Đặc điểm thành ngữ so sánh tiếng Hán (có đối chiếu với tiếng Việt)
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
VIỆN NGÔN NGỮ HỌC
=========== ==========
PHẠM MINH TIẾN
ĐẶC ĐIỂM THÀNH NGỮ SO SÁNH TIẾNG HÁN
(CÓ ĐỐI CHIẾU VỚI TIẾNG VIỆT)
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ Chuyên ngành: Lý luận ngôn ngữ
Mã số: 6222.01.01
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC GS.TS Nguyễn Văn Khang
HÀ NỘI – 2008
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
=========== ==========
ĐẶC ĐIỂM THÀNH NGỮ SO SÁNH TIẾNG HÁN
(CÓ ĐỐI CHIẾU VỚI TIẾNG VIỆT)
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN Chuyên ngành: Lý luận ngôn ngữ
Mã số: 6222.01.01 (5.04.08)
HÀ NỘI – 2008
Trang 3Công trình được hoàn thành tại : Viện Ngôn ngữ học - Viện khoa
h ọc Xã hội Việt Nam
Ng ười hướng dẫn khoa học : GS.TS Nguy ễn Văn Khang Ph ản biện 1 :
Ph ản biện 2 :
Ph ản biện 3 :
Lu ận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Nhà nước h ọp tại: Viên ngôn ngữ học - Viện Khoa học Xã hội Việt Nam vào hồi …giờ ………ngày ……tháng …… năm ……
Có th ể tìm hiểu luận án tại thư viện:
- Thư viện Quốc Gia
- Th ư viện Viện Ngôn ngữ học
- Th ư viện trường Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 4Phần mở đầu
1. Lí do chọn đề tài
Thành ngữ luôn chiếm vị trí quan trọng trong hệ thống các đơn vị
từ vựng, có giá trị biểu đạt độc đáo, tinh tế, hình tượng, cô đọng và súc tích
Thành ngữ còn giúp cho các dân tộc tìm được bản sắc văn hoá riêng của mình qua ngôn ngữ
Lớp thành ngữ có cấu trúc của phép so sánh tu từ (mà luận án gọi
là thành ngữ so sánh) không những chứa đựng cấu trúc hình thái của Hán ngữ cổ – kim, mà còn ẩn chứa đầy đủ cuộc sống xã hội và tư duy của dân tộc Hán Quan trọng là vậy, nhưng các công trình nghiên cứu về thành ngữ so sánh tiếng Hán lại quá ít
Việc nghiên cứu đối chiếu thành ngữ giữa hai ngôn ngữ tiếng Hán
và tiếng Việt thì chưa xứng với tầm quan trọng của nó
Vì thế, chúng tôi chọn thành ngữ so sánh tiếng Hán và đối chiếu nó với thành ngữ so sánh tiếng Việt làm đối tượng nghiên cứu của luận án
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đặc điểm cấu trúc hình thái - đặc điểm ngữ nghĩa của thành ngữ
so sánh tiếng Hán
- Nét văn hoá trong thành ngữ so sánh tiếng Hán và tiếng Việt
- Vận dụng vào việc đối dịch và giảng dạy tiếng Hán
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận án
3.1 Mục đích
Luận án nhằm làm nổi bật những đặc điểm sau:
- Góp phần vào giải quyết vấn đề lí luận về phép so sánh trong ngôn ngữ
- Nêu bật những đặc trưng của ngôn ngữ đơn lập được thể hiện trong cấu trúc hình thái của thành ngữ so sánh, chỉ ra những đặc trưng tư duy và nét văn hoá dân trong thành ngữ so sánh
- Bộc lộ những nét tương đồng và dị biệt giữa hai ngôn ngữ Hán và Việt
- Chỉ ra những nét văn hoá và tư duy dân tộc giống và khác nhau
được thể hiện trong lớp thành ngữ so sánh tiếng Hán và tiếng Việt,
Trang 5- Tìm ra những nét tương đồng và dị biệt về đặc điểm ngôn ngữ, và
đặc trưng văn hoá giữa hai ngôn ngữ tiềm ẩn trong lớp thành ngữ so sánh
- Vận dụng vào đối dịch và giảng dạy tiếng Hán cho sinh viên Việt Nam
5. Giới hạn phạm vi tư liệu khảo sát
Chúng tôi thu thập các đơn vị thành ngữ so sánh tiếng Hán và tiếng Việt, chủ yếu dựa vào một số cuốn từ điển thành ngữ tiếng Hán và thành ngữ tiếng Việt đang được lưu hành rộng rãi
6. ý nghĩa của luận án
6.1 ý nghĩa lý luận
- Luận án góp phần bổ sung, làm phong phú thêm vào lý luận thành ngữ học nói chung, và thành ngữ của những ngôn ngữ mang đặc tính đơn lập âm tiết tính như tiếng Hán và tiếng Việt
- Góp phần làm nổi bật vai trò của yếu tố văn hoá bộc lộ trong thành ngữ
- Góp phần vào lý luận giảng dạy ngôn ngữ với tư cách là ngoại ngữ trên phương diện lỗi ngôn ngữ và lỗi văn hoá
6.2 ý nghĩa thực tiễn
- Góp phần giúp nắm vững những đặc trưng cơ bản một cách hệ thống về lớp thành ngữ so sánh tiếng Hán
- Giúp cho họ nhìn nhận được những điểm giống và khác nhau,
đồng thời sử dụng chúng một cách chuẩn xác hơn trên phương diện ngôn ngữ - văn hoá giữa hai ngôn ngữ
- Góp phần vào công việc phiên biên dịch, công việc biên soạn từ
điển
- Gợi mở hoặc có thêm hướng đi mới cho những người nghiên cứu tiếp sau
7 Bố cục của luận án
Luận án, ngoài Phần mở đầu, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, được chia thành năm chương với các nội dung cụ thể như sau:
Chương 1: Cơ sở lí luận của luận án
Trang 6Chương 2: Đặc điểm cấu trúc hình thái của thành ngữ so sánh
tiếng Hán (có đối chiếu với tiếng Việt)
Chương 3: Đặc điểm ngữ nghĩa của thành ngữ so sánh tiếng Hán (có đối chiếu với tiếng Việt)
Chương 4: Nét văn hoá - tư duy dân tộc trong thành ngữ so sánh tiếng Hán (trong sự đối chiếu với tiếng Việt)
Chương 5: Phương thức chuyển dịch thành ngữ so sánh từ tiếng Hán sang tiếng Việt và vận dụng vào việc dạy học cho sinh viên Việt Nam
Trang 7Chương 1: Cơ sở lí luận của luận án 1.1 Khái quát chung về thành ngữ tiếng Hán
1.1.1 Lịch sử nghiên cứu và các bình diện nghiên cứu thành ngữ tiếng Hán
Nhóm nghiên cứu từ điển chú ý đến đặc điểm của thành ngữ từ rất sớm, nhưng chỉ từ khi tác giả Chu Tổ Mô (1954) nghiên cứu thành ngữ Hán từ góc độ từ vựng, thì các nhà ngôn ngữ mới quan tâm đến tính từ vựng của thành ngữ
1.1.2 Quan niệm về thành ngữ tiếng Hán
Thành ngữ là bộ phận tiêu biểu của ngữ cố định có cấu trúc ổn định, thường là kết cấu bốn chữ, được sử dụng theo thói quen, có tính lịch sử, nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, mang nghĩa biểu trưng, không phải phép công cơ học nghĩa mặt chữ của các yếu tố cấu tạo, có chức năng tương
giải Xuất xứ văn bản cổ khẩu ngữ khẩu ngữ khẩu ngữ
vị, nối tiếp, kiêm ngữ, tỉnh lược
1.1.4.2 Phân loại thành ngữ theo quan hệ ngữ nghĩa
Thành ngữ có quan hệ nghĩa dạng tổ hợp, tổng hợp, dung hợp
1.1.4.3 Phân loại thành ngữ từ phương tiện tu từ
Thành ngữ có cấu trúc so sánh, ẩn dụ, tượng thanh
Ngoài ra, tác giả Mạc Bằng Linh (莫彭龄 -2001) còn chia thành ngữ Hán thành 24 dạng thành ngữ nằm trong các trường nghĩa khác
Trang 81.2 Khái quát thành ngữ tiếng Việt
1.2.1 Vài nét về lịch sử và các hướng nghiên cứu thành ngữ tiếng Việt
Năm 1921 Phạm Quỳnh đã công bố công trình đầu tiên về thành ngữ tiếng Việt, nhưng phải đến những năm 60 của thế kỉ 20, thành ngữ tiếng Việt mới được đưa lên một tầm cao mới
1.2.2 Định nghĩa thành ngữ tiếng Việt
Thành ngữ là bộ phận tiêu biểu của ngữ cố định, Có cấu trúc hình thái ổn định, hoàn chỉnh và bóng bảy về mặt ngữ nghĩa, thường mang theo nét nghĩa biểu trưng, có văn phong khẩu ngữ và thường có vần điệu, là đơn vị ngôn ngữ văn hoá
1.2.3 Phân định thành ngữ tiếng Việt với các đơn vị giáp ranh
1.2.3.1 Thành ngữ và từ ghép
1.2.3.2 Ranh giới giữa thành ngữ với cụm từ tự do
1.2.3.3 Ranh giới giữa thành ngữ và tục ngữ
1.2.3.4 Ranh giới giữa thành ngữ và quán ngữ
Bảng 1.1 Nét giống và khác nhau giữa thành ngữ và các đơn vị giáp ranh
Nét khu
biệt
Đơn vị Tiêu chí
Từ ghép
Ctừ tự
do
Thành ngữ
Tục ngữ
Quán ngữ
1.2.4 Phân loại thành ngữ tiếng Việt
1.2.4.1 Phân loại thành ngữ theo tính chất của từ
1.2.4.2 Phân loại thành ngữ dựa vào cấu trúc
1.2.4.3 Phân loại thành ngữ theo tiêu chí tu từ học
1.4.1.1 Tìm hiểu nội hàm thuật ngữ “so sánh“
So sánh đang được nhìn nhận theo hai khuynh hướng:
- Khuynh hướng thứ nhất chủ trương tách so sánh ra khỏi đối chiếu
Trang 9- Khuynh hướng thứ hai lại cho rằng, trong so sánh đã bao hàm đối chiếu Cách nhìn nhận của luận án về so sánh nghiêng về khuynh hướng thứ hai
1.4.1.2 Phân loại “so sánh“
Dựa vào tính chất sự vật hiện tượng được đưa ra so sánh, các nhà ngôn ngữ chia so sánh thành hai loại: so sánh logíc và so sánh tu từ
Phương thức so sánh sử dụng trong thành ngữ so sánh, mang đặc
điểm và tính chất của so sánh tu từ
1.4.2 Khái quát chung về thành ngữ so sánh
1.4.2.1 Định nghĩa thành ngữ so sánh
Thành ngữ so sánh là những thành ngữ được hình thành dựa trên cấu trúc của so sánh Ví dụ: 胆大如斗 (đảm đại như đẩu) = gan cóc tía
tức như bò đá, thấp thoáng như đĩ chơi trăng, ngang cành bứa v.v 1.4.2.2 Cấu trúc tổng quát của thành ngữ so sánh tiếng Hán
Công thức tổng quát là: A à (t) à R à B Ví dụ: 胆小如鼠 (đảm tiểu như thử) ‘mật nhỏ như chuột’ = nhát như cáy
1.4.2.3 Cấu trúc tổng quát của thành ngữ so sánh tiếng Việt Công thức tổng quát nhất của thành ngữ so sánh tu từ trong tiếng Việt sẽ là: A à (t) à R à B Ví dụ: cổ ngẳng như cổ cò, mắt cay như xát ớt“
Công thức tổng quát của thành ngữ so sánh tiếng Hán và tiếng Việt
là giống nhau
Trong công thức trên, A là yếu tố so sánh, (t) là yếu tố tương đồng,
R là từ ngữ so sánh, B là yếu tố tham chiếu
1.4.2.4 Vị trí của thành ngữ so sánh trong kho tàng thành ngữ tiếng Hán và tiếng Việt
- Số lượng thành ngữ so sánh tiếng Hán và tiếng Việt chiếm tỉ lệ khá cao trong kho tàng thành ngữ
- Có đặc điểm riêng biệt về hình thái cấu trúc và khác biệt về đặc trưng
1.4.2.5 Nét văn hoá được phản ánh trong thành ngữ so sánh
Thành ngữ so sánh được hình thành nhờ vào mối tư duy liên tưởng,
mà mối tư duy liên tưởng ở mỗi dân tộc khác nhau là khác nhau Ví dụ:
下笔如神 (hạ bút như thần) = viết văn nhanh và hay
rách như tổ đỉa, răng như bàn cuốc, nhảy như choi choi
Trang 10Chương 2: đặc điểm cấu trúc Hình thái của thành ngữ so sánh tiếng Hán (đối chiếu với tiếng việt) 2.1 Đặt vấn đề
2.1.1 Nguồn gốc hình thành thành ngữ so sánh trong tiếng Hán (liên
hệ với tiếng Việt)
(Thần tăng ân nặng như núi, quả nhân biết lấy gì mà tạ ơn)
Cấu trúc của phép so sánh tu từ trong tiếng Hán cổ đại: A - t - R - B
Cấu trúc của thành ngữ so sánh tiếng Hán trùng khớp với trật tự của phép so sánh Hán ngữ cổ đại, và cấu trúc tổng quát của phép so sánh
và thành ngữ so sánh tiếng Việt trùng khớp với nhau
2.1.2 Cách thức phân loại thành ngữ so sánh
2.1.2.1 Cách thức phân loại phép so sánh tu từ
Các nhà Hán ngữ học nhất trí chia phép so sánh tu từ thành ba loại lớn: so sánh tu từ dạng hiện, so sánh tu từ dạng ẩn và so sánh dạng ngầm 2.1.2.2 Phân loại thành ngữ so sánh
Trong luận án này, chúng tôi cho rằng thành ngữ so sánh chỉ có hai dạng: so sánh dạng hiện và so sánh dạng ẩn, đồng thời dựa vào sự xuất hiện hay vắng mặt của các yếu tố R trong cấu trúc so sánh, để tiến hành khảo sát thành ngữ so sánh
2.2 Khảo sát đặc điểm cấu trúc hình thái của thành ngữ so sánh tiếng Hán (có liên hệ với tiếng Việt)
2.2.1 Khảo sát đặc điểm cấu trúc hình thái của các thành ngữ so sánh dạng hiện
Trong tiếng Hán, thành ngữ dựa trên cấu trúc của loại so sánh tu từ dạng hiện là những thành ngữ mà trong cấu trúc bề mặt của nó xuất hiện yếu tố R
2.2.1.1 Cấu trúc A- t - R - B
春深似海 (xuân thâm tự hải) “xuân sâu như biển cả” = muôn nơi tưng bừng sắc xuân
da trắng như ngà, cổ ngẳng như cổ cò, chạy nhanh như
Trang 11Lµ d¹ng thµnh ng÷ biÓu thÞ so s¸nh h¬n, kÐm vµ nhÊt VÝ dô: 危于
累卵 (nguy − luü no·n) “nguy h¬n trøng kª lªn cao” = nh− trøng quÈy
®Çu gËy
2.2.2 Thµnh ng÷ so s¸nh d¹ng Èn
Trong tiÕng H¸n, thµnh ng÷ dùa trªn cÊu tróc cña lo¹i so s¸nh tu tõ d¹ng Èn lµ nh÷ng thµnh ng÷ mµ trong cÊu tróc bÒ mÆt cña nã kh«ng xuÊt hiÖn yÕu tè R
Trang 12Tuy nhiên, trong thành ngữ so sánh tiếng Việt cũng xuất hiện một
số cấu trúc so sánh, mà trong quá trình khảo sát thành ngữ tiếng Hán chúng tôi không tìm thấy Bao gồm hai cấu trúc dưới đây:
• Cấu trúc: A à t à B Ví dụ: phận mỏng cánh chuồn
• Cấu trúc: t à B; t1 àB1 à t2 à B2 Ví dụ: đặc cán mai
2.3 Biến thể của thành ngữ so sánh
2.3.1 Phương thức thay đổi các yếu tố cấu tạo nên thành ngữ so sánh
Phương thức sử dụng các từ ngữ biểu thị mức độ so sánh khác nhau, tạo nên các biến thể của thành ngữ so sánh Ví dụ:
门庭如市 (môn đình như thị) – 门庭若市 (môn đình nhựơc thị) = cửa nhà quan người đông như họp chợ
nhẹ như lông hồng, nhẹ tựa lông hồng
2.3.2 Phương thức thay đổi cấu trúc so sánh
Phương thức thay đổi thành tố hoặc thêm bớt yếu tố từ ngữ biểu thị mức độ so sánh, làm cho thành ngữ so sánh đó chuyển từ dạng thức so sánh ẩn sang dạng thức so sánh hiện Ví dụ:
破竹之势 (phá trúc chi thế) “cái thế của tre đang được trẻ”, 势如
Dựa vào sự ẩn hiện của yếu tố từ ngữ so sánh R mà chia thành ngữ
so sánh tiếng Hán và tiếng Việt thành hai loại lớn: thành ngữ so sánh dạng hiện và thành ngữ so sánh dạng ẩn Tiếp đó, tiến hành khảo sát để tìm ra đặc điểm cấu trúc hình thái của từng tiểu loại thuộc hai nhóm
Trang 13thành ngữ so sánh trên Đồng thời tiến hành liên hệ đều đặn với những trường hợp tương ứng trong thành ngữ so sánh tiếng Việt
Biến thể là hiện tượng xảy ra phổ biến ở tất cả các ngôn ngữ Thông thường, thành ngữ so sánh tiếng Hán dựa vào thủ pháp thay đổi cấu trúc so sánh hoặc các yếu tố, nhưng không thay đổi số lượng âm tiết trong cấu trúc Trong tiếng Việt, người ta thường sử dụng thủ pháp bổ sung thêm các bổ tố vào cấu trúc theo xu hướng phá vỡ kết cấu bốn âm tiết
Chương 3: Đặc điểm ngữ nghĩa của thành ngữ so sánh tiếng Hán (có đối chiếu với tiếng Việt) 3.1 Khái quát ngữ nghĩa của thành ngữ so sánh
3.1.1 Khái quát về ngữ nghĩa trong thành ngữ so sánh tiếng Hán và tiếng Việt
3.1.1.1 Các tầng nghĩa trong thành ngữ so sánh
Thành ngữ so sánh tiếng Hán cũng như tiếng Việt, luôn chứa đựng hai tầng nghĩa: nghĩa đen (nghĩa khởi nguyên) và tầng nghĩa bóng (nghĩa thành ngữ), khái quát mối quan hệ đó bằng sơ đồ sau:
3.1.1.2 Quan hệ các tầng nghĩa trong thành ngữ so sánh
a/ Nghĩa bóng của thành ngữ so sánh trùng với nghĩa đen
尽如人意 (tận như nhân ý) “hoàn toàn + như + ý muốn + của con người”= Hoàn toàn như ý
b/ Nghĩa bóng của thành ngữ có thể suy ra từ nghĩa đen
江山如画 (giang sơn như hoạ) “non nước đẹp như tranh vẽ”= non nước hữu tình
Trang 14c/ Nghĩa bóng của thành ngữ hoàn toàn nằm ngoài nghĩa đen
一日三秋 (nhất nhật tam thu) “một ngày dài bằng ba thu” = khắc khoải chờ mong (Trong “Kinh thi” có viết: 一日不见, 如三秋兮 nhất nhật bất kiến như tam thu hề, nghĩa là một ngày không gặp tựa như cách nhau đã ba năm, từ đó hình thành nghĩa bóng như trên của thành ngữ) 3.1.2 Các dạng tổ hợp nghĩa của thành ngữ so sánh (có liên hệ với tiếng Việt)
3.1.2.1 Dạng tổ hợp nghĩa theo quan hệ qui tụ trong thành ngữ so sánh
Tổ hợp nghĩa theo quan hệ qui tụ, có nghĩa là gánh nặng ngữ nghĩa của thành ngữ rơi vào một yếu tố trong cấu trúc của nó
- Loại thành ngữ so sánh Hán có nghĩa hạt nhân nằm ở (t) Ví dụ: 家贫如洗 (gia bần như tẩy) “nhà nghèo như bị giặt” = nghèo rớt mồng tơi ( nghĩa hạt nhân của thành ngữ là nghèo, yếu tố B chỉ mang nghĩa bổ sung)
- Loại thành ngữ so sánh có nghĩa hạt nhân nằm ở B Ví dụ:
若释负重 (như thích phụ trọng) = như được trút gánh nặng
Trong thành ngữ so sánh tiếng Việt, khi khuyết yếu tố (t) trong cấu trúc bề mặt, nghĩa hạt nhân của thành ngữ cũng được nhận định giống với nghĩa hạt nhân trong thành ngữ so sánh tiếng Hán Nhưng khi cấu trúc bề mặt ấy xuất hiện yếu tố (t), tình hình có phần phức tạp hơn ở thành ngữ so sánh loại này, nghĩa hạt nhân rơi vào yếu tố (t) hay yếu tố B còn phụ thuộc vào tính điển hình của nó
Nếu yếu tố B mà gần gũi, quen thuộc (có tính điển hình cao) đối với người bản ngữ, và chỉ biểu hiện một đặc tính duy nhất cho đối tượng duy nhất, thì nghĩa hạt nhân sẽ rơi vào B Ví dụ: trắng như trứng gà bóc,
to như bồ sứt cạp
Nếu yếu tố B được dùng tham chiếu cho hai tính chất, thì B không
đảm nhận được vai trò hạt nhân nghĩa.Ví dụ: sướng như tiên, đẹp như tiên (tiên biểu trưng cho sắc đẹp và niềm sung sướng)
3.1.2.2 Dạng tổ hợp nghĩa theo quan hệ đẳng kết trong thành ngữ
so sánh
Trong các thành ngữ so sánh này, thì các yếu tố cấu tạo nên thành ngữ tương đồng, cận nghĩa hay liên quan với nhau về mặt ngữ nghĩa, đan cài vào nhau để hình thành ý nghĩa so sánh Ví dụ: