Vì mục tiêu thỏa mãn lợi ích chung nên Chínhphủ có thể phải thực hiện những khoản chi không đem lại các lợi ích kinh tế chomình, ví dụ: chi cho trợ giá để phục hồi một ngành sản xuất qua
Trang 1BỘ TÀI CHÍNH HỌC VIỆN TÀI CHÍNH Khoa Kinh Tế
LUÂN VĂN TT NGHIÊP
Đề tài: Pháp luật về ngân sách nhà nước cho chi thường xuyên qua thực tiễn thực hiện tại UBND huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
DỊCH VỤ VIẾT THUÊ ĐỀ TÀI TRỌN GÓI ZALO TELEGRAM : 0934 536 149
TẢI FLIE TÀI LIỆU – TRANGLUANVAN.COM
Hà Nội - 2022
MỤC LỤC
MỤC LỤC 2
1
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU 4
1 Tính cấp thiết của đề tài 4
2 Mục đích, nhiệm vụ 6
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
4 Phương pháp nghiên cứu 6
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn 7
6 Cơ cấu luận văn 7
CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VỀ CHI THƯỜNG XUYÊN VÀ PHÁP LUẬT về NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO CHI THƯỜNG XUYÊN 8
1.1 Khái quát về ngân sách nhà nước cho chi thường xuyên 8
1.2 Một số vấn đề lý luận pháp luật về ngân sách Nhà nước cho chi thường xuyên .17
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật chi thường xuyên ngân sách nhà nước .29 Kết luận chương 1 32
CHƯƠNG 2 33
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN 33
2.1 Thực trạng pháp luật về chi thường xuyên ngân sách nhà nước ở Việt Nam hiện nay 33
2.2 Thực tiễn áp dụng chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên 41
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 62
3.1.Định hướng hoàn thiện pháp luật về chi thường xuyên ngân sách nhà nước ở Việt Nam hiện nay 64
3.2.Giải pháp hoàn thiện pháp luật về chi thường xuyên ngân sách nhà nước ở Việt Nam 66
2
Trang 3KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 76KẾT LUẬN 77
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
3
Trang 4Từ viết tắt Nghĩa của từ viết tắt
CQCMTT Cơ quan chuyên môn trực thuộc
Trang 5CHƯƠNG I MỘT S VẤN ĐỀ LÝ LUẬN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VỀ CHI THƯỜNG XUYÊN VÀ PHÁP LUẬT về NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
CHO CHI THƯỜNG XUYÊN 1.1 Khái quát về ngân sách nhà nước cho chi thường xuyên
1.1.1 Khái quát ngân sách nhà nước
Ngân sách nhà nước là bộ phận chủ yếu của hệ thống tài chính quốc gia, rađời và phát triển cũng với sự xuất hiện của nhà nước
Khi nhà nước ra đời, với tư cách là tổ chức quyền lực chính trị công, nhànước thực hiện chức năng quản lý xã hội, nhằm mục địch duy trì và phát triển xãhội Để thực hiện được các chức năng của mình, nhà nước phải có nguồn lực tàichính nhất định và nhà nước đã sử dụng quyền lực công đặc biệt, buộc các côngdân phải đóng thuế, làm hình thành ngân sách nhà nước – nhằm đáp ứng cho nhucầu chi tiêu và việc thực hiện các chức năng nhiệm vụ của nhà nước Như vậy,ngân sách nhà nước với ý nghĩa là quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của nhà nước – rađời từ rất sớm nhưng thuật ngữ ngân sách nhà nước với tư cách là một khái niệmkhoa học lại ra đời muộn hơn, khi nhà nước đã phát triển tới một mức độ nhất định
và cần có sự phân biệt giữa tài chính công và tài chính tư trong lĩnh vực kinh tếcũng như khoa học pháp lý
Với tư cách là một khái niệm khoa học, ngân sách nhà nước, ở những góc độtiếp cận khác nhau – cũng được quan niệm khác nhau
Dưới góc độ kinh tế, ngân sách nhà nước là một khái niệm thuộc phạm trù
kinh tế, được hiểu là bản dự toán các khoản thu và chi tiền tệ của một quốc gia,
được cơ quan có thẩm quyển của nhà nước quyết định để thực hiện trong một thời hạn nhất định, thường là một năm.
Ở dưới góc độ pháp lý, tại Khoản 14 Điều 4 Luật Ngân sách nhà nước 2015
có định nghĩa: “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước
được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà
5
Trang 6nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”.
* Đặc điểm ngân sách nhà nước
- NSNN là quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước Các khoản thu, chi NSNNđều phản ánh những mối quan hệ kinh tế nhất định giữa Nhà nước với chủ thể thụhưởng NSNN
- NSNN là bản dự toán các khoản thu – chi của Nhà nước, được cơ quanquyền lực Nhà nước cao nhất thông qua:
Mặc dù cũng phản ánh các khoản thu và chi tiền tệ nhưng NSNN là kế hoạchtài chính của Nhà nước, luôn chứa đựng lợi ích chung, lợi ích công cộng Nhànước thông qua các cơ quan quyền lực Nhà nước có thẩm quyền – là chủ thể duynhất có quyền quyết định các khoản thu – chi của NSNN và hoạt động thu – chinày nhằm góp phần giúp Nhà nước giải quyết các quan hệ lợi ích trong xã hội khiNhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính
- Dự toán NSNN có giá trị như một đạo luật:
Sau khi cơ quan hành pháp soạn thảo dự toán NSNN, bản dự toán này sẽđược chuyển sang cho cơ quan lập pháp xem xét, quyết định và ban hành dướihình thức một đạo luật để thi hành Quá trình này được xem như một bước “luậthóa” bản dự toán NSNN, làm cho nó có giá trị pháp lý như một đạo luật, tạo nên
sự khác biệt giữa NSNN và các loại ngân sách của các chủ thể khác Việc này cũng
sẽ giúp cho cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất có thể kiểm soát được cơ quanhành pháp trong quá trình thu – chi NSNN nhằm đảm bảo quyền lợi của nhân dân,đồng thời bảo đảm cho bản kế hoạch tài chính quan trọng nhất này có thể đượcthực hiện dễ dàng trong thực tế
- Việc thiết lập và thực thi NSNN nhằm đạt được lợi ích chung của quốc gia:NSNN thiết lập và thực thi hoàn toàn vì lợi ích chung của toàn thể quốc gia,không phân biệt người thụ hưởng các lợi ích đó là ai, thuộc thành phần kinh tế nào,đẳng cấp xã hội nào, Lợi ích chung là yếu tố mang tính quyết định đến việc tiến
6
Trang 7hành các nghiệp vụ thu, chi ngân sách của chính phủ mà ở đó chính phủ luôn tìmcách thỏa mãn tối đa các nhiệm vụ chi tiêu đã được hoạch định và cho phép bởi cơquan quyền lực Nhà nước cao nhất Vì mục tiêu thỏa mãn lợi ích chung nên Chínhphủ có thể phải thực hiện những khoản chi không đem lại các lợi ích kinh tế chomình, ví dụ: chi cho trợ giá để phục hồi một ngành sản xuất quan trọng, chi ngânsách để trợ cấp cho nhân dân vùng gặp thiên tai,
- NSNN được Chính phủ tổ chức thực hiện và phải được đặt dưới sự giámsát của cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất (Nghị viện/ Quốc hội):
Sự kiểm soát thường xuyên của cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất vớiChính phủ trong lĩnh vực này cũng là cách để củng cố và đề cao tính dân chủ, côngkhai, minh bạch trong hoạt động tài chính Nhà nước, góp phần quản trị tốt nền tàichính công trong đó nhân dân đóng vai trò quyết định Đây là một nguyên tắc điểnhình nhằm kiểm soát nguy cơ lạm quyền của cơ quan hành pháp trong quá trìnhthực thi ngân sách nhà nước Theo đó, việc thiết lập và thi hành NSNN phải đượcđặt dưới sự kiểm soát của nhân dân, nhân dân có thể trực tiếp hoặc gián tiếp –thông qua cơ quan đại diện cho mình là Nghị Viện/ Quốc hội thực hiện việc giámsát đối với hoạt động nói trên nhằm bảo vệ lợi ích chung
* Vai trò của ngân sách nhà nước:
- NSNN đảm bảo duy trì sự tồn tại và hoạt động của bộ máy Nhà nước.NSNN nhằm đảm bảo tài chính cho bộ máy của Nhà nước từ nhiều nguồn khácnhau trong xã hội, sau đó phân phối lại các nguồn tài chính theo tỷ lệ hợp lý nhằmđảm bảo duy trì hoạt động và sức mạnh của bộ máy Nhà nước
- Là công cụ thúc đẩy tăng trưởng, ổn định và điều chỉnh kinh tế vĩ mô củaNhà nước Nhà nước thông qua NSNN định hướng đầu tư, điều chỉnh cơ cấu củanền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, Nhà nước cũng có thể chống lạm phátbằng các công cụ tài khóa của mình như cắt giảm chi NSNN, tăng thuế tiêu dùng,khống chế cầu
- NSNN đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện công bằng xã hội và
7
Trang 8giải quyết các vấn đề xã hội, dựa vào công cụ NSNN như sau: giảm bớt thu nhậpcao bằng cách đánh thuế (lũy tiến) vào các đối tượng có thu thập cao Đánh thuếtiêu thụ đặc biệt vào những hàng hóa dành cho người tiêu dùng có thu nhập cao.Ngược lại, Nhà nước hỗ trợ cho các đối tượng có thu nhập thấp bằng cách giảmthuế, trợ giá cho những hàng hóa thiết yếu như lương thực, điện, nước, và trợ cấp
xã hội cho những người có thu nhập thấp
- Việc tạo lập và sử dụng Ngân sách nhà nước phải gắn liền với quyền lựckinh tế – chính trị của Nhà nước, được Nhà nước quy định và tổ chức thực hiệntrên cơ sở các quy định pháp luật
- Ngân sách nhà nước gắn chặt với sở hữu Nhà nước, chứa đựng lợi ích chungcủa công cộng Nhà nước là chủ thể duy nhất có quyền quyết định đến các khoảnthu – chi của Ngân sách nhà nước nhằm thực hiện các nhiệm vụ, chức năng củaNhà nước
- Ngân sách nhà nước có vai trò là một bản dự toán thu chi liên quan đếnchính sách mà Chính phủ phải thực hiện trong năm tài khóa tiếp theo Chính vìnhư vậy việc thông qua Ngân sách nhà nước là một sự kiện chính trị quan trọngthể hiện sự nhất trí trong cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất
- Ngân sách nhà nước là bộ phận chủ yếu của hệ thống tài chính quốc gia Hệthống tài chính quốc gia bao gồm: tài chính nhà nước, tài chính doanh nghiệp,trung gian tài chính và tài chính cá nhân hoặc hộ gia đình
1.1.2 Khái quát chung về chi ngân sách nhà nước
*Khái niệm về chi ngân sách nhà nước
- Chi ngân sách nhà nước bao gồm các khoản chi phát triển kinh tế - xã hội,bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nước; chi trả nợcủa Nhà nước; chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật”Mặt khác khái niệm chi ngân sách nhà nước còn được hiểu là chi tiêu công về cả lýthuyết lẫn thực tế, có quan hệ trực tiếp và không thể tách rời các hoạt động của nhà
8
Trang 9nước nhằm hai mục đích chính: cải thiện phân phối thu nhập trong xã hội, hoặc tạođiều kiện nâng cao hiệu quả của nền kinh tế.
* Đặc điểm của chi ngân sách nhà nước
- Chi ngân sách nhà nước luôn gắn chặt với những nhiệm vụ kinh tế, chínhtrị, xã hội mà Chính phủ phải đảm nhận trước mỗi quốc gia Mức độ, phạm vi chitiêu ngân sách nhà nước phụ thuộc vào tính chất nhiệm vụ của chính phủ trongmỗi thời kỳ
- Cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước là chủ thể duy nhất quyết địnhnội dung, cơ cấu, quy mô và mức độ các khoản chi NSNN, chính vì vậy các khoảnchi NSNN mang tính pháp lý cao
- Tính hiệu quả của các khoản chi NSNN được thể hiện ở tầm vĩ mô vàmang tính toàn diện cả về hiệu quả kinh tế trực tiếp, hiệu quả về mặt xã hội vàchính trị, ngoại giao
- Phần lớn các khoản chi NSNN đều là các khoản cấp phát mang tính chấtkhông hoàn trả trực tiếp
- Các khoản chi của NSNN gắn chặt với sự vận động của các phạm trù giá trịkhác nhau như giá cả, lãi suất, tỷ giá hối đoái, tiền lương, tín dụng, (các phạm trùthuộc lĩnh vực tiền tệ)
* Bản chất và vai trò
- Bản chất chi ngân sách nhà nước Bản chất của chi ngân sách là những quan
hệ kinh tế diễn ra trong lĩnh vực phân phối dưới hình thức giá trị gắn với việc sửdụng quỹ ngân sách nhà nước một cách có kế hoạch nhằm thực hiện chức năng đốinội, đối ngoại, thực hiện nhiệm vụ kinh tế chính trị, văn hóa, xã hội của nhà nước
và duy trì sự tồn tại của nhà nước
- Vai trò của chi ngân sách nhà nước vai trò của chi NSNN bao gồm: là đảmbảo duy trì sự tồn tại và hoạt động của bộ máy nhà nước và là công cụ của Nhànước trong quản lý vĩ mô nền kinh tế thị trường Vai trò đảm bảo duy trì sự tồn tại
và hoạt động của bộ máy Nhà nước được thể hiện qua lương, phụ cấp của các công
9
Trang 10chức, viên chức, các khoản chi tiêu xây dựng cơ sở vật chất, chi quản lý hànhchính, mua sắm thiết bị cho công sở để duy trì sự tồn tại và hoạt động, bộ máyNhà nước cần phải có nguồn tài chính đảm bảo cho các nhu cầu chi tiêu Các nhucầu chi tiêu của bộ máy Nhà nước được đáp ứng bởi công cụ tài chính nhà nước,đặc biệt là NSNN.
*Phân loại chi ngân sách nhà nước:
- Căn cứ vào kết cấu các khoản chi ngân sách nhà nước, chi ngân sách nhànước bao gồm:
Chi đầu tư phát triển: là những khoản chi cho đầu tư xây dựng cơ bản vàmột số khoản chi đầu tư khác Chi đầu tư xây dựng cơ bản là những khoản chingân sách nhà nước để thực hiện các chương trình, dự án kết cấu hạ tầng kinh tế -
xã hội và các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội
Chi dự trữ quốc gia: là khoản chi của ngân sách nhà nước để mua hàng hóa
dự trữ theo quy định của pháp luật Khoản chi này theo luật ngân sách nhà nước
2002 không được quy định độc lập ( nằm trong chi đầu tư phát triển) Luật ngânsách nhà nước 2015 quy định chi dự trữ quốc gia là một khoản chi độc lập trongkết cấu các khoản chi ngân sách nhà nước Với quy định này nhằm đảm bảo tínhthống nhất, đồng bộ giữa Luật ngân sách nhà nước và Luật dữ trữ quốc gia 2012
Chi thường xuyên: là những khoản chi của ngân sách nhà nước nhằm bảođảm hoạt động bộ máy Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội…Khác với các khoản chi đầu tư phát triển, các khoản chi thường xuyên có chứcnăng nhằm bảo đảm duy trì hoạt động của bộ máy Nhà nước, bảo đảm thực hiệncác chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước
Chi viện trợ: là những khoản chi nảy sinh trong quan hệ đối ngoại Nhànước Khoản chi được đưa vào kết cấu chi ngân sách nhà nước cho phép chính phủgiúp đỡ quốc gia gặp rủi ro về thiên tai, dịch bệnh…
- Căn cứ vào lĩnh chi, chi ngân sách nhà nước bao gồm:
10
Trang 11 Chi đầu tư phát triển: là các khoản chi nhằm duy trì và phát triển các dịch
vụ kinh tế, xã hội như chi phát triển nông nghiệp, nông thôn, chi xây dựng cơ cáccông trình công cộng, chi hoạt động thương mại…
Chi quản lý hành chính: gồm những khoản chi nhằm duy trì hoạt động của
Chi cho y tế: là khoản chi để duy trì và phát triển y tế
- Căn cứ vào phạm vi thực hiện chi ngân sách nhà nước, chi ngân sách nhànước bao gồm:
Các khoản chi của ngân sách trung ương gồm: chi đầu tư phát triern, chi dựtrữ quốc gia, chi thường xuyên, chi thường xuyên, chi trả nợ lãi do các khoản vaycủa Chính Phủ, chi viện trợ…(Điều 36 – Luật ngân sách nhà nước 2015)
Các khoản chi ngân sách địa phương bao gồm: chi đầu tư phát triển, chithường xuyên… Khác với Luật ngân sách nhà nước 2002, Luật ngân sách nhànước 2015 vẫn kế thừa các khoản chi ngân sách địa phương, nhưng đã quy định bổsung thêm 2 khoản chi của ngân sách địa phương, là chi chuyển nguồn sang nămsau của ngân sách địa phương và chi hỗ trợ thực hiện các chính sách xã hội theoquy định của pháp luật ( Điều 38 – Luật ngân sách nhà nước 2015)
Như vậy, trong hoạt động chi ngân sách nhà nước có rất nhiều khoản chi ngânsách nhà nước Tuy nhiên, xét trong phạm vi nghiên cứu của luận văn thì tác giảchỉ tập trung nghiên cứu về hoạt động chi thường xuyên ngân sách nhà nước Trên
cơ sở đó khái quát vị trí, vai trò của hoạt động quản lý nhà nước về ngân sách nóichung và chi thường xuyên ngân sách theo quy định hiện hành
1.1.3 Khái quát về chi thường xuyên ngân sách nhà nước
*Khái niệm chi thường xuyên ngân sách nhà nước:
11
Trang 12Tại khoản 6 điều 4 luật ngân sách nhà nước 2015 có định nghĩa: “ Chi thườngxuyên là nhiệm vụ chi của ngân sách nhà nước nhằm đảm bảo hoạt động của bộmáy Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, hỗ trợ hoạt động của các tổ chức khác vàthực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của Nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội,đảm bảo quốc phòng, an ninh.
*Đặc điểm của chi thường xuyên
- Chi thường xuyên có tính chất không hoàn trả trực tiếp
- Chi thường xuyên mang tính ổn định, liên tục thường xuyên để duy trì hoạtđộng bộ máy Việc sử dụng kinh phí thường xuyên chủ yếu chi cho con người, sựviệc nên nó không làm tăng thêm tài sản hữu hình của quốc gia
- Chi thường xuyên có hiệu lực chi tiêu theo niên độ ngân sách, tác độngtrong khoảng thời gian một năm theo Luật ngân sách Nguồn lực tài chính trangtrải cho các khoản chi thường xuyên được phân bổ tương đối đều giữa các thángtrong năm, giữa các năm trong kỳ kế hoạch
- Phạm vi mức độ gắn chặt với cơ cấu tổ chức bộ máy Nhà nước và quyếtđịnh của Nhà nước trong việc cung ứng hàng hóa công cộng
- Hiệu quả của chi thường xuyên không thể đánh giá, xác định cụ thể; hiệuquả của nó ngoài về mặt kinh tế ra còn thể hiện qua sự ổn định chính trị - xã hội từ
đó thúc đẩy sự phát triển bền vững của đất nước
- Mức chi, chế độ chi phải tuân theo quyết định của cấp có quyền; chi nhiệm
vụ cho việc thực hiện công việc, dịch vụ thu phí, lệ phí, chi cho các hoạt động dịchvụ
*Vai trò của chi thường xuyên:
- Chi thường xuyên có vai trò trong nhiệm vụ chi NSNN Chi thường xuyên
có tác động trực tiếp đến việc thực hiện các chức năng của Nhà nước về quản lýkinh tế, xã hội; là một trong những nhân tố có ý nghĩa quyết định đến chất lượng,hiệu quả của bộ máy Nhà nước Chi thường xuyên trong hoạt động của các đơn vị
sự nghiệp có vai trò rất lớn trong việc đảm bảo cho Nhà nước có thể sản xuất và
12
Trang 13cung ứng các hàng hóa công cộng cho nhu cầu của nên kinh tế trong từng thời gian
cụ thể Thông qua chi thường xuyên đã giúp cho bộ máy nhà nước duy trì hoạtđộng bình thường để thực hiện tốt chức năng quản lý của Nhà nước; đảm bảo anninh, an toàn xã hội, đảm bảo sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia
- Chi thường xuyên đảm bảo nguồn tài chính cho hoạt động của các cơ quannhà nước;
- Thực hiện tốt nhiệm vụ chi thường xuyên còn có ý nghĩa rất quan trọngtrong việc phân phối và sử dụng có hiệu quả nguồn lực tài chính của đất nước, tạođiều kiện giải quyết tốt mối quan hệ giữa tích lũy và tiêu dùng Chi thường xuyênhiệu quả và tiết kiệm sẽ tăng tích lũy vốn NSNN để cho chi đầu tư phát triển, thúcđẩy nền kinh tế phát triển, nâng cao niềm tin của nhân dân vào vai trò quản lý điềuhành của Nhà nước
- Chi thường xuyên còn là công cụ ổn định chính trị, xã hội, quốc phòng, anninh Thông qua chi thường xuyên, Nhà nước thực hiện mục tiêu ổn định và điềuchỉnh thu nhập, hỗ trợ người nghèo, gia đình chính sách, thực hiện các chính sách
xã hội, góp phần thực hiện mục tiêu công bằng xã hội, đảm bảo an toàn xã hội
và an ninh, quốc phòng
- Thông qua chi thường xuyên, Nhà nước còn thực hiện điều tiết, điều chỉnhthị trường để thực hiện các mục tiêu của mình Nói cách khác, chi thường xuyêncòn được xem là một trong những công cụ kích thích phát triển và điều tiết vĩ mônền kinh tế
1.2 Một số vấn đề lý luận pháp luật về ngân sách Nhà nước cho chi thường xuyên
1.2.1 Khái quát về pháp luật ngân sách Nhà nước cho chi thường xuyên
*Khái niệm:
Pháp luật chi thường xuyên ngân sách nhà nước không phải là một lĩnh vựcpháp luật độc lập mà là một nội dung của pháp luật ngân sách nhà nước Pháp luật
13
Trang 14chi thường xuyên ngân sách Nhà nước ra đời cùng với sự ra đời và phát triển củapháp luật ngân sách Nhà nước và có thể định nghĩa như sau:
“ Pháp luật chi thường xuyên ngân sách Nhà nước là tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chi thường xuyên ngân sách Nhà nước nhằm thiết lập và duy trì trật tự trong quản lý chi thường xuyên ngân sách Nhà nước”
*Sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật hoạt động chi thường xuyên ngân sách Nhà nước
- Đầu tiên, chi thường xuyên ngân sách Nhà nước có vai trò rất quan trọngtrong nền kinh tế quốc dân nên phải sử dụng pháp luật để điều chỉnh nhằm bảođảm hoạt động của bộ máy nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội,
hỗ trợ hoạt động của các tổ chức khác và thực hiện các nhiệm vụ thường xuyêncủa Nhà nước về phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh
- Thứ hai, trong hoạt động chi thường xuyên ngân sách Nhà nước, có thể cónhững mâu thuẫn, xung đột giữa lợi ích Nhà nước và lợi ích của các tổ chức, cánhân Vì vậy, Nhà nước với tư cách là tổ chức quyền lực chính trị công, phải đảmbảo quyền lợi của các tổ chức, cá nhân Muốn cân đối hài hòa các mỗi quan hệgiữa các chủ thể, đảm bảo cho việc sử dụng quỹ ngân sách Nhà nước một các hiệuquả nhất thì Nhà nước cần thiết phải sử dụng pháp luật để điều chỉnh các mối quan
hệ trong hoạt động chi thường xuyên ngân sách Nhà nước
- Ngoài ra, pháp luật có những thuộc tính riêng mà các công cụ khác không
có được, tạo nên sự chặt chẽ, có nguyên tắc trong hoạt động chi thường xuyên nóiriêng và công tác quản lý chi thường xuyên ngân sách Nhà nước nói chụng:
-Tính quy phạm phổ biến:
Pháp luật được tạo bởi hệ thống các quy phạm pháp luật, quy phạm là tế bàocủa pháp luật, là khuôn mẫu, là mô hình sử sự chung Tính quy phạm phổ biến củapháp luật dựa trên ý chí của Nhà nước “ đươc đề lên thành luật” Do đó tính quy
14
Trang 15phạm phổ biến được hiểu là tính bắt buộc thực hiện mọi quy định của pháp luậthiện hành đối với mọi cá nhân, tổ chức.
Từ đó có thể thấy, pháp luật có thể điều chỉnh mọi quan hệ ngân sách Nhànước bao gồm các hành vi của các cá thể, tổ chức tham gia vào hoạt động chithường xuyên ngân sách ở các phạm vi khác nhau
-Tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức:
Nội dung của pháp luật phải được xác định rõ ràng, chặt chẽ khái quát trongcác điều, khoản của các điều luật trong một văn bản quy phạm pháp luật cũng nhưtoàn bộ hệ thống pháp luật do Nhà nước ban hành Ngôn ngữ sử dụng trong phápluật là ngôn ngữ pháp luật, lời văn trong sáng, đơn nghĩa Từ đó giúp cho việc ápdụng pháp luật vào hoạt động chi thường xuyên ngân sách Nhà nước cũng được rõràng, minh bạch hơn
-Tính được bảo đảm bằng Nhà nước:
Pháp luật do Nhà nước ban hành và thừa nhận, đồng thời Nhà nước đảm bảocho pháp luật đó được thực hiện trong thực tiễn đời sống qua việc tạo điều kiệnkhuyến khích giúp đỡ chủ thể thực hiện pháp luật và đảm bảo cho pháp luật đượcthực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước Qua đó có thể thấy sự ràngbuộc mạnh mẽ giữa pháp luật với các cá nhân, tổ chức tham gia vào hoạt động chithường xuyên ngân sách Nhà nước và sự bắt buộc phải thực hiện những quy địnhcủa pháp luật khi tham gia vào những quan hệ xã hội được pháp luật quy định.Pháp luật ngân sách nhà nước cho chi thường xuyên là một bộ phận của pháp luậtNSNN, và để bảo đảm cho các quy định pháp luật này được thực hiện trong thực tếcuộc sống, Nhà nước sử dụng đồng thời nhiều biện pháp khác nhau như tuyêntruyền, thuyết phục và cả bằng biện pháp cưỡng chế nếu có vi phạm pháp luật xảyra
15
Trang 161.2.2 Khái quát nội dung pháp luật về chi thường xuyên ngân sách nhà nước
1.2.2.1 Quy định của pháp luật về các khoản chi thường xuyên ngân sách Nhà nước:
- Theo chi ngân sách trung ương, theo quy định tại Điều 36 Luật NSNN 2015chi thường xuyên gồm những nhiệm vụ sau đây: chi cho các hoạt động sự nghiệpgiáo dục và đào tạo, y tế, xã hội, văn hoá thông tin văn học nghệ thuật, thể dục thểthao, khoa học và công nghệ, môi trường, các hoạt động sự nghiệp khác do các cơquan trung ương quản lý
- Chi ngân sách địa phương, theo quy định tại Điều 38 Luật NSNN 2015 chi
thường xuyên gồm những nhiệm vụ sau đây: chi cho các hoạt động sự nghiệp kinh
tế, giáo dục và đào tạo, y tế, xã hội, văn hoá thông tin văn học nghệ thuật, thể dụcthể thao, khoa học và công nghệ, môi trường, các hoạt động sự nghiệp khác do địaphương quản lý; Quốc phòng, an ninh và trật tự, an toàn xã hội
1.2.2.2 Quy định về nguyên tắc chi thường xuyên ngân sách nhà nước:
- Nguyên tắc quản lý theo dự toán: Dự toán là khâu mở đầu của một chu trìnhNSNN Những khoản chi thường xuyên một khi đã được ghi vào dự toán chi và đãđược cơ quan quyền lực nhà nước xét duyệt được coi là chỉ tiêu pháp lệnh Xéttrên giác độ quản lý, số chi thường xuyên đã được ghi trong dự toán thể hiện sựcam kết của cơ quan chức năng quản lý tài chính nhà nước với các đơn vị thụhưởng NSNN Từ đó nảy sinh nguyên tắc quản lý chi thường xuyên theo dự toán
- Nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả: Tiết kiệm, hiệu quả là một trong nhữngnguyên tắc quan trọng hàng đầu của quản lý kinh tế, tài chính, bởi lẽ nguồn lực thìluôn có giới hạn nhưng nhu cầu thì không có giới hạn Do vậy, trong quá trìnhphân bổ và sử dụng nguồn lực khan hiếm đó luôn phải tính toán sao cho với chiphí ít nhất nhưng phải đạt hiệu quả một cách tốt nhất Mặt khác, do đặc thù củahoạt động NSNN diễn ra trên phạm vi rộng, đa dạng và phức tạp Nhu cầu chi từNSNN luôn gia tăng với tốc độ nhanh trong khi khả năng huy động nguồn thu có
16
Trang 17hạn Nên càng phải tôn trọng nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả trong quản lý chithường xuyên của NSNN
- Nguyên tắc chi trực tiếp qua KBNN: Một trong những chức năng quan trọngcủa KBNN là quản lý quỹ NSNN Vì vậy, KBNN vừa có quyền, vừa có tráchnhiệm phải kiểm soát chặt chẽ mọi khoản chi NSNN, đặc biệt là các khoản chithường xuyên Để tăng cường vai trò của KBNN trong kiểm soát chi thường xuyêncủa NSNN, hiện nay ở nước ta và đang thực hiện việc chi trực tiếp qua KBNN như
là một nguyên tắc trong quản lý khoản chi này
Để thực hiện được nguyên tắc chi trực tiếp qua KBNN cần phải giải quyết tốtmột số vấn đề sau:
Thứ nhất, tất cả các khoản chi NSNN phải được kiểm tra, kiểm soát trước,
trong và sau quá trình cấp phát, thanh toán Các khoản chi phải có trong dự toánNSNN được duyệt, đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cấp có thẩm quyền quiđịnh và phải được thủ trưởng ĐVSD kinh phí NSNN hoặc người được uỷ quyềnquyết định chi
Thứ hai, tất cả các cơ quan, đơn vị, các chủ dự án… sử dụng kinh phí
NSNN( gọi chung là ĐVSD ngân sách nhà nước ) phải mở tài khoản tại Kho bạcnhà nước; chịu sự kiểm tra, kiểm soát của CQTC, KBNN trong quá trình lập dựtoán, phân bổ dự toán, cấp phát, thanh toán, hạch toán kế toán và quyết toánNSNN
Thứ ba, BTC, Sở tài chính - vật giá tỉnh, thành phố trực thuộc TW, Phòng tài
chính kế hoạch quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (gọi chung là CQTC)
có trách nhiệm thẩm định dự toán và thông báo dự toán đã được thẩm tra cho cácđơn vị thụ hưởng kinh phí NS; kiểm tra việc sử dụng kinh phí, xét duyệt quyếttoán chi của các đơn vị và tổng hợp quyết toán chi NSNN
Thứ tư, KBNN có trách nhiệm kiểm soát các hồ sơ, chứng từ, điều kiện chi
và thực hiện cấp phát, thanh toán kịp thời các khoản chi NSNN theo đúng quiđịnh; tham gia với các CQTC, cơ quan QLNN có thẩm quyền trong việc kiểm tra
17
Trang 18tình hình sử dụng NSNN và xác định số thực chi NSNN KBNN có quyền tạmđình chỉ, từ chối thanh toán, chi trả và thông báo cho các ĐVSD NSNN biết đồnggửi cho CQTC đồng cấp giải quyết trong các trường hợp sau:
- Chi không đúng mục đích, đối tượng theo dự toán được duyệt
- Chi không đúng chế độ, định mức chi tiêu tài chính nhà nước
- Không đủ các điều kiện về chi theo qui định
Thứ năm, mọi khoản chi NSNN được hạch toán bằng đồng Việt Nam 6 theo
từng niên độ NS, từng cấp NS và MLNSNN Các khoản chi NSNN bằng ngoại tệ,hiện vật, ngày công lao động được qui đổi và hạch toán bằng đồng Việt Nam theo
tỷ giá ngoại tệ, giá hiện vật, ngày công lao động do cơ quan có thẩm quyền quiđịnh
Thứ sáu, trong quá trình quản lý, cấp phát, quyết toán chi NSNN, các khoản
chi sai phải thu hồi giảm chi Căn cứ vào quyết định của CQTC hoặc quyết địnhcủa cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, KBNN thực hiện việc thu hồi giảm chiNSNN
1.2.2.3 Quy định về điều kiện và phương thức chi thường xuyên ngân sách nhà nước:
- Điều kiện chi thường xuyên:
Theo khoản 2 điều 12 luật Ngân sách nhà nước 2015 có quy định, chi ngânsách Nhà nước chỉ được thực hiện khi đã có trong dự toán ngân sách được giao,trừ trường hợp quy định tại điều 51 của luật này; đã được thủ trưởng đơn vị sửdụng ngân sách chủ đầu tư hoặc người được ủy quyền quyết định chi và đáp ứngcác điều kiện trong từng trường hợp
Riêng đối với chi thường xuyên thì phải đảm bảo đúng chế độ, tiêu chuẩnđịnh mức chi ngân sách do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định; trường hợpcác cơ quan đơn vị đã được cấp có thẩm quyền cho phép thực hiện theo cơ chế tựchủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí thì thực hiện theo quychế chi tiêu nội bộ và phù hợp với dự toán được giao tự chủ
18
Trang 19 Mục e Khoản 5 Điều 12 Thông tư số 344/2016/TT-BTC Quy định về quản
lý ngân sách xã và hoạt động tài chính khác của xã, phường, thị trấn do bộ tàichính ban hành có quy định về việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ chi ngân sách đốivới hoạt động chi thường xuyên, trong đó:
+ Ưu tiên chi trả tiền lương, các khoản phụ cấp và các khoản đóng gópcho cán bộ, công chức xã, chi an sinh xã hội, trợ cấp đối tượng, bảo trợ xã hội.+ Các khoản chi thường xuyên khác phải căn cứ vào dự toán năm, khốilượng thực hiện công việc khả năng của ngân sách xã tại thời điểm chi để thựchiện chi cho phù hợp
- Phương thức chi thường xuyên ngân sách nhà nước:
Là phương thức cấp phát theo dự toán cấp trong phát kinh phí từ ngân sáchnhà nước Cụ thể là là chuyển giao kinh phí từ ngân sách nhà nước theo khả năngtối đa mà đơn vị được thụ hưởng Có thể là nhận từ ngân sách nhằm đáp ứng nhucầu chi thường xuyên cho các hoạt động thường niên diễn ra như là tiến hành duytrì hoạt động nhằm duy trì sự hoạt động, vận hành của bộ máy nhà nước Việc duytrì bộ máy, điều hành Nhà nước mới tạo ra các hoạt động và bổ sung ngược lại chongân sách nhà nước
Các hoạt động này thường phải kể đến các hoạt động như chế độ lươngthưởng cho cán bộ công chức viên chức nhà nước, người lao động, các khoản chiphục vụ cho các cuộc họp, các thiết bị văn phòng phẩm dùng để mua mới hoặc sửachữa khi hỏng hóc , dùng ngân sách nhà nước để chi cho các dịch vụ phục vụ nhucầu hàng ngay như tiền điện nước…
1.2.2.4 Lập dự toán chi thường xuyên
Dự toán chi thường xuyên được lập trên cơ sở nhiệm vụ được giao, nhiệm vụđược cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi do cơquan Nhà nước có thẩm quyền quy định Việc lập dự toán ngân sách của các cơquan Nhà nước thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế
và kinh phí quản lý hành chính; đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện quyền tự chủ,
19
Trang 20tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính; đơn vị sựnghiệp công lập thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ
tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính thực hiện theo quy định của Chính phủ
Dự toán chi thường xuyên của đơn vị dự toán ngân sách các cấp phải thể hiệnđầy đủ các khoản chi theo đúng biểu mẫu, thời hạn do cơ quan nhà nước có thẩmquyền quy định
*Việc xây dựng dự toán chi thường xuyên ngân sách phải đáp ứng các yêucầu sau:
- Nội dung dự toán chi thường xuyên phải đảm bảo yêu cầu phù hợp với kếhoạch phát triển kinh tế - xã hội, chủ động trong điều hành ngân sách
- Dự toán phải thể hiện đầy đủ các khoản chi theo đúng biểu mẫu, thời hạn do
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định
- Dự toán được xây dựng trên cơ sở được giao, nhiệm vụ được cơ quan cóthẩm quyền phê duyệt, chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi do cơ quan Nhà nước cóthẩm quyền quy định
- Phải xác định rõ những khoản chi trọng điểm, thứ tự ưu tiên các khoản chi,kiên quyết loại bỏ các khoản chi bao cấp, bất hợp lý
*Quy trình lập dự toán chi thường xuyên ngân sách Nhà nước cấp huyện:Bước 1: Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh hướng dẫn và giao số kiểm tra dự toánngân sách cho Ủy ban nhân dân cấp huyện
Bước 2: Ủy ban nhân dân cấp huyện tổ chức triển khai xây dựng dự toán ngânsách và giao số kiểm tra cho các đơn vị sử dụng ngân sách Nhà nước
-Lập và tổng hợp dự toán
Bước 3: Các đơn vị lập dự toán chi thường xuyên của mình
Bước 4: Ủy ban nhân dân cấp huyện giao cho phòng tài chính – kế hoách làmviệc với các đơn vị về dự toán chi thường xuyên; kế toán tổng hợp và hoàn chỉnh
dự toán chi thường xuyên ngân sách
20
Trang 21Bước 5: Ủy ban nhân dân cấp huyện trình thường trực hội đồng nhân dân cấphuyện, Ủy ban nhân dân cùng cấp hoàn chỉnh lại dự toán và gửi sở Tài chính.Bước 6: Căn cứ vào ý kiến của thường trực hội đồng nhân dân cấp huyện, Ủyban nhân dân cấp huyện hoàn chỉnh dự toán và gửi sở Tài chính.
Bước 7: Sở tài chính tổ chức làm việc về dự toán ngân sách với các huyện/ thịxã/ thành phố trực thuộc tỉnh; tổng hợp và hoàn chỉnh dự toán cấp tỉnh báo cảo Ủyban nhân dân cấp tỉnh
-Phân bổ và quyết định giao dự toán
Bước 8: Sở Tài chính giao dự toán ngân sách chính thức cho Uỷ ban nhân dâncấp huyện
Bước 9: Ủy ban nhân dân cấp huyện chỉnh lại dự toán ngân sách gửi Đại biểuhội đồng nhân dân cùng cấp trước phiên họp của hội đồng nhân dân cấp huyện về
dự toán ngân sách; hội đồng nhân dân cấp huyện thảo luận và quyết định dự toánngân sách
Bước 10: Ủy ban nhân dân cấp huyện giao dự toán cho các đơn vị sử dụngngân sách trực thuộc; thực hiện công khai dự toán ngân sách cấp huyện
1.2.2.5 Chấp hành dự toán chi thường xuyên
Chấp hành dự toán chi thường xuyên ngân sách là việc chuyển giao, sử dụngđúng mục đích, đúng kế hoạch dự toán và đúng chế độ thể lệ hiện hành các nguồnkinh phí từ ngân sách Nhà nước, thông qua hoạt động của cơ quan tài chính và cácđơn vị sử dụng ngân sách nhằm thực hiện nhiệm vụ của Nhà nước trên mọi lĩnhvực trong ngành tài chính
Sau khi ngân sách địa phương được các cơ quan quyền lực nhà nước địaphương thông qua bằng các nghị quyết của hội đồng nhân dân và quyết định của
ủy ban nhân dân, việc chấp hành ngân sách địa phương được thực hiện thống nhấttheo văn bản quy định của Trung ương và chỉ đạo của ủy ban nhân dân Trong quátrình chấp hành ngân sách, cơ quan tài chính căn cứ vào kế hoạch thu của cơ quanthuế lập để lập dự toán chi thường xuyên ngân sách theo quy định Các đơn vị dự
21
Trang 22toán hàng tháng, quý phải lập dự toán gửi cơ quan tài chính cấp huyện xem xét cấpphát Cơ quan kho bạc Nhà nước cấp huyện có trách nhiệm kiểm soát và thanhtoán chi trả.
Như vậy, hội đồng nhân dân huyện có trách nhiệm giám sát ủy ban nhân dânhuyện và các cơ quan chấp hành ngân sách địa phương
*Trình tự, thủ tục chi thường xuyên
- Do những khoản chi thường xuyên có đặc điểm cơ bản là mang tính ổnđịnh, không có khả năng thu hồi và phục vụ trực tiếp cho nhu cầu tiêu dùng nhưhoạt động của bộ máy Nhà nước, bảo đảm nguồn vật chất cho an ninh, quốcphòng, trật tự an toàn xã hội nên hình thức cấp phát, thhanh toán đối với chithường xuyên về cơ bản là hình thức thanh toán trực tiếp
- Do chi thường xuyên thực hiện với nhiều lĩnh vực cho nhiều đối tượng vớiđặc điểm, yêu cầu sử dụng kinh phí khác nhau nên có thể phân tích pháp luật quyđịnh trình tự, thủ tục chi thường xuyên cho các nội dung lớn sau:
Đối với các khoản chi tiền lương và các khoản chi có tính chất tiền lương,đơn vị sử dụng kinh phí dựa trên danh sách chi trả,bảng đăng ký danh sách cán bộ,công chức, viên chức đã được phê duyệt (áp dụng với cả đối với các đơn vị thựchiện khoản biên chế và kinh phí), phát hành “ Gi ấy đề nghị rút dự toán ngân sáchNhà nước” gửi cơ quan kho bạc đề nghị trả, thanh toán Kho bạc Nhà nước kiểmtra tính hợp lệ của bộ giấy đề nghị rút kinh phí, tiến hành cấp phát thanh toán chođơn vị sử dụng Đối với thu nhập của đối tượng thuế ngoài, việc thanh toán còndựa trên cơ sở hợp đồng của đơn vị sử dụng với bên làm thuế
Việc chi trả tiền lương của các đơn vị sự nghiệp có thu có những đặc điểmkhác biệt nhất định so với các đơn vị có sử dụng ngân sách khác Trên cơ sở hoànthành nhiệm vụ, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với ngân sách Nhà nước, thủ trưởngđơn vị xác định quỹ tiền lương, tiền công với hệ số điều chỉnh tăng thêm trên cơ sởmức lương tối thiểu Thủ trưởng đơn vị quyết định chi trả tiền công, tiềnn lươngcho từng cá nhân viên chức hoặc người lao động theo hiệu quả công việc Bên
22
Trang 23cạnh đó, những phần tăng thêm về tiền lương cho người lao động của đơn vị dochính sách chế độ mới, trách nhiệm cũng thuộc về đơn vị đó.
Đối với khoản chi thanh toán cho các dịch vụ mua ngoài (mua sắm thiết bị,sửa chữa, xây dựng nhỏ), đơn vị sử dụng ngân sách căn cứ vào chi tiêu phân bổcho nhóm chi, phát hành quyết định chi hợp lệ cùng với hồ sơ, chứng từ liên quanđến dịch vụ mua ngoài đã được cung ứng( dự toán phân bổ, quyết định phê duyệtkết quả đấu thầu hoặc chỉ định thầu, hợp đồng cung ứng hàng hóa dịch vụ, bộchứng từ hàng hóa dịch vụ) Kho bạc kiểm tra tính hợp lệ và chi trả trực tiếp chođơn vị cấp dịch vụ
Đối với các khoản chi cho an ninh, quốc phòng thực hiện theo những quyđịnh riêng
Đối với các khoản chi cho hoạt động sự nghiệp, về cơ bản được thực hiệntương tự các khoản chi thường xuyên khác Riêng đối với hoạt động sự nghiệpphục vụ đường sắt, địa chất, cầu đường, đường thủy, trình tự cấp phát thanh toáncần có thêm các hồ sơ, chứng từ liên quan đến hoạt động đặc thù đó
1.2.2.6 Quyết toán chi thường xuyên
Quyết toán chi thường xuyên ngân sách Nhà nước là khâu cuối cùng trongchu trình chi thường xuyên ngân sách Nó chính là quá trình nhằm kiểm tra, ràsoát, chỉnh lý lại các số liệu đã được phản ánh sau một kỳ chấp hành dự toán đểphân tích, đánh giá kết quả chấp hành dự toán, rút ra những kinh nghiệm và bàihọc cần thiết cho kỳ chấp hành dự toán tiếp theo trong những năm sau
Quyết toán chi thường xuyên ngân sách cấp huyện tuân thủ quy định quyếttoán ngân sách Nhà nước bao gồm các bước: lập, xét duyệt, thẩm định, tổng hợp,thẩm tra và phê chuẩn báo cáo quyết toán
Trình tự phê chuẩn và gửi báo cáo quyết toán chi thường xuyen ngân sáchNhà nước hành năm của ngân sách huyện như sau:
- Phòng tài chính – kế hoạch huyện có trách nhiệm thẩm định báo cáo quyếttoán chi thường xuyên ngân sách trên địa bàn huyện mình trình ủy ban nhân dân
23
Trang 24huyện xem xét để gửi sở Tài chính, đồng thời ủy ban nhân dân huyện trình hộiđồng nhân dân huyện phê duyệt, sau khi hội đồng nhân dân phê duyệt, báo cáoquyết toán năm được lập thành 04 bản gửi đến các cơ quan sau:
01 bản gửi hội đồng nhân dân
01 bản gửi ủy ban nhân dân
01 bản gửi sở Tài chính tỉnh
01 bản lưu lại phòng tài chính – kế hoạch huyện
Đồng thời gửi kho bạc Nhà nước huyện nghị quyết phê chuẩn của hội đồngnhân dân cấp huyện
Trình lập, gửi, xét duyệt báo cáo tài chính đã được quy định như trên vừaphản ánh một quy trình bắt buộc phải tuân thủ, vùa phản ánh yêu cầu cần phải tôntrọng về thời gian tại mỗi cấp mỗi đơn vị Chỉ có như vậy thì công tác quyết toánchi thường xuyên ngân sách Nhà nước mới đảm bảo được tính kịp thời, chính xác,trung thực, khách quan
Tiêu chi đánh giá công tác quyết toán chi thường xuyên ngân sách Nhà nước
- Hệ thống biểu mẫu quyết toán đúng, đầy đủ theo quy định hiện hành
- Thời gian trong lập báo cáo quyết toán đúng theo quy định
- Hồ sơ, tài liệu, chứng từ thanh toán đủ, đúng theo quy định
- Công tác xử lý các vi phạm đụng theo quy định
1.2.2.7 Quy định về thanh tra, kiểm tra chi thường xuyên
Trên cơ sở dự toán được duyệt và các chính sách chế độ chi thường xuyênngân sách huyện, thanh tra tài chính có nhiệm vụ thanh tra việc chấp hành chithường xuyên và quản lý chi thường xuyên ngân sách các ngành, các cấp, các đơn
vị sử dụng ngân sách Thực hiện kiểm tra thanh tra theo định kỳ bằng việc thẩmđịnh các báo cáo chi thường xuyên ngân sách hàng quý của các đơn vị sử ngânsách Nhà nước thuộc huyện Thanh tra tài chính phải chịu trách nhiệm về kết luậnthanh tra của mình
24
Trang 25Thực hiện kiểm tra, giám sát một cách đột xuất tại đơn vị bằng việc tổ chứcthanh tra tài chính Hình thức này sẽ do cơ quan chức năng chuyên trách của ngànhhoặc của Nhà nước thực hiện mỗi khi phát hiện thấy có dấu hiệu không lành mạnhtrong quản lý tài chính của đơn vị nào đó.
Mục đích thực hiện thanh tra, kiểm tra, kiểm soát là nhằm phòng ngừa, pháthiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, phát hiện tham nhũng, lãng phí, pháthiện những sơ hở trong cơ chế quản lý chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơquan Nhà nước có thẩm quyền góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ lợi íchhợp pháp của tổ chức kinh tế và cá nhân Tăng cường công tác kiểm tra, thanh traviệc chấp hành ngân sách các đơn vị nhằm đảm bảo tính hiệu quả và trung thựctrong quản lý ngân sách Nhà nước, ngăn ngừa sai phạm, tiêu cực trong quản lý,điều hành sử dụng ngân sách Nhà nước góp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế địaphương một cách bền vững hơn
Tiêu chi đánh giá công tác thanh tra, kiểm tra chi thường xuyên:
- Việc kiểm tra, thanh tra trong khi chi thường xuyên ngân sách Nhà nướcđảm bao theo quy định hiện hành
- Thường xuyên tiến hành công tác thanh tra, kiểm tra chi thường xuyên ngânsách Nhà nước
- Xử lý nghiêm các vi phạm trong chi thường xuyên ngân sách Nhà nước
- Sử hiệu quả trong công tác thanh tra, kiểm tra
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật chi thường xuyên ngân sách nhà nước
1.3.1 Các nhân tố khách quan
- Điều kiện tự nhiên: Ở mỗi vùng, mỗi lãnh thổ có điều kiện tự nhiên khác
nhau, do vậy nó sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế địa phương, từ đó quyếtđịnh đến mức chi thường xuyên ngân sách Nhà nước Chẳng hạn, ở địa phương cónhiều sông, lại hay xảy ra lũ lụt thì các khoản chi NSNN sẽ tập trung vào xây dựng
đê, kè, và tu sửa đê, khi xây dựng công trình phải tránh mùa mưa, bão và có những
25
Trang 26biện pháp hữu hiệu để tránh thiệt hại xảy ra đó là nguyên nhân làm phát sinh chiphí có liên quan ngoài kế hoạch chi thường xuyên ngân sách Nhà nước; hoặc địaphương có địa hình chủ yếu là đồi núi, dốc thì chú ý đầu tư cho giao thông thuậnlợi để có thể phát triển kinh tế và phát triển các ngành nghề phù hợp với điều kiệnđịa hình đó Vì vậy, điều kiện tự nhiên ảnh hưởng đến đời sống kinh tế, văn hóa,
xã hội của địa phương
- Điều kiện kinh tế - xã hội: chi thường xuyên ngân sách Nhà nước trên địa
bàn địa phương đều chịu ảnh hưởng bởi điều kiện kinh tế xã hội Với môi trườngkinh tế ổn định, vốn đầu tư sẽ được cung cấp đầy đủ, đúng tiến độ Ngược lại nềnkinh tế mất ổn định, mức tăng trưởng kinh tế chậm Nhà nước sẽ thắt chặt chi tiêu
để kiềm chế lạm phát, chi thường xuyên ngân sách Nhà nước giảm Lạm phát cũnglàm cho giá cả thị trường tăng, làm chi phí thường xuyên tăng Vì vậy, có thể nóicác yếu tố về kinh tế - xã hội có ảnh hưởng không nhỏ đến chi thường xuyên ngânsách Nhà nước
- Điều kiện về môi trường pháp lý: cơ chế chính sách và các quy định của nhà
nước về chi thường xuyên ngân sách Nhà nước Trong kinh tế thị trường có sựđiều tiết của nhà nước, pháp luật đã trở thành một bộ phận không thể thiếu trongđiều hành ngân sách Nhà nước nói chung và chi thường xuyên ngân sách Nhànước nói riêng
26
Trang 27phương Nếu năng lực của người lãnh đạo yếu, bộ máy tổ chức không hợp lý, cácchiến lược không phù hợp với thực tế thì việc quản lý chi tiêu nguồn lực tài chínhcông sẽ không hiệu quả, dễ gây tình trạng chi vượt quá thu, chi đầu tư giàn trải,phân bổ chi thường xuyên không hợp lý; có thể dẫn đến tình trạng thất thoát, lãngphí ngân sách, không thúc đẩy được sự phát triển của nền kinh tế, đảm bảo các vấn
đề xã hội… Ngoài ra, đối với người lãnh đạo cũng cần tránh bệnh chạy theo thànhtích, bệnh cục bộ địa phương, bệnh quan liêu mệnh lệnh, coi thường pháp luật,xem trình tự thủ tục là thứ gò bó quyền lực của mình Đây cũng có thể được coi làmột trong những yếu tố làm giảm hiệu quả, thậm chí còn gây những hậu quả nhưthất thoát, lãng phí, tham nhũng,… trong công tác quản lý chi thường xuyên ngânsách Nhà nước trên địa bàn địa phương Năng lực chuyên môn của các bộ phậntham mưu áp dụng pháp luật các khoản chi thường xuyên ngân sách Nhà nước ởđịa phương lại là yếu tố quyết định hiệu quả chi thường xuyên ngân sách Nhànước Nếu cán bộ quản lý có năng lực chuyên môn cao sẽ giảm thiểu được sai lệchtrong cung cấp thông tin của đối tượng sử dụng nguồn lực tài chính công, kiểmsoát được toàn bộ nội dung chi thường xuyên, nguyên tắc chi thường xuyên vàtuân thủ theo các quy định về quản lý nguồn tài chính công đảm bảo theo dự toán
đã đề ra Bên cạnh năng lực chuyên môn thì đối với cán bộ công chức cũng cầnphải tránh bệnh xu nịnh, chiều ý cấp trên, là thói quen xin cho, hạch sách, thiếu ýthức chịu trách nhiệm cá nhân, gây giảm hiệu quả sử dụng nguồn lực tài chínhcông nghiêm trọng
1.3.2.2 Tổ chức bộ máy quản lý
Hoạt động xây dựng và áp dụng pháp luật chi thường xuyên ngân sách Nhànước được triển khai có thuận lợi và hiệu quả hay không phụ thuộc rất lớn vào tổchức bộ máy quản lý chi thường xuyên và quy trình nghiệp vụ, trong đó đặc biệt làquy trình nghiệp vụ quản lý Tổ chức bộ máy và quy trình quản lý, quyền hạn tráchnhiệm của từng khâu, từng bộ phận, mối quan hệ của từng bộ phận trong quá trìnhthực hiện từ lập, chấp hành, quyết toán và kiểm toán chi thường xuyên ngân sách
27
Trang 28Nhà nước có tác động rất lơn đến việc áp dụng pháp luạt chi thường xuyên sáchNhà nước.
Tổ chức bộ máy quản lý phù hợp sẽ nâng cao chất lượng quản lý, hạn chế tìnhtrạng sai phạm trong áp dụng pháp luật Quy trình quản lý được bố trí càng khoahọc, rõ ràng thì càng góp phần quan trọng làm nâng cao chất lượng của thông tintới cấp ra quyết định quản lý chi thường xuyên ngân sách Nhà nước, giảm các yếu
tố sai lệch thông tin Từ đó nâng cao được hiệu quả áp dụng pháp luật chi thườngxuyên ngân sách Nhà nước trên địa bàn địa phương
1.3.2.3 Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và áp dụng pháp luật chi thường xuyên.
Cơ sở vật chất, trang thiết bị làm việc là các yếu tố không thể thiếu trong quátrình quản lý chi thường xuyên ngân sách Nhà nước Hiện nay Nhà nước đang đẩymạnh việc ứng dụng công nghệ tin học vào trong công tác quản lý chi thườngxuyên ngân sách Nhà nước ở địa phương để giúp tiết kiệm thời gian xử lý côngviệc, đảm bảo được tính chính xác, nhanh chóng và thống nhất về mặt dữ liệu, hạnchế sai sót, tạo tiền đề cho những quy trình cải cách về mặt nghiệp vụ góp phầnnâng cao hiệu quả quản lý chi thường xuyên ngân sách Nhà nước
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI HUYỆN
ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN.
28
Trang 292.1 Thực trạng pháp luật về chi thường xuyên ngân sách nhà nước ở Việt Nam hiện nay.
2.1.1 Chủ thể tham gia quan hệ chi thường xuyên NSNN
Thực hiện quản lý chi thường xuyên NSNN tại các cơ quan chuyên mônthuộc UBND cấp tỉnh thuộc chức năng, nhiệm vụ của UBND cấp tỉnh, Sở TàiChính, Kho bạc nhà nước và bộ phận kế toán các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh.Chức năng của các bộ phận này là chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra các phườngthực hiện về công tác xây dựng, quản lý chi thường xuyên NSNN, quản lý tìnhhình chi và tình hình thực hiện chính sách, chế độ tài chính ngân sách của các cơquan chuyên môn của UBND cấp tỉnh
Chức năng, nhiệm vụ của Sở tài chính:
- Tập trung đầy đủ các khoản thu theo chế độ quy định để đảm bảo nhu cầuchi theo quy định, đồng thời tiếp tục khai thác nguồn thu và thực hiện tốt phươngchâm nhà nước và nhân dân cùng làm các công việc của UBND và các cơ quanchuyên môn
- Xây dựng dự toán ngân sách UBND cấp tỉnh và các cơ quan chuyên môntrực thuộc hàng năm theo quy định chung, căn cứ vào tình hình thực tế cụ thể tạitỉnh
- Chấp hành dự toán thực hiện tổ chức thu – chi ngân sách Trong đó cần sửdụng đồng bộ các biện pháp để động viên khai thác các nguồn vốn trên địa bànphường và phân bổ vốn có hiểu quả
- Có trách nhiệm lập báo cáo quyết toán trên cơ sở dố liệu tuyệt đối trungthực
- Kiểm tra mọi hoạt động sản xuất kinh doanh về tài chính của các tổ chứcđơn vị kinh tế tập thể và các cá nhân thuộc quản lý
- Trên cơ sở nắm được tình hình thực hiện các kế hoạch tài chính qua cácngành trong tỉnh mà Sở tài chính giúp UBND đề ra các biện pháp cần thiết cho các
29
Trang 30ngành phối hợp với nhau được chặt chẽ, thực hiện kế hoạch ssanr xuất được thuậnlợi.
2.1.2 Nội dung pháp luật về chi thường xuyên NSNN
Xây dựng hệ thống định mức chi thường xuyên ngân sách nhà nước: khi lậpphương án phân bổ ngân sách, kiểm tra quá trình chấp hành ngân sách, thẩm traxét duyệt quyết toán của các đơn vị sử dụng ngân sách Định mức chi cũng là cơ
sở pháp lý để các đơn vị sử dụng ngân sách triển khai thực hiện dự toán ngân sáchđược giao tại đơn vị theo đúng chế độ quy định Cụ thể:
a Lập dự toán chi thường xuyên ngân sách nhà nước
Để xây dựng được dự toán chi thường xuyên cần căn cứ vào định mức phân
bổ ngân sách: Đây là định mức mang tính chất tổng: định mức chi hành chính trênmột biên chế; định mức chi tổng hợp cho một học sinh thuộc các cấp học; địnhmức chi cho một giường bệnh; định mức chi cho sự nghiệp văn hóa thông tin, phátthanh truyền hình, thể dục thể thao tính trên một người dân… Định mức này có thểban hành hàng năm hoặc tính cho cả một thời kỳ ổn định ngân sách, có tính đếnyếu tố điều chỉnh tăng hàng năm do trượt giá Trên cơ sở tổng chi ngân sách địaphương được Trung ương giao và định mức phân bổ ngân sách do Thủ tướngChính phủ ban hành, địa phương phải xây dựng và ban hành các định mức phân bổcho các ngành, các cấp, các đơn vị thụ hưởng NSĐP, phù hợp với khả năng tàichính - ngân sách và đặc điểm tình hình ở địa phương mình Định mức phân bổngân sách là căn cứ để phân bổ chính thức tổng mức kinh phí trong hệ thống cácđơn vị dự toán
Lập dự toán chi thường xuyên ngân sách nhà nước: Dự toán chi thường xuyênngân sách nhà nước Khi lập dự toán chi thường xuyên phải dựa trên các căn cứsau:
- Các chỉ tiêu phát triển KT-XH, đảm bảo an ninh quốc phòng… đặc biệt làcác chỉ tiêu liên quan trực tiếp đến việc cấp phát kinh phí chi thường xuyên
30
Trang 31- Các chủ trương, các hoạt động sự nghiệp, hoạt động an ninh - quốc phòng
và các hoạt động khác trong từng giai đoạn nhất định
- Các chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cơ quan có thẩm quyền quy định; địnhmức phân bổ dự toán ngân sách do Thủ tướng chính phủ, HĐND cấp Tỉnh banhành theo phân cấp
- Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về xây dựng kế hoạch phát triển KT-XH
và dự toán NSNN; thông tư hướng dẫn lập dự toán ngân sách của Bộ Tài chính vàvăn bản hướng dẫn của cơ quan chủ quản các cấp
- Số kiểm tra về dự toán ngân sách được cơ quan có thẩm quyền thông báo,tình hình thực hiện dự toán năm báo cáo và các năm liền kề
- Khả năng cân đối nguồn kinh phí để đáp ứng cho nhu cầu chi thường xuyên
kỳ kế hoạch Khả năng này được dự báo trên cơ sở cơ cấu thu NSNN kỳ báo cáo
và mức tăng trưởng của các nguồn thu
b Chấp hành dự toán chi thường xuyên
Để sử dụng có hiệu quả dự toán chi thường xuyên các đơn vị cần bám sát vàocác định mức sử dụng ngân sách: Biểu hiện của loại định mức này là chế độ tiềnlương, phụ cấp lương, chế độ công tác phí, chế độ hội nghị,… Loại định mức nàykhá đa dạng do chi thường xuyên bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau Theo quyđịnh hiện hành, phần lớn các định mức sử dụng ngân sách do Bộ Tài chính và các
cơ quan nhà nước có thẩm quyền phối hợp với Bộ Tài chính ban hành Đối với địaphương thì HĐND tỉnh được phân cấp ban hành một số định mức, chế độ chi tiêuphù hợp với đặc thù địa phương Đây là cơ sở pháp lý để các đơn vị sử dụng ngânsách chấp hành khi chi tiêu ngân sách được cấp và cũng là căn cứ pháp lý đểKBNN thực hiện kiểm soát chi Định mức phải mang tính ổn định, chi thườngxuyên trong cân đối ngân sách và triển khai thực hiện được chính sách khoán chihành chính, giao quyền tự chủ cho các đơn vị sự nghiệp có thu
Chấp hành dự toán chi thường xuyên: Đây là nội dung rất quan trọng trongquản lý chi ngân sách, là khâu thứ hai trong chu trình quản lý ngân sách Mục tiêu
31
Trang 32chính của việc tổ chức chấp hành dự toán chi thường xuyên ngân sách nhà nước làđảm bảo phân phối, cấp phát và sử dụng kinh phí được phân bổ một cách hợp lý,tiết kiệm và có hiệu quả Trên cơ sở quyết định của Thủ tướng Chính phủ giaonhiệm vụ thu, chi ngân sách cho từng tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; SởTài chính có trách nhiệm giúp Uỷ ban nhân dân tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùngcấp quyết định dự toán chi thường xuyên ngân sách nhà nước, phương án phân bổngân sách cấp tỉnh trước ngày 10 tháng 12 năm trước; Uỷ ban nhân dân tỉnh cótrách nhiệm báo cáo Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư dự toán ngân sách tỉnh
và kết quả phân bổ dự toán ngân sách cấp tỉnh đã được Hội đồng nhân dân tỉnhquyết định
Khi phân bổ, giao dự toán chi ngân sách cho các đơn vị trực thuộc, đơn vịphân bổ dự toán phải bảo đảm phân bổ hết dự toán ngân sách được giao Trườnghợp có các nhiệm vụ chi chưa xác định được rõ đơn vị thực hiện trong dự toán đầunăm thì được giữ lại để phân bổ sau, nhưng khi phân bổ cho các nhiệm vụ này, đơn
vị dự toán cấp I phải lập phương án phân bổ gửi Sở Tài chính để thẩm tra
Kiểm soát, thanh toán các khoản chi thường xuyên ngân sách nhà nước: Cácđơn vị sử dụng ngân sách tỉnh và các tổ chức được ngân sách cấp tỉnh hỗ trợ kinhphí thường xuyên, phải mở tài khoản tại KBNN trên địa bàn để giao dịch, thanhtoán và chịu sự kiểm tra của Sở Tài chính và KBNN trong quá trình thanh toán, sửdụng kinh phí Các khoản chi ngân sách cấp tỉnh được kiểm soát trước, trong vàsau quá trình cấp phát thanh toán, KBNN thực hiện kiểm soát đối với các khoảnchi bằng dự toán Đối với chi thường xuyên ngân sách nhà nước, KBNN thực hiệnkiểm soát căn cứ vào dự toán được giao, hồ sơ pháp lý và chứng từ có liên quanđến khoản chi đó Nếu đủ điều kiện chi, KBNN thanh toán theo đề nghị của đơn vị
dự toán, nếu các khoản chi chưa đủ điều kiện để thực hiện việc thanh toán trựctiếp, KBNN tạm ứng cho đơn vị sử dụng ngân sách để chủ động chi theo dự toánđược giao, sau đó thanh toán với Kho bạc Nhà nước theo đúng nội dung, thời hạnquy định
32
Trang 33c Quyết toán chi thường xuyên ngân sách nhà nước
Các cơ quan chuyên môn sử dụng vốn, kinh phí ngân sách nhà nước và quản
lý các khoản chi tài chính bao gồm đơn vị sử dụng ngân sách, KBNN, cơ quan Tàichính phải tổ chức hạch toán kế toán, lập báo cáo kế toán và quyết toán các khoảnchi của ngân sách nhà nước theo quy định Công tác kế toán và quyết toán ngânsách tỉnh phải thực hiện thống nhất theo quy định của pháp luật về chứng từ chingân sách nhà nước; mục lục ngân sách nhà nước; hệ thống tài khoản, sổ sách,mẫu biểu báo cáo và mã số đơn vị sử dụng ngân sách Hết kỳ kế toán (tháng, quý,năm), các đơn vị dự toán thực hiện khoá sổ kế toán và lập báo cáo quyết toán chingân sách gửi cơ quan quản lý cấp trên và Sở Tài chính
Sở Tài chính có trách nhiệm thẩm định quyết toán; lập quyết toán, chi ngânsách cấp tỉnh; tổng hợp lập quyết toán chi ngân sách trên địa bàn trình Uỷ bannhân dân cấp tỉnh xem xét gửi Bộ Tài chính, đồng thời trình Hội đồng nhân dântỉnh phê chuẩn Trường hợp báo cáo quyết toán năm của ngân sách tỉnh do Hộiđồng nhân dân tỉnh phê chuẩn có thay đổi so với báo cáo quyết toán năm do Uỷban nhân dân tỉnh đã gửi Bộ Tài chính thì Uỷ ban nhân dân tỉnh báo cáo bổ sung,gửi Bộ Tài chính Qua công tác quyết toán chi thường xuyên ngân sách sẽ giúp các
cơ quan quản lý phân tích, đánh giá quá trình chấp hành ngân sách, chấp hành cácđịnh mức nhà nước đã quy định của các đơn vị thụ hưởng ngân sách cũng như củacác cấp ngân sách một cách chính xác, trung thực và khách quan; đồng thời nângcao trách nhiệm của các đơn vị trong quá trình sử dụng ngân sách; làm cơ sở choviệc xây dựng cũng như điều chỉnh các định mức phân bổ ngân sách, xây dựng dựtoán ngân sách cho năm sau
d Thanh tra, kiểm tra chi thường xuyên ngân sách nhà nước
UBND tỉnh có trách nhiệm tổ chức thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các chế
độ quản lý c chi thường xuyên ngân sách nhà nước và hướng dẫn các đơn vị thựchiện việc tự kiểm tra trong nội bộ đơn vị mình và các đơn vị cấp dưới trực thuộc.Việc kiểm tra được thực hiện trong tất cả các khâu của chu trình quản lý chi ngân
33
Trang 34sách, từ khâu lập, phân bổ, giao dự toán chi ngân sách đến việc chấp hành dự toán
và quyết toán chi thường xuyên ngân sách tỉnh Việc thanh tra, kiểm tra được gắnvới chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan quản lý nhà nước cấp tỉnh.Hàng năm, cơ quan Thanh tra tỉnh xây dựng kế hoạch thanh tra tình hình sử dụngngân sách trên địa bàn trình Chủ tịch UBND tỉnh phê duyệt và triển khai thực hiện.Thanh tra tỉnh có nhiệm vụ thanh tra tình hình sử dụng ngân sách và việc chấphành các chế độ về quản lý chi ngân sách của các đơn vị dự toán, các tổ chức đượcngân sách tỉnh hỗ trợ và cá nhân thụ hưởng ngân sách theo quy định của pháp luật
Sở Tài chính, Kho bạc Nhà nước, đơn vị dự toán cấp tỉnh theo chức năng nhiệm vụđược phân công có trách nhiệm tổ chức thực hiện chế độ kiểm tra thường xuyên,định kỳ đối với các đơn vị, cá nhân, đơn vị sử dụng ngân sách cấp tỉnh
2.1.3 Đánh giá thực trạng pháp luật chi thường xuyên NSNN ở Việt Nam hiện nay
Trước tình hình phức tạp của dịch bệnh, cân đối NSNN khó khăn, Bộ Tàichính đã chủ động trình cấp thẩm quyền cho phép thực hiện những biện pháp, như:yêu cầu tiết kiê Ÿm 70% kinh phí hô Ÿi nghị, công tác phí trong và ngoài nước và tiếtkiê Ÿm thêm 10% chi thường xuyên khác còn lại của năm 2020 Đồng thời, chưathực hiện điều chỉnh mức lương cơ sở đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực
34
Trang 35lượng vũ trang và lương hưu từ ngày 1/7/2020 nhằm chia sẻ khó khăn với nhànước và người lao động.
Bộ Tài chính cũng yêu cầu các địa phương chủ đô Ÿng điều hành ngân sách địaphương, trường hợp hụt thu thì phải chủ đô Ÿng sử dụng dự phòng ngân sách, quỹ dựtrữ tài chính, tăng thu, tiết kiê Ÿm chi và các nguồn hợp pháp khác và cắt giảm cácnhiê Ÿm vụ chi theo quy định của Luâ Ÿt NSNN Tổng số kinh phí đã cắt giảm, tiếtkiệm được của ngân sách trung ương là 49,3 nghìn tỷ đồng, tương đương 4,6% dựtoán Quốc hội giao
Nhờ chủ đô Ÿng trong điều hành, chi NSNN năm 2020 đã hoàn thành mục tiêu
đề ra, với tổng số chi ngân sách ước khoảng 1.781,4 nghìn tỷ đồng, đáp ứng kịpthời, đầy đủ các nhiệm vụ chi phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản
lý nhà nước và thanh toán các khoản nợ đến hạn
Điều đáng nói đó là cơ cấu chi tiếp tục chuyển dịch tích cực, tỷ trọng chi đầu
tư phát triển năm 2020 đạt trên 29% (mục tiêu là 25-26%), chi thường xuyênkhoảng 63,1% tổng chi NSNN (mục tiêu là dưới 64%)
Bộ Tài chính đã xác định, một trong những giải pháp quan trọng trong cân đốithu - chi ngân sách là tiết kiệm chi, nhất là chi thường xuyên, từ đó giảm áp lựccân đối thu - chi NSNN
Theo Bộ trưởng, những năm qua, việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí,nâng cao hiệu quả sử dụng NSNN và tài sản công đã giúp tỷ trọng chi thườngxuyên giảm dần trong tổng chi ngân sách Tỷ trọng chi thường xuyên đã giảm từmức 64,9% tổng chi NSNN năm 2017 xuống dưới 64% năm 2020 (ước 63,4%)theo đúng mục tiêu Nghị quyết số 25/2016/QH14 của Quốc hội, giảm mạnh so vớithời điểm cuối nhiệm kỳ trước là 67,7% năm 2015
* Những bất cập còn tồn tại
Bên cạnh những kết quả đạt được thì còn những hạn chế Cụ thể như sau:Bất cập lớn nhất hiện nay trong việc xây dựng chi thường xuyên NSNN làmâu thuẫn giữa nhu cầu chi và khả năng đảm bảo từ nguồn thu NS của địa
35
Trang 36phương Vấn đề này không chỉ diễn ra giữa đơn vị dự toán đối với cơ quan tàichính các cấp mà còn giữa NS cấp trên đối với NS cấp dưới Khi xây dựng dự toánthường thoát ly định mức đã quy định, thoát ly hướng dẫn của cơ quan tài chính,đưa ra thêm nhiều nhiệm vụ, đề xuất mua sắm sửa chữa Điều này dẫn tới côngtác xây dựng dự toán chi thường xuyên không tích cực, thậm chí là đối phó.Hai là, việc xây dựng dự toán chi thường xuyên NSNN theo cơ chế hiện nayphải căn cứ vào hệ thống tiêu chí định mức phân bổ NS, định mức chi NS, chế độchi tiêu tài chính do Chính phủ và HĐND, UBND các cấp quy định Tuy nhiênnhiều lĩnh vực chi, nhiệm vụ chi hiện chưa được định mức hoá, chưa có mức chitiêu cụ thể, chưa định mức hoá được hết các nhiệm vụ chi nghiệp vụ đặc thù ở các
cơ quan đơn vị… dẫn tới dự toán lập chưa cụ thể, chưa chi tiết đến từng đơn vị sửdụng NS Công tác xây dựng dự toán chi NS chưa đồng bộ với công tác xây dựngcác kế hoạch … Điều này dẫn tới xây dựng dự toán chi thường xuyên các lĩnh vựctrên không có cơ sở vững chắc; định tính nhiều hơn định lượng; không phân bổđược đến từng cơ quan đơn vị sử dụng NS Dự toán không có tính dẫn dắt đơn vịthực hiện nhiệm vụ Hoạt động thẩm tra dự toán của HĐND cũng rất khó thựchiện Điều này làm giảm vai trò của HĐND trong thực hiện chức năng quyết định
NS Hạn chế lớn nhất ở đây là trình độ xây dựng dự toán của các đơn vị sử dụng
NS còn yếu, thường không đảm bảo quy định cả về căn cứ, nội dung, phươngpháp, trình tự, hệ thống mẫu biểu, thời gian, phổ biến là lập cho có Trong thực tếcông tác lập và thảo luận dự toán còn mang nặng tính hình thức thiếu dân chủ, ápđặt một chiều từ trên xuống
Ba là cơ chế, chính sách, chế độ chi tiêu tài chính chưa thực sự thống nhất, rõràng và nhiều thay đổi, bổ sung trong mỗi thời kỳ ổn định NS Trong thời kỳ ổnđịnh NS nhiều chính sách mới được ban hành, nhiều đơn vị mới được thành lậplàm tăng nhu cầu chi cho NS địa phương nhưng trung ương chưa có cơ chế rõ ràng
về nguồn kinh phí thực hiện và do cơ chế lồng ghép NS các cấp đã gây khó khăn,lúng túng cho việc lập dự toán, thẩm tra dự toán chi thường xuyên NS Ví dụ nhưchi cho hợp đồng 68 tại các đơn vị sự nghiệp
36