1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Trải Nghiệm Của Điều Dưỡng, Hộ Sinh Trực Tiếp Chăm Sóc Sản Phụ Mắc Covid - 19 Tại Bệnh Viện Phụ Sản Hà Nội Cơ Sở 2 Năm 2022.Pdf

113 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Trải Nghiệm Của Điều Dưỡng, Hộ Sinh Trực Tiếp Chăm Sóc Sản Phụ Mắc Covid - 19 Tại Bệnh Viện Phụ Sản Hà Nội Cơ Sở 2 Năm 2022
Tác giả Bùi Thị Thanh
Người hướng dẫn TS.BS. Trần Văn Long
Trường học Trường Đại Học Điều Dưỡng Nam Định
Chuyên ngành Điều dưỡng
Thể loại Luận văn thạc sĩ điều dưỡng
Năm xuất bản 2022
Thành phố Nam Định
Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 1,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU (0)
    • 1.1. Bệnh Coronavirus 2019 (COVID - 19) (14)
      • 1.1.1. Lịch sử (14)
      • 1.1.2. Định nghĩa (14)
      • 1.1.3. Các bệnh do Coronavirus ở người (15)
      • 1.1.4. Phòng bệnh (15)
      • 1.1.5. Điều trị (17)
    • 1.2. Sản phụ mắc COVID-19 (17)
      • 1.2.1. Nguy cơ của các sản phụ mắc COVID-19 (17)
      • 1.2.2. Chăm sóc sản phụ mắc COVID-19 (17)
      • 1.2.3. Hậu quả có thể xảy ra khi sản phụ mắc COVID - 19 (18)
    • 1.3. Vai trò của điều dưỡng, hộ sinh trong chăm sóc sản phụ COVID 19 (18)
    • 1.4. Trải nghiệm sống (20)
      • 1.4.1. Khái niệm (20)
      • 1.4.2. Các loại trải nghiệm sống (20)
      • 1.4.3. Trải nghiệm sống của CBYT trực tiếp chăm sóc người bệnh mắc COVID-19 (21)
      • 1.4.4. Mức độ ảnh hưởng tới sức khỏe, tâm lý của CBYT trực tiếp chăm sóc sản phụ mắc COVID-19 (21)
    • 1.5. Mô hình thích ứng Roy’s (24)
      • 1.5.1. Quá trình hình thành học thuyết (24)
      • 1.5.2. Thành phần chính của học thuyết (25)
      • 1.5.3. Các hình thái của học thuyết (27)
      • 1.5.4. Sử dụng khung lý thuyết cho nghiên cứu (29)
    • 1.6. Phương pháp nghiên cứu định tính (30)
      • 1.6.1. Tại sao sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính? (30)
      • 1.6.2. Cơ sở lý luận của nghiên cứu định tính (31)
    • 1.7. Các phương pháp tiếp cận nghiên cứu định tính có thể được sử dụng (31)
    • 1.8. Địa bàn nghiên cứu (34)
  • Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (0)
    • 2.1. Đối tượng nghiên cứu (35)
    • 2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu (35)
    • 2.3. Phương pháp nghiên cứu (35)
      • 2.3.1. Thiết kế nghiên cứu (35)
      • 2.3.2. Cỡ mẫu nghiên cứu (35)
      • 2.3.3. Phương pháp chọn mẫu (36)
      • 2.3.4. Công cụ nghiên cứu (36)
      • 2.3.5. Phương pháp thu thập số liệu (39)
    • 2.4. Xử lý và phân tích số liệu (42)
    • 2.5. Sai số gặp phải và cách khắc phục (45)
    • 2.6. Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu (45)
      • 2.6.1. Đảm bảo tính chính xác của nghiên cứu (45)
      • 2.6.2. Đạo đức nghiên cứu (51)
  • Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (0)
    • 3.1. Một số đặc điểm của đối tượng nghiên cứu (52)
    • 3.2. Trải nghiệm của cán bộ y tế chăm sóc sản phụ mắc COVID-19 (54)
      • 3.2.1. Trải nghiệm về tâm lý/tinh thần (55)
      • 3.2.2. Những thách thức mới khi làm việc trong cơ sở COVID-19 (61)
      • 3.2.3. Thách thức nghề nghiệp (66)
      • 3.2.4. Trải nghiệm sự thay đổi và nâng cao khả năng ứng phó với đại dịch (75)
  • Chương 4: BÀN LUẬN (0)
    • 4.1. Các trải nghiệm về tâm lý, tinh thần (79)
    • 4.2. Các trải nghiệm về thách thức khi làm việc trong cơ sở COVID-19 (82)
    • 4.3. Các trải nghiệm về thách thức nghề nghiệp (85)
    • 4.4. Các trải nghiệm sự thay đổi và nâng cao khả năng ứng phó với đại dịch (Duy trì sức khoẻ thể chất và tinh thần) (88)
    • 4.5. Ưu điểm và hạn chế của nghiên cứu (91)
      • 4.5.1. Ưu điểm của nghiên cứu (91)
      • 4.5.2. Hạn chế của nghiên cứu (91)

Nội dung

Microsoft Word bùi thỉ thanh BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH BÙI THỊ THANH TRẢI NGHIỆM CỦA ĐIỀU DƯỠNG, HỘ SINH TRỰC TIẾP CHĂM SÓC SẢN PHỤ MẮC COVID 19 TẠI BỆNH VIỆ[.]

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

BÙI THỊ THANH

TRẢI NGHIỆM CỦA ĐIỀU DƯỠNG, HỘ SINH TRỰC TIẾP CHĂM SÓC SẢN PHỤ MẮC COVID - 19 TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN HÀ NỘI CƠ SỞ 2 NĂM 2022

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG

NAM ĐỊNH – 2022

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

BÙI THỊ THANH

TRẢI NGHIỆM CỦA ĐIỀU DƯỠNG, HỘ SINH TRỰC TIẾP CHĂM SÓC SẢN PHỤ MẮC COVID - 19 TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN HÀ NỘI CƠ SỞ 2 NĂM 2022

Ngành: Điều dưỡng

Mã số: 8720301

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS.BS Trần Văn Long

NAM ĐỊNH – 2022

Trang 3

TÓM TẮT

Mục tiêu: Khám phá, mô tả và phân tích để hiểu sâu hơn bản chất những trải nghiệm của các Điều dưỡng và Hộ sinh trong quá trình trực tiếp chăm sóc Sản phụ mắc COVID 19 tại Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội Cơ sở 2

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu định tính hiện tượng học được thực hiện bằng cách phỏng vấn sâu 15 cán bộ y tế tham gia chăm sóc, điều trị COVID-19 tại cơ sở 2 - Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội từ tháng 3 đến tháng 5 năm 2022 Sử dụng

bộ công cụ phỏng vấn sâu được xây dựng theo mô hình lý thuyết thích ứng của Roy’s “Hệ thống thích ứng với con người của Roy” Dữ liệu được phân tích bằng phương pháp quy nạp trên cơ sở bảy giai đoạn của Colaizzi

Kết quả: Bằng cách phân tích và mô tả trải nghiệm làm việc trong đại dịch COVID-19, chúng ta có thể hiểu sâu hơn về bản chất tâm lý, cách thức thích nghi

và có thể sử dụng làm cơ sở để đưa ra những chiến lược mới và cải thiện Trải nghiệm của những điều dưỡng, hộ sinh chăm sóc sản phụ mắc COVID-19 được khám phá với bốn trải nghiệm thách thức, bao gồm trải nghiệm về tâm lý/tinh thần (năm chủ đề phụ), những thách thức khi làm việc trong cơ sở COVID-19 (bốn chủ

đề phụ), thách thức nghề nghiệp (sáu chủ đề phụ), Trải nghiệm sự thay đổi và nâng cao khả năng ứng phó với đại dịch (ba chủ đề phụ) Qua những phát hiện dựa trên cách phân loại hiện tại, dường như có sự đan xen giữa các tác động tiêu cực và tích cực với các hoạt động tâm lý, xã hội và nghề nghiệp

Kết luận: Các cán bộ y tế chăm sóc sản phụ mắc COID-19 đã gặp phải căng thẳng về cảm xúc và tâm lý cũng như những thách thức trong công việc trong đại dịch COVID-19 Do đó, cần được hỗ trợ để bảo vệ tình trạng sức khỏe thể chất và tinh thần của cán bộ y tế là vấn đề cần được ưu tiên trong cuộc khủng hoảng COVID-19

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới các Thầy trong Ban Giám hiệu, Thầy cố vấn học tập, cùng các Thầy, Cô giáo trường Đại học Điều Dưỡng Nam Định đã tạo điều kiện, hết lòng truyền thụ kiến thức và luôn giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường

Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng, biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới thầy hướng dẫn: TS.BS Trần Văn Long đã tận tâm hướng dẫn tôi, đã cho tôi những lời khuyên quý báu, những khích lệ kịp thời và đặc biệt Thầy luôn tạo cảm hứng giúp tôi học hỏi những kiến thức mới trong suốt quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp này

Tôi xin chân thành cảm ơn các Bác sỹ và Điều dưỡng, Hộ sinh tại bệnh viện Phụ Sản Hà Nội đã quan tâm giúp đỡ tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện luận văn

Cuối cùng tôi xin được gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè đã luôn giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn

Xin chân thành cảm ơn!

Tác giả luận văn

Bùi Thị Thanh

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Đây là luận văn do chính tôi trực tiếp thực hiện nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của thầy hướng dẫn khoa học TS.BS.Trần Văn Long

Những dữ liệu và thông tin trong nghiên cứu hoàn toàn chính xác, trung thực và khách quan Đã được xác nhận của cơ sở nơi mà tôi thực hiện đề tài Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về những cam đoan này!

