths Phạm Thị Hoa - Khảo sát số liệu độ cao GEOID theo mô hinh EGM-
GS TSKH PHAM HOANG LAN @ThS Nguyễn Thị Thu Trang - Đánh giá thích nghỉ đất dai đối với cây
TS NGUYÊN ĐỨC MINH < „ - ® ThS Nguyên Tiến Sỹ, KS Trản Đình Nhuận - Kết quả thực hiện việc rà
TS LE KIM SON
GS.TSKH LE DINH THANG
I- Mã số đào tạo Thạc sỹ chuyên
604480, 604482
- Mã số đào tạo Tiến sẽ chuyên - ® TS Nguyên Văn Hiệu - Địa danh gốc Hán Quan thoại Tây Nam - một tiểu gành Địa chính : 7 ⁄ loại địa danh trong hệ thống địa danh ở Việt Nam, 49
62448001, 62448201
TÒA SOẠN TẠP CHÍ ĐỊA CHÍNH ĐƯỜNG HOÀNG QUỐC VIỆT, QUẬN CẦU GIẤY, HÀ NỘI Điện thoại: 04.7554196
CƠ SỞ 2: TẠI PHẦN VIỆN NGHIÊN CÚU ĐỊA CHÍNH PHÍA NAM S6 30 DUONG 3 KHU 4
PHUONG BINH AN QUAN 2 TP HỒ CHÍ MINH Điện thoại 08.07403824
Giấy phép xuất ban số: 20/GP-BVHTT, 22/3/2004 In tại Công ty Cổ phần In 15 Bộ Công nghiệp
Khổ 19 x 27cm Nộp lưu chiểu ngày 25/4/2007
AS
Trang 3
Fraug Dia danh
Địa danh gốc Hán Quan thoại Tây Nam-một tiểu loại địa danh trong hệ
thống địa đanh ở Việt Nam
TS Nguyễn Lăn Hiệu
Khoa Ngôn ngữ- Đại học ÁH.VHA& NI Đại học Quốc gia Hà Nội
Văn đề địa danh ở Việt Nam từ lâu đã được rất nhiều nhà ngôn ngữ học quan tắm
nghiên cửu Các nhà nghiên cứu đã cho chứng ta thầy ở Việt Nam bên cạnh những lớp địa
danh thuận Việt, là một số lượng nhỏ biên các lớp địa danh Hàn-Việt hay các địa danh có
nguồn gộc tử các ngôn ngữ đân tộc thiểu sô ở nước ta Nhưng trên thực tế, ở các vùng dân
tộc thiểu số thuộc các tỉnh miễn núi phia Bắc nằm dọc theo biến giới ViệL - Trung như Lai
Châu, Lào Cai, Hà Giang lại xuất hiện khả phê biến kiểu địa đanh gộc Hán (người địa
phương gọi là tiếng Quan Hóa!}
Vị du: Tiếng Liệt Tiếng Hún (QH) Húa - Liệt Nghĩa Lao Chai ‘law ca}! -#£3 /lau tsai? lão trại làng cũ
Má Cha?ma ca’ -~!È 4£ /ma tựa! mã gia nhà họ mã
Tả Phín ta fin’ RFE ta prin’ dai binh bai bing lon Qua những vị dụ trên chúng ta thấy bạn đầu đầy là những địa danh hoàn toán theo
âm đọc Hán và để có những địa đanh ghí bằng chữ quốc ngữ như hiện nay thì những địa
danh này đã phai trải qua một quả trình quốc ngữ hoá (dụng chữ quốc ngữ đề ghỉ lại các
dia danh theo âm đọc Hán) Nhưng trên bình điện đồng đại chúng ta vẫn nhận ra chúng là
những đơn vỉ địa danh gốc lân quan thoại Tây Nam Trong bải việt này, chúng tôi chủ
