Theo ching tôi, có lẽ đó cũng là lí do để người ta dễ thiên nặng về ý nghĩa ngữ pháp của nó và cuối cùng xem đó là “từ công cụ ngữ pháp” với sự biện minh bao quát hơn rằng, sự xuất hiện
Trang 1Nhôn ngữ
KY NIEM 30 NAM THANH LAP TAP CHI “NGON NGU”
(1969 - 1999)
UNG TAM KHOA HOC XA HOI
VA NHAN VAN QUOC GIA
VIEN NGON NGU HOC
Trang 2NGON NGU
RA 1 THANG 1 Ki MUC LUC
NGUYÊN VĂN LỢI - JEROLD A EDMONDSON
JEROLD A EDMONDSON NGUYÊN VĂN LỢI - HOANG
Tiếng La Chí ở thượng nguồn sông Lô — 1
Nung Vén (Enh) - Một ngôn ngữ thuộc
Tổng biên tậ - hom Ka Đai mới được phát hiện 12
ÔnẾ ĐIẾP ĐẾP - VANMA -TẠVĂNTHÔNG AS aime uae phalen
LE XUAN THÁI vo auc NGHIEU Các đơn vị từ vựng song tiết đẳng lập
Phó tông biên tập tiếng Việt trong bối cảnh một số ngôn
NGUYÊN ĐỨC TỒN - ngữ Đông Nam  22
NGUYÊN HỮU HOÀNH Về sự phân định các ngôn ngữ của
nhóm Việt - Mường 35 ĐÀO THÂN Cây lúa, tiếng Việt và nét đẹp văn hoá,
tâm hồn Việt Nam 43 NGUYỀN LAI -VÀN CHÍNH _ Một vải suy nghĩ về từ hư từ góc nhìn
ữ dụng học - án
SS PHAN THI HONG XUAN Cơ chế chuyển nghĩa theo phương thức
1999 ẩn dụ của từ chỉ bộ phận cơ thể người
trong tiếng Việt 55
VŨ KMBẢNG Khái niệm ngữ âm học _ 65 ĐÀO THÂN Một công trnh chuyên khảo mới của Giáo
sư Nguyễn Đức Dân:ngữ dụng học 73
VNNH-TCNN Chúc mừng Giáo sư Hoàng Phê thượng
thọ 80 tuổi ằeeeeeeree 74 Toa soan VNNH-TCNN Chúc mừng Phó giáo su, nha giáo ưu tú
20 Lý Thái Tổ Nguyễn Văn Tu thượng thọ 80 tuổi T5
Hà Nội VNNH-TCNN Chúc mừng 70 năm ngày sinh của Phó
ĐT: 8.244.289 s giáo su Bui Khắc Việt 76
HOÀNG PHÊ Hoàng Tuệ - nhà khoa học có tài năng,
khí phách, tám huyết 77
HOI DONG BIEN TAP
Chi tich: LE XUAN THAI
Cac uy vién: DO HUU CHAU - HOANG VAN HANH - CAO XUAN HAO
vU BA HUNG - NGUYEN THE LICH - NGUYEN VAN LOI - DAO THAN
LY TOAN THANG - NGUYEN DUC TON
Trang 3NGON NGU _
MỘT VÀI SUY NGHĨ VỀ TỪ HƯ
TỪ GÓC NHÌN NGỮ DỤNG HỌC
(Qua cứ liệu tiếng Việt)
NGUYÊN LAI & VĂN CHÍNH
Từ hư” thường được coi như một phạm trù từ loại đối lập với (ừ thực theo cách nhìn quen thuộc của ngữ pháp truyền thống ở ta Tuy không nói ra
nhưng phần lớn thường người ta dễ cảm nhận chức năng ngữ pháp của nó hơn là chức năng ngữ nghĩa trong các kết hợp Và do vậy, có lẽ cũng không hoàn toàn ngẫu nhiên mà khi xác định phẩm chất chung nhất của từ hư, nhiều nhà ngữ pháp hầu như đã thống nhất cho rằng, từ hư không có khả
năng đảm nhận thành phần chính trong các kết hợp” Đặc biệt, cạnh đó,
người ta ngày càng chú ý đến loại từ hư đang biến động từ thực từ và được sử
dung song song với thực từ”, Đối tượng này trước đây phần lớn chưa được
khảo sát một cách triệt để trong cơ chế giao tiếp gắn với lời nói, do vậy, hiệu lực giao tiếp của nó chưa được phát hiện đầy đủ Theo ching tôi, có lẽ đó cũng là lí do để người ta dễ thiên nặng về ý nghĩa ngữ pháp của nó và cuối cùng xem đó là “từ công cụ ngữ pháp” với sự biện minh bao quát hơn rằng, sự xuất hiện và phát triển phong phú hệ thống từ hư trong tiếng Việt là một quá trình cân bằng cần thiết và tất nhiên đối với loại hình ngôn ngữ không có
sự biến đổi hình thái này
Tuy có H do lịch sử của nó, nhưng cách nhìn vừa nêu trên, theo chúng tôi, dù muốn dù không, có lẽ đã ít nhiều làm cho chúng ta mơ hồ về nguyên tắc đại cương đối với quan hệ vốn không tách rời giữa phạm trù ngữ nghĩa và ngữ pháp của ngôn ngữ học; đồng thời, cũng như vậy, với cách nhấn mạnh trên thì một số ý sắc thái ngữ nghĩa tinh tế trong giao tiếp hàng ngày vốn gắn với cái mà ta gọi là “từ hư” trong tiếng Việt, sẽ khó bề phát hiện đích thực như nó đang có
Như vậy, đã đến lúc vấn để từ hư cần được xem xét trong hoạt động
mổ của ngôn ngữ gấn với hiệu lực giao tiếp của chính nó từ góc nhìn ngữ dụng học
1, Để giải quyết vấn đề từ hư tiếng Việt một cách thật cơ bản, trước hết,
có lẽ chúng ta cần có những xuất phát điểm chung mà cách nhìn truyển
thống ở ta dường như chưa mấy khi có sự quan tâm đúng mức sau đầy:
a) Từ hư cần được xét từ góc độ tạo nghĩa gan với quá trình phát triển ngôn ngữ trong mối liên hệ với quá trình phát triển nhận thức theo hướng
lí giải
b) Từ hư, về mặt cấu trúc, cần được xét gắn liền với cơ chế tín hiệu học -
một cơ chế trực tiếp chỉ phối các mặt hoạt động và quá trình phát triển ngôn ngữ, mà ở đấy, sự tồn tại của nó luôn dựa trên nguyên tắc hình thức không tách rời nội dung
{o
Trang 450 Ngôn ngữ số 5 nam 1999
c) Từ hư phải được xem xét gấn với hiệu lực giao tiếp từ góc nhìn ngữ dụng học cùng với quan điểm động trong khảo sát
Ba quan điểm trên có thể được cụ thể hoá như sau: khi khảo sát từ hư, chúng ta không nên ngộ nhận khái niệm “hu hoá” là gắn liền với trạng thái
“mất nghĩa” hoặc “teo nghĩa”; trái lại, trên chừng mực nhất định, phải hiểu
đó là hiện tượng ¿go nghĩa mới theo yêu cầu giao tiếp nói chung Muốn thế, chúng ta cần đứng vững trên sự phân bố nghĩa giữa trạng thái từ hư và từ gốc theo cơ chế hành chức có thể nhận diện được về phương diện đồng đại trong hệ thống ngôn ngữ đang sử dụng Điều này có nghĩa là chúng ta cần
nhận rõ: trong quá trình tạo nghĩa gắn với sự làm nảy sinh những hiện tượng
mà từ lâu được gọi là “hư hoá”, tín hiệu xuất hiện sau không phủ định sự tôn
tại những tín hiệu cùng gốc xuất hiện trước; trái lại, các tín hiệu có cùng vỏ ngữ âm này luôn song song tổn tại và được sử dụng một cách bình đẳng và tích cực như nhau trong giao tiếp hàng ngày của cộng đồng Ví dụ:
ra (trong chạy ra)
ra (trong ¿ừm ra)
ra (trong dep ra)
Cả 3 đều vẫn có nghĩa riêng trên trục đồng đại và chúng tổn tại bên
nhau để thể hiện các sắc thái nghĩa riêng trong giao tiếp mà chúng đang đích
thực góp phần qua các cấu trúc phát ngôn của ngôn ngữ
Như vậy, phải chăng đây chính là sự sản sinh thêm sắc thái nghĩa mới
từ nghĩa gốc (do yêu cầu đồng hoá (assimilation) tri giác mới vào ngôn, ngữ) trên cơ sở dùng vỏ ngữ âm sẵn có để tạo ra tín hiệu mới theo nguyên tắc tín hiệu học ?
