Công nghệ DSL mô hình hệ thống ADSL và kỹ thuật liên quan DT6 Báo cáo bài tập lớn môn Mạng máy tính Viện điện tử viễn thông Đại học Bách Khoa Hà Nội
Trang 1Tìm hiểu về DSL,ADSL và các
công nghệ liên quan
Ph ạm Văn Biên Nguyễ Quang Sức
Há Trọng Thanh -Điệ T 6-K48-
• DSL viết tắt cho Digital Subscriber Line
-Đường Thuê bao
Số-Thế nào là DSL?
Trang 2• Một cái tên không nói điều gì v một công nghệ hiện
hữu:
-Chữ D (digital) có ý nghĩa l ch sử do gốc gác của DSL
là dịch vụ số (Số có nghĩa là bất cứ thứ gì chạy trên
đường dây mà 1 là có dòng điện v 0 là không có.) Tuy
nhiên DSL đã phát triển trên tín hiệu tương tự tốc độ
cao (thường biểu diễn bằng sóng hình sin) v không liên
quan tới số
-Chữ S (subscriber) là nói tới bạn hoặc công ty của bạn
khi thuê một đường DSL từ nhà cung cấp dịch vụ viễn
thông
-Chữ L (line) có nghĩa rằng đây là một đường (còn gọi
là một mạch) ở bên ngoài đi v o trên cáp điện thoại từ
nhà cung cấp dịch vụ viễn thông, giống như cáp cho
điện thoại mà bạn v n đang dùng hàng ngày
• Phần lớn việc sử dụng mạch DSL là để nối
một cách cố định về mặt vật lý bạn với
mạng Internet, sao cho bạn luôn trên
mạng Kết nối này cũng cho phép bạn liên
kết tới nơi khác (thí dụ văn phòng cơ
quan) qua mạng Internet Với việc truy
nhập bằng DSL, bạn không cần phải dùng
mô-đem thông thường, nhưng bạn lại cần
thiết bị khác, đó là mô-đem DSL
Trang 3• Hoạt động
Tất cả các dạng DSL hoạt động dựa trên thực tế là truyền
âm thanh qua đường cáp điện thoại đồng chỉ chiếm một
phần băng thông rất nhỏ DSL tách băng thông trên đường
cáp điện thoại thành hai: một phần nhỏ dành cho truyền
âm, phần lớn dành cho truyền tải dữ liệu ở tốc độ cao
Trên đường dây điện thoại thì thực tế chỉ dùng một khoảng
tần số rất nhỏ từ 0KHz đến 20KHz để truyền dữ liệu âm
thanh (điện thoại) Công nghệ DSL tận dụng đặc điểm nà
để truyền dữ liệu trên cùng đường dây, nhưng ở tần số
25.875 KHz đến 1.104 MHz
• DSL nâng cấp dung lượng dữ liệu của
đường truyền xoắn cặp giữa tổng đài điện
thoại của công ty điện thoại và các gia
đình Băng thông của đường truyền này bị
giới hạn cỡ 3000 Hz do được sử dụng cho
hệ thoại Trong khi bản thân đường truyền
có thể xử lý các tần số cao hơn, các thiết bị
chuyển mạch điện thoại được thiết kế để
cắt các tín hiệu trên 4000 Hz để lọc nhiễu
trên đường truyền
Trang 4• Có bảy loại hình dịch vụ DSL, phân theo tốc độ từ
16Kbit/s đến 52 Kbit/s Các dịch vụ này hoặc đối
xứng (có cùng tốc độ theo cả hai chiều), hoặc bất
đối xứng (dung lượng đến có thể cao hơn dung
lượng đi)
là luôn luôn được kết nối Không còn dịch vụ
dial-up nữa Cũng không còn vấn đề chuyển mạch
nữa, nghĩa là đường truyền là kết nối trực tiếp
vào hệ thống frame relay, ATM hoặc Internet của
nhà cung cấp Về phía khách hàng, cần phải có
modem DSL, và nhà cung cấp phải có thiết bị hỗ
trợ để cung cấp dịch vụ Có hai kỹ thuật điều biến
xung đột nhau, vì thế người dùng phải bảo đảm
rằng modem của họ tương thích với thiết bị của
nhà cung cấp.