yêu đưa ra một sẻ nhận xết về mặt ngữ âm và cầu tạo từ của địa danh gốc Hán ở Việt Nam,
trên cơ sở đó nhằm khẳng định sự tỏn tại một tiểu loại địa danh má trước đây chưa được ˆ
nhắc đên trong hệ thông địa danh ở Việt Nam
a Nật vài nhận xứ về mặt ngữ âm: Chúng ta dễ nhận thây hệ thông ngữ âm của
tiếng Ilần Quan thoại Tây Nam (Quan Ï lòa)oán toàn không tương đồng với hệ thông ngữ
âm tiếng Việt Chính vị vậy quả trình dùng chữ quốc ngữ để ghi lai những địa danh với
4m doc Ian nay sf gap nhiều khó khăn, Đôi với những phụ âm và phân vẫn tương động
với tiếng Việt thì hầu hét cach ghi dé biéu hiện cách đọc không thay đổi với âm đọc Hán,
; Tiếng Quan Hea được cới là phường ngôn Hàn Tây Nam {Southwest Madarin Dialect), phố biên ở các tính Văn Nam Tử Xuyên, Quý Châu-T rung Quốc Trong bái viết này chưng tôi sẽ dụng chữ Hàn pián the để phi các ví dụ cho tiện theo dõi
Người phần biện: KS Trịnh Anh Cơ
TẠP CHÍ ĐỊA CHÍNH SỐ 2-4/2007 oh 3B 49
Trang 4Đôi với hệ thống phụ âm đầu, các đây phụ âm tắc và các phụ âm xát hay phụ âm
mũi khi chuyến sang tiếng Việt vẫn được giữ lại bởi những phụ âm tương ứng có trong
tiếng Việt như /, ‘ks, py, fu, fpf RẺ 1Ù Thí, VÌ đụ:
Ngài Phong Chồ(nai fan có/ => lR ML JM /nai fan tco/
Tả Dông Hồ /ta don họ/ =+#iH Ata wy hol
Vì Sự khác biệt giữa tiếng Hản và tiếng Việt về phụ âm đầu lại chính là những đãy phụ âm tắc-xát trong tiếng Hán Khi chuyên sang tiếng Việt, vì trêng, Việt không có những
phụ âm này, nên chứng sẽ chuyến sang một phụ âm gắn tương ứng theo một quy luật nhất
định như: ‘ts’, ‘te’ Giéng Han} Jc! (tiếng ViệU, /ts"/, /œ - /§ Nhu vay sé sẽ chấp nhận
với nhiều trường hợp một âm trong tiếng Việt lại biểu thị nhiều âm trong tiếng Hán hoặc
một âm của tiếng Hản lại được chuyển thành nhiều âm khác nhau trong tiếng Việt như ¿tệ? (tiếng Hản) - /c¿, /U, /k/ (dếng ViệD, ¿ts/ c2 /U hay một âm của tiếng Việt lại biểu thi
nhiều âm trong tiếng Hản như /É, ¿p2 '(tiéng Han) - /ff (tiếng Viet) Vi du:
Phin Chu /fin củ = => * f /pin tst’
Wa Cha /ma ea’ c> — !3⁄5X ma teai
Ngoài ra, cùng một âm trong tiếng Han nhưng khi phiên chuyền sang tiểng Việt lại
có những biển thể khác nhau như: ¿t (tiếng Hán) - ¿t, ¿d/ (tiếng ViệU), ¿p¿ : (tiếng Hán)- ¿p:,
bi (tiéng ViệU, ví đụ:
Tả Đông Hỗ ta don ho>k 4Í /ta tun ho/
be Phú Chải /py fu caj/©[I#Š/py fu tgai/
Ban Phố “ban fo/ >> 3P pan p'o!
Đói với phân van, tiéng Han được chia lam 3 loai chinh Veac van don, 2/eac vẫn
kép, 3/các vẫn mũi [6, 333] Đôi với phản văn loại 1 thì hấu hết khi chuyên sang tiếng
| Việt vẫn giữ được những âm tương ứng như ¿2/, fof, tus, /X/, Côn bai loại vẫn còn lại
cũng có những vẫn có tương ứng với tiếng Việt, khi đó sự phiên chuyển được giữ nguyên
| nhự, #un/, zan?, /m.,.Ví dụ:
Tà Cán Hồ (ta kanho' z>'†'j/ta kan họ
Lừng Pao/lug paw¿ =>: 3% /lup pau
Bên cạnh đó, cũng có nhiều vẫn trong hệ thông ngữ âm tiếng Việt không có, vì vậy
khi phiền chuyển, tiếng Việt đã dùng những vẫn mà có trong hệ thống đề ghí lại những
phản vẫn khác loại nhưng hơi gắn nhau với tiếng Hản Chủ yêu ở dây là những vẫn kép là nguyên âm hay những vận có giới âm, âm mùi như: ¿iorJ‡, aw! fu Vi dụ:
Seo Tùng /sew tun¿ =>⁄B›ÏFl /ciau tun!
50 TẠP CHÍ ĐA CHÍNH SỐ 2 - 4/2007
ASS
Trang 5Fraug Dia danh
Sa Séng/sa seni = => F #8 /cia ciap/
Trong các địa danh gốc Hản còn có hiện tượng từ một phản vẫn có nguyên âm / y/
trong âm đọc Hán sẽ được phiên chuyển sang thành phụ âm ¿2 trong tiếng Việt và được
biểu thị bằng con chữ “gi” hay “d7, vi dụ : #2 % / yan tcia! - Giảng Cha /zan cai, #i HỆ
fyi tay’ - Di Thang /zi tary; ff 7F /yin teineDin Chín /zin cín/
Qua những tương ứng ngữ âm về phản phụ âm đầu và vẫn, chúng ta có thê thấy những địa danh gốc Hán ở đây đã được quốc ngữ hoá theo những qui luật phiên chuyển
nhất định Khi so sánh với tiếng Hán phương Nam trên phương điện đồng đại chúng ta
vẫn có thê nhận diện được những địa danh với những cách đọc Hán tương ứng
b Mật vài nhận xót vỀ một cẤu tạo:
Nhìn chung các địa đanh ở đây có một đặc điểm đễ nhận thây nhất là chúng được
cầu tạo theo cầu trúc Hán Trong mỗi quan hệ chính phụ trong mỗi địa danh, yêu tô chính
thường đứng sau yêu tô phụ, Như trong trường hợp các địa danh; Nan Ho (4) #4]- Nam Ha
"Sông nam"), Si Ma Cai (3f "4 @i-Tan Mã Nhai "Phố ngựa mới”), Lùng Phính (JÈ }Ÿ-
Long Binh “bãi rồng”), Cụ Tỷ Chài (@ Hh 2X- Cốc Địa Trại “Làng lúa nương”) thì các yêu tô chính “Hổ” (iJ), “Cai” (7), “Phình" (J#), “Chải” (48) đứng sau, còn các yêu tô
phu “Nan"( a), “Si Ma” (ft &h), “Limg™( #2), “Cu Ty” (FF Hh) dimg trae han dinh cho
yêu tô chính
Riêng đối với một số yếu tô chính lại có kết hợp khá đặc trưng của cầu trúc Hán Những yêu tô chính này có thê kết hợp và đứng ở vị trí trước yếu tổ “Chữ” hay "Chư "2(
“#-Tử),vi dụ trong các địa đanh như: Càn Sư Chư (TT #4 -Can thu tu “Cay khô”), Phìn
Chư (fƑ-#-Binh tử “Bãi băng”), Tả Văn Chư (KSZ-Dại loan tự "Cua lớn”) Trong
những trường hợp nảy yếu tô “Chữ” hay ˆChư" ( 7 Tử) có chức năng di sau danh tis
nhằm chỉ người hay vật |5,889], mà hiện nay kiểu cầu trúc nảy vẫn dùng khá phố biển
trong tiếng Hán phó thông hiện đại, ví dụ: XE*# (cai ban), 8 -F (cai ma) Nhu vay chimg
ta có thể để nhận thấy các địa danh gốc Hán ở vùng này vẫn mang những đặc trưng cấu trúc Han rất rõ nét,
Cũng có một số trường hợp ngoại lệ, các địa danh đã có câu trúc theo kiểu các yếu
tổ phụ đừng sau yếu tổ chỉnh như: Phìn Páo (FE2# -Bình Bảo “bãi ngọc”), Tỉ Hừ (HUÃ- Địa hắc “ đất đen”) xuất hiện rất ít chỉ xấp xỉ (1%) trên tổng số tư liệu thu được, còn lại câu trúc Hạn vẫn là cơ bản,
? Đây là hai biến thê của ( £-Tử) itsi khí phiên chuyên sang tiếng Việt
TẠP CHÍ ĐỊA CHÍNH SỐ 2 - 4/2007 ASY 31
Trang 6Số lượng các đơn vị địa danh gốc Hán cầu tạo theo quan hệ đăng lập không nhiều (10/320 trường hợp), trong đó chủ yếu là những địa danh song tiết bạo gôm 2 yêu tô vi dụ:
- Lù khâu (ft r1-Lô khẩu “ngã ba”), Phin Ngan (?- Bình an) Trong những trường hợp này các yêu tô "Lũ” CBE), Phin CF) kết hợp với các yếu tỏ “Khẩu” (11, “Ngan” 1 để
tạo thánh các địa danh mà vai trõ các yêu tổ ngang nhau trong cầu trúc của địa danh
c.Kết luận chung
Qua những phân tích ở trên, chúng ta có thể khẳng định ở các vùng dân tộc thiểu số
ở một số tỉnh gan biện giới Việt -Trung má chủ yêu @ ba tinh 1.30 Cai, Vai Chau, ta Giang có tôn tai những địa danh gộc lân (theo âm đọc phương ngôn lliắn quan thoại vung |
Tây- Nam Trung Quốc)
Vẻ mặt ngữ âm, vá cầu fạo các địa danh ở day khi sơ sành với bêng Hàn phương ngôn Quan thoại Tây Nam trên phương diện dong đại thì chúng tạ vẫn nhận thấy chúng là
những địa danh thuận Hán Những địa danh nay đã dược phiên chuyển sang chữ quốc ngữ,
nhưng về bản chất vẫn mạng đậm nét phương ngôn Hản Quan thoại Tây Nam Loại địa
danh này phải được coi là một kiểu loại địa danh trong hệ thông địa danh Việt Nam Q
Tài Hệu tham kháo chính
Dao Duy Anh (1957), Han 1108 từ din, Trường "Phí xuất ban, Sar Gon, -
Nguyễn Tài Can (2001), New i gee và quả trình hình thành cách dục tián Lhật, Nxb Dat
Hoàng Thị Châu (1963) Afái bến he ve neon neie co dae Daag Nam Aquat met vert (6H sóng Thông bảo khoa học Văn học -Ngôn ngữ 1964.1965 tấp 2 Nxb Giáo dục Hà Nội tr.94- 106,
Hà Nội
Hầu iần Giang, Mạch Vĩ Lương (chủ hiền)( 20021 ï diện Hân -Liối Nhà n Thường
vụ, Bắc kính
Nghiêm Thuý Hắng (2001) fiche Hán, Trong “Các ngôn ngữ phương Deng Ltr 2B 411) Nxb Dat hye Quée gia Ha Nov
Nguyén Van Hiệu Lớn dea dein toe Mong-Duo hae Cai duu phan sink qua nytt nghia của các dịa danh hành chính gor Han, fap cli ten Naini sO 272006,
Nam {iren ct fiew dia anh hank chink tink Lao Cai) ‘Tap chi Nyda agi xố 1/2005
Lé Trung Hoa (1991), a dank ở thành phd He Chi Minh, Nxb Khoa hoc Na hội, Hà
Nội,
- Lê Trung Hóa (20021, Các phương pháp cự ban trong việc nghiên cầu da danh, Tạp chí
Ngôn ngữ số 7/02
-_Từ Thu Mai (2004), Agiien cứu địa danh Quang Trị, Luận án tiễn sĩ Ngữ văn, Dại học kHXH&NV Hà Nỗi
52 TẠP CHÍ ĐỊA CHÍNH SỐ 2 - 4/2007
235
Trang 75“
2 Hoàng Tắt Thắng (2003}, 7ø danh Đà Nẵng từ cách tấn cậu ngôn ngữ lục T/c Ngôn ngữ so 2/03
13 Dean Thiện Thuật (199), Ngữ ấm tiếng Việt, Nxb Đại học Quốc Gia Hã Nội
H Nguyễn kiến Trường (12), Những đặc điểm chính cua dia danh Hai Phong (trong vai
Hết đổi sảnh với dia danh Figt Nam, Luận án phó tiến sĩ Khoa học Ngữ văn, Dại học
KHXH&NYV Hà Nội
1 Wenzi Gaige Chubanshe Hanyu Fangyan Guivae, Reying 1982 (tiếng Hạn) Q
ĐỐNH Giấ THÍCH NGHỊ ĐẤT ĐñI
(Tiếp theo trang 38)
4 KẾT LUẬN
Qua kết quả đánh giá sử dụng đất thích
hợp đối với các LUT, đã xác định được mức
độ thích hợp hiện tại của các loại hình sử
dụng đất, đồng thời đã xác định được hướng
sử dụng đất bền vững đối với đất nông
nghiệp đến năm 2020 ở tỉnh Bắc Giang
Hướng sử dụng đất bền vững và duy trì
chất lượng đất đai ở Bắc Giang cần được
dựa trên cơ sở các giải pháp về thuỷ lợi, kỹ
thuật canh tác hợp lý, các giải pháp về
chính sách đất đai và chính sách hỗ trợ
người sản xuất, sẽ đảm bảo hiệu quả trên
cả 3 phương diện: kinh tế, xã hội và môi
trường
Cần sử dụng các kết quả đánh giá đất ở
Bắc Giang để xây dựng hướng quy hoạch
tổng thể cho vùng đất dốc, đối núi nhằm
phục vụ cho việc bảo vệ tài nguyên đất và
môi trường trong vùng đổi núi của tỉnh
Đồng thời mở rộng việc vận dụng đánh giá
thích hợp của FAO vào đánh giá sử dụng
đất nông nghiệp ở mức độ chỉ tiết trên các
đơn vị cấp huyện để triển khai các phương
án sử dụng đất thực tế.©
TẢI LIỆU THAM KHẢO
[1] Trung tâm Điều tra Quy hoạch đất
đai - Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2007, Báo cáo tổng hợp Dự án xây dựng mô hình chuyển đổi cd cấu sử dụng đất phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn tỉnh Bắc Giang
[2] Sở Tài nguyên và Môi trường Bắc
Giang, 2006, Số liệu kiểm kê đất đai năm
[3] Nguyễn Cao Huần, 2005, Đánh giá cảnh quan (theo tiếp cận kinh tế sinh thải) NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
[4] Nguyễn Đình Kỳ và Lưu Thế Anh,
2005, Báo cáo chuyên để Đánh giá hiện trạng và dự báo các xu thế biến đổi môi trường đất phục vụ đề xuất quy hoạch sử dụng môi trường đất tỉnh Bắc Giang
[5] Nguyễn Đình Kỳ, Lưu Thế Anh và
nnk, 2005, Mô hình tích hợp ALES-GIS
trong đành giá thích nghỉ sinh thái của cảnh
quan đối với cây trồng (Ví dụ vùng chuyên canh cà phê, cao su tinh Dak Lak, Dak Nông) Tạp chí Khoa học đất số 23/2005,
[6] FAO, Guidelines for land Use Planning, Rome, 1994
[7) Rossiter D.G & Van Wambeke A.R,
2000 Automated Land Evaluation System
Department of Soil, Crop & Atmospheric Science SCASeaching Series No 193-2
Revision 6 Ithaca, NYUAS.O