Hà Nội, ngày tháng năm 2022

Tác giả luận văn

Bùi Thị Thanh

Trang 6

MỤC LỤC

TÓM TẮT i

LỜI CẢM ƠN ii

LỜI CAM ĐOAN iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC CÁC BẢNG iv

DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH iv

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

MỤC TIÊU 3

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Bệnh Coronavirus 2019 (COVID - 19) 4

1.1.1 Lịch sử 4

1.1.2 Định nghĩa 4

1.1.3 Các bệnh do Coronavirus ở người 5

1.1.4 Phòng bệnh 5

1.1.5 Điều trị 7

1.2 Sản phụ mắc COVID-19 7

1.2.1 Nguy cơ của các sản phụ mắc COVID-19 7

1.2.2 Chăm sóc sản phụ mắc COVID-19 7

1.2.3 Hậu quả có thể xảy ra khi sản phụ mắc COVID - 19 8

1.3 Vai trò của điều dưỡng, hộ sinh trong chăm sóc sản phụ COVID 19 8

1.4 Trải nghiệm sống 10

1.4.1 Khái niệm 10

1.4.2 Các loại trải nghiệm sống 10

1.4.3 Trải nghiệm sống của CBYT trực tiếp chăm sóc người bệnh mắc COVID-19 .11

1.4.4 Mức độ ảnh hưởng tới sức khỏe, tâm lý của CBYT trực tiếp chăm sóc sản phụ mắc COVID-19 11

Trang 7

1.5 Mô hình thích ứng Roy’s 14

1.5.1 Quá trình hình thành học thuyết 14

1.5.2 Thành phần chính của học thuyết 15

1.5.3 Các hình thái của học thuyết 17

1.5.4 Sử dụng khung lý thuyết cho nghiên cứu 19

1.6 Phương pháp nghiên cứu định tính 20

1.6.1 Tại sao sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính? 20

1.6.2 Cơ sở lý luận của nghiên cứu định tính 21

1.7 Các phương pháp tiếp cận nghiên cứu định tính có thể được sử dụng 21

1.8 Địa bàn nghiên cứu 24

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25

2.1 Đối tượng nghiên cứu 25

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 25

2.3 Phương pháp nghiên cứu 25

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu 25

2.3.2 Cỡ mẫu nghiên cứu 25

2.3.3 Phương pháp chọn mẫu 26

2.3.4 Công cụ nghiên cứu 26

2.3.5 Phương pháp thu thập số liệu 29

2.4 Xử lý và phân tích số liệu 32

2.5 Sai số gặp phải và cách khắc phục 35

2.6 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 35

2.6.1 Đảm bảo tính chính xác của nghiên cứu 35

2.6.2 Đạo đức nghiên cứu 41

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 42

3.1 Một số đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 42

3.2 Trải nghiệm của cán bộ y tế chăm sóc sản phụ mắc COVID-19 44

3.2.1 Trải nghiệm về tâm lý/tinh thần 45

3.2.2 Những thách thức mới khi làm việc trong cơ sở COVID-19 51

Trang 8

3.2.3 Thách thức nghề nghiệp 56

3.2.4 Trải nghiệm sự thay đổi và nâng cao khả năng ứng phó với đại dịch 65

Chương 4: BÀN LUẬN 69

4.1 Các trải nghiệm về tâm lý, tinh thần 69

4.2 Các trải nghiệm về thách thức khi làm việc trong cơ sở COVID-19 72

4.3 Các trải nghiệm về thách thức nghề nghiệp 75

4.4 Các trải nghiệm sự thay đổi và nâng cao khả năng ứng phó với đại dịch (Duy trì sức khoẻ thể chất và tinh thần) 78

4.5 Ưu điểm và hạn chế của nghiên cứu 81

4.5.1 Ưu điểm của nghiên cứu 81

4.5.2 Hạn chế của nghiên cứu 81

Ý NGHĨA 82

KHUYẾN NGHỊ 83 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Phụ lục 1: ĐÁNH GIÁ TÍNH PHÙ HỢP/GIÁ TRỊ VỀ NỘI DUNG CỦA BỘ CÂU HỎI Phụ lục 2: BẢN ĐỒNG THUẬN THAM GIA NGHIÊN CỨU

Phụ lục 3: PHIẾU HƯỚNG DẪN PHỎNG VẤN SÂU

Phụ lục 4: BIÊN BẢN PHỎNG VẤN

Phụ lục 5: DANH SÁCH ĐỐI TƯỢNG THAM GIA NGHIÊN CỨU

Trang 9

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

COVID-19 Virus corona

WHO World Health Organization (Tổ chức Y Tế Thế Giới) PPE Personal protective equipment (Thiết bị bảo vệ cá nhân)

TT ĐT – CĐT Trung tâm Đào tạo – Chỉ đạo tuyến

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Các câu hỏi phỏng vấn 26

Bảng 2.2 Kết quả đánh giá của các chuyên gia 28

Bảng 2.3 Các giai đoạn phân tích dữ liệu bằng phương pháp của Colaizzi 33

Bảng 2.4 Quy trình tiêu chí chuẩn của Standards Reporting Qualitative Research – SRQR 36

Bảng 3.1 Một số đặc điểm nhân khẩu học của cán bộ y tế tham gia 42

Bảng 3.2 Thông tin của người tham gia 43

Bảng 3.3 Các chủ đề chính 44

DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH Hình 1.1 Hệ thống thích ứng với con người của Roy 17

Hình 1.2 Con người như một hệ thống thích ứng 20

Hình 3.1 Hệ thống thích ứng của cán bộ y tế 45

Trang 11

Đại dịch COVID-19 dữ dội ảnh hưởng nghiêm trọng sức khỏe con người, đảo lộn cuộc sống toàn nhân loại, tác động toàn diện lên mọi lĩnh vực của tất cả các quốc gia trên thế giới Coronavirus với các biến thể đáng lo ngại như Delta; Omicron có tỷ lệ lây nhiễm rất cao, tạo rất nhiều áp lực cho hệ thống Y tế Điều dưỡng, hộ sinh là những người ở tuyến đầu chăm sóc người bệnh mắc COVID-19, được xác định là đối tượng dễ bị tổn thương do phơi nhiễm Tháng 10 năm 2020, 1.500 điều dưỡng trên 44 quốc gia chết vì COVID-19, bằng số điều dưỡng đã chết trong Chiến tranh thế giới thứ nhất [7] Đối mặt đột ngột với tình trạng khẩn cấp của đại dịch nhiều nguy cơ cao, có thể dẫn tới các vấn đề sức khỏe của lực lượng này

Sự cần thiết và tầm quan trọng của trạng thái tâm lý cán bộ y tế được nhấn mạnh [8] Đại dịch COVID-19 ảnh hưởng tiêu cực tới sức khoẻ tâm thần của cán bộ y tế; tăng tỷ lệ mất ngủ, mệt mỏi, lo âu, stress [9-16] Nghiên cứu định tính ở Oman

và Trung Quốc cũng chỉ ra rằng nhân viên y tế tuyến đầu có rối loạn tâm lý, bất lực, trầm cảm, lo lắng [17, 18] Trải nghiệm tâm lý tiêu cực có thể cản trở nhân viên y tế chăm sóc người bệnh mắc COVID-19 [19] Trong đại dịch COVID-19, khả năng phục hồi tâm lý; chiến lược đối phó hiệu quả đã thúc đẩy phát triển tâm lý tích cực

Trang 12

của cán bộ y tế [20] và được coi là yếu tố bảo vệ chống lại tác động tâm lý bất lợi của các tình huống căng thẳng hoặc sang chấn [21]

Tại Việt Nam số ca nhiễm tăng mạnh, ca nặng và tử vong rất nhiều khiến cán bộ

y tế áp lực càng tăng cao Cạn kiệt sức lực vì cuộc chiến căng thẳng, áp lực và kéo dài dẫn đến hàng loạt cán bộ y tế nghỉ việc [22, 23] Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội là đơn vị điều trị và chăm sóc sản phụ mắc COVID-19 trong bối cảnh số ca bệnh tăng nhanh tại Thành phố Hà Nội, trung bình mỗi ngày tăng 3 nghìn ca Phụ nữ mang thai và trẻ em là nhóm người dễ bị tổn thương nhất trong bất kỳ thảm họa nào và cần được chăm sóc đặc biệt Phụ nữ mang thai dễ bị nhiễm trùng đường hô hấp do virus và có nguy cơ gia tăng những bất lợi khi mang thai [24] Một nghiên cứu ở Anh chỉ ra rằng COVID-19 gây ra tỉ lệ lo lắng, trầm cảm, đau khổ ở phụ nữ mang thai [25] Điều này mang lại nhiều thách thức, trải nghiệm chưa từng có trước đây của cán bộ y tế tại Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội Vậy cán bộ y tế chăm sóc sản phụ mắc COVID-19 phải đối mặt với trải nghiệm, thách thức gì? Trạng thái tâm lý của họ diễn biến như thế nào? Trong bối cảnh đại dịch nghiêm trọng, họ đã có những phản ứng gì về khả năng phục hồi, chiến lược ứng phó để thích nghi với tình trạng khẩn cấp của đại dịch COVID-19? Điều kiện làm việc và những hỗ trợ xã hội nào được sử dụng để đáp ứng nhu cầu của cán bộ y tế?

Để trả lời các câu hỏi trên, một nghiên cứu định tính với đặc điểm là mô tả chuyên sâu các hiện tượng được sử dụng để mô tả những trải nghiệm của cán bộ y

tế từ cuộc sống, sự kiện và xu hướng [26] Điều mà nghiên cứu định lượng không làm được, đã được lựa chọn cho nghiên cứu về trải nghiệm của cán bộ y tế trực tiếp chăm sóc cho sản phụ mắc COVID-19 Nhằm tìm hiểu, khám phá, hiểu sâu hơn những trải nghiệm thực tế của cán bộ y tế trực tiếp chăm sóc người bệnh COVID-

19, là vấn đề cấp thiết giúp cho việc đưa ra những chiến lược chăm sóc sức khỏe, đặc biệt là chăm sóc sức khỏe tâm thần cho cán bộ y tế, hướng tới nâng cao chất lượng chăm sóc sản phụ mắc COVID-19 tốt hơn trong tương lai Để thực hiện mong muốn này, Học viên đề xuất thực hiện đề tài: “ Trải nghiệm của Điều dưỡng, Hộ sinh trực tiếp chăm sóc sản phụ mắc COVID-19 tại cơ sở 2 – Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội năm 2022” làm luận văn Thạc sỹ

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Bệnh Coronavirus 2019 (COVID - 19)

1.1.1 Lịch sử

Bệnh do Coronavirus lây lan nhanh chóng trên toàn cầu được báo cáo lần đầu tiên tại Vũ Hán, Trung Quốc vào tháng 12 năm 2019 Các trường hợp COVID-19 đầu tiên bên ngoài Trung Quốc đã được xác nhận ở Thái Lan vào giữa tháng 1 năm

2020, tiếp theo là các trường hợp đầu tiên được xác nhận ở Hoa Kỳ (Mỹ) vào ngày

21 tháng 1 và nhiều hơn nữa ở Pháp vài ngày sau đó Tính đến ngày 11 tháng 2 năm

2020, dữ liệu từ Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cho thấy hơn 43.000 trường hợp được xác nhận đã được xác định ở 28 quốc gia/vùng lãnh thổ, với hơn 99% trường hợp được phát hiện ở Trung Quốc WHO thông báo rằng căn bệnh do Coronavirus mới gây ra sẽ được đặt tên là COVID-19 vào ngày 11 tháng 2 năm 2020 và tuyên

bố là cấp độ đại dịch Cho đến thời điểm hiện tại trên thế giới có 224 quốc gia, vùng lãnh thổ có người bệnh mắc COVID-19 Thởi điểm diễn ra nghiên cứu này (tháng 01.2022), đã có trên 300 triệu người bị nhiễm bệnh trên toàn thế giới, trong đó có trên 5.5 triệu người chết vì COVID-19

Tại Việt Nam, theo báo cáo tại Cổng thông tin của Bộ Y Tế về đại dịch COVID-19, đã có trên 2 triệu người bị nhiễm bệnh và trên 35 nghìn người chết [27] Tại Thành phố Hà Nội tính đến ngày 14 tháng 1 năm 2022, đã có 79.789 ca mắc, 235 ca tử vong, trung bình mỗi ngày tăng hơn 2 nghìn ca

1.1.2 Định nghĩa

Hội chứng hô hấp cấp tính nghiêm trọng Coronavirus 2 (SARS-CoV-2; trước đây được tạm gọi là bệnh Coronavirus mới 2019 hoặc 2019-nCoV) (COVID-19) SARS-CoV-2 có liên quan chặt chẽ với hai loại Coronavirus gây hội chứng hô hấp cấp tính nặng có nguồn gốc từ dơi là bat-SL-CoVZC45 và bat-SL-CoVZXC21 Nó lây truyền từ người sang người qua các giọt nhỏ hoặc tiếp xúc trực tiếp và sự lây nhiễm được ước tính có thời gian ủ bệnh trung bình là 6,4 ngày và số lượng sinh sản

cơ bản là 2,24 - 3,58 [28]

Trang 15

1.1.3 Các bệnh do Coronavirus ở người

Coronavirus được đặt tên cho các gai giống như vương miện trên bề mặt của chúng Có bốn nhóm phụ chính của Coronavirus, được gọi là alpha, beta, gamma và delta Coronavirus ở người lần đầu tiên được xác định vào giữa những năm

1960 Một số những biến thể gây bệnh trầm trọng mới đây:

- MERS-CoV (Gây ra Hội chứng Hô hấp Trung Đông)

- SARS-CoV (Gây ra hội chứng hô hấp cấp tính nghiêm trọng)

- SARS-CoV-2 (Gây bệnh Coronavirus 2019, hoặc COVID-19 )

Mọi người trên khắp thế giới thường bị nhiễm Coronavirus 229E, NL63, OC43 và HKU1 ở người Đôi khi Coronavirus lây nhiễm sang động vật có thể tiến hóa và làm cho con người bị bệnh và trở thành một loại Coronavirus mới ở người Ba ví dụ gần đây về điều này là 2019-nCoV, SARS-CoV và MERS-CoV [29] Sau khi nhiễm Coronavirus gây COVID-19, người bệnh có thể bị suy hô hấp,

có thể dẫn đến tử vong Những người cao tuổi và những người lớn ở mọi lứa tuổi có nguy cơ mắc bệnh nặng do virus gây ra COVID-19 cao hơn khi mắc những bệnh nền bệnh phổi mãn tính (bao gồm giãn phế quản, loạn sản phế quản phổi, bệnh phổi

kẽ, tăng áp phổi, thuyên tắc phổi, bệnh lao) và bệnh gan mãn tính (bao gồm xơ gan, bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu, bệnh gan do rượu và viêm gan tự miễn); các rối loạn sức khỏe tâm thần (chẳng hạn như rối loạn tâm trạng bao gồm trầm cảm và rối loạn phổ tâm thần phân liệt) [30]

1.1.4 Phòng bệnh

Các biện pháp phòng ngừa chung

Sự lây truyền SARS-CoV-2 được cho là chủ yếu xảy ra khi tiếp xúc với các giọt bắn đường hô hấp Phơi nhiễm có thể xảy ra khi ai đó hít phải các giọt hoặc hạt

có chứa virus (với nguy cơ lây truyền cao nhất xảy ra trong phạm vi 2 m tính từ nguồn lây nhiễm) hoặc chạm vào dịch tiết của họ bằng tay đã bị nhiễm virus Các giọt hoặc hạt thở ra cũng có thể lắng đọng virus trên dịch tiết tiếp xúc Ít phổ biến hơn, có thể xảy ra lây truyền các giọt nhỏ và các hạt SARS-CoV-2 trong không khí

Trang 16

cho những người ở cách xa hơn 2 m; trong một số trường hợp hiếm hoi, những người đi qua phòng trước đó đã có người truyền nhiễm ở có thể bị nhiễm bệnh Nhiễm SARS-CoV-2 do lây truyền các hạt nhỏ trong không khí có xu hướng xảy ra sau khi phơi nhiễm kéo dài (tức là > 15 phút) với người bị nhiễm đang ở trong không gian kín với hệ thống thông gió kém Có thể giảm nguy cơ lây truyền SARS-CoV-2 bằng cách che chắn khi ho và hắt hơi và duy trì khoảng cách ít nhất 2 m với những người khác Khi không thể giữ khoảng cách nhất quán, việc che mặt có thể làm giảm sự lây lan của các giọt truyền nhiễm từ những người bị nhiễm SARS-CoV-

2 sang những người khác Rửa tay thường xuyên cũng làm giảm nguy cơ nhiễm trùng một cách hiệu quả Các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe nên tuân theo các khuyến nghị của Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh (CDC) về kiểm soát nhiễm trùng và sử dụng các thiết bị bảo vệ cá nhân thích hợp [31]

Vaccine

Có nhiều những nghiên cứu tạo ra những vaccine phòng ngừa COVID-19 đã

và đang diễn ra trên thế giới và đã có hiệu quả rất tốt Một số đã được cấp phép và góp phần chủ đạo đem lại thành công to lớn trong việc khống chế đại dịch này Tiêm phòng là cách hiệu quả nhất để ngăn ngừa lây nhiễm SARS-CoV-2 Khuyến nghị tiêm chủng COVID-19 càng sớm càng tốt cho tất cả những người đủ điều kiện Tiêm phòng cho người mang thai hoặc cho con bú

Những người mang thai và cho con bú không được đưa vào các thử nghiệm vaccine COVID-19 ban đầu Tuy nhiên, CDC, Trường Cao đẳng Sản phụ khoa Hoa

Kỳ (ACOG) và Hiệp hội Y học Bà mẹ-Thai nhi khuyến cáo nên tiêm phòng cho những người mang thai và cho con bú dựa trên dữ liệu về tính an toàn và hiệu quả tích lũy được về việc sử dụng các loại vaccine này ở người mang thai, cũng như tăng nguy cơ mắc bệnh nặng ở những người mang thai với COVID-19 Các tổ chức này cũng khuyến nghị tiêm chủng cho những người đang cố gắng mang thai hoặc những người có thể mang thai trong tương lai [31]

Trang 17

1.1.5 Điều trị

Các nhà nghiên cứu đã đề xuất nhiều phương pháp khác nhau để đối mặt với COVID-19 Ngược lại, họ đã không đạt được một phương pháp điều trị dứt điểm [32] Cho đến nay, vẫn chưa có phương pháp điều trị đặc hiệu nào đối với COVID-

19 Chủ yếu nâng cao thể trạng điều trị triệu chứng và phòng ngừa, giảm thiểu biến chứng của bệnh Điều này làm gia tăng sự lo lắng và sợ hãi COVID-19 của cán bộ y

tế và người bệnh trước một căn bệnh mới và chưa có phương pháp điều trị

1.2 Sản phụ mắc COVID-19

1.2.1 Nguy cơ của các sản phụ mắc COVID-19

Một nghiên cứu đánh giá có hệ thống và phân tích tổng hợp dữ liệu về phụ nữ mang thai với COVID-19 đã được xác nhận: Biểu hiện lâm sàng, kết quả mang thai

và chu sinh dựa trên mức độ nghiêm trọng của COVID-19, kết quả cụ thể là 31.016 phụ nữ mang thai từ 62 nghiên cứu đã được thu nhận Phụ nữ trung bình 30,9 tuổi, hầu hết (77,7%) đang ở trong giai đoạn mang thai ba tháng cuối và 16,4% phát triển COVID-19 nặng Gần một nửa là không có triệu chứng, trong khi các triệu chứng được báo cáo phổ biến nhất là ho, sốt, mệt mỏi và chứng thiếu máu/chứng già Khoảng 7% được đưa vào phòng chăm sóc đặc biệt (ICU), 8% phải thở máy và 2% phụ nữ tử vong Gần 80% phụ nữ đã sinh con; 48,4% sinh mổ Trong số trẻ sơ sinh, 23,4% là sinh non (< 37 tuần), 16,6% nhẹ cân và 23,7% được đưa vào ICU sơ sinh Tổng cộng có 21 trường hợp thai chết lưu (1,6%) và 24 trường hợp tử vong sơ sinh (1,6%), trong khi 50 trẻ sơ sinh (3,5%) dương tính với COVID-19 Các nghiên cứu so sánh phụ nữ mang thai bị COVID-19 nặng và không nghiêm trọng cho thấy phụ nữ bị COVID-19 nặng là 3,7 tuổi và nguy cơ mắc COVID-19 nặng cao hơn 1,5 lần ở phụ nữ > 35 tuổi Nguy cơ mắc COVID-19 nghiêm trọng cao hơn đáng kể ở những phụ nữ béo phì, hút thuốc, tiểu đường và tiền sản giật Nguy cơ sinh non ở những phụ nữ bị COVID-19 nặng gần gấp 2,4 lần [33]

1.2.2 Chăm sóc sản phụ mắc COVID-19

Phụ nữ mang thai dường như không có nhiều khả năng bị nhiễm trùng hơn so

Trang 18

với dân số chung Tuy nhiên, bản thân việc mang thai sẽ làm thay đổi hệ thống miễn dịch của cơ thể và phản ứng đối với các bệnh nhiễm trùng do virus nói chung, đôi khi có thể liên quan đến các triệu chứng nghiêm trọng hơn và điều này cũng tương

tự đối với COVID-19 [34]

Những sản phụ mắc COVID-19 được chăm sóc đặc biệt tại cơ sở Y tế trong môi trường cách ly nghiêm ngặt và có thể chăm sóc trong thời gian kéo dài Cách ly kéo dài thể hiện phương pháp chăm sóc đích thực cho cả người bệnh và cán bộ y tế 1.2.3 Hậu quả có thể xảy ra khi sản phụ mắc COVID - 19

Với số liệu từ giai đoạn đầu của đại dịch, có thể yên tâm rằng tỷ lệ tử vong mẹ

và trẻ sơ sinh và lây truyền dọc do SARS-CoV-2 là thấp [35] Đối với phụ nữ có thai mặc dù rủi ro tổng thể là thấp, những người đang mang thai hoặc gần đây đang mang thai có nguy cơ mắc bệnh nặng do COVID-19 cao hơn so với những người không mang thai Bệnh nặng có nghĩa là bạn có thể phải nhập viện, chăm sóc đặc biệt hoặc đặt máy thở để giúp thở Những người có COVID-19 trong khi mang thai cũng có nguy cơ sinh non (sinh con sớm hơn 37 tuần) và thai chết lưu và có thể tăng nguy cơ mắc các biến chứng thai kỳ khác [36] Phụ nữ mang thai có các bệnh lý tiềm ẩn, chẳng hạn như bệnh tiểu đường, cũng có thể có nguy cơ bị bệnh nặng

do COVID-19 thậm chí còn cao hơn Một số nghiên cứu cho thấy rằng phụ nữ mang thai với COVID-19 cũng có nhiều khả năng sinh non và sinh mổ hơn và con của họ có nhiều khả năng được đưa vào đơn vị sơ sinh hơn

1.3 Vai trò của điều dưỡng, hộ sinh trong chăm sóc sản phụ COVID 19

Cán bộ y tế đóng một vai trò quan trọng trong việc phòng và chữa bệnh Bất chấp rủi ro cá nhân lớn, các điều dưỡng, hộ sinh trên toàn cầu tăng cường thách thức của việc duy trì và cải thiện sức khỏe của người dân thế giới trong đại dịch COVID-19 Chăm sóc người bệnh là một quá trình phức tạp Cán bộ y tế (CBYT) phải chăm sóc đảm bảo theo đúng hướng dẫn trong sự tương tác của con người để cung cấp dịch vụ và đáp ứng sự hài lòng của người bệnh Trong bối cảnh đại dịch COVID-19 kéo dài và ngày càng phức tạp, dữ liệu hạn chế về nguy cơ mắc bệnh

Trang 19

nặng và thiếu các liệu pháp can thiệp và thuốc cụ thể đã thách thức cả việc điều trị

và chăm sóc người bệnh; tất cả các phương pháp điều trị đều theo triệu chứng và được thực hiện theo kinh nghiệm Ngoài ra, người bệnh mắc COIVD-19 cần được chăm sóc hỗ trợ, chuyên biệt, đáng chú ý là chuyên môn, kiến thức, thái độ và khả năng của CBYT lành nghề, cũng như sự sẵn có của trang thiết bị và cơ sở hạ tầng cần thiết Thiếu cơ sở vật chất và cán bộ y tế, nhầm lẫn trong hệ thống điều trị, tính chất khó lường của bệnh, cách ly xã hội và sự lây lan rộng rãi của virus đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng đối với hệ thống chăm sóc sức khỏe ở hơn 200 quốc gia trên toàn cầu Chất lượng chăm sóc điều dưỡng cho người bệnh với COVID-19

là một thách thức lớn

Cán bộ y tế tiếp xúc nhiều nhất với COVID-19 trong thời gian nằm viện và dành nhiều thời gian cho việc chăm sóc bệnh nhân Bản thân các CBYT phải chịu rủi ro nghiêm trọng và thậm chí tử vong trong khi quản lý chăm sóc người bệnh mắc COVID-19 Với khối lượng công việc quá tải và căng thẳng, lượng người bệnh đến bệnh viện hàng ngày tăng cao, công suất bệnh viện thấp và tỷ lệ CBYT trên người bệnh không đạt tiêu chuẩn đã làm cho hiện tượng chăm sóc trở nên có vấn đề Theo đó, điều quan trọng là phải kiểm tra những trải nghiệm khi chăm sóc người bệnh mắc COVID-19 của CBYT Chăm sóc là mối quan hệ tương tác cao giữa người bệnh và CBYT có thể được khám phá bằng cách sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác nhau

Nghiên cứu định tính là một loại hình nghiên cứu khám phá và cung cấp hiểu biết sâu sắc hơn về các vấn đề trong thế giới thực Sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính có thể tăng cường hiểu biết về kinh nghiệm của CBYT từ cuộc sống, quy trình và các sự kiện khi chúng được quan sát trong môi trường tự nhiên mà không có sự can thiệp [37] Phương pháp hiện tượng học có thể cung cấp thông tin chi tiết về các tương tác giữa con người với nhau và kinh nghiệm sống của các cán

bộ y tế chăm sóc người bệnh COVID-19 và có thể được sử dụng để khám phá ý nghĩa nhận thức và những thách thức của những trải nghiệm này

Trang 20

1.4 Trải nghiệm sống

1.4.1 Khái niệm

Trải nghiệm là tiến trình hay là quá trình hoạt động để thu thập kinh nghiệm Trên tiến trình đó có thể thu thập được những kinh nghiệm tốt hoặc xấu, tích cực hay tiêu cực, không rõ ràng tùy theo nhiều yếu tố khác như môi trường sống, cách nhìn nhận của mỗi người Hiểu theo nghĩa chung nhất, trải nghiệm là bất kì một trạng thái có màu sắc xúc cảm nào được chủ thể cảm nhận, trải qua, đọng lại thành

bộ phận (cùng với tri thức, ý thức ) trong đời sống tâm lí của từng người Theo nghĩa hẹp hơn, chuyên biệt hơn của tâm lí học, là những tín hiệu bên trong, nhờ đó nghĩa của các sự kiện đang diễn ra đối với cá nhân được ý thức, chuyển thành ý riêng của cá nhân, góp phần lựa chọn tự giác các động cơ cần thiết, điều chỉnh hành

1.4.2 Các loại trải nghiệm sống

Trong quá trình trải nghiệm để thu thập kinh nghiệm, các đối tượng có thể trải qua nhiều trải nghiệm khác nhau Trải nghiệm của mỗi người mang yếu tố cá nhân, đặc thù phụ thuộc vào hoàn cảnh sống, trạng thái tinh thần, thái độ của mỗi người Về cơ bản, có những trải nghiệm sống như sau:

- Trải nghiệm về tinh thần;

- Trải nghiệm về cảm xúc;

- Trải nghiệm về bối cảnh/môi trường/chính sách xã hội;

- Trải nghiệm đối mặt với sự kỳ thị của những người xung quanh

Trang 21

1.4.3 Trải nghiệm sống của CBYT trực tiếp chăm sóc người bệnh mắc COVID-19 Trải nghiệm của các điều dưỡng, hộ sinh trong đại dịch COVID-19 không phải là chưa từng có; các chủ đề nảy sinh từ các trận đại dịch và đại dịch trước đây đã cộng hưởng đáng kể với những gì chúng ta đang nghe về tác động của COVID-19 trên toàn cầu ngày nay Nhiều nghiên cứu của các nước trên Thế giới: Trung Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ, Tây Ban Nha, Brazil, Hoa Kỳ và … báo cáo rằng tình trạng kiệt sức về thể chất và tinh thần đã được xác định ở các nhân viên y tế làm việc trong cơ sở điều trị bệnh nhân COVID-19 [40] Những trải nghiệm tâm lý tiêu cực nổi lên mạnh mẽ: lo lắng, căng thẳng, sự sợ hãi, cảm xúc đau khổ, buồn bã [41] Nhiều quốc gia ghi nhận nhân viên y tế bị lây nhiễm và tử vong khi đang làm nhiệm vụ, thậm chí là tự sát Việc đồng nghiệp bị nhiễm bệnh và tử vong là một thách thức trực tiếp và cụ thể đối với các cán bộ y tế không bị nhiễm bệnh và có thể làm trầm trọng thêm tình trạng tinh thần của họ [20] Các vấn đề thể chất tiêu cực cũng đã được thảo luận, với việc người bệnh mắc COVID‐19 gia tăng, nhân viên y tế tuyến đầu làm việc với khối lượng công việc dày đặc và kéo dài, họ có xu hướng bị kiệt sức về thể chất và cạn kiệt cảm xúc [42] Những vấn đề sức khỏe này có liên quan đến những trải nghiệm tâm lý tiêu cực và có thể làm giảm chất lượng sống của cán bộ y tế

Đại dịch COVID-19 được phân tích là một sự kiện đau thương dẫn đến hậu quả bất lợi đối với sức khỏe của lực lượng y tế trên toàn thế giới Tuy nhiên các kết quả tích cực xuất hiện [43] sau những chấn thương gây ra bởi trải nghiệm tiêu cực

về thể chất và tâm lý, trải nghiệm tiêu cực cũng xúc tác cho sự phát triển của thay đổi tích cực, những trải nghiệm thay đổi tích cực đóng vai trò như một bước đệm chống lại trải nghiệm tiêu cực [20] Đối phó và thích nghi với chấn thương mang lại

sự trưởng thành sau chấn thương [44]

1.4.4 Mức độ ảnh hưởng tới sức khỏe, tâm lý của CBYT trực tiếp chăm sóc sản phụ mắc COVID-19

Khi chăm sóc trực tiếp cho những sản phụ mắc COVID-19, điều dưỡng, hộ sinh có thể phải đối mặt với nhiều thay đổi khó khăn và thách thức mà trước kia họ

Trang 22

chưa từng biết đến, thông tin hạn chế về COVID‐19, nhiệm vụ không thể đoán trước và thực hành đầy thách thức, hỗ trợ không đầy đủ, lo lắng về gia đình, căng thẳng về cảm xúc và tâm lý Một nghiên cứu định tính tại Tây Ban Nha nhấn mạnh rằng dịch vụ chăm sóc sinh nở được cung cấp cho một phụ nữ bị nghi ngờ hoặc đã xác nhận nhiễm COVID-19 khác với một ca sinh “bình thường” Khi đại dịch phát triển, các cán bộ y tế chăm sóc sức khỏe có thể thấy mình không thể cung cấp một cách thực tế tiêu chuẩn và mức độ chăm sóc mà họ thường cung cấp [45]

Là nhóm có khả năng lây nhiễm cao, cán bộ y tế phải đối mặt với những thách thức tâm lý nhất định trong quá trình đối mặt với dịch bệnh Các nghiên cứu đã chỉ

ra rằng những nhân viên y tế đó sợ lây nhiễm và lây nhiễm cho gia đình, bạn bè và đồng nghiệp của họ, cảm thấy không chắc chắn và bị kỳ thị, cho biết họ miễn cưỡng làm việc hoặc dự định từ chức, cho biết họ đã trải qua các triệu chứng căng thẳng,

lo lắng và trầm cảm ở mức độ cao, điều này có thể có tác động tâm lý lâu dài Các nhân viên bệnh viện cảm thấy lo lắng hơn nhiều về tình trạng lây nhiễm, áp lực, kiệt sức và khối lượng công việc trong đại dịch [12, 45]

Một nghiên cứu ở Thổ Nhĩ Kỳ của Aksoy & Koçak năm 2020 báo cáo tương

tự rằng các điều dưỡng, hộ sinh cho thấy phản ứng tâm lý mạnh mẽ bao gồm lo lắng, bất an, sợ hãi và khó xử lý do COVID-19 [46] Các CBYT làm việc trong các đơn vị chăm sóc thai sản và trẻ sơ sinh có thể cảm thấy căng thẳng hơn vì họ chăm sóc cho cả bà mẹ và con của họ [47, 48] Một thiết kế định tính mô tả kinh nghiệm sống của y tá chăm sóc chu sinh và trẻ sơ sinh tại 10 bệnh viện ở 5 thành phố của Hàn Quốc đã chỉ ra ba chủ đề chính nổi lên như sau: “nỗ lực hết sức để ngăn ngừa lây nhiễm COVID-19”; “chăm sóc phụ nữ chu sinh và trẻ sơ sinh bị nhiễm hoặc nghi ngờ nhiễm COVID-19” và “căng thẳng trong công việc và tăng trưởng nghề nghiệp trong thời kỳ đại dịch” Những người tham gia báo cáo rằng họ cần được hỗ trợ nhiều hơn về nhân sự và sức khỏe tinh thần [24]

Tại Việt Nam chưa có nghiên cứu trực tiếp nào về trải nghiệm sống của điều dưỡng, hộ sinh chăm sóc trực tiếp người bệnh mắc COVID-19 Tại Hội thảo trực tuyến được tổ chức bởi Đơn vị Nghiên cứu Lâm sàng Oxford Việt Nam (Chăm sóc

Trang 23

sức khỏe Chương trình Tương tác), Trung tâm Nghiên cứu Cải thiện Chăm sóc Sức khỏe (CHIR) và Wake, mở trường quốc tế vào ngày 5 tháng 4 năm 2020 [49], đã chỉ ra các yếu tố chính ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần và mức độ căng thẳng của điều dưỡng, hộ sinh trong thời gian bùng phát COVID-19:

Căng thẳng và áp lực: chịu áp lực và căng thẳng rất lớn, làm việc nhiều giờ, lo lắng về sức khỏe, sự an toàn của bản thân và có trách nhiệm đảm bảo sự hồi phục hoàn toàn của người bệnh trong bối cảnh không chắc chắn

Lo sợ về sự lây lan của sự lây nhiễm trong cộng đồng: Nguy cơ lây nhiễm virus càng lớn, tác động càng lớn đến đời sống xã hội, các hoạt động tương tác của cộng đồng và làm gia tăng lo ngại về khả năng lây nhiễm thêm trong cộng đồng Điều dưỡng, hộ sinh cảm thấy có trách nhiệm trong vai trò của họ để bảo vệ cộng đồng Ảnh hưởng đến khối lượng công việc: Với số lượng lớn người bệnh nhập viện trong đại dịch COVID-19, giờ làm việc của các điều dưỡng, hộ sinh đã bị kéo dài hầu như không có thời gian để ăn, uống nước, hoặc đi vệ sinh Mặc trang phục bảo

hộ trong nhiều giờ, trở nên kiệt sức nếu không ăn hoặc ngủ đủ, mất nước do hạn chế ăn chất lỏng và lo lắng về việc tránh nhiễm trùng cho bản thân và người bệnh Các thói quen và hành vi bình thường của điều dưỡng, hộ sinh đang bị ảnh hưởng đáng kể

Sợ bị lây nhiễm: Nỗi sợ hãi và lo lắng về việc bị lây nhiễm và cách ly khỏi gia đình và trách nhiệm công việc của họ đã làm tăng đáng kể mức độ căng thẳng của cán bộ y tế

Chính sách khó hiểu và thay đổi: Các chính sách thay đổi của chính phủ về các thủ tục đối phó với virus, giảm cung cấp khẩu trang và thiết bị bảo hộ sẵn có, làm dấy lên lo ngại về cách điều dưỡng, hộ sinh có thể đảm bảo họ vẫn an toàn khi người bệnh tiếp tục đến điều trị

Thông tin từ mạng xã hội: Thông tin các bài báo trực tuyến được nhận thấy nhiều mâu thuẫn và suy đoán đã gây thêm lo lắng

Vấn đề cô lập: Các điều dưỡng, hộ sinh làm việc trực tiếp với người bệnh COVID-19 đã được cách ly với những người khác trong cộng đồng Họ bị tách khỏi gia đình và điều này gây thêm lo lắng cho các thành viên trong gia đình họ, đặc biệt

Trang 24

là con cái của họ

1.5 Mô hình thích ứng Roy’s

1.5.1 Quá trình hình thành học thuyết

Sister Callista L Roy (sinh ngày 14 tháng 10 năm 1939) là một nhà lý thuyết, giáo sư và tác giả điều dưỡng Bà được biết đến với công trình đột phá trong việc tạo ra Mô hình Điều dưỡng Thích ứng Trong thời gian làm việc để lấy bằng thạc sĩ, Mô hình của Roy được hình thành khi Roy đã gặp thử thách trong một cuộc hội thảo với Dorothy E Johnson để phát triển một mô hình khái niệm cho điều dưỡng Mô hình điều dưỡng của Johnson là động lực cho sự phát triển của Mô hình thích ứng của Roy

Mô hình thích ứng của điều dưỡng là một lý thuyết điều dưỡng nổi bật nhằm giải thích hoặc định nghĩa việc cung cấp khoa học điều dưỡng Theo lý thuyết của mình, mô hình của Callista Roy coi cá nhân như một tập hợp các hệ thống liên quan với nhau để duy trì sự cân bằng giữa các kích thích khác nhau Mô hình thích ứng Roy lần đầu tiên được trình bày trong một bài báo được xuất bản trên Tạp chí Điều dưỡng Outlook vào năm 1970 có tựa đề “Thích ứng: Khung khái niệm cho điều dưỡng” Cùng năm đó, Mô hình Điều dưỡng Thích ứng của Roy đã được điều chỉnh tại Trường Mount St Mary ở Los Angeles, California

Mô hình của Roy kết hợp các khái niệm từ Lý thuyết nhận thức mức độ thích ứng của nhà tâm lý học, sinh lý học nổi tiếng người Mỹ Harry Helson, mô hình hệ thống của Ludwig von Bertalanffy và định nghĩa hệ thống của Anatol Rapoport Đầu tiên, hãy xem xét khái niệm về một hệ thống được áp dụng cho một cá nhân Roy khái niệm hóa con người theo một quan điểm tổng thể Các khía cạnh riêng lẻ của các bộ phận hoạt động cùng nhau để tạo thành một thể thống nhất Ngoài ra, với tư cách là hệ thống sống, con người luôn tương tác với môi trường của họ Giữa hệ thống và môi trường xảy ra sự trao đổi thông tin, vật chất và năng lượng Đặc điểm của hệ thống bao gồm đầu vào, đầu ra, điều khiển và phản hồi

Trang 25

Dựa trên Roy, con người là những sinh vật tổng thể luôn tương tác với môi trường của họ Con người sử dụng một hệ thống thích nghi, cả bẩm sinh và có được,

để phản ứng lại các kích thích từ môi trường mà họ trải qua Hệ thống con người có thể là cá nhân hoặc nhóm, chẳng hạn như gia đình, tổ chức và toàn bộ cộng đồng toàn cầu

Môi trường: “Các điều kiện, hoàn cảnh và những ảnh hưởng xung quanh và ảnh hưởng đến sự phát triển và hành vi của con người hoặc nhóm người, đặc biệt xem xét sự tương hỗ của con người và nguồn lực sức khỏe bao gồm các kích thích trọng tâm, bối cảnh và dư thừa”

Môi trường được định nghĩa là những điều kiện, hoàn cảnh và những ảnh hưởng có ảnh hưởng đến sự phát triển và hành vi của con người với tư cách là một

hệ thống thích ứng Môi trường là một yếu tố kích thích hoặc đầu vào đòi hỏi con người phải thích nghi Những kích thích này có thể tích cực hoặc tiêu cực Roy đã phân loại những kích thích này thành tiêu điểm, ngữ cảnh và dư lượng Các kích thích tập trung đối đầu với hệ thống của con người và đòi hỏi sự chú ý nhiều nhất Các kích thích theo ngữ cảnh được đặc trưng khi phần còn lại của các kích thích hiện diện cùng với các kích thích tiêu điểm và góp phần vào tác dụng của

nó Các kích thích còn lại là các yếu tố môi trường bổ sung hiện diện trong tình huống nhưng ảnh hưởng của chúng không rõ ràng Điều này có thể bao gồm kinh nghiệm trước đây với một số kích thích nhất định [50]

Trang 26

Sức khỏe: “Sức khỏe không phải là sự giải thoát khỏi sự chắc chắn của cái chết, bệnh tật, bất hạnh và căng thẳng, mà là khả năng đối phó với chúng một cách

có thẩm quyền”

Sức khỏe được định nghĩa là trạng thái mà con người có thể liên tục thích ứng với các kích thích Bởi vì bệnh tật là một phần của cuộc sống, sức khỏe là kết quả của một quá trình mà sức khỏe và bệnh tật có thể cùng tồn tại Nếu một con người

có thể tiếp tục thích ứng một cách toàn diện, họ sẽ duy trì sức khỏe để đạt đến sự hoàn chỉnh và thống nhất trong chính họ Nếu họ không thể thích ứng cho phù hợp,

sự chính trực của người đó có thể bị ảnh hưởng tiêu cực

Điều dưỡng: “Mục tiêu của điều dưỡng là thúc đẩy sự thích nghi cho các cá nhân và nhóm trong mỗi phương thức trong số bốn phương thức thích ứng, do đó đóng góp vào sức khỏe, chất lượng cuộc sống và chết một cách xứng đáng”

Trong Mô hình thích ứng, y tá là những người hỗ trợ thích ứng Họ đánh giá các hành vi của người bệnh để thích ứng, thúc đẩy sự thích ứng tích cực bằng cách tăng cường các tương tác với môi trường và giúp người bệnh phản ứng tích cực với các kích thích Y tá loại bỏ các cơ chế đối phó không hiệu quả và cuối cùng dẫn đến kết quả tốt hơn

Sự thích nghi: Thích ứng là “quá trình và kết quả trong đó suy nghĩ và cảm nhận của mọi người với tư cách là cá nhân hoặc trong nhóm sử dụng nhận thức và lựa chọn có ý thức để tạo ra sự hòa nhập giữa con người và môi trường”

Bộ điều chỉnh: Hệ thống phụ điều chỉnh là cơ chế đối phó sinh lý của một người Cơ thể cố gắng thích nghi thông qua việc điều chỉnh các quá trình cơ thể của chúng ta, bao gồm cả hệ thống hóa thần kinh và nội tiết

Cognator: Hệ thống phụ cognator là cơ chế đối phó tinh thần của một người Một người sử dụng bộ não của mình để đối phó thông qua các chế độ thích ứng chức năng tự khái niệm, phụ thuộc lẫn nhau và vai trò

Trang 27

1.5.3 Các hình thái của học thuyết

Hình 1.1 Hệ thống thích ứng với con người của Roy Bốn phương thức thích ứng của hệ thống con là cách biểu hiện của cơ chế điều chỉnh và cơ chế đồng bộ; nói cách khác, chúng là biểu hiện bên ngoài của các quá trình bên trên và bên trong

 Phương thức sinh lý - vật lý

Các quá trình vật lý và hóa học tham gia vào chức năng và hoạt động của các

cơ thể sống Đây là các quá trình thực tế được đưa vào chuyển động bởi hệ thống con của bộ điều chỉnh

Nhu cầu cơ bản của chế độ này bao gồm các nhu cầu liên quan đến oxy hóa, dinh dưỡng, đào thải, hoạt động, nghỉ ngơi và bảo vệ Các quá trình phức tạp của mô hình này liên quan đến các giác quan, chất lỏng và chất điện giải, chức năng thần kinh và chức năng nội tiết

 Phương thức nhận dạng nhóm tự khái niệm

Trong chế độ này, mục tiêu đối phó là có được cảm giác thống nhất, nghĩa là tính có mục đích trong vũ trụ và cảm giác về tính toàn vẹn của danh tính Điều này bao gồm hình ảnh cơ thể và lý tưởng của bản thân

Trang 28

 Phương thức chức năng vai trò

Chế độ này tập trung vào các vai trò chính, phụ và cấp ba mà một người chiếm giữ trong xã hội và biết họ đứng ở đâu với tư cách là một thành viên của xã hội

 Phương thức phụ thuộc lẫn nhau

Chế độ này tập trung vào việc đạt được sự toàn vẹn trong quan hệ thông qua việc cho và nhận tình yêu, sự tôn trọng và giá trị Điều này đạt được nhờ sự giao tiếp và quan hệ hiệu quả

* Mức độ thích ứng:

Quy trình tích hợp: Các chế độ và hệ thống con khác nhau đáp ứng nhu cầu của môi trường Đây thường là những quá trình ổn định (ví dụ: thở, nhận thức tâm linh, mối quan hệ thành công)

Quy trình bồi thường: Bộ điều chỉnh và bộ điều chỉnh bị thách thức bởi nhu cầu của môi trường nhưng đang làm việc để đáp ứng nhu cầu (ví dụ: đau buồn, bắt đầu với một công việc mới)

Quy trình thỏa hiệp: Các chế độ và hệ thống con không đáp ứng đầy đủ thách thức về môi trường (ví dụ: thiếu oxy, mất mát chưa được giải quyết, các mối quan

hệ lạm dụng)

Quy trình điều dưỡng sáu bước: Vai trò của y tá trong Mô hình Thích ứng là điều khiển các kích thích bằng cách loại bỏ, giảm, tăng hoặc thay đổi các kích thích sao cho phù hợp với người bệnh

1 Đánh giá các hành vi được thể hiện từ bốn chế độ thích ứng

2 Đánh giá các yếu tố kích thích, phân loại chúng thành tiêu điểm, theo ngữ cảnh hoặc còn lại

3 Đưa ra tuyên bố hoặc chẩn đoán điều dưỡng về trạng thái thích nghi của người đó

4 Đặt mục tiêu thúc đẩy sự thích ứng

5 Thực hiện các biện pháp can thiệp nhằm quản lý các kích thích

6 Đánh giá xem mục tiêu thích ứng đã được đáp ứng chưa

Trang 29

1.5.4 Sử dụng khung lý thuyết cho nghiên cứu: “Mô hình thích ứng Roy’s” Khung lý thuyết nhằm mục đích minh họa cách tiếp cận nghiên cứu để người đọc có thể hiểu rõ hơn cái nhìn sâu sắc về các hiện tượng Nghiên cứu định tính hiện tượng học là việc tìm hiểu trải nghiệm cá nhân của con người trong bối cảnh của họ Lý thuyết điều dưỡng được chọn để phân tích nghiên cứu này là Lý thuyết thích ứng của Callista Roy, do thời điểm thích ứng mà mọi người đang phải đối mặt với đại dịch cụ thể là việc khám phá những trải nghiện của cán bộ y tế trong đại dịch COVID-19, điều này liên quan đến nhu cầu cán bộ y tế thích ứng với tình huống mới Cán bộ y tế trải nghiệm những kích thích khác nhau trong một môi trường làm việc mới liên tục thay đổi, tạo ra các phản ứng tiêu cực

Mô hình của Roy liên hệ các khái niệm với nhau để nó trình bày một cái nhìn mới về hiện tượng đang được nghiên cứu Nó xác định các khái niệm chính liên quan đến Điều dưỡng: con người, môi trường, sức khỏe và điều dưỡng để tương quan quá trình trải nghiệm với môi trường và điều dưỡng Các cá nhân được nhìn thấy tương tác liên tục với các kích thích bên trong và bên ngoài và với cách thức

mà họ phải thích nghi với bối cảnh mới

Một lợi thế quan trọng của mô hình là nó hướng dẫn các điều dưỡng trong việc

sử dụng các quan sát và trong các kỹ năng phỏng vấn trong khi tiến hành nghiên cứu cá nhân Hành vi được thực hiện với bốn yếu tố thích ứng được thu thập trong quá trình điều tra hành vi, do đó tất cả các chế độ thích ứng-sinh lý có thể được xem xét, tự khái niệm, chức năng vai trò và sự phụ thuộc lẫn nhau để người đó có một số phản ứng được thể hiện thông qua cách hành động của họ và những phản ứng này

có thể hoặc không thích ứng

Mô hình của Roy thể hiện con người như một hệ thống toàn diện, thích ứng trong sự tương tác liên tục với tăng cường các yếu tố môi trường Theo Mô hình của Roy, một người là một thực thể sinh học-vật lý-xã hội thích ứng tâm lý và xã hội Người đó đang tương tác liên tục với sự thay đổi các chế độ sẽ được xem là động và mỗi chế độ này liên tục ảnh hưởng đến chế độ kia Các hệ thống thích ứng phản ứng với các kích thích bắt đầu quá trình đối phó Theo Mô hình của Roy, điều này tương

Trang 30

tác liên tục với môi trường vật chất và xã hội và sử dụng các chiến lược thích ứng

để chế độ sinh lý được liên kết với các quá trình sinh lý, cả bên trong và bên ngoài, các cá nhân và nhóm trong bốn chế độ thích ứng, do đó đóng góp vào sức khỏe, chất lượng cuộc sống và chuyển thể thành công Mô hình của Roy bày tỏ mục đích của điều dưỡng là thúc đẩy sự thích ứng và mức độ thích ứng của họ

Hình 1.2 Con người như một hệ thống thích ứng

1.6 Phương pháp nghiên cứu định tính

1.6.1 Tại sao sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính?

Như trên đã trình bày, có khá nhiều nghiên cứu định lượng trên thế giới mô tả ảnh hưởng của dịch COVID-19 đến sức khỏe, tâm lý của cán bộ y tế, những người trực tiếp chăm sóc cho người bệnh COVID-19 Tuy nhiên, bản chất của việc lo lắng, sợ hãi, mệt mỏi của điều dưỡng, hộ sinh là gì? Nó được biểu hiện như thế nào thì chúng ta chưa biết nhiều vì nghiên cứu định lượng thường không trả lời được câu hỏi này

Vì vậy, cách tiếp cận nghiên cứu định tính sẽ phù hợp hơn để trả lời câu hỏi trên Vấn đề đặt ra là lựa chọn thiết kế nghiên cứu định tính nào phù hợp, đảm bảo

Trang 31

tính giá trị và khoa học để trả lời câu hỏi trên?

1.6.2 Cơ sở lý luận của nghiên cứu định tính

Nghiên cứu định tính là một loại hình nghiên cứu khám phá và cung cấp những hiểu biết sâu sắc hơn về các vấn đề trong thế giới thực Thay vì thu thập các điểm dữ liệu số hoặc can thiệp hoặc giới thiệu các phương pháp điều trị giống như trong nghiên cứu định lượng, nghiên cứu định tính giúp tạo ra các giả thuyết cũng như điều tra sâu hơn và hiểu dữ liệu định lượng Nghiên cứu định tính thu thập kinh nghiệm, nhận thức và hành vi của người tham gia Nó thường trả lời câu hỏi tại sao (Why?) như thế nào (How?) thay vì câu hỏi bao nhiêu? (How many? How much?)

Do tính chất mở của các câu hỏi nghiên cứu, thiết kế nghiên cứu định tính thường không tuyến tính giống như thiết kế định lượng Một trong những điểm mạnh của nghiên cứu định tính là khả năng giải thích các quá trình và mô hình hành vi của con người có thể khó định lượng Các hiện tượng như trải nghiệm, thái độ và hành

vi có thể khó nắm bắt chính xác về mặt định lượng, trong khi cách tiếp cận định tính cho phép người tham gia tự giải thích cách thức, lý do hoặc những gì họ đang nghĩ, cảm thấy và trải nghiệm tại một thời điểm nhất định hoặc trong một sự kiện quan tâm [51]

1.7 Các phương pháp tiếp cận nghiên cứu định tính có thể được sử dụng Dân tộc học (Ethnography), Lý thuyết có cơ sở (Grounded Theory), Hiện tượng học (Phenomenology), Nghiên cứu tường thuật (Narrative Research)

Trang 32

CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH

 Có thể tìm thấy dữ liệu khó trích xuất và lưu trữ

 Nhà nghiên cứu hòa mình trực tiếp vào môi trường nghiên cứu

 Thu thập dữ liệu toàn diện về hiện tượng xảy ra thông qua người tham gia

 Hình thành mô hình một cơ sở Lý thuyết về hiện tượng xã hội

 Dựa trên cơ sở quy nạp thông qua trải nghiệm xã hội

 Căn cứ thêm từ các nguồn dữ liệu khác nhau

 Cơ sở giải thích tại sao xảy ra sự kiện Cách thức lý do xuất hiện hành vi của mọi người

 Nghiên cứu ý nghĩa của hiện tượng cụ thể Xem xét trên quan điểm trải nghiệm của chính người trong cuộc

 Cơ sở giải thích tại sao xảy ra sự kiện

 Giải thích cách thức lý do xuất hiện hành vi của mọi người

 Mô tả chi tiết phong phú, trình tự của hiện tượng từ người tham gia

 Tạo một câu chuyện thực tế và gắn kết

 Tìm ra cơ hội đổi mới thông qua sự căng thẳng hay xung đột của câu chuyện

Trang 33

Tại sao lựa chọn thiết kế nghiên cứu định tính hiện tượng học mô tả cho đề tài này?

Để khám phá ý nghĩa của kinh nghiệm của các y tá tuyến đầu sau đại dịch COVID-19, một thiết kế tìm kiếm lại hiện tượng, định tính đã được sử dụng Hiện tượng học khám phá cách các cá nhân cảm nhận thế giới về mặt ý nghĩa mà họ tạo

ra Mục đích của nghiên cứu hiện tượng học là tập trung vào kinh nghiệm sống của những người tham gia Nó nhấn mạnh tính tổng hợp của quan điểm và cách giải thích cá nhân [52]

- Trong tài liệu “Qualitative research in nursing: Advancing the humanistic imperative” tái bản lần thứ 5 của tác giả Helen J Straubert và Dona Rinaldi Capenter chủ biên đã trình bày rất hệ thống về các phương pháp nghiên cứu định tính áp dụng cho nghiên cứu điều dưỡng, mỗi phương pháp/thiết kế nghiên cứu phù hợp với từng chủ đề, mục đích nghiên cứu đặt ra [53]

Nếu như thiết kế nghiên cứu lý thuyết nền tảng (Ground Theory) có mục đích phát triển lý thuyết; thiết kế nghiên cứu Dân tộc học mô tả đặc điểm của một nhóm văn hóa thì thiết kế nghiên cứu hiện tượng học được sử dụng để mô tả kinh nghiệm sống của các cá nhân

- Nhằm tìm kiếm những trải nghiệm khi đối mặt với thách thức mới đối với các điều dưỡng viên thông qua những chia sẻ và diễn giải của họ những điều mà nghiên cứu định lượng khó mà thực hiện được Phương pháp hiện tượng học có thể cung cấp thông tin chi tiết về các tương tác giữa con người với nhau và qua những hiểu biết về trải nghiệm sống của các Điều dưỡng chăm sóc người bệnh COVID-19

để có thể khám phá ý nghĩa nhận thức và những thách thức của công việc nặng nề nhưng vô cùng vẻ vang này;

- Nghiên cứu hiện tượng học mang tính quy nạp: Có thể khái quát các vấn đề quan sát được thành những chủ đề lớn, diễn đạt bằng ngôn ngữ những trải nghiệm của đối tượng qua đó có thể hiểu bản chất những tác động nhiều mặt đến nhóm đối tượng trong nghiên cứu và đề xuất những chính sách phù hợp nhằm phát huy những

Trang 34

mặt tích cực và hạn chế những biểu hiện tiêu cực, nâng cao chất lượng chăm sóc của cán bộ y tế

1.8 Địa bàn nghiên cứu

Hà Nội là thành phố trực thuộc trung ương có diện tích lớn nhất cả nước từ khi tỉnh Hà Tây sáp nhập vào, đồng thời cũng là địa phương đứng thứ nhì về dân số với hơn 8 triệu người (năm 2019) Tuy nhiên, nếu tính những người cư trú không đăng ký thì dân số thực tế của thành phố này năm 2019 là gần 10 triệu người [54]

Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội là bệnh viện chuyên khoa hạng I của thành phố

Hà Nội trong lĩnh vực Sản Phụ Khoa và Kế hoạch hóa gia đình Với 3 cơ sở bao gồm hơn 598 giường thực kê và hơn 1.373 cán bộ công nhân viên chức trong đó có

1 Phó giáo sư, 7 Tiến sỹ, 51 Thạc sỹ y khoa, 34 Bác sỹ chuyên khoa II, 38 Bác sỹ chuyên khoa I và 737 Hộ sinh, Điều dưỡng và Kỹ thuật viên

Theo quyết định số 5057/QĐ-UBND ngày 1/12/2021 của UBND Thành phố

Hà Nội, Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội là đơn vị tiếp nhận và điều trị cho Sản Phụ mắc COVID-19 Cơ sở 2 - Cảm Hội, bao gồm 140 giường dành riêng để điều trị cho thai phụ có triệu chứng COVID-19 mức độ trung bình và có cấp cứu về sản khoa

Các kíp chuyên môn được thành lập, mỗi kíp bao gồm 11 Bác sỹ, 27 Điều dưỡng, Hộ sinh, 06 hộ lý với thời gian một tháng thay đổi một kíp Cho đến thời điểm nhóm nghiên cứu thu tập số liệu là khoảng thời giam kíp 4 đã hoàn thành nhiệm vụ Kết thúc của 4 nhóm đầu sẽ bao gồm 108 Điều dưỡng, Hộ sinh tham gia

Trang 35

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là các Điều dưỡng, Hộ sinh thuộc 4 nhóm làm việc trong đơn nguyên chăm sóc nội trú của sản phụ mắc COVID-19 và trẻ sơ sinh đang điều trị tại

cơ sở 2 Bệnh viện Phụ sản Hà Nội từ tháng 12 năm 2021 đến tháng 03 năm 2022

* Tiêu chuẩn lựa chọn:

- Là Điều dưỡng, Hộ sinh chăm sóc chính có ít nhất 2 tuần kinh nghiệm chăm sóc sản phụ mắc COVID-19 và sẵn sàng tham gia vào nghiên cứu

* Tiêu chí loại trừ:

- Những người tham gia không đồng ý tham gia nghiên cứu

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

* Thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện trong vòng 9 tháng (từ tháng 12/2021 đến tháng 8/2022) bao gồm các công việc sau: viết đề cương, phỏng vấn thu thập số liệu, phân tích số liệu, viết luận văn nghiên cứu

- Thực hiện viết đề cương nghiên cứu từ tháng 12/2021 đến tháng 01/2022

- Thời gian thu thập số liệu từ tháng 03/2022 đến tháng 05/2022

- Thời gian viết báo cáo nghiên cứu từ tháng 06/2022 đến tháng 08/2022

* Địa điểm nghiên cứu: Tại cơ sở 2 Cảm Hội, Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội 2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu định tính, hiện tượng học mô tả;

2.3.2 Cỡ mẫu nghiên cứu

Trong tổng số 108 cán bộ điều dưỡng, hộ sinh là điều dưỡng, hộ sinh thuộc 4 nhóm, chọn mỗi nhóm 3-4 cán bộ trực tiếp chăm sóc và điều trị người bệnh là sản phụ đã được chẩn đoán là nhiễm COVID-19 đang được điều trị tại cơ sở 2 – Bệnh viện Phụ sản Hà Nội đồng ý tham gia nghiên cứu và phỏng vấn sâu cá nhân đến khi bão hòa thông tin

Trang 36

+ Là các cán bộ y tế đại diện cho các Khoa Khám Bệnh; Khoa Đẻ; Khoa Gây

mê hồi sức; Khoa Sơ Sinh; Khoa Sản thường… mà các CBYT này đã làm việc trước khi tham gia vào nhóm được được điều động sang cơ sở 2 đẻ chăm sóc cho Sản phụ mắc COVID-19

+ Mỗi nhóm chọn 3 - 4 điều dưỡng, hộ sinh (là hộ sinh và điều dưỡng)

2.3.4 Công cụ nghiên cứu

Bộ công cụ được phát triển trên cơ sở học thuyết thích ứng của Roy’s (Hình 1.2 Con người như một hệ thống thích ứng) Bộ công cụ gồm 3 câu hỏi mở và

bộ câu hỏi bán cấu trúc gồm 5 câu

- Những trải nghiệm này cụ thể hàng ngày?

- Gợi mở, tìm kiếm, khám phá, tạo thuận lợi cho ĐTNC bộc bạch và chia sẻ

- Không có định hướng hay dẫn dắt

Câu hỏi mở

Những yếu tố nào được xem là thuận lợi đối với anh/chị trong quá trình chăm sóc sản phụ mắc COVID-19?

Tìm kiếm chủ đề mà ĐTNC quan tâm về điều kiện thực tế

Câu hỏi mở

Những yếu tố nào được xem là bất lợi đối với anh/chị trong quá trình chăm sóc sản phụ mắc COVID-19?

Tìm kiếm chủ đề mà ĐTNC quan tâm về điều kiện thực tế

Trang 37

Loại câu hỏi Nội dung câu hỏi Mục đích

Bộ Câu hỏi

bán cấu trúc

Làm thế nào để anh/chị vượt qua những khó khăn anh chị gặp phải trong quá trình chăm sóc người bệnh mắc COVID-19?

Tìm kiếm chủ đề mà ĐTNC quan tâm về điều kiện thực tế

- Bạn chia sẻ sự lo lắng của bạn trước cái sống cái chết, trước sự nguy hiểm của COVID-19?

- Quan niệm của bạn về sự hy sinh của của lực lượng chống dịch của chúng

ta trong đó có các bạn?

- Giai đoạn này (đa số mọi người đã được tiêm Vaccine) Bạn nghĩ thế nào

về các quan điểm phòng chống dịch của Việt Nam và Thế giới (zero COVID/sống chung với COVID;

Tiêm/không tiêm Vaccine…)…

Tìm kiếm chủ đề mà ĐTNC quan tâm về các quan niệm, đạo đức ngành y và sự thay đổi nhận thức thông qua các thực tế khách quan

Trước khi tiến hành phỏng vấn, học viên đã xin ý kiến 3 chuyên gia là những người có kinh nghiệm trong nghiên cứu định tính đánh giá độ phù hợp của các câu hỏi với chủ đề và mục tiêu nghiên cứu (Phụ lục 1):

+ 01 TS Y Tế Công Cộng - Trường đại học Y Tế Công Cộng;

+ 01 TS Điều dưỡng - Trường Đại học VinUni;

+ 01 TS Điều dưỡng - Trường Đại học Y Hà Nội

Các chuyên gia đánh giá các câu trả lời về mức độ phù hợp và những nhận xét liên quan đến tất cả nội dung trong bộ câu hỏi bằng cách cho điểm từ 4 đến 1 tương ứng với mức độ phù hợp của câu hỏi như sau:

4 Rất phù hợp

Trang 38

Bảng 2.2 Kết quả đánh giá của các chuyên gia

Trải nghiệm

1 Trước tiên bạn hãy cho chúng tôi biết trải nghiệm của bạn trong việc chăm sóc các Sản Phụ nhiễm COVID-19 tại đơn vị của bạn?

4 Những yếu tố nào được xem là bất lợi đối với anh/chị trong quá trình chăm sóc sản phụ mắc COVID-19?

5 Làm thế nào để anh/chị vượt qua những khó khăn anh chị gặp phải trong quá trình chăm sóc người bệnh mắc COVID-19?

Trang 39

Chủ đề Nội dung câu hỏi Điểm

7 Quan niệm của bạn về sự hy sinh của của lực lượng chống dịch của chúng ta trong đó có các bạn?

8 Giai đoạn này (đa số mọi người đã được tiêm Vaccine) Bạn nghĩ thế nào về các quan điểm phòng chống dịch của Việt Nam và Thế giới (zero COVID/sống chung với COVID; Tiêm/không tiêm Vaccine…)…

Trong nghiên cứu định tính nói chung và hiện tượng học nói riêng thì bản thân người nghiên cứu là Công cụ nghiên cứu bởi vì các tình huống xảy ra trong quá trình phỏng vấn có thể không được định hình trước mà phải theo diễn biến cuộc phỏng vấn; tuy nhiên cũng cần phải có định hướng, tập trung vào chủ đề trọng tâm nên công cụ nghiên cứu được trình bày trong bản Hướng dẫn phỏng vấn sâu (Phụ lục 3)

2.3.5 Phương pháp thu thập số liệu

Kỹ thuật thu thập số liệu: Việc tổ chức thu thập số liệu được thực hiện qua các giai đoạn sau:

Giai đoạn 1: Xây dựng, thử nghiệm và hoàn thiện công cụ phỏng vấn sâu theo

mô hình lý thuyết thích ứng của Roy’s “Hệ thống thích ứng với con người của Roy” Giai đoạn 2: Tập huấn cho điều tra viên về quy trình phỏng vấn sâu

- Đối tượng được tập huấn (điều tra viên): 04 điều dưỡng thuộc nhóm nghiên cứu;

Trang 40

- Nội dung tập huấn: Thống nhất mục đích của cuộc điều tra, nội dung các câu hỏi, kỹ năng phỏng vấn, cách thu âm, cách ghi chép biên bản, cách gỡ băng…;

- Thời gian, địa điểm: 01 buổi tại bộ phận Nghiên cứu khoa học, Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội;

- Người tập huấn: Trưởng nhóm nghiên cứu (người nghiên cứu);

- Tiến hành phỏng vấn thử nghiệm để xin tư vấn chuyên gia và chỉnh sửa bộ câu hỏi phỏng vấn cho phù hợp;

- Ghi chú: Cộng tác viên chỉ cộng tác trong thu thập số liệu

Giai đoạn 3: Tiến hành thu thập số liệu

- Thu thập thông tin bằng phỏng vấn sâu cá nhân đối tượng nghiên cứu;

- Sử dụng bộ câu hỏi phỏng vấn gồm câu hỏi mở và bộ câu hỏi bán cấu trúc;

- Trước khi tiến hành phỏng vấn, người nghiên cứu sẽ gọi điện thoại giải thích rõ cho đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) về quá trình nghiên cứu, nếu ĐTNC đồng ý thì mới tiến hành thu thập số liệu Ngoài ra, người nghiên cứu sẽ lấy thông tin về địa chỉ và số điện thoại liên lạc của ĐTNC và bảo mật thông tin này

Quy trình nghiên cứu:

- Sau khi liên hệ BV Phụ Sản Hà Nội thông báo về nghiên cứu và tập huấn cho điều tra viên;

- Chuẩn bị phiếu đồng ý phỏng vấn sâu (Phụ lục 1);

- Gửi phiếu đồng ý phỏng vấn sâu đến các ĐTNC đồng ý tham gia;

- Sử dụng kỹ thuật quan sát, phỏng vấn sâu [55];

- Phỏng vấn sâu cá nhân các đối tượng nghiên là điều dưỡng, hộ sinh thuộc 4 nhóm làm việc trong đơn nguyên chăm sóc nội trú của sản phụ mắc COVID-19 và trẻ sơ sinh đang điều trị tại cơ sở 2 Bệnh viện Phụ sản Hà Nội từ tháng 12 năm 2021 đến tháng 03 năm 2022 cho đến khi bão hòa thông tin;

Ngày đăng: 13/03/2023, 15:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. BYT, Tổ chức y tế thế giới (WHO) Tuyên bố dịch bệnh do virus Corona (2019-ncov) là tình trạng Y tế Công cộng khẩn cấp gây quan ngại Quốc tế.2022 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyên bố dịch bệnh do virus Corona (2019-ncov) là tình trạng Y tế Công cộng khẩn cấp gây quan ngại Quốc tế
Tác giả: BYT, Tổ chức y tế thế giới (WHO)
Năm: 2022
6. BYT, Cổng thông tin của bộ y tế về đại dịch COVID-19 https://covid19.gov.vn. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2022 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cổng thông tin của bộ y tế về đại dịch COVID-19
Tác giả: BYT
Năm: 2022
27. BYT, cổng thông tin của bộ y tế về đại dịch COVID-19 https://covid19.gov.vn. . Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2022 Sách, tạp chí
Tiêu đề: cổng thông tin của bộ y tế về đại dịch COVID-19
Tác giả: BYT
Năm: 2022
37. Al-Busaidi, Z.Q., Qualitative research and its uses in health care. Sultan Qaboos Univ Med J, 2008. 8(1): p. 11-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Qualitative research and its uses in health care
Tác giả: Al-Busaidi, Z.Q
Nhà XB: Sultan Qaboos Univ Med J
Năm: 2008
40. Zipf, A.L., E.C. Polifroni, and C.T. Beck, The experience of the nurse during the COVID-19 pandemic: A global meta-synthesis in the year of the nurse J Nurs Scholarsh, 2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The experience of the nurse during the COVID-19 pandemic: A global meta-synthesis in the year of the nurse
Tác giả: Zipf, A.L., E.C. Polifroni, C.T. Beck
Nhà XB: J Nurs Scholarsh
Năm: 2021
50. Marudhar, M. and M.J. , Roy’s adaptation model of nursing &lt;IJSDR1901049.pdf&gt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Roy’s adaptation model of nursing
Tác giả: Marudhar, M., M.J
51. Tenny, S., et al., Qualitative Study, in StatPearls. 2022, StatPearls Publishing Copyright © 2022, StatPearls Publishing LLC.: Treasure Island (FL) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Qualitative Study
Tác giả: Tenny, S., et al
Nhà XB: StatPearls Publishing LLC.
Năm: 2022
53. Helen J. Straubert and D.R. Capenter, &lt;qualitative-research-in-nursing-advancing-the-humanistic-imp.pdf&gt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Qualitative Research in Nursing: Advancing the Humanistic Imp
Tác giả: Helen J. Straubert, D.R. Capenter
55. OCD Management Consulting Co, 8 phương pháp nghiên cứu định tính. Thứ 2, ngày 20 tháng 12 năm 2021 20: 30 PM Sách, tạp chí
Tiêu đề: 8 phương pháp nghiên cứu định tính
Tác giả: OCD Management Consulting Co
Năm: 2021
7. WHO, WHO says ‘at least’ 115,000 health workers have now died from Covid-19 https://www.nursingtimes.net/news/coronavirus/who-says-at-least-115000-health-workers-have-now-died-from-covid-19-27-05-2021/. 2021 Link
29. Content source: National Center for Immunization and Respiratory Diseases (NCIRD), D.o.V.D., Human Coronavirus Typeshttps://www.cdc.gov/coronavirus/types.html. Last Updated Feb. 15, 2020 Link
31. www.covid19treatmentguidelines.nih.gov and A.o.w.o.t.N.I.o. Health, Prevention of SARS-CoV-2 Infection &lt;section_53.pdf&gt;. Last Updated:September 26, 2022 Link
36. National Center for Immunization and Respiratory Diseases (NCIRD), D.o.V.D., Pregnant and Recently Pregnant PeopleAt Increased Risk for Severe Illness from COVID-19 https://www.cdc.gov/coronavirus/2019-ncov/need-extra-precautions/pregnant-people.html. Last Updated Dec. 17, 2021 Link
43. Finstad, G.L., et al. Resilience, Coping Strategies and Posttraumatic Growth in the Workplace Following COVID-19: A Narrative Review on the Positive Aspects of Trauma. International Journal of Environmental Research and Public Health, 2021. 18, DOI: 10.3390/ijerph18189453 Link
1. Lai, C.C., et al., Severe acute respiratory syndrome coronavirus 2 (SARS- CoV-2) and coronavirus disease-2019 (COVID-19): The epidemic and the challengesInt J Antimicrob Agents, 2020. 55(3): p. 105924 Khác
2. Li, G. and E. De Clercq, Therapeutic options for the 2019 novel coronavirus (2019-nCoV)Nat Rev Drug Discov, 2020. 19(3): p. 149-150 Khác
3. Lin, Q., et al., A conceptual model for the coronavirus disease 2019 (COVID-19) outbreak in Wuhan, China with individual reaction and governmental actionInt J Infect Dis, 2020. 93: p. 211-216 Khác
4. Zhu, N., et al., A Novel Coronavirus from Patients with Pneumonia in China, 2019, N Engl J Med, 2020. 382(8): p. 727-733 Khác
8. Chen, Q., et al., Mental health care for medical staff in China during the COVID-19 outbreak. Lancet Psychiatry, 2020. 7(4): p. e15-e16 Khác
9. Chersich, M.F., et al., COVID-19 in Africa: care and protection for frontline healthcare workers. Global Health, 2020. 16(1): p. 46 Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w