Khái niệm Một số khái niệm về biến đổi khí hậu được biết đến “Biến đổi khí hậu trái đất là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển,thuỷ quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN KHOA MÔI TRƯỜNG, BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ ĐÔ THỊ
BÀI TẬP NHÓM Chủ đề: Trình bày thực trạng biến đổi khí hậu ở Việt Nam và đề xuất các giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu ở Việt Nam
Lớp : Kinh Tế và Quản lý môi trường (219)_5
Khóa : 60
Giảng viên: PGS.TS Vũ Thị Hoài Thu
Sinh viên: Nhóm 9 1 Nguyễn Trần Linh Chi 11180788
2 Lê Thị Huệ 11181997
3 Ngô Minh Luân 11183103
4 Bùi Thị Thu Thủy 11184850
Hà Nội, ngày 5 tháng 5 năm 2020
Trang 2MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 2
I CƠ SỞ LÝ LUẬN 3
1 Khái niệm 3
2 Những biểu hiện và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu trên trái đất 3
3 Nguyên nhân gây ra biến đổi khí hậu 8
3.1 Nguyên nhân khách quan 8
3.2 Nguyên nhân chủ quan 10
II Thực trạng biến đổi khí hậu ở Việt Nam 11
1 Nhiệt độ 12
2 Lượng mưa 14
3 Bão và áp thấp nhiệt đới 15
4 Một số thiệt hại do biến đổi khí hậu tại Việt Nam 17
III Giải pháp 18
1 Giảm tác động biến đổi khí hậu 18
2 Thích ứng với biến đổi khí hậu 24
3 Những giải pháp cụ thể đã và đang được thực hiện 25
4 Các hoạt động thích ứng với biến đổi khí hậu tới năm 2030 25
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU…
Vạn vật xung quanh luôn không ngừng chuyển động và biến đổi, có thể do tự
bản thân nó hoặc do chịu tác động từ bên ngoài và Khí hậu cũng vậy, trong nhiều thập
kỉ qua, loài người đã chứng kiến và trải qua nhiều những chuyển biến thất thường củakhí hậu như khí quyển và thủy quyển nóng lên, sa mạc hóa, lượng mưa cao kỉ lục hoặcthấp kỉ lục,…Những vấn đề về tự nhiên ngày càng trở nên rõ ràng và nghiêm trọnghơn mà nguyên nhân chính là do những hoạt động của con người tác động và làm ảnhhưởng
Cuộc sống ngày càng văn minh, hiện đại và phát triển, mang đến nhiều cơ hộinhưng cũng kèm theo đó không ít những khó khăn thách thức cần đối mặt, một trong
những thách thức mà con người cần phải đối mặt đó là biến đổi khí hậu Biến đổi khí
hậu đã trở thành một vấn đề vô cùng cấp bách và hiện nay được rất nhiều quốc gia trênthế giới quan tâm bởi nó tác động trực tiếp đến đời sống, kinh tế, xã hội và môi trườngcủa con người
Cụm từ biến đổi khí hậu chắc hẳn đã trở nên rất quen thuộc vì trong những
năm trở lại đây, chủ đề này được đề cập rất nhiều bởi tầm quan trọng của nó, cũngchính vì lẽ đó, cần có cái nhìn đúng đắn và đa chiều về chủ đề này Trong bài tiểuluận, nhóm chúng em sẽ làm rõ thế nào là biến đổi khí hậu, phân tích những ảnhhưởng và tác động của biến đổi khí hậu trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nóiriêng, đồng thời đưa ra những giải pháp nhằm giải quyết, khắc phục hoặc làm giảm bớtnhững tác động tiêu cực, qua đó gửi đến những thông điệp cho mọi người
Bài viết còn có nhiều thiếu sót do hạn chế về sự hiểu biết và tìm kiếm thông tinchúng em rất mong nhận được sự thông cảm và góp ý từ cô giáo Xin chân thành cảmơn!
Trang 4I CƠ SỞ LÝ LUẬN
1 Khái niệm
Một số khái niệm về biến đổi khí hậu được biết đến
“Biến đổi khí hậu trái đất là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển,thuỷ quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tương lai bởi các nguyên nhân
tự nhiên và nhân tạo (theo Wikipedia).”
“Biến đổi khí hậu là những biến đổi trong môi trường vật lý hoặc sinh học gây
ra những ảnh hưởng có hại đáng kể đến thành phần, khả năng phục hồi hoặc sinh sảncủa các hệ sinh thái tự nhiên và được quản lý hoặc đến hoạt động của các hệ thốngkinh tế – xã hội hoặc đến sức khỏe và phúc lợi của con người.”
2 Những biểu hiện và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu trên trái đất
Biến đổi khí hậu đang ngày một diễn ra phức tạp trên toàn cầu và nó đang ảnh hưởng trực tiếp đến thế giới Trong đó, ấm lên toàn cầu và mực nước biển gia tăng bất thường là hai biểu hiện chính cho sự biến đổi khí hậu
Ấm lên toàn cầu, hay nóng lên toàn cầu, là nhiệt độ trung bình của không khí vàcác đại dương trên Trái Đất tăng lên theo các quan sát trong các thập kỉ gần đây.Trong thế kỉ XX, nhiệt độ trung bình của không khí gần mặt đất đã tăng 0,6 ±0,2 °C (1,1 ± 0,4 °F) Theo báo cáo của Cơ quan bảo vệ Môi trường (EPA), nhiệt độtrung bình của Trái Đất ở cuối thế kỷ XIX đã tăng +0,8 °C và thế kỷ XX tăng 0,6 ±0,2 °C Theo một nghiên cứu được công bố trên tạp chí Nature cho thấy, trong "Kỷbăng hà nhỏ" (từ năm 1300 đến năm 1850), mặc dù trời lạnh bất thường ở châu Âu và
Mỹ trong nhiều thế kỷ song nó không lạnh ở khắp mọi nơi trên hành tinh "Khi chúng
ta quay trở lại quá khứ, chúng ta tìm thấy các hiện tượng khu vực, nhưng không có gì
là toàn cầu" – ông Nathan Steiger thuộc Đại học Columbia ở New York nhận định
"Trong khi đó, sự nóng lên xảy ra ở toàn cầu 98% toàn cầu nóng lên sau cuộc cáchmạng công nghiệp" – ông nói thêm Một nghiên cứu khác trên tạp chí NatureGeoscience xem xét sự thay đổi nhiệt độ trung bình trong khoảng thời gian ngắn,khoảng vài thập kỷ Kết luận của họ rất rõ ràng: Không có thời điểm nào kể từ đầu kỷnguyên của chúng ta, nhiệt độ tăng nhanh và đều đặn như vào cuối thế kỷ XX: thời kỳhậu chiến, sản xuất - được thúc đẩy bởi nhiên liệu hóa thạch - và tiêu thụ đạt mức chưatừng thấy Kết quả này "làm nổi bật bản chất bất thường của hiện tượng biến đổi khíhậu hiện nay" – ông Raphael Neukom thuộc Đại học Bern ở Thụy Sĩ, đồng tác giả củanghiên cứu, cho biết
Trang 5Biểu đồ trên thể hiện so sánh nhiệt độ toàn cầu kể từ giữa thế kỉ 19 đến năm
2018 với mức nhiệt trung bình của Trái Đất 1981-2010 của bốn nhóm nghiên cứu:NOAA (màu đỏ), NASA (màu nâu), Đại học East Angila (màu hồng) và Cơ quan khítượng Nhật Bản JMA (màu cam) Nền là bức hình vệ tinh chụp lại Trái Đất ngày03/08/2018, từ vệ tinh DSCOVR của NOAA
Từ dữ liệu trên, chúng ta có thể nhận thấy được Trái Đất đang nóng lên từngngày 10 năm nóng nhất lịch sử đã xảy ra kể từ năm 1998 và 9 trong 10 năm đó bắtđầu từ năm 2005 Năm 1998 là năm duy nhất từ thế kỷ XX vẫn nằm trong số mườinăm ấm nhất được ghi nhận Kể từ sau 1998, một mô hình xuất hiện: ngoại trừ năm
2011, khi mỗi năm mới được ghi nhận vào hồ sơ lịch sử, nó trở thành 1 trong 10 kỷ lục
ấm nhất được ghi lại tại thời điểm đó, nhưng cuối cùng nó lại được thay thế bởi nhữngnăm tiếp theo Ngày 15/01/2020, Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) khẳng định,năm 2019 đã trở thành năm nóng kỷ lục thứ 2 của thế giới trong vòng 140 năm qua, kể
từ khi các kỷ lục được ghi nhận Cũng theo WMO, nhiệt độ trung bình trong năm 2019
đã cao hơn 1.1 ° C so với mức trung bình của thời kỳ tiền công nghiệp
Trang 6Trái Đất ấm lên, kéo theo rất nhiều hệ lụy sau nó Một ví dụ điển hình cho thấy
sự nguy hiểm nếu chúng ta vẫn tiếp tục làm mức nhiệt ngày càng tăng Dưới là hìnhảnh chụp sông băng Mendenhall Glacier nổi tiếng ở Alaska vào cuối thế lỷ XIX Sôngbăng Mendenhall trải dài 12 dặm từ cánh đồng băng Juneau đến hồ Mendenhall Mỗingày, lượng băng ở dòng sông này lại di chuyển thêm hai foot tương đương với0,6096m khiến cho dòng sông trở nên dài bất tận Điểm vô cùng ấn tượng tại dòngsông này chính là được hình thành trong thời kỳ lạnh đi của trái đất vào khoảng 3000năm trước Mendenhall Glacier không chỉ mang vẻ đẹp thuần túy của thiên nhiên màcòn là một nơi giúp các nhà khoa học nghiên cứu về điều kiện khí hậu trong quá khứ,hiện tại và tương lai Nhưng, bức ảnh phía dưới là những gì còn lại của dòng sôngbăng bất tận này, chụp cùng một vị trí với bức ảnh trên, nhưng dòng sông gần như biếnmất khỏi tầm nhìn Thay vào đó là một thảm thực vật phát triển phong phú, bên bờsông bao phủ bởi sỏi – được tạo nên từ trầm tích lắng đọng khi băng tan chảy trên mặtđất
Bắc Cực – “Cỗ máy điều hòa” của Trái Đất, đang hỏng hóc khi băng ở đâyngày càng tăng nhiều hơn dưới sự tác động của ấm lên toàn cầu Theo CNN, năm 2019chứng kiến mức nhiệt trung bình ở Bắc Cực cao hơn mức bình thường 1.9 ° C Đây làmức nhiệt nóng kỷ lục từ năm 1900 Từ giữa những năm 1990, Bắc Cực đã trải qua
Trang 7nhiều mức ấm lên cao gấp đôi mức trung bình của toàn cầu Từ năm 2014 trở đi, nămnào Bắc Cực cũng ấm hơn các năm trong giai đoạn 1900-2014 Ông Walt Meier, nhàkhoa học nghiên cứu cấp cao tại Trung tâm Dữ liệu Băng Tuyết Quốc gia, nói: “Vàinhiệt độ ấm lên ở Florida là điều ta có thể không chú ý Nhưng ở Bắc Cực, nếu tăng từ31° F lên 33 ° F, thay đổi sẽ là từ chỗ bạn có thể trượt băng được trên Bắc BăngDương tới chỗ bạn chỉ có thể bơi” Khi những tảng băng Bắc Cực tan ra cũng là lúcđồng thời giải phóng một lượng lớn khí CO2 góp phần làm thúc đẩy nhanh quá trình
ấm lên toàn cầu Lớp băng vĩnh cửu giàu hữu cơ chứa khoảng 1.500 tỷ tấn carbon,nhiều khoảng gấp đôi lượng khí carbon trong khí quyển và nhiều gấp ba lần lượngcarbon được lưu trữ trong tất cả các khu rừng trên thế giới Khi lớp băng tan carbon bịgiữ trong những vật chất hữu cơ bắt đầu bị các vi khuẩn phân giải, do chúng sử dụng
nó làm nhiên liệu hay năng lượng và giải phóng carbon dưới dạng CO2 hoặc methane.Khoảng 10% carbon được giải phóng sẽ thoát ra dưới dạng CO2, lên tới 130-150 tỷtấn Con số này tương đương với tổng tỷ lệ phát thải hiện tại của Hoa Kỳ mỗi năm chođến năm 2100 Tuy nhiên, không phải CO2 và methane không phải thứ duy nhất thoátkhỏi mặt đất đóng băng Vào mùa hè năm 2016, một nhóm những người chăn tuần lộc
du mục bắt đầu ngã bệnh vì một căn bệnh bí ẩn Tin đồn bắt đầu lan truyền về 'DịchSiberia', lần cuối cùng xuất hiện ở vùng này vào năm 1941 Khi một cậu bé và 2.500con tuần lộc chết, căn bệnh này mới được xác định: bệnh than Nguồn gốc của bệnh làxác tuần lộc rã đông, nạn nhân của dịch bệnh than từ 75 năm trước Báo cáo Bắc Cựcnăm 2018 suy đoán rằng, "các bệnh như bệnh cúm Tây Ban Nha, bệnh đậu mùa hoặcbệnh dịch hạch đã bị xóa sổ có thể bị giữ lại trong lớp băng vĩnh cửu" Một nghiên cứucủa Pháp năm 2014 lấy một virus 30.000 năm tuổi đóng băng trong lớp băng vĩnh cửu
và làm ấm nó trở lại trong phòng thí nghiệm Ngay lập tức nó sống trở lại 300 thế kỷsau Thủy ngân cũng đang xâm nhập vào chuỗi thức ăn, nhờ vào sự tan băng vĩnh cửu.Bắc Cực là nơi có nhiều thủy ngân nhất trên hành tinh Cơ quan Khảo sát Địa chất Hoa
Kỳ ước tính có tổng cộng 1.656.000 tấn thủy ngân bị cầm giữ trong băng vùng cực vàbăng vĩnh cửu: gần gấp đôi lượng toàn cầu ở tất cả các vùng đất, đại dương và bầu khíquyển Rõ ràng, chúng ta không hề mong muốn số thủy ngân này thoát khỏi lớp băng
Một biểu hiện khác của biến đổi khí hậu là hiện tượng mực nước biển dâng.Đây cũng là hệ quả của việc băng tan do ấm lên toàn cầu Theo tính toán của các nhàkhoa học, lượng băng tan chảy ở Greenland mỗi năm khiến nước biển dâng caokhoảng 0,7mm, song với tốc độ tan chảy như hiện nay, con số này có thể còn tăng Kể
từ năm 1972 đến nay, lượng băng tan chảy của Greenland đã góp phần làm mực nướcbiển dâng cao tổng cộng 13,7mm Theo nhà nghiên cứu khí hậu Xavier Fettweis thuộcĐại học Liege, từ đầu tháng 6 đến nay, 37 tỷ tấn băng ở Greenland tan chảy Hiện tốc
độ băng tan chảy tại Greenland nhanh gấp 6 lần so với những năm 80 của thế kỷ trước.Đây là những thông tin đáng báo động về tình trạng ấm lên của Trái đất Năm 2014,
Ủy ban liên chính phủ của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (IPCC) dự báo viễn cảnhtồi tệ nhất vào cuối thế kỷ XXI, mực nước biển sẽ dâng cao hơn 1m so với mực nước
Trang 8biển trong giai đoạn 1986-2005 Mực nước biển trung bình toàn cầu được ước tính sẽtăng lên hơn 3 mm mỗi năm Con số này sẽ còn tăng và tổng mực nước biển vào năm
2100 được dự đoán đạt 70 - 100 cm, tùy thuộc vào lượng khí thải từ nhà kính Theocác nhà nghiên cứu, nếu nước biển tăng thêm 25cm vào năm 2050, tần suất lũ lụt 50năm một lần ở các khu vực nhiệt đới sẽ xảy ra hàng năm hoặc thậm chí mau hơn.Trong khi đó, nếu nước biển toàn cầu chỉ dâng ở mức vừa phải là từ 10-20cm, nguy cơ
lũ lụt tại các khu vực có khí hậu ấm áp sẽ tăng gấp đôi Các thành phố lớn dọc bờ biểnkhu vực Bắc Mỹ, trong đó có Vancouver của Canada, Seattle, San Francisco và LosAngeles của Mỹ cùng với bờ biển Đại Tây Dương ở châu Âu có nguy cơ lũ lụtcao Thậm chí, nếu mực nước biển chỉ tăng từ 5-10cm, tần suất xảy ra lũ lụt ở cácnước nhiệt đới cũng sẽ tăng hơn gấp đôi, đặc biệt là các vùng đồng bằng đông dân ởchâu Á và châu Phi Nếu nước biển chỉ tăng ở mức thấp, các thành phố như Mumbai,Kochi của Ấn Độ và Abidjian của Côte d'Ivoire cũng như nhiều thành phố khác cũng
sẽ bị tác động đáng kể Theo ông Sean Vitousek, nhà khoa học khí hậu tại Đại họcIllinois (Chicago, Mỹ), đứng đầu nhóm nghiên cứu, việc tăng tần suất lũ lụt do biếnđổi khí hậu sẽ thách thức sự tồn tại và bền vững của các đảo quốc nhỏ vốn dễ phảihứng chịu lũ lụt trên khắp toàn cầu Lũ lụt xảy ra ở các khu vực duyên hải chủ yếu là
do các cơn bão lớn và mức độ tàn phá của nó sẽ nặng nề hơn khi các đợt sóng lớn, gióbão và thủy triều lên cao kết hợp với nhau Cơn bão Sandy xảy ra ở Mỹ (năm 2012)vốn gây ra thiệt hại hàng chục tỷ USD và bão Haiyan ở Philippines (năm 2013) khiếnhơn 7.000 người thiệt mạng và mất tích, đều gây ra lũ lụt tàn phá Lũ lụt nặng nề cũng
đã xảy ra ở các nước châu Âu trong thời gian gần đây, phá hủy nhiều công trình hạtầng, gây ra những thiệt hại về người và tài sản
Biến đổi khí hậu gây ra những sự biến đổi về hệ sinh thái, trong đó lượng CO2trong khí quyển tăng cao gây ô nhiễm không khí và lượng nước ngọt dần trở nên ít đi,môi trường sinh thái bị hạn chế và đó là lý do gây mất đa dạng sinh học, các sinh vậtđộng vật đang đến bờ vực nguy cơ bị tuyệt chủng Dự báo đến cuối thế kỷ 21, đạidương sẽ mất đi gần 20% số sinh vật biển do biến đổi khí hậu Đây là ước tính của cácnhà khoa học vừa đưa ra trên tạp chí Mỹ Proceedings of the National Academy ofScience Theo nghiên cứu, nếu nhiệt độ Trái Đất tăng thêm 3 – 4 độ C so với thời kỳtiền công nghiệp thì 17% số sinh vật biển – từ sinh vật phù du nhỏ bé đến những chú
cá voi nặng 100 tấn – sẽ biến mất Ngay cả trong kịch bản “tốt nhất” là thế giới hạnchế được mức tăng nhiệt độ toàn cầu dưới 2 độ C theo mục tiêu của Hiệp định Paris vềbiến đổi khí hậu, số lượng sinh vật biển sẽ giảm 5% Trong điều kiện nhiệt độ này, cácloài san hô phát triển ở vùng nước nông, cung cấp môi trường sống cho khoảng 30%
số sinh vật biển, được dự báo sẽ biến mất gần như hoàn toàn Kết quả nghiên cứu cũngcho thấy nhiệt độ Trái Đất cứ tăng thêm 1 độ C thì số lượng sinh vật biển sẽ giảm thêm5% Đến nay, nền nhiệt toàn cầu đã tăng thêm 1 độ C và tiến tới đến năm 2100 sẽ tăngthêm khoảng 4 độ C Cũng theo nghiên cứu, một số khu vực sẽ bị ảnh hưởng nghiêmtrọng hơn so với những nơi khác Tại các vùng nhiệt đới, