Công nghệ DSL mô hình hệ thống ADSL và kỹ thuật liên quan DT8 Báo cáo bài tập lớn môn Mạng máy tính Viện điện tử viễn thông Đại học Bách Khoa Hà Nội
Trang 1Nhóm sinh viên:Hoàng Đức Phước
Nguyễn Giang NamNguyễn Văn Hoàng
Phần 1: Giới thiệu chung về công nghệ XDSL
Phần 2: Giới thiệu về công nghệ ADSL
Phần 3: Giới thiệu công nghệ VDSL
Phần 1: Giới thiệu chung về công nghệ xDSL
1.1 Khái quát chung về xDSL
1.2 Phân loại
1.3 Nội dung
Trang 2Công nghệ DSL là một công nghệ hiện đại sử dụng đường
dây xoắn của mạng điện thoại có sẵn để truyền dữ liệu băng
thông rộng, như các tín hiệu đa phương tiện hay hình ảnh,
đến các thuê bao dịch vụ Thuật ngữ xDSL bao gồm một số
dạng DSL tương tự nhau là ADSL, SDSL, HDSL, RADSL, và
VDSL xDSL đang thu hút được sự chú ý đáng kể từ các nhà
cung cấp dịch vụ, vì nó cho phép truyền dữ liệu băng thông
rộng đến các địa điểm khác nhau mà chỉ cần sự thay đổi
nhỏ trên cơ sở hạ tầng viễn thông sẵn có Dịch vụ xDSL là
mạng công cộng chuyên dụng, point-to-point truy cập thông
qua dây đồng xoắn trên một local loop giữa một trung tâm
cung cấp dịch vụ mạng (NSP) với khách hàng, hoặc các local
loop được tạo ra trong các toà nhà hay công sở Hiện nay
điều đáng quan tâm nhất ở xDSL là sự phát triển và sự triển
khai của các công nghệ ADSL, VDSL và các kiểu kiến trúc
(architectures)…
Phần 1: Giới thiệu chung về công nghệ xDSL
1.1 Khái quát v công nghệ xDSL
đối xứng và bất đối xứng.Dịch vụ DSL đối
xứng cung cấp tốc độ download và upload
dữ liệu như nhau, trong khi dịch vụ DSL
bất đối xứng cung cấp tốc độ upload thấp
hơn nhưng tốc độ download cao hơn
Trang 3 1.2.1 ADSL, G.Lite and RADSL
độ download dữ liệu cao hơn được đánh
đổi bởi tốc độ upload thấp hơn Rất nhiều
ứng dụng Web, như là download file hay
trình duyệt web, được lợi từ việc băng
thông download lớn hơn và chỉ cần một
băng thông upload tương đối nhỏ.
Trang 4 Universal ADSL (thường được biết đến là G.Lite) là
dạng ADSL được cải thiện một trong những nhược
điểm của ADSL thông thường, đó là cài đặt ADSL
thông thường cần một kỹ thuật viên đến địa chỉ
của khách hang để cài đặt thiết bị splitter Thiết bị
này sẽ chia phổ tần số cho âm thanh và dữ liệu
G.Lite không cần cài đặt splitter, tuy nhiên phải
đánh đổi bởi tốc độ dữ liệu thấp hơn G.Lite cung
cấp băng thông tối đa 1544 kbps (384 kbps
upstream) trong khi ADSL thông thường có thể
cung cấp băng thông lớn hơn 8000 kbps
Phần 1: Giới thiệu chung về công nghệ xDSL
1.2 Phân loại
Rate-Adaptive DSL (RADSL), là sự triển khai của
ADSL mà tự động định dạng modem từ khi
khởi động để điều chỉnh tốc độ của nó tuỳ
theo chất lượng của đường điện thoại
Giống như G.Lite, RADSL cung cấp một tốc
độ dữ liệu tối đa thấp hơn nhiều so với
ADSL thông thường (1088 kbps)
Trang 5 1.2.2 HDSL,SDSL và SHDSL
Một giải pháp đối xứng, High Bit /
Data-Rate DSL cung cấp một băng thông giống
nhau cho download và upload HDSL cần 2
tuyến điện thoại để cung cấp tốc độ dữ
liệu cơ sở (1544 kbps), và nó có thể cung
cấp tốc độ tối đa 2048 kbps khi sử dụng 3
dữ liệu cơ sở như vậy (1544 kbps) trong
khi chỉ cần sử dụng một tuyến điện thoại
Trang 6 Một dạng khác, Symmetric High-Bit-Rate
DSL cố gắng cải tiến cả HDSL và SDSL ở
chỗ chỉ cần một tuyến điện thoại và tích
hợp các dịch vụ ít được quan tâm đến các
công ty nhỏ
Phần 1: Giới thiệu chung về công nghệ xDSL
1.2 Phân loại
1.2.3 VDSL
Very High Data-Rate DSL cần chiều dài cáp ngắn
hơn hầu hết các dạng khác của DSL (tối đa 4500
feet so với 18000 feet cho ADSL thông thường),
đồng thời đạt được tốc độ dữ liệu cao nhất (xấp xỉ
51840 kpbs) VDSL còn được biết đến với tên gọi
BDSL Ban đầu nó được gọi là VADSL ('A' for
asymmetric) nhưng sau đó được mở rộng để cung
cấp cả DSL đối xứng và bất đối xứng
Trang 7 Trong thực tế có những ứng dụng
high-end, như High-Definition Television (HDTV)
yêu cầu băng thông lên đến 20000kbps
Băng thông này có thể đạt được nếu sử
dụng VDSL
Phần 1: Giới thiệu chung về công nghệ xDSL
1.2 Phân loại
1.2.4 IDSL
DSL/IDSN lai Hiểu theo nghĩa thông
thường, IDSL chỉ cung cấp tốc độ dữ liệu
giới hạn (128 kbps, mặc dù có thể xây
dựng các mạch nhân)
Trang 8 Chú ý: Ở châu Âu, các tổ chức chuẩn quản lý
sự phát triển của các công nghệ DSL khác ở
Mỹ Mặc dù sự triển khai của xDSL vẫn gần
như là giống hệt, một khách hàng đôi khi vẫn
có thể gặp các thuật ngữ như "VDSLe" hay
"ADSLe" để biểu thị cho kỹ thuật châu Âu
thay vì một kỹ thuật tương tự của Mỹ
Phần 1: Giới thiệu chung về công nghệ xDSL
1.3 Nộidung
1.3.1 Chất lượng
1.3.2 Băng thông
1.3.3 Một số thông số kĩ thuật khác
Trang 9 1.3.1 Chất lượng:
Để có thể thích hợp với dịch vụ DSL, tuyến
điện thoại liên quan phải được đánh giá
chất lượng Bên cạnh sự hạn chế về chiều
dài (không cách public exchange quá
18000 feet đường dây), tuyến điện thoại
này cũng phải có đủ các đặc tính chất
lượng về điện
Phần 1: Giới thiệu chung về công nghệ xDSL
1.3 Nộidung
Rất nhiều chi tiết kỹ thuật khác, nằm ngoài khả
năng kiểm soát của khách hàng, quyết định một
tuyến điện thoại có đủ chất lượng để cung cấp
DSL hay không Đôi khi một kỹ thuật viên có thể
đo chất lượng đường dây ở đầu cuối của họ mà
không cần đến địa chỉ khách hàng, nhưng đôi khi
sự đo đạc một chiều là không đủ và sự thử
nghiệm phải được tiến hành ở cả hai đầu dây
(tăng giá thành cài đặt) Nói chung không thể tiến
hành thử nghiệm đường dây cho DSL một cách tự
động, kỹ thuật viên phải làm việc bằng tay với các
thiết bị thử nghiệm
Trang 10 Ví dụ, một vấn đề kỹ thuật khó khăn cho DSL là
việc sử dụng các cuộn tải trên đường điện thoại
Các cuộn tải là các thiết bị điện nhỏ làm tăng khả
năng truyền tín hiệu thoại trên đường dây Các
công ty điện thoại cài đặt các thiết bị này trên
đường dây đã nhiều năm nhằm tăng chất lượng
dịch vụ Nhưng khi các cuộn tải hoạt động hiệu
quả ở âm tần (thoại), chúng lại ảnh hưởng xấu
đến các tần số cao (dữ liệu DSL) Dịch vụ DSL về
cơ bản sẽ không hoạt động trên các cuộn tải
Phần 1: Giới thiệu chung về công nghệ xDSL
1.3 Nộidung
1.3.2 Băng thông:
thể nhận được từ DSL phụ thuộc vào chiều
dài đường dây điện thoại của họ Đường
dây càng dài thì băng thông DSL có thể
cung cấp càng nhỏ Tương tự như vậy,
chiều dày của nó (cỡ dây) có thể ảnh
hưởng đến băng thông.