• DSL có tốc độ truyền song công là
160Kbps
• DSL được dùng cho Basic Rate ISDN và
gồm có hai kênh B với tốc độ mỗi kênh là
64Kbps và một kênh D tốc độ là 16Kbps
Hai kênh B được dùng cho lưu lượng âm
thanh và dữ liệu.Kênh D được dùng cho
mục đích quản lý(tín hiệu và định tuyến)
Trang 5• Chú ý tốc độ truyền song công là 160Kbps Chế độ
lại để tách giữa quá trình phát và thu của các tín
• Vì dải thông của DSL từ 0 đến 80KHz,
POST tương tự không cần cung cấp đồng
thời cho cùng mạch.Nhưng modem DSL
cần kết nối với điểm cuối của đường POST
đơn thực tế là cho hai đường thoại số.Sự
tăng thêm trong các kênh thoại có thể
dùng bởi mỗi kênh B như sự tách rời của
đường thoại.Sự cài đặt và sử dụng của hai
modem DSL tới cặp số của các kênh thoại
được gọi là một cặp ứng dụng tăng thêm
Trang 6• Một trong những lý do làm cho DSL trở
nên hữu ích là nó đưa ra tốc độ đáng kể
trên một đôi dây đồng Phần lớn các ngôi
nhà và văn phòng đã được gắn sẵn các
đôi dây cáp giành cho điện thoại thông
thường
• Việc dùng các đường dây riêng được gọi là
dây khô Còn khi tổ hợp cả đường dây
điện thoại với DSL trên cùng một đôi dây
thì gọi là phân phối DSL trên dây ướt
Trang 7• Đường dây thuê bao số (DSL) là công nghệ làm tăng
đáng k công suất số của đường dây điện thoại thông
thường (các mạch vòng nội hạt) ở gia đình v văn
phòng Các tốc độ DSL liên quan tới khoảng cách giữa
các khách hàng v tổng đài viễn thông trung tâm Một
đường dây DSL có thể truyền tải cả tín hiệu thoại v dữ
liệu v phần dữ liệu của đường dây liên tục được k t nối
DSL được nhằm v o hai mục đích sử dụng.
• DSL không đối xứng (ADSL) được dành cho truy nhập
Internet đòi hỏi tốc độ tải xuống nhanh, v có thể chấp
nhận được tốc độ luồng xuống chậm.
• DSL đối xứng (SDSL, HDSL…) được thiết k cho các k t
nối có khoảng cách đến ISP ngắn cụ thể hoặc mạng dữ
liệu.
• ADSL - DSL không đối xứng (ADSL) chi sẻ cùng đường
dây như điện thoại bởi vì nó sử dụng các tần số cao hơn
băng thông thoại Tuy nhiên, một bộ chia POTS phải
được lắp đặt tại nhà của thuê bao để tách đường dây
giữa thoại v ADSL.
• Một phiên bản của ADSL với cái tên G.lite, Universal
ADSL, ADSL Lite v ADSL không chia đang được hướng
v o khách hàng.
• ADSL không cần đến bộ chia v cước phí ắp đặt liên
quan, nhưng tất cả các điện thoại trên đường dây phải
được lắp v o các bộ lọc chuyển tiếp thấp để tách các
điện thoại khỏi các tần số ADSL ADSL tương thích với
hai kiểu điều chế: đa tông rời rạc (DMT) hoặc điều
Trang 8• RADSL: DSL tương thích tốc độ (Rate
Adaptive DSL) là một phiên bản của ADSL
có thể điều chỉnh tốc độ dựa trên chất
lượng tín hiệu Nhiều công nghệ ADSL là
RADSL
• VDSL (cũng là VHDSL) - DSL tốc độ bit
rất cao là một phiên bản không đối xứng
của DSL được sử dụng như là một đoạn
cuối cùng từ điểm chuyển tiếp quang đến
các khách hàng gần nhất VDSL cho phép
các văn phòng sử dụng các dịch vụ băng
thông cao trên các đôi dây đồng hiện nay
mà không cần phải thay thế hạ tầng cáp
quang Giống như ADSL, VDSL có thể chia
sẻ đường dây với điện thoại
Trang 9• SDSL - DSL đối xứng là một biến thể của
HDSL sử dụng duy nhất một đôi cáp và
nằm trong dải tốc độ rộng từ 144 Kbit/s
đến 1,5Mbit/s SDSL là một công nghệ
tương thích tốc độ và giống như HDSL,
SDSL không thể chia sẻ các đường dây với
các điện thoại tương tự
• IDSL - DSL ISDN có tốc độ tương đối thấp (144Kbit/s) ở
cả hai hướng so với các phiên bản đối xứng khác nhưng
nó có thể cung cấp tốc độ 16Kbit/s cao hơn so với tốc
độ ISDN tiêu chuẩn, bởi vì kênh D 16Kbit/s được sử
dụng cho dữ liệu nhiều hơn cho thiết lập cuộc gọi Nó
cũng có thể cung cấp trong khoảng cách dài nhất 26.000
feet Không giống như ISDN tiêu chuẩn, IDSL không hỗ
trợ điện thoại tương tự, v các tín hiệu không được
chuyển mạch qua mạng điện thoại công cộng.
• Kể từ khi IDSL sử d ng mã hoá đường dây 2B1Q, các
khách hàng ISDN có thể sử dụng thiết bị hiện nay của
họ (các bộ tương thích đầu cuối v các bộ định tuyến
BRI ISDN)
Trang 10Tìm hiểu ATM
bao gồm:data, text,audio &video ở tốc độ bít
trục tới cáp sợi quang.
Trang 11• ATM là kỹ thuật mạng tốc độ cao được
thiết kế cho cả hai loại mạng LAN và
WAN Đây là một kỹ thuật hướng kết nối,
nghĩa là một mạch được thiết lập giữa hai
đầu hệ thống trước khi phiên truyền thông
bắt đầu Thông tin được tải trong các tế
bào qua một kết cấu chuyển mạch Tế
bào là một gói thông tin có kích thước cố
định, trái với khung là một gói thông tin
có chiều dài biến thiên Sự khác nhau giữa
chiều dài tĩnh và động là điều chủ yếu mà
ATM cung cấp
• ATM lúc ban đầu được các công ty điện
thoại định nghĩa và cũng được các công ty
này xúc tiến mạnh mẽ như là một kỹ thuật
mạng end-to-end, cũng như kỹ thuật tiếng
nói Về khía cạnh này, ATM là kỹ thuật
của cả mạng LAN và WAN có thể cho
phép khách hàng thay thế giọng nói và
các mạng dữ liệu riêng với một mạng đơn
để kiểm soát cả tiếng nói và dữ liệu, cũng
như các nội dung truyền thông đa phương
tiện khác như video chẳng hạn
Trang 12• ATM có các tính năng QoS (quality of service -
chất lượng dịch vụ), cho phép khách hàng chọn
kiểu lưu thông cần ưu tiên, như cho tiếng nói và
video phải đến đúng lúc, để đảm bảo rằng
thông tin ít quan trọng không chiếm lĩnh dòng
lưu thông thời gian-thực.
năng nhất để trở thành một công nghệ mạng
phổ cập Các công ty mới đã được thành lập để
phát triển và tiếp thị các bộ chuyển mạch và các
ATM adapter dùng cho công cộng và cá nhân.
Mbits/sec) đã nổi lên như một người cạnh tranh
đầy tiềm năng của ATM Nó cung cấp dung
lượng cao và sự tương thích với các mạng
Ethernet hiện có.
của bạn thường xuyên truyền tải thông tin hỗn
hợp bao gồm dữ liệu, tiếng nói, video, và các
thông tin multimedia khác Với lưu thông chỉ-dữ
liệu trong môi trường Ethernet hiện có, Gigabit
Ethernet là một giải pháp tốt, nhưng chỉ đến khi
bạn có nhu cầu tích hợp dữ liệu và multimedia
trong một tương lai không xa.
Trang 13• ATM là một chọn lựa hàng đầu do tính
năng QoS của nó Nó là một công nghệ có
thể mở rộng, vận hành từ 25 Mbits/sec
đến 2.46 Gbits/sec, nó có thể dễ dàng tích
hợp với các mạng của các hãng truyền tải,
và nó hỗ trợ việc tích hợp với các công
nghệ có sẵn
• Trong những năm sắp tới, các ứng dụng
multimedia như videophone (điện thoại
hình) và videoconference (hội thảo qua
video) qua mạng sẽ trở nên phổ biến
• Thông tin-Liên lạc là chìa khóa của sự cạnh
tranh và những ứng dụng như thư điện tử,
chia sẻ tài liệu, chia sẻ nhóm, các nhóm
thảo luận, lưu đồ công việc, và nhiều
nữa…, là không thể thiếu trong phạm trù
thông tin-liên lạc
• Khi việc dùng những ứng dụng nầy
tănglên, nhu cầu băng thông cũng tăng
lên ATM là một công nghệ khả mở nên
chắc chắn luôn đáp ứng được những nhu
cầu nầy
Trang 14Xây Dựng Các Mạng ATM
• Các mạng ATM có thể được chia thành hai
loại: dùng riêng và công cộng
• ATM dùng riêng là mạng ATM bên trong
một tổ chức, trong khi ATM công cộng là
dịch vụ mạng diện rộng được kinh doanh
bởi các hãng truyền tải Khi một tổ chức
thi công mạng ATM, đường phân chia giữa
ATM công cộng và dùng riêng sẽ dịch
chuyển
• Việc đưa ATM vào những mạng có sẵn
không dễ dàng Các mạng LAN chia sẻ
dùng kỹ thuật “broadcast”, trong khi ATM
dùng các kết nối điểm- điểm Các LAN là
phi kết nối, trong khi ATM là hướng kết
nối Một số đề nghị, phác thảo và chuẩn
đã được viết để giúp ATM kết hợp được
với công nghệ mạng hiện có
Trang 15ATM làm việc như thế nào?
tiêu chuẩn B-ISDN (Broadband-Integrated
Services Digital Network - Mạng Số Dịch vụ Tích
hợp-Băng tần Rộng) B-ISDN là một tiêu chuẩn
mạng viễn thông số công cộng, được thiết kế để
cung cấp mạng multimedia đầu cuối mức cao
(high-end), truyền hình, âm nhạc chất
lượng-CD, dữ liệu, và những dịch vụ khác cho những
người dùng công ty và gia đình
thực thành công B-ISDN
• ATM Layers
Trang 16• Tầng vật lý định nghĩa giao diện điện tử hoặc
vật lý, các tốc độ đường truyền, và những đặc
tính vật lý khác ATM độc lập với bất kỳ phương
tiện truyền nào.
các cell được truyền, và cách xử lý tắt nghẽn
Nó cũng định nghĩa sự thiết lập và hủy bỏ mạch
ảo.
đổi thông tin từ những tầng cao hơn thành các
ATM cell Trong môi trường mạng, nó cung cấp
giao diện cho việc chuyển các khung thành các
cell cho Ethernet, Token Ring, và những giao
thức mạng khác
Tầng vật lý ATM
• Tầng vật lý của ATM không định nghĩa bất
kỳ một phương tiện riêng nào Các LAN đã
được thiết kế cho cáp đồng trục hay dây
xoắn-đôi và có những qui cách kỹ thuật
cứng nhắc định ra băng thông chính xác
Những qui cách kỹ thuật đã được thiết lập
để phù hợp với những thành phần điện có
sẵn tại thời điểm thiết kế ATM hỗ trợ
nhiều phương tiện khác nhau, bao gồm cả
những phương tiện hiện có được dùng
trong những hệ thống liên lạc khác
Trang 17• Các chuyên gia công nghiệp có xu hướng
chấp nhận SONET (Synchronous Optical
Network - Mạng quang đồng bộ) như
phương tiện truyền vật lý ATM cho cả các
ứng dụng LAN và WAN ATM Forum (diễn
đàn ATM) thì đang đề nghị dùng FDDI
(100 Mbits/sec), Fibre Channel (155
Mbits/sec), OC3 SONET (155 Mbits/sec),
và T3 (45 Mbits/sec) làm giao diện vật lý
cho ATM Hiện tại, hầu hết các hãng
truyền tải đang cung cấp các đường nối
T3 vào các mạng ATM của họ
Tầng ATM
Nó cũng định nghĩa việc định tuyến và kênh
ảo, cũng như kiểm soát lỗi.
Người dùng), được dùng trong những cell do
người dùng gởi.
Mạng-đến-Mạng), được gởi bởi những bộ
chuyển mạch đến các bộ chuyển mạch khác.
Trang 18• ATM cell dài 53 byte; 48 byte dùng cho dữ
liệu và 5 byte dùng cho thông tin tiêu đề
• Các ATM cell là những gói thông tin chứa
dữ liệu và thông tin tiêu đề, trong đó
thông tin tiêu đề chứa thông tin kênh và
thông tin đường đi giúp định hướng cell
đến đích của nó Thông tin được chứa
trong mỗi trường (field) của tiêu đề được
cắt nghĩa như ở đây:
• GFC (Generic Flow Control - Điều khiển
Dòng Tổng quát) Trường nầy vẫn chưa
được định nghĩa trong tiêu đề UNI cell và
ngay cả trong tiêu đề NNI cell
• VPI (Virtual Path Identifier - Phần tử Định
danh Đường Ảo) Định danh những đường
ảo giữa các người dùng hay giữa các người
dùng và các mạng
• VCI (Virtual Channel Identifier - Phần tử
Định danh Kênh Ảo) Định danh kênh ảo
giữa các người dùng hay giữa người dùng
và mạng
Trang 19• PTI (Payload Type Indicator - Bộ chỉ thị Kiểu
Tải-thuê) Chỉ ra kiểu của thông tin trong vùng
dữ liệu của cell, cho biết đó là thông tin của
người dùng, thông tin mạng, hay thông tin quản
lý.
• CLP (Cell Loss Priority - Quyền Ưu tiên Hủy Cell)
Định nghĩa cách thức để hủy bỏ những cell nào
đó nếu tắc nghẽn mạng xảy ra Trường nầy
chứa những giá trị ưu tiên, với 0 chỉ ra rằng cell
có độ độ ưu tiên cao nhất.
đề) Cung cấp thông tin cho việc phát hiện và
sửa sai những lỗi đơn bit.
Tầng thích nghi ATM
• AAL tập trung các gói dữ liệu từ các tầng
cao hơn vào các ATM cell
• AAL có nhiều kiểu và tầng điều hành dịch
vụ khác nhau để phù hợp với những kiểu
lưu thông khác nhau Các tầng dịch vụ
phân loại các ứng dụng dựa trên phương
pháp các bit được truyền, băng thông và
những kiểu kết nối đòi hỏi
Trang 20• Những kiểu và tầng dịch vụ:
Kiểu 1 Một dịch vụ CRB (constant bit
rate, tốc độ bit không đổi) hướng kết
nối với việc qui định thời gian cho các
ứng dụng audio và video Nó tương tự
như T1 hay T3 và cung cấp nhiều tốc độ
dữ liệu
Kiểu 2 Một dịch vụ VBR (variable bit
rate,tốc độ bit thay đổi) cho các ứng
dụng thời gian thực trong đó những mất
không-quan trọng-về-thời gian như liên
mạng LAN hay giả lập LAN Một mức
dịch vụ cơ bản luôn luôn sẵn sàng, và
băng thông dự phòng cho những cao
điểm lưu thông, nếu băng thông mạng
vẫn còn
Kiểu 5 Một dịch vụ UBR (unspecified bit
rate - tốc độ bit không được chỉ rõ) cung
cấp băng thông rảnh cho những dịch vụ
không quan trọng như truyền tập tin
Trang 21• QoS (quality of service - chất lượng dịch
vụ) có thể thương lượng với các hãng
truyền tải khi hợp đồng dịch vụ Ghi nhớ
rằng bạn có thể nhận được các mạch có
thể truyền theo cả hai chiều giữa các địa
điểm, và các mạch nầy có thể có những
tốc độ dữ liệu và QoS khác nhau
• ATM là một công nghệ hướng kết nối,
nghĩa là nó thiết lập những mạch ảo liên
kết các hệ thống cuối Các cell có thể
được truyền tiếp một cách nhanh chóng
qua mạng, và đòi hỏi rất ít việc xử lý bởi
các trạm trung gian dọc đường
• Trong phần tiều đề của ATM cell, VPI
(Virtual Path Identifier - Phần tử Định
danh Đường ảo) định danh một liên kết
hình thành bởi một đường ảo và một VCI
(Virtual Channel Identifier - Phần tử Định
danh Kênh ảo) định danh một kênh bên
trong một đường ảo VPI và VCI được
định danh và tương ứng với các điểm kết
thúc tại những bộ chuyển mạch ATM
Trang 22• ATM hỗ trợ cả các PVC (permanent virtual
circuits - các mạch ảo cố định) và các SVC
(switched virtual circuits - các mạch ảo
chuyển mạch) Các PVC luôn luôn có sẵn
còn các SVC đòi hỏi phải thiết lập mỗi lần
chúng được dùng Các kênh multicast
cũng được hỗ trợ, do đó một người gởi có
thể thiết lập một mạch đến nhiều người
nhận
Giao tiếp ATM
• UNI (User Network Interface - Giao diện
mạng người dùng) :Định nghĩa kết nối
giữa thiết bị người dùng và thiết bị ATM
Khi được kết nối đến một ATM WAN, UNI
là đường truyền thuê bao giữa địa điểm
khách hàng và điểm truy cập của hãng
truyền tải Nó có thể là một đường T1 hay
một ATM FUNI (Frame UNI) Đường
truyền FUNI truyền các khung đến mạng
ATM, tại đó chúng được chuyển thành các
cell bởi hãng truyền tải FUNI có thể giảm
những chi phí phần cứng
Trang 23• NNI (Network-to-Network Interface - Giao diện
Mạng-đến-Mạng) Đây là giao diện giữa các thiết
bị ATM.
• ICI (Intercarrier Interface Giao diện giữa các
-hãng truyền tải) Đây là giao diện giữa các điểm
kết nối ATM giữa các mạng của hãng truyền tải
khác nhau.
đổi Dữ liệu) Phương pháp nầy cung cấp một
giao diện cho thiết bị cũ dùng lại như các bộ
định tuyến và ATM bằng phương pháp tạo
khung HDLC (High-level Data Link Control - Điều
khiển Liên kết dữ liệu Mức-cao) Các gói dữ liệu,
không phải các cell, được truyền đến giao diện
ATM.
Liên kết mạng dùng ATM
chỉnh bằng ATM bằng cách cài đặt các ATM NIC
trong các máy trạm và kết nối các máy trạm nầy
đến một bộ chuyển mạch ATM Tuy nhiên, mạng
thuần túy-ATM là hiếm Một kịch bản phổ biến
hơn là liên kết các mạng kiểu khung như Ethernet
đến một đường trục của ATM hay xây dựng một
mà không cần sự giúp đỡ của điều hành viên Đây
là mục tiêu của ATM-cho phép một người dùng
kết nối với bất kỳ người dùng khác qua một mạng
ATM cục bộ hay diện rộng Yếu tố quan trọng là
người dùng (hay các ứng dụng người dùng) có
Trang 24Kết nối các mạng LAN cũ vào ATM
thì khó khăn Một lý do là các mạng LAN truyền
thống là các mạng phi kết nối còn ATM là hướng
kết nối Nếu quan tâm tầm quan trọng của điều
nầy, bạn có thể biết nguồn gốc của vấn đề Khi
một trạm Ethernet thực hiện truyền, tất cả các
trạm khác trên mạng có thể thấy thông điệp,
nhưng chỉ có trạm mà thông điệp được định địa
chỉ đến mới đáp ứng Nhưng nếu mạng được
xây dựng với một bộ chuyển mạch ATM, các
trạm có khả năng nối kết với nhau qua các mạch
ảo ATM thay cho môi trường dùng chung để
phát tán thông tin.
(Address Resolution Protocol - Giao thức pPhân
giải địa chỉ) Một máy chủ gởi một thông điệp
đến tất cả các trạm để hỏi về địa chỉ IP của trạm
đó Một địa chỉ MAC (Medium Access Control -
Điều khiển truy cập phương tiện) được trả về
bởi trạm sở hữu địa chỉ.
vì ATM không hỗ trợ kỹ thuật broadcast Một
trạm sẽ cần gởi một yêu cầu như vậy lên mọi
mạch Điều này gây lãng phí băng thông Vấn
đề đã được giải quyết bằng cách đưa ra một
phương pháp để giả lập một LAN cho ATM
Trang 25• ATM Forum (Diễn đàn ATM) đã định nghĩa
qui cách kỹ thuật LANE 1.0 (LAN
Emulation,Giả lập LAN) vào năm 1995
LANE thực hiện hai việc sau:
• Nó cung cấp một phương pháp độc lập
với giao thức để các thiết bị của một LAN
phi kết nối, dựa trên khung, liên lạc qua
một mạng hướng kết nối, dựa trên cell
• Nó định nghĩa cách các client được gắn
vào-LAN có thể liên lạc với những server
được gắn vào một ATM nhưng không cần
thay đổi phần mềm ứng dụng
• Để giải quyết vấn đề tìm kiếm địa chỉ
mạch tương ứng với các địa chỉ IP, LANE
định nghĩa một LES (LAN Emulation Server
- Server Giả lập LAN) Server duy trì một
bảng để ghi những địa chỉ mạch tương
ứng với các địa chỉ IP IETF (Internet
Engineering Task Force - Lực lượng đặc
nhiệm Kỹ thuật Internet) cũng chấp nhận
mô hình này đến một mức độ nào đó và
đã gọi LES Server là ATMARP server (ATM
Address Resolution Protocol - Giao thức
Trang 26• LANE không cung cấp một giải pháp đầy đủ cho
việc có được khả năng kết nối ATM xuyên suốt
Một khi các LAN client cũ dùng lại được kết nối
cách đặc tả được QoS của ATM Như đã được đề
cập, LANE có khuynh hướng dấu không cho ATM
biết về các ứng dụng do đó các client của
Ethernet và Token Ring đang dùng có thể chạy
bình thường
trên-khung và không có cách nào để nói chuyện với
mạng ATM, do vậy chúng không biết các mức
QoS hiện có của ATM ATM Forum (Diễn đàn
ATM) đang làm việc để điều chỉnh vấn đề nầy
bằng LANE version 2.0.
• Các giải pháp:
1. PACE của 3Com (priority access control
enabled - cho phép điều khiển sự truy
cập có độ ưu tiên) có thể mở rộng QoS
đến với máy tính để bàn
2. Cells in Frames (Các cell trong khung),
đã vượt qua cả quãng đường dài để định
nghĩa cách thức để cho phép máy tính
để bàn dùng ATM
3. WinSock Group đã thêm QoS vào
Windows API, và X/Open đang cải tiến
tập UNIX API
Trang 27Xây dựng mạng ảo
dựng các mạng ảo
Một người quản trị tạo ra một VLAN bằng cách
nhóm các máy trạm lại với nhau, không quan
tâm vấn đề chúng ở đâu trên mạng Tất cả
người dùng trong một VLAN chia sẻ cùng địa chỉ
mạng con Khi một người dùng trong một VLAN
thực hiện việc truyền thông điệp, tất cả người
dùng trong VLAN thấy thông điệp, mặc dù các
máy tính của chúng tại nhiều vị trí vật lý khác
nhau trên mạng.
• Định tuyến qua các VLAN
Khi các người dùng trong một VLAN cần
liên lạc với các người dùng trong một
VLAN khác, việc định tuyến là cần thiết để
thiết lập một đường đi giữa các VLAN
Một kỹ thuật để thực hiện điều nầy là
MPOA (Multiprotocol over ATM - Đa giao
thức qua ATM) của ATM Forum (Diễn đàn
ATM), một qui cách kỹ thuật định nghĩa
việc định tuyến tầng-3 qua ATM
Trang 28• Một cách tiếp cận thay thế được gọi là I
PNNI (Integrated Privated
Network-to-Network Interface - Giao diện
Mạng-đến-Mạng Dùng riêng Tích hợp) PNNI là một
tiêu chuẩn ATM để tạo ra những đường
dẫn QoS giữa các bộ chuyển mạch ATM I
PNNI mở rộng PNNI để cung cấp việc định
tuyến tích hợp
• Sự chuyển mạch IP là một kỹ thuật đã
được lần đầu tiên phát triển bởi Ipsilon
trong khuôn khổ IFMP (Ipsilon Flow
Management Protocol - Giao thức Quản lý
Dòng Ipsilon)
Các thay đổi trong ATM
triển đang diễn ra trong đó người ta bỏ qua một
số tiêu chuẩn để có thể hỗ trợ cho các mạng và
giao thức cũ dùng lại
Ethernet hiện tại khả năng cải thiện tốc độ
đường trục (lên đến 1,000 Mbits/sec) và duy trì
sự tương thích với các mạng Ethernet đang
dùng
nhiều cổng trong đó mỗi cổng có bộ xử lý riêng
của nó để định tuyến cho thông tin với tốc độ
lên đến 100,000 gói dữ liệu trong một giây Điều
nầy nâng năng lực xử lý gói tổng cộng của
những thiết bị như vậy lên hơn 1 triệu gói dữ
Trang 29Công nghệ ADSL
• ADSL viết tắt của Asymmetric Digital
Subscriber Line-đó là đường thuê bao số
không đối xứng, kỹ thuật truyền được sử
dụng trên đường dây từ Modem của thuê
bao tới Nhà cung cấp dịch vụ
Trang 30• Asymmetric: Tốc độ truyền không giống nhau
lưu lượng lớn dữ liệu tải về từ Internet
mức bít (0 & 1) và dùng để chuyển thông
tin số hoá giữa các thiết bị số như các
máy tính PC Chính ở khía cạnh này thì
ADSL không có gì khác với các Modem
thông thường
Trang 31• Subscriber Line: ADSL tự nó chỉ hoạt
động trên đường dây thuê bao bình
thường nối tới tổng đài nội hạt Ðường
dây thuê bao này vẫn có thể được tiếp tục
sử dụng cho các cuộc gọi đi hoặc nghe
điện thoại cùng một thời điểm thông qua
thiết bị gọi là "Splitters" có chức năng tách
thoại và dữ liệu trên đường dây
Trang 32• Trong sơ đồ trên Các thành phần từ phía nhà
Trang 33• + BAS – Broadband Access Server lag thiết bị
• + ISP – Internet Service Provider : L nhà cung cấp
dịch vụ iên quan đến Internet Tại Việt Nam có các nhà
cung câp như: FPT, VDC
+ Mạch vòng truyền dẫn là thuật ngữ dùng để chỉ các
đường dây điện thoại bình thường nối từ vị trí người sử
dụng tới công ty điện thoại.
Sử dụng dịch vụ thông qua các bước :
- Khi muốn sử dụng dịch vụ, khách hàng bật Modem,
Router ADSL
- Modem, Router sẽ bắt tay k t nối với mạng cung cấp
dịch vụ (DSLAM)
- Khách hàng đăng nhập v o mạng
- Nếu là truy nhập Internet, tín hiệu từ máy tính truyền
qua Modem/router đến DSLAM, qua thiết bị BRAS đến
mạng VNN
- Nếu gọi điện thoại, tín hiệu từ điện thoại truyền qua
Modem/router, đến DSLAM qua b ghép tách Splitter rồi
đến tổng đài thoạI công cộng (PSTN)