Quan hệ địa chỉ lớp 2&3, kỹ thuật ánh xạ địa chỉ IP và MACBáo cáo bài tập lớn môn Mạng máy tính Viện điện tử viễn thông Đại học Bách Khoa Hà Nội
Trang 1Quan hệ địa chỉ lớp 2 & 3
Kỹ thuật ánh xạ địa chỉ IP và MAC
Sinh viên: Ngô Quang Hà
Nguyễn Đức Minh Lớp : ĐT7- K48
Trang 2Phần I: Quan hệ địa chỉ lớp 2 & 3
Mỗi một địa chỉ MAC trên thế giới là duy
nhất
Địa chỉ MAC được sử dụng để phân phát
các gói tới đích đến của chúng trên một mạng
Nếu không có địa chỉ IP, mỗi một Router
sẽ phải theo dõi sự định vị (hay vị trí) của mỗi một địa chỉ MAC trên liên mạng
Trang 3Phần I: Quan hệ địa chỉ lớp 2 & 3
Địa chỉ IP sẽ chịu trách nhiệm phân phát
gói tin đến đúng mạng đích
Địa chỉ MAC sau đó được sử dụng để
phân phát gói tin mang tính chất cục bộ.
Trang 4Phần II: Kỹ thuật ánh xạ địa chỉ IP & MAC
Ánh xạ địa chỉ IP vào địa chỉ MAC_ Giao
thức phân giải địa chỉ (ARP)
Ánh xạ địa chỉ MAC vào địa chỉ IP – giao
thức phân giải địa chỉ đảo ngược RARP (Reverse ARP).
Trang 5Ánh xạ địa chỉ IP vào địa chỉ MAC
1. Giới thiệu
Tổ hợp địa chỉ TCP/IP trong mỗi một Host
được gán một địa chỉ 32 bit
các mạng sử dụng địa chỉ được gán khi thực
hiện việc gửi hoặc nhận các gói
Hai máy trên cùng một mạng vật lý xác
định có thể giao tiếp với nhau khi chúng
biết được địa chỉ mạng vật lý của máy kia
Vấn đề: một Host hay một Router ánh xạ
một địa chỉ IP tới địa chỉ vật lý đó như thế nào khi nó cần gửi một gói qua mạng vật
lý?
Trang 6Ánh xạ địa chỉ IP vào địa chỉ MAC
2 Vấn đề phân giải địa chỉ
Hai máy A và B kết nối tới cùng một mạng vật lý,
mỗi máy có địa chỉ IP tương ứng là IA,IB và địa chỉ vật lý tương ứng là PA, PB
Máy A muốn gửi một gói tới máy B, máy A sẽ ánh
xạ địa chỉ tới địa chỉ vật lý của máy B (PB) như thếnào?
Máy A phải ánh xạ địa chỉ Internet của đích đến
cuối cùng tới địa chỉ vật lý của đích đến
Nếu gói đó phải gửi qua một Router trung gian,
máy A phải ánh xạ địa chỉ internet của Router
trung gian tới địa chỉ vật lý
Vấn đề ánh xạ địa chỉ tới địa chỉ vật lý được gọi là
vấn đề phân giải địa chỉ (ARP)
Trang 7Ánh xạ địa chỉ IP vào địa chỉ MAC
3 Hai loại địa chỉ vật lý
Địa chỉ vật lý cố định (được minh hoạ bởi
Ethernet)
Địa chỉ vật lý có cấu hình đơn giản (được
minh hoạ bởi ProNet)
Trang 8Ánh xạ địa chỉ IP vào địa chỉ MAC
4 Phân giải qua ánh xạ trực tiếp
Xét một mạng ProNet token ring
một địa chỉ IP được gán với HostID chia
thành 1, 2, 3 …
Khi thiết lập phần cứng giao diện mạng thì
chọn một địa chỉ vật lý tương ứng với địa chỉ IP
Ví dụ: người quản trị hệ thống sẽ lựa chọn
địa chỉ vật lý 3 cho một máy tính với địa chỉ
IP 192.5.48.3 bởi vì 192.5.48.3 là một địa chỉ lớp C với địa chỉ Host bằng 3
Trang 9Ánh xạ địa chỉ IP vào địa chỉ MAC
5 Phân giải qua sự liên kết động
Mỗi một giao diện Ethernet được gán một
địa chỉ vật lý 48 bit khi thiết bị đó được sản xuất
Địa chỉ Ethernet dài 48 bit và khó có thể mã
hoá trong điạ chỉ IP 32 bit
ARP là một giao thức cho phép một Host
tìm được địa chỉ vật lý của một Host đích trên cùng một mạng vật lý bằng cách đưa ra địa chỉ IP của Host đích
Trang 10Ánh xạ địa chỉ IP vào địa chỉ MAC
5 Phân giải qua sự liên kết động
Trang 11Ánh xạ địa chỉ IP vào địa chỉ MAC
5 Phân giải qua sự liên kết động
Host A muốn phân giải địa chỉ (IP, IB), nó quảng
bá một gói tin đặc biệt để thông báo với Host có địa chỉ (IP, IB) trả lời địa chỉ vật lý của nó PB
Tất cả các Host, bao gồm cả Host B đều nhận được
yêu cầu, nhưng chỉ có Host B nhận ra địa chỉ IP
của nó và gửi một sự hồi âm bao gồm địa chỉ vật lý của nó
Khi Host A nhận được sự hồi âm, nó sử dụng địa
chỉ vật lý để gửi một gói tin thẳng đến B
Trang 12Ánh xạ địa chỉ IP vào địa chỉ MAC
5 Phân giải qua sự liên kết động
Xét ví dụ sau:
Trang 13Ánh xạ địa chỉ IP vào địa chỉ MAC
5 Phân giải qua sự liên kết động
Có hai Ethernet, phòng khoa học máy tính có địa
chỉ IP là 192.31.65.0 và phòng kỹ thuật điện có địa chỉ là 192.31.63.0
Chúng được kết nối bởi vòng FDDI mang nhãn E1
đến E6, mỗi máy trên vòng FDDI có một địa chỉ FDDI, nhãn F1 đến F3
Host 1 gửi một gói tin đến Host 2 (192.31.65.5)
Trang 14Ánh xạ địa chỉ IP vào địa chỉ MAC
5 Phân giải qua sự liên kết động
Host 1 có thể trông vào địa chỉ IP của host 2 và biết
máy đích đang mở trên mạng của mình
Host 1 cần một cách để tìm địa chỉ Ethernet của
máy đích
Giải pháp là có một tập tin cấu hình trong hệ thống,
ánh xạ các địa chỉ IP lên các địa chỉ Ethernet
Giải pháp tốt hơn là cho host 1 xuất một gói tin
quảng bá đến tại từng máy trên Ethernet
192.32.65.0 hỏi : “ai có địa chỉ IP 192.31.65.5?”
Trang 15Ánh xạ địa chỉ IP vào địa chỉ MAC
5 Phân giải qua sự liên kết động
Mỗi máy sẽ kiểm tra địa chỉ IP của mình, một mình
host 2 trả lời với địa chỉ Ethernet của nó (E2)
Host 1 biết được địa chỉ IP 192.31.65.5 ở trên host
có địa chỉ Ethernet E2
Giao thức hỏi câu hỏi này và có được hồi âm như
thế gọi là ARP (Address Resolution Protocol)
Phần mềm IP trên host 1 xây dựng một khung
Ethernet nhắm địa chỉ đến E2 và để nó lên Ethernet
Trang 16Ánh xạ địa chỉ IP vào địa chỉ MAC
5 Phân giải qua sự liên kết động
Bảng mạch Ethernet của host phát hiện khung này
thừa nhận nó như một khung của mình
Bộ điều khiển Ethernet (driver) trích gói tin IP từ
tải trọng và chuyển cho phần mềm IP để biết nó là địa chỉ đúng, xử lý nó
Khi host 1 muốn gửi một gói tin cho host 4
(192.31.63.8)
Việc dùng ARP sẽ mất vì Host 4 sẽ không biết
quảng bá (các router không chuyển các quảng báEthernet)
Trang 17Ánh xạ địa chỉ IP vào địa chỉ MAC
5 Phân giải qua sự liên kết động
Giải pháp 1
router CS có thể được cấu hình để trả lời
các yêu cầu ARP cho mạng 192.31.63.0
Host 1 sẽ lập một trừu nhập cache ARP
(192.31.63.8, E1)
gửi tất cả mọi giao thông cho host 4 đến
router cục bộ Giải pháp này gọi là proxy ARP.
Trang 18Ánh xạ địa chỉ IP vào địa chỉ MAC
5 Phân giải qua sự liên kết động
Giải pháp 2
Host 1 thấy máy đích ở trên một mạng từ xa, sẽ gửi
ngay tất cả các giao thông đến một địa chỉ Ethernet mặc định quản lý tất cả các giao thông từ xa, trong trường hợp này là E3
router CS có được khung Ethernet nhận ra là các
gói tin đó cho mạng 192.31.60.0 được giả định đi tới router 192.31.60.7
Nếu không biết địa chỉ FDDI của 192.31.60.7 nó
quảng bá một gói tin ARP lên vòng và biết được địa chỉ vòng của mình là F3
Trang 19Ánh xạ địa chỉ IP vào địa chỉ MAC
5 Phân giải qua sự liên kết động
Tại router EE, bộ điều khiển FDDI gỡ bỏ gói tin và
cho nó đến phần mềm IP
Phần mềm IP thấy nó cần gửi gói tin đến
192.31.63.8 với địa chỉ đích là E6
Nó xây dựng một khung Ethernet nhắm địa chỉ
đích là E6 và gửi lên trên Ethernet
Khi khung Ethernet đến host 4, gói tin được trích ra
từ khung và đi qua phần mềm IP để xử lý
Trang 20Ánh xạ địa chỉ IP vào địa chỉ MAC
6 Bộ nhớ phân giải địa chỉ
Không phải bất cứ khi nào máy A muốn gửi gói tin
đến máy B thì phải thực hiện việc quảng bá
Sử dụng bộ nhớ cache ARP để lưu trữ và duy trì
những yêu cầu liên kết địa chỉ IP tới địa chỉ vật lý
Khi nhận được một hồi âm ARP, nó sẽ lưu địa chỉ
IP và thông tin địa chỉ phần cứng tương ứng vào bộnhớ cache của nó cho những lần tìm kiếm tiếp theo
Khi thực hiện truyền gói, một máy tính luôn luôn
tìm trong bộ nhớ cache của nó cho một sự liên kết trước khi gửi một yêu cầu ARP
Nếu nó tìm thấy sự liên kết trong bộ nhớ cache của
nó, máy tính sẽ không cần quảng bá trên mạng
Trang 21Ánh xạ địa chỉ IP vào địa chỉ MAC
7 ARP cache Timeout
Giả thết rằng A gửi cho B một yêu cầu ARP và B
đã hồi âm lại, và giả thiết sau đó B có sự cố
Máy A đã có thông tin liên kết địa chỉ cho B trong
bộ nhớ cache của nó, máy A tiếp tục gửi gói đến máy B
Máy A không biết rằng thông tin trong bộ nhớ
cache ARP của nó đã trở nên không đúng
Khắc phục: sử dụng bộ định thời với trạng thái
thông tin sẽ bị xoá khi hết thời gian định thời
Khi nào thông tin liên kết địa chỉ bị thay đôi trong
bộ nhớ cache ARP, giao thức sẽ yêu cầu thiết lập
bộ định thời với thời gian timeout khoảng 20 phút
Trang 22Ánh xạ địa chỉ IP vào địa chỉ MAC
7 ARP cache Timeout
Khi hết thời gian định thời, thông tin đó phải bị loại
bỏ
Sau khi loại bỏ:Nếu không có gói tin nào được gửi
đến đích, sẽ không có chuyện gì xảy ra
Nếu một gói phải được gửi đến đích và trong bộ
nhớ cache ARP không có thông tin của sự liên kết, máy tính sẽ theo thủ tục thông thường của việc
quảng bá một yêu cầu ARP
Nếu đích đến vẫn không thể đạt tới được, người gửi
sẽ biết rằng đích đến đang off-line
Trang 23Ánh xạ địa chỉ IP vào địa chỉ MAC
8 Sự cải tiến ARP
A gửi một yêu cầu tới B bao gồm cả sự liên
kết địa chỉ IP vào địa chỉ vật lý của A
B trích địa chỉ liên kết của A và lưu địa chỉ
liên kết đó vào trong bộ nhớ cache ARP của B
Các máy trên mạng nhận được yêu cầu ARP
cũng trích ra và update sự liên kết địa chỉ
vào bộ nhớ cache của chúng
Trang 24Ánh xạ địa chỉ IP vào địa chỉ MAC
9 Mối quan hệ giữa ARP và các giao thức
ARP là một giao thức mức thấp ẩn bên dưới
của địa chỉ vật lý mạng, cho phép gán một địa chỉ IP bất kỳ tới mỗi máy
Chúng ta nghĩ rằng ARP là một phần của hệ
thống mạng vật lý chứ không phải là một phần của những giao thức internet
Trang 25Ánh xạ địa chỉ IP vào địa chỉ MAC
10 Sự thi hành ARP
Các yêu cầu quảng bá ARP đầu tiên cũng có thể bị
mất, vì thế các Host phải lưu trữ những gói gốc này
để chúng có thể được truyền lại
Khi một gói ARP đến, máy thu phải xem đó là một
yêu cầu ARP, hay hồi âm ARP, xem đích đến của yêu cầu:nếu đích đến là nó, nó sẽ gửi lại một hồi
âm, nếu đích đến không phải là nó, nó sẽ yêu cầu một ánh xạ tới một vài máy khác ở trên mạng
Thông thường phần mềm ARP sắp xếp các gói
được thêm vào trên một hàng Khi hồi âm đến và địa chỉ liên kết đã được biết, phần mềm ARP sẽ
loại bỏ các gói khỏi hàng đó, đưa mỗi gói vào trong một khung và sử dụng sự liên kết địa chỉ để điền đầy vào địa chỉ vật lý đích
Trang 26Ánh xạ địa chỉ IP vào địa chỉ MAC
11 Sự nhận dạng ARP
Để nhận dạng, bên gửi phải gán một giá trị đặc biệt vào trường Frame Header và đưa bản tin ARP vào trường dữ liệu của khung
Đối với Ethernet thì khung mang bản tin ARP có trường kiểu loại là 080616
Trang 27Ánh xạ địa chỉ IP vào địa chỉ MAC
12 ARP Protocol Format
Dữ liệu trong gói ARP không có một khuôn
dạng Header cố định
Chiều dài của trường chứa địa chỉ phụ thuộc
vào kiểu mạng
Một bản tin ARP bất kỳ thì Header bao gồm
những trường cố định định rõ chiều dài của các địa chỉ tìm thấy trong các trường kế tiếp
Trang 28Ánh xạ địa chỉ IP vào địa chỉ MAC
12 ARP Protocol Format
Trang 29Ánh xạ địa chỉ IP vào địa chỉ MAC
12 ARP Protocol Format
Trường HARDWARE TYPE có giá trị là 1cho Ethernet
Trường PROTOCOL TYPE mang giá trị 080016 cho địa chỉ
IP
Trường OPERATION chỉ rõ một APR request (1), APR
response (2), RARP request (3), hoặc RARP response (4)
Trường HLEN và PLEN chỉ rõ độ dài của địa chỉ phần cứng
và độ dài của địa chỉ giao thức mức cao
Địa chỉ phần cứng và địa chỉ IP được cung cấp trong trường
SENDER HA và SENDER IP
Khi tạo ra một request, phía gửi cũng sẽ cung cấp địa chỉ
phần cứng đích (RARP) hoặc địa chỉ IP đích (ARP) sử dụng trường TARGET HA hoặc TARGET IP
Trang 30Ánh xạ địa chỉ MAC vào địa chỉ IP
1 Giới thiệu
Địa chỉ mạng vật lý là địa chỉ mức thấp và
phụ thuộc vào phần cứng
Mỗi một máy sử dụng TCP/IP được gán
một hoặc nhiều địa chỉ IP 32 bit là phụ
thuộc vào địa chỉ phần cứng của máy
Thông thường địa chỉ IP của máy tính được
giữ trong bộ nhớ thứ cấp để hệ điều hành sẽ tìm trong đó khi khởi động
Câu hỏi đặt ra là: một máy sẽ xác định được
địa chỉ IP của nó bằng cách nào khi nó
không có một đĩa thường trực?
Trang 31Ánh xạ địa chỉ MAC vào địa chỉ IP
1 Giới thiệu
Vì các máy cần có một địa chỉ IP trước khi sử dụng
giao thức truyền file TCP/IP chuẩn để có được
những hình ảnh khởi động đầu tiên của chúng
Giải pháp:một máy cần biết địa chỉ IP của nó sẽ gửi
một yêu cầu tới một server trên máy khác và đợi cho đến khi server đó gửi lại một hồi âm
Địa chỉ internet của máy đó phải nhận dạng duy
nhất chính nó thì server mới có thể tìm kiếm đúng địa chỉ internet và gửi lại một hồi âm
Để bên gửi biết được địa chỉ vật lý của một server,
nó phải quảng bá yêu cầu tới tất cả các máy trên mạng cục bộ, một hoặc nhiều server sẽ hồi âm
Trang 32Ánh xạ địa chỉ MAC vào địa chỉ IP
2 Giao thức phân giải địa chỉ ngược (RARP)
Có một thành phần của thông tin nhận dạng duy
nhất sẵn sàng để dùng đó là địa chỉ mạng vật lý của
máy
Sử dụng địa chỉ vật lý như một sự nhận dạng duy
nhất có hai ưu điểm: + một host có được địa chỉ vật lý của nó từ giao
diện phần cứng mạng
+ Những địa chỉ đó luôn sẵn sàng để dùng vàkhông phải liên kết vào bên trong mã khởi động
Vấn đề phân giải địa chỉ ngược: đưa ra một địa chỉ
mạng vật lý, tạo ra một tổ hợp cho phép một server
ánh xạ địa chỉ vật lý vào bên trong một địa chỉ
internet
Trang 33Ánh xạ địa chỉ MAC vào địa chỉ IP
2 Giao thức phân giải địa chỉ ngược (RARP)
RARP được phỏng theo từ giao thức ARP
Bản tin RARP được gửi đi từ một máy vào
bên trong phần dữ liệu của một khung mạng
Ví dụ: một khung Ethernet mang một yêu
cầu RARP có phần mào đầu, địa chỉ nguồn
và địa chỉ đích của Ethernet và trường kiểu gói ở trước khung
Kiểu khung chứa giá trị 803516 để nhận
dạng nội dung của khung như một bản tin RARP Phần dữ liệu của khung chứa bản tin RARP dài 28 octet
Trang 34Ánh xạ địa chỉ MAC vào địa chỉ IP
2 Giao thức phân giải địa chỉ ngược (RARP)
Trang 35Ánh xạ địa chỉ MAC vào địa chỉ IP
2 Giao thức phân giải địa chỉ ngược (RARP)
Bên gửi quảng bá một yêu cầu RARP để chỉ
rõ chính nó vừa là máy gửi vừa là máy đích
và cung cấp địa chỉ vật lý mạng của nó
trong một trường địa chỉ phần cứng đích
Tất cả các máy tính trên mạng nhận được
yêu cầu, nhưng chỉ những máy được quyền cung cấp dịch vụ RARP xử lý yêu cầu và
gửi lại hồi âm
Những máy tính này được biết như là các
RARP server
Để RARP thành công thì mạng phải có ít
nhất một RARP server.
Trang 36Ánh xạ địa chỉ MAC vào địa chỉ IP
2 Giao thức phân giải địa chỉ ngược (RARP)
Những server trả lời các yêu cầu bằng cách
điền vào trường giao thức địa chỉ đích, thay đổi kiểu bản tin từ yêu cầu sang hồi âm và gửi hồi âm quay thẳng lại tới máy đưa ra yêu cầu
Máy gốc nhận những hồi âm từ tất cả các
RARP server
Trang 37Ánh xạ địa chỉ MAC vào địa chỉ IP
3 Timing RARP
Giống như bất kỳ sự truyền tin trên một mạng
chuyển phát có hiệu suất cao,những yêu cầu RARP
và những đáp ứng dễ bị mất
Bởi vì RARP sử dụng trực tiếp mạng vật lý, không
có phần mềm giao thức nào khác tính thời gian đáp ứng hoặc truyền lại yêu cầu và phần mềm RARP phải đảm nhận nhiệm vụ đó
Một vài máy tính phụ thuộc vào RARP để khởi
động, sẽ chọn việc thử lại cho đến khi chúng nhận được một đáp ứng
Việc sử dụng một thời gian trễ dài để chắc chắn
rằng các server có đủ thời gian để đáp ứng yêu cầu
và trả lời
Trang 38Ánh xạ địa chỉ MAC vào địa chỉ IP
4 RARP server sơ cấp
Việc có nhiều máy tính có tính năng như
những RARP server làm cho hệ thống trở nên đáng tin cậy
Nếu một server bị hỏng hoặc bị quá tải cho
việc đáp ứng, một server khác sẽ trả lời yêu cầu
Nhưng mạng sẽ trở nên bị quá tải bởi vì tất
cả các server đều đáp ứng
Trang 39Ánh xạ địa chỉ MAC vào địa chỉ IP
4 RARP server sơ cấp
Giải pháp:mỗi máy tạo ra những yêu cầu
RARP được gán với một server sơ cấp
bình thường thì chỉ có các server sơ cấp của
máy đó mới đáp ứng các yêu cầu RARP của máy đó
Tất cả các server khác không phải là server
sơ cấp vẫn thu nhận các yêu cầu nhưng chỉ ghi lại trong thời gian đến của nó
Nếu server sơ cấp không sẵn sàng để dùng,
máy gửi sẽ chờ đáp ứng đến khi hết khoảng thời gian timeout sau đó nó sẽ quảng bá lại yêu cầu