Trang 11 Biểu đồ bên minh hoạ khả năng
download của Asymmetric Digital
Subscriber Line (ADSL), một dạng phổ
biến của xDSL Tốc độ dữ liệu được đo
bằng đơn vj kbps để dễ dàng so sánh
với các modem 56 kbps.
Khi chiều dài cáp tăng lên thì băng
thông giảm với cả hai chiều download
và upload Những số liệu này được
cung cấp với dây cỡ 24, và khả năng
truyền dữ liệu giảm đáng kể nếu sử
6,312 12,000
2,048 16,000
1,544 18,000
Tốc độ download (kbps)
Độ dài cáp (feet)
Phần 1: Giới thiệu chung về công nghệ xDSL
1.3 Nộidung
1.3.3 Một số thông số kĩ thuật khác
a, Tốc độ
Công nghệ DSL đang thu hút được sự chú ý,
trước hết là vì tốc độ của nó DSL có thể cung
cấp tốc độ nhanh gấp 100 lần tốc độ của một
modem tương tự truyền thống Trong khi tốc
độ chính xác của một kết nối phụ thuộc vào
dạng xDSL được triển khai, thậm chí một kết
nối ADSL cơ sở cũng tốt hơn những modem
tương tự 20 lần hoặc hơn thế nữa
Trang 12 Vì DSL sử dụng đường dây điện thoại tương tự
như các modem truyền thống, nhưng làm thế
nào nó có thể đạt được tốc độ cao như vậy Về
cơ bản, DSL hoạt động ở các tần số cao (không
được sử dụng) của đường điện thoại Modem
ADSL bao gồm một bộ chia tín hiệu bên trong,
nó truyền các tín hiệu thoại ở các tần số thấp
(từ 0 đến 4 kHz) và các tín hiệu dữ liệu ở các
tần số cao hơn Vì vậy, bộ chia này cho phép
truy cập đồng thời bằng điện thoại và máy tính
Khách hàng sẽ không cần thêm đường dây
điện thoại cho dịch vụ DSL
Phần 1: Giới thiệu chung về công nghệ xDSL
1.3 Nộidung
b, Khả năng truy cập
Dịch vụ DSL cung cấp tại mọi thời điểm Với một kết nối
always-on, khách hang sẽ không cần phải quay số đến
nhà cung cấp dịch vụ Internet (ISP) để truy cập vào
mạng Internet Hiện nay, một vài nhà cung cấp (như
Pacific Bell) cung cấp dịch vụ DSL được triển khai với
PPPoE (Point-To-Point Protocol over Ethernet) mà không
phải always-on, nhưng ngay cả trong trường hợp này
một router DSL có thể tự động hoá quá trình kết nối
Nên biết rằng các kết nối long-lived như DSL có thể có
các vấn đề về an ninh Rất nhiều khách hang DSL đã cài
đặt các sản phẩm firewall cá nhân trong các mạng gia
đình để chống lại các tấn công từ bên ngoài.
Trang 13 c, Các công nghệ cạnh tranh
Các modem cáp cho phép truy cập Internet tốc độ cao,
always-on sử dụng đường cáp TV Cáp có thể cung cấp
mạng với tốc độ có thể so sánh được với DSL Giống như
DSL, tốc độ upload của mạng sẽ thấp hơn tốc độ
download Nhưng khác với các dịch vụ DSL (tất cả đều
cung cấp một băng thông nhất định nào đó), dịch vụ
modem cáp xoay quanh một băng thông dùng chung
nào đó Điều này có nghĩa là khả năng thực tế của một
khách hàng sẽ phụ thuộc vào việc có bao nhiêu khách
hàng khác trong khu vực đó sử dụng cùng dịch vụ
Phần 1: Giới thiệu chung về công nghệ xDSL
1.3 Nộidung
Dịch vụ dữ liệu vệ tinh cung cấp một sự lựa
chọn khác ngoài dịch vụ DSL và cáp Ngày nay,
vệ tinh hoạt động ở tốc độ không lớn hơn 1/3
tốc độ của DSL, và thường nhỏ hơn Nhưng
giống như DSL, băng thông vệ tinh là xác định
và sẽ không giảm khi những người khác sử
dụng dịch vụ tại cùng thời điểm Hệ thống vệ
tinh “mini-dish” không được thiết kế cho truyền
thông 2 chiều (tương tự như việc truyền tín
hiệu TV), vì thế truy cập vệ tinh vào Internet
thường yêu cầu một modem và đường điện
thoại tương tự
Trang 14 Công nghệ Integrated Services Digital Network
(ISDN) đã xuất hiện vài năm từ các công ty
điện thoại công cộng Dưới các điều kiện lý
tưởng, IDSN cho phép khách hàng nhận dữ liệu
ở tốc độ bằng 2 lần dial-up thông thường Nói
chung, IDSN đã có mặt rộng rãi hơn dịch vụ
DSL, nhưng sự mở rộng nhanh chóng của các
mạng DSL cho thấy lợi thế đó đang mờ dần
Phần 2 : Giới thiệu công nghệ ADSL
2.1 Cơ bản về ADSL
2.2 Tính năng của công nghệ ADSL
2.3 Đặc tính kĩ thuật của ADSL
Trang 15 ADSL: Asymmetric Digital Subscriber Line
cấp một băng thông download rộng hơn
upload Sự bất đối xứng này, kết hợp với tính
truy cập always-on (không cần gọi quay số)
làm cho ADSL trở thành lý tưởng cho
Internet/intranet surfing, video-on-demand,
và truy cập mạng LAN từ xa Những người sử
dụng ứng dụng này thường download thông
tin hơn gửi đi rất nhiều.
Phần 2 : Giới thiệu công nghệ ADSL
2.1 Cơbản v ADSL
ADSL truyền tín hiệu với tốc độ lớn hơn 6
Mbps đến một thuê bao và 640kbps theo cả
hai hướng, gấp 50 lần khả năng truy cập vốn
có ADSL có thể biến đổi mạng thông tin công
cộng vốn có từ một mạng bị giới hạn về âm
thanh, văn bản hay đồ họa thành một hệ
thống có khả năng mang các dữ liệu đa
phương tiện, bao gồm các hình ảnh chuyển
động, đến mọi nhà.
Trang 16Hình 1: Các thành phần của một mạng ADSL bao g m telco v
CPE
Phần 2 : Giới thiệu công nghệ ADSL
2.1 Cơbản v ADSL
ADSL sẽ đóng vai trò quyết định trong vài thập kỷ tới
khi các công ty điện thoại thâm nhập các thị trường
mới như truyền các thông tin hình ảnh và đa phương
tiện Sự thành công của những dịch vụ mới này phụ
thuộc vào số lượng thuê bao đạt được trong những
năm đầu Bằng việc mang các bộ phim, truyền hình,
CD-ROM, mạng LAN và Internet đến các hộ gia đình
và các doanh nghiệp nhỏ, ADSL sẽ làm cho các thị
trường này có thể tồn tại và mang lại lợi nhuận cho
các công ty điện thoại và các nhà cung cấp các ứng
dụng tương tự
Trang 17 Một mạch ADSL kết nối một modem ADSL trên mỗi
đầu cuối của một tuyến điện thoại dây xoắn, tạo ra 3
kênh thông tin: một kênh download tốc độ cao, một
kênh song công tốc độ trung bình và một kênh dịch
vụ thoại Kênh dịch vụ thoại được chia ra từ modem
số bởi các bộ lọc, nhờ vậy đảm bảo dịch vụ điện
thoại không bị gián đoạn, ngay cả khi ADSL lỗi Kênh
tốc độ cao thay đổi từ 1,5 đến 6,1 Mbps và tốc độ
song công thay đổi từ 16 đến 640 kbps Mỗi kênh có
thể được chia thành các kênh tốc độ thấp hơn
Phần 2 : Giới thiệu công nghệ ADSL
2.2 Tínhnăng của côngnghệ ADSL
Các modem ADSL cung cấp các tốc độ dữ liệu nhất
quán với các hệ thống phân cấp số châu Âu E1 2,048
Mbps và Bắc Mỹ T1 1.544 Mbps Cấu hình tối thiểu
cung cấp băng thông download 1,5 hoặc 2 Mbps và
một kênh song công 16 kbps; các cấu hình khác cung
cấp tốc độ 6,1 Mbps và 64 kbps song công Các sản
phẩm với tốc độ download lên đến 8 Mbps và tốc độ
song công lên đến 640 kbps khi các modem ADSL
cung cấp giao thức Asynchronous Transfer Mode
(ATM) với tốc độ thay đổi được
Trang 18Hình 2: Tốc độ của các kênh download và các kênh song công
Phần 2 : Giới thiệu công nghệ ADSL
2.2 Tínhnăng của côngnghệ ADSL
Tốc độ download dữ liệu phụ thuộc các hệ số, bao
gồm chiều dài và kích thước dây đồng, sự có mặt của
bridged taps, và cross-coupled interference Suy hao
đường truyền tăng theo chiều dài đường dây và tần
số, và giảm khi đường kính dây tăng Bỏ qua bridged
taps thì ADSL hoạt động như sau:
3.7 0.5
12000 24
6.1
4.6 0.4
15000 26
1.5 or 2
5.5 0.5
18000 24
1.5 or 2
Distance (kilometers) Wire size (mm)
Distance (feet)
Wire gauge (AWG) Data rate
(Mbps)
Trang 19 Có thể cung cấp dịch vụ cho các khách
hàng nằm trong phạm vi trên bằng các
hệ thống fiber-based digital loop carrier
(DLC) Khi những hệ thống DLC trở nên
có giá trị thương mại, các công ty điện
thoại có thể cung cấp sự truy cập rộng
khắp trong một khoảng thời gian tương
đối ngắn.
Phần 2 : Giới thiệu công nghệ ADSL
2.2 Tínhnăng của côngnghệ ADSL
xoay quanh video nén số Như một tín hiệu
thời gian thực, video số không thể sử dụng
các thủ tục điều khiển lỗi cấp độ mạng hay
đường dẫn thường có trong các hệ thống
truyền dữ liệu Vì vậy, các modem ADSL kết
hợp lại để sữa lỗi, nó làm giảm đáng kể các
lỗi gây ra bởi tạp âm xung Sự sửa lỗi theo
từng ký hiệu cũng làm giảm các lỗi gây ra bởi
tạp âm duy trì trong đường dây.
Trang 20 ADSL phụ thuộc vào các giải thuật tiên tiến tạo ra và xử lý tín
hiệu số để truyền nhiều thông tin qua đường điện thoại dây
xoắn Thêm vào đó, các bộ biến đổi, các bộ lọc tương tự và các
bộ chuyển đổi tương tự/số cũng đã được cải tiến Các đường
điện thoại dài có thể làm cho các tín hiệu ở tần số 1 MHz (giới
hạn trên của băng thông sử dụng cho ADSL) giảm đi 90 dB, làm
cho các bộ phận tương tự trong các modem ADSL gặp khó khăn
trong việc thu các dải động lớn, các kênh riêng biệt và duy trì
cấu hình nhiễu thấp Bề ngoài, ADSL có vẻ đơn giản-các ống
dẫn dữ liệu đồng bộ trong suốt ở các tốc độ dữ liệu khác nhau
qua các tuyến điện thoại thông thường Bên trong, nơi tất cả
các transistor hoạt động, là một điều kì diệu của công nghệ hiện
đại Hình 3 hiển thị một đầu cuối thu phát mạng ADSL.
Phần 2 : Giới thiệu công nghệ ADSL
2.3 Đặc tính kĩ thuật của công nghệ ADSL
Hình 3: Tổng quan các thiết bị cấu thành nên đầu cuối thu phát
mạng ADSL
Trang 21 Để tạo ra các kênh phức hợp, các modem ADSL chia
băng thông vốn có của một tuyến điện thoại theo
một trong hai cách được thể hiện trên hình 4: kỹ
thuật ghép kênh phân chia theo tần số (FDM) hoặc
kỹ thuật khử tiếng dội (echo cancellation) FDM phân
chia một dải thông cho dữ liệu upload và dải thông
còn lại cho dữ liệu download Đường download sau
đó được chia thành một hoặc nhiều kênh tốc độ cao
và một hoặc nhiều kênh tốc độ thấp bởi kỹ thuật
ghép kênh phân chia theo thời gian
Phần 2 : Giới thiệu công nghệ ADSL
2.3 Đặc tính kĩ thuật của công nghệ ADSL
các kênh tốc độ thấp tương ứng Kỹ thuật
khử tiếng dội (echo cancellation) chia dải
thông upload chèn lên dải thông download và
hai dải thông này được tách biệt nhờ kỹ thuật
tiếng dội cục bộ (local echo cancellation), một
kỹ thuật rất phổ biến trong các modem V.32
và V.34 Trong cả hai kỹ thuật này, ADSL chia
một dải 4 kHz trong vùng âm tần cho dịch vụ
thoại.