Điều này cũng có nghĩa là sự xuất hiện những tín hiệu mới (dù chúng có cùng hình thái / hình thức (forme) với tín hiệu gốc) nhưng trong chúng bao giờ cũng có một sắc thái (nuance) nghĩa khác, và cũng chính vì thế mà chúng
không phủ định sự tổn tại của tín hiệu gốc trong bình diện sử dụng ngôn ngữ
theo hệ thống đồng đại Với cách xác định trên, theo tôi, có lẽ đã đến lúc chúng ta không nên hiểu rằng những từ mới được sản sinh là do “hư hoá”,
“hao mòn”, “teo nghĩa” hoặc “mất nghĩa”
2 Tiếp đến là vấn đề xác định hiệu lực giao tiếp của từ hư
Đây là khâu trực tiếp nhất, cụ thể nhất và mấu chốt nhất đối với tiến
trình giải quyết vấn đề đặt ra Và thực ra, đây cũng chính là chỗ mà các nhà ngữ pháp tiển dụng học khó vượt qua dé dàng, do quan điểm tĩnh, ; nặng về cấu trúc hình thức, xem nhẹ chức năng giao tiếp - một chức năng vốn là tiền
để khách quan cho sự phát sinh và phát triển ngôn ngữ
Về phần mình, qua bước đầu khảo sát, chúng tôi có những xác định tương đối cụ thể như sau:
a) Nghĩa giao tiếp là loại nghĩa được thể hiện qua hoạt động giao tiếp gắn với cơ chế mở của ngôn ngữ Nét nghĩa của từ hư trong trạng thái hoạt động gắn với cơ chế này thường rất khó nhận dạng và hầu như không thể trực tiếp định nghĩa bằng khái niệm logic, vì những lẽ sau đây:
+ Ngữ nghĩa gốc của yếu tố ấy thường bị áp lực của hệ thống kết cấu làm biến đạng, rất khó cảm nhận
H
Trang 5Một vài suy nghỉ 51 + Thường trong khi hành chức, nó không mang một chức năng cú pháp
quen thuộc, được sẵn định hoàn toàn thống nhất theo quan niệm và quan
điểm truyền thống
+ Và, vì chỉ có nằm trong kết cấu cụ thể đó, nó mới đảm nhận sắc thái
“nghĩa” mà ta đang khó cảm nhận ấy, cho nên nó không thuộc loại nghĩa phổ quát của từ điển để ta có thể tra cứu; trái lại, ở đây ta phải chủ động tìm cách xác định nó qua “văn cảnh dụng học” (contexte pragmatique) Ví dụ:
Cô ấy dep ra (1)
Cậu nói đến hay (2)
Nó uừa mất đi mười triệu (3)
Trong những trường hợp này, rõ ràng
ra (1) không còn mang nghĩa uận động không gian từ hẹp đến rộng đến (2) không còn mang nghĩa tiếp cận đích không gian
đi (3) không còn mang nghĩa uận động di chuyển bằng đôi chân
b) Tuy rằng khó định nghĩa, nhưng xét hiệu lực giao tiếp từ góc độ ngữ dụng học, thì chắc chấn chúng đều có góp phần tạo nên hiệu lực thông báo (effet communieati0 chung Tức là, trong trường hợp này, nếu loại bỏ chúng
khỏi phát ngôn, ta sẽ mất một phân số thông tin nào đó trong hàm lượng thông báo chung của tổng thể cấu trúc phát ngôn Ví dụ:
Cô ấy đẹp ra — => Cô ấy đẹp ( )
bội X2 + Nội dung phát ngôn X1 lớn hơn X2
+ Do mất hiệu lực giao tiếp của ra nên câu bình phẩm biến thành câu miêu tả
Cậu nói đến hay => Cậu nói ( ) hay
x1 : X2 + Nội dung phát ngôn X1 lớn hơn X2
+ Do mất hiệu lực giao tiếp của đến nên câu phủ định mang sắc thái mỉa mai biến thành câu khẳng định
Nó uữa mất đi mười triệu = No vita mất ( ) mười triệu
+ Nội dung phát ngôn X1 lớn hơn X2
+ Do mất hiệu lực giao tiếp của đi nên câu cảm thần biến thành câu miêu tả :
3 Qua ba ví dụ gián tiếp chỉ rõ sự góp phần tạo ra hiệu lực giao tiếp của
ra, đến và đi vốn đang hoạt động trong trạng thái “từ hư” ở ba cấu trúc khác
nhau trên, chúng ta còn có thể ghi nhận thêm diéu thu vi nay: chinh trong ca
3 cấu trúc “Cô ấy dep ra”, “Cau nói đến hay” và “Nó uữa mất đi mười triệu”, ta thấy ra, đến, đi hoàn toàn tự do, chúng không đảm nhận chức năng cú pháp
A®
Trang 652 Ngôn ngữ số 5 năm 1999
bắt buộc (tức là khi lược bỏ chúng, tuy lượng thông tin có bị giảm sút, nhưng
phần còn lại của câu không sai ngữ pháp: Cô ấy đẹp ( ) Cậu ấy nói ( ) hay
Nó uừa mốt ( ) mười triệu) Như vậy, ö đây hư hoá và sự xuất hiện từ hư có phải là để thực thi sự cân bằng chức năng ngữ pháp đối với loại tiếng Việt
- không biến hình như một số người nghiên cứu ngữ pháp thường nghĩ không?!
Và, đặc biệt, trong quá trình gọi là “ngữ pháp hoá” gắn với trạng thái “hư hoá”, nét nghĩa đích thực đem lại biệu lực giao tiếp ở đây có phải là thứ nghĩa chỉ đơn thuần mang tính chất ngữ pháp?! Phải chăng những ngộ nhận (đo khi
nhận xét phẩm chất từ hư người ta thường tách rời sự hình thành và phát
triển của nó khỏi hiệu lực giao tiếp trong hoạt động mổ của ngôn ngữ - như đã nêu ở phần mở đầu) chính đã đưa đến những lúng túng trong cách lí giải trên?!
Về phương diện này, tưởng cũng nên chú ý đến vấn để trực tiếp có liên quan
sau: Trong khi tổng kết hiện tượng ngữ pháp hoá gắn với quá trình hình thành
những tiểu phẩm từ tình thái tiếng Đức, W Abraham đã nêu lên một số kết
luận phổ quát nhất, rất đáng cho những người nghiên cứu từ hư (đặc biệt là
nghiên cứu từ hư từ góc độ dụng học) tham khảo Theo Abraham®, thì:
+ Những hình thức từ vựng của tiểu từ tình thái không giảm thiếu về
mặt hình thái (not reduced morphologically)
+ Sự xuất hiện chức năng tiểu từ tình thái không đòi hỏi xoá nhoà tổng
thể ngữ nghĩa của hình vị, đồng thời cũng không đồi hỏi giảm thiểu thành hình vị thuần túy ngữ pháp (not reduced to purely grammatical morpheme) + Cuối cùng, theo Abraham, bên cạnh những mối liên hệ vừa nêu, ta cần
thấy phạm vi chức năng hành ngôn và chức năng ngữ dụng của loại từ này được cùng nhau mở rộng một cách đáng kể
Như vậy, qua ba ví dụ được phân tích và qua kết luận - đặc biệt là kết luận 2 - của Abraham, ta thấy việc tách từ hư ra khỏi hiệu lực giao tiếp để trên cơ sở đó chỉ nhấn mạnh chức năng “công cụ thuần túy ngữ pháp” của từ
hư là một việc làm chưa đủ thuyết phục cả về mặt lí thuyết lẫn thực tế
4 Vấn đề phát hiện và xử lí hiệu lực nghĩa giao tiếp của từ hư bằng thao
tac cai bién (opération transformationnelle)
Khi xác định hiệu lực giao tiếp của loại từ hư trên trong hoạt động mở của ngôn ngữ tiếng Việt, thông qua thao tác cải biên từ góc nhìn ngữ dụng -
học, thông thường chúng tôi tiến hành qua các bước nhận thức gần như có
tính nguyên tắc sau đây:
BƯỚC MỘT: Trong bước này, trước hết phải thấy rang, vi khéng thé định nghĩa tín hiệu từ hư mà ta đang muốn khảo sát bằng khái niệm logic được, cho nên, rốt cuộc - dù muốn dù không - chúng ta cần phải xem xét chức
năng của nó Cụ thể, tức là xem nó đã đóng góp gì vào hiệu lực giao tiếp chung của cả cấu trúc phát ngôn Ở bước này, trong nhận thức của người
thao tác cần xác định rõ: ba phạm trù nghĩa (sens), chức năng (fonction) và
hiệu lực giao tiếp (effet communicati là thống nhất nhưng không đồng nhất Và đặc biệt, tại đây, trong sự thống nhốt nhưng không đồng nhất ấy, nghĩa (6) bao giờ cũng là tiền để làm hình thành chức năng (ŒF), và chức năng bao giờ cũng là tién để làm hình thành hiệu lực giao tiếp (EC) Chính mối quan hệ logic trong sự hình thành này có thể giúp cho người tiếp
nhận bất đầu từ hiệu lực cuối cùng (thông qua sức mạnh dụng học) để ghi
(3
Trang 7Mot vai suy nghĩ ‘ 53
nhận lại các bước tương tác ngôn ngữ học nói trên theo hướng ngược chiều
Tức là, người thao tác có thể từ hiệu lực giao tiếp xác định chức năng và
từ chức năng xác định nghĩa
(S > F > EC)
(S<«<F« EC)
Tại đây, có diéu cdn cht ¥: vi, trong tinh hién thuc, S d day khéng dé định nghĩa bằng khái niệm, cho nên nó phải nhờ vào áp lực tối đa của văn cảnh dung hoc (contexte pragmatique)®
BƯỚC HAI: Ở bước này cần chú ý: Vì xét nghĩa từ hư theo yêu cầu đặt
ra ở bước một, trên thực tế là rất khó, nên phần lớn người ta phải xử lý bằng cách tạm thời lược bỏ yếu tố từ hư ấy ra khỏi cấu trúc (tức là xử lí bằng thao tác cải biên) Sau khi tam lược bỏ nó, người ta, bằng sw cdm nhộn đích thực hiệu lực giao tiếp của người bản ngữ, đem so sánh hiệu lực giao tiếp của hai cấu trúc (cấu trúc có từ hư và cấu trúc không còn từ hư) Cuối cùng, ta thấy nếu ở cấu trúc không cồn từ hư đã mất lượng thông tín gì (so với cấu trúc cồn lại) thì lượng thông tin ấy chính là hiệu lực giao tiếp uốn có đích thực của từ
hư đã tạm bị loại bổ mà ta đang muốn khảo sát
Như vậy, có thể nói, thao tác cải biên là một trong những thủ pháp rất lợi hại của ngữ dụng học thực hành” Vận dụng thao tác cải biên nhằm mục đích làm sáng tô chức năng giao tiếp đích thực của những yếu tố vốn có đóng góp phần riêng của mình vào hiệu lực giao tiếp của cấu trúc phát ngôn chung nhưng thường rất khó nhận ra (do ngữ pháp truyền thống và ngữ pháp bình thức không miêu tả hoặc chưa miêu tả đủ rõ) Vận dụng thao tác cải biên, do
vậy, có thể nói là vận dụng một cơ chế “đo lường”, “kiểm định” mang tính ngữ
nghĩa - ngữ pháp, thông qua sự phan ứng của người bản ngữ, nhằm tường minh hoá hiệu lực giao tiếp đích thực của từ (nhưng không phải bằng con
đường định nghĩa thông qua khái niệm logic gắn với đầu uào, mà là bằng con đường dụng học trực tiếp gắn với đầu ra)
Cuối cùng, có lẽ cũng cần nói thêm rằng, do tiếng Việt thuộc loại ngôn
ngữ không biến hình nên cái gọi là vai trò của từ hư trong “cân bằng ngữ
pháp” thường dễ bị nhiều người nghiên cứu phóng đại lên đến mức coi chúng
là những nhân tố “thuần túy ngữ pháp” (hay chí ít cũng là một cái gì gần như
vậy) Phải chăng, đã đến lúc vấn để luôn mang tính thời sự đối với tiếng Việt này cần được kiểm tra lại dưới ánh sáng ngữ dụng học, để trả về những cái thực vốn có đích thực của từ hư trong hoạt động tự nhiên rất đối tinh tế và phong phú của chính chúng, nơi thế giới ngôn từ
CHÚ THÍCH
© Ty hu £hường được hiểu mot vide (Phdp), empty word (Anh), leerwort
(Đức), nycroe cnopo (Nga) Từ hư có lúc còn được gọi là từ công cụ ngữ pháp (N.K Than), mot usé (Grammont), mot avec un sens moin precis (Cadiere), mot de progressive et regressive (Trivong Van Chinh), v.v
_
Trang 854 Ngôn ngữ số 5 năm 1999
® Xem: Thảo luận về vấn để xác định từ hư trong tiếng Việt (Nguyễn Minh Thuyết) uà Về vai trò từ hư của các thực động từ trong các ngôn ngữ đơn lập (N.V OOmeljanouich), Tạp chí ngôn ngữ, số 4, 1985
® Định, nghĩa uê từ hư của Nguyễn Kim Thân: “Những từ gọi là từ hư là những
từ khi đặt sau những động từ khác, chúng đã mất đi những đặc trưng cơ bản vé
hinh thức ngữ pháp uốn có, đã giảm sút ý nghĩa từ vung ban đều, thậm chí mất hẳn ý nghĩa" (Động từ tiếng Việt, H., 1975, tr.77)
® Nem The Grammaticization of the German Modal Particles (Werner Abra- ham, University of Gronigen, The Netherlands, 1998)
® Thạo tôi, luận điểm quan trọng này hoàn toàn phù hợp uới luận điểm của
G.E Meier uê uấn đề không có tín hiệu không có nghĩa trong ngôn ngữ học, được
biểu diễn bằng hàm số x = !ly (xem trong Das Zero-Problem in der Linguistik, Schriften zur Phonetik, Sprachwissenschaft und Kommunikationsforschung,
Nr 2, Berlin, 1961)
© Xin tham khảo chương Sprechakte trong Sprachphilosophie của FY
Kutschera, Munchen, 1975, tr 166-189 Theo tôi, cdch khdo sdt nay, vé nguyên
tắc, rất phù hợp uới cách khảo sát theo hướng Tagmemic uới sự lưu ý ba cấp độ
Phonology, Grammar va Reference (trong mé hinh Total stream of speech) cua
EL Pike
® Thủ pháp củi biên được nhấn mạnh trong dẫn luận ngữ pháp chức năng, qua
quyén Grundfragen der Deutschen Grammatik - Eine Einfuhrung in die funtionale Sprachlehre của W Schmidt, Berliin, 1973, như sau: "Trước hết, cần
phải chỉ ra rằng những phương pháp nghiên cứu chính xác hiệu quả giao tiếp của ngôn ngữ chưa được hoàn hảo Ngữ pháp chức năng trong tương lai sẽ
không từ chối sự phân tích logic uà sự lí giải chủ quan theo hướng tâm lí Dĩ nhiên để Ìàm được uiệc này, ngư pháp chúc năng cần có sự bổ sung để làm giàu
thêm uà tỉnh tế hơn tính đồng bộ đối uới quá trừnh xử lí mang tính chất phương
pháp của mình thông qua sự thu nhận một số thủ pháp của những người nghiên cứu ngôn ngữ theo "hướng cấu trúc Tụi đây, khú năng tác động qua lại lẫn nhau rất phong phú của một số thủ pháp nghiên cứu ngôn ngữ theo hướng
cấu trúc giờ đây được ngữ pháp chức năng tiếp nhận nà hiểm soát, đó là thủ pháp lược bỏ (Waglassen), thay thé (Ersetzung), hodn vi (Permutation), bổ sung
(Erganzung) (xem muc Prinzipen der funktionalen Grammatik (Những nguyên
tắc của ngữ pháp chức năng) tr 31, 32, 33, 34 )
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Joh Engelkamp, Psycholinguistik, Munchen, 1983
F.V Kutschera, Sptachphilosophie, Munchen, 1975
W Schmidt, Grundfragen der deuschen Grammatik, Berlin, 1975
T Schippan, Einfuhrung in die Semasiologia, Leipzig, 1975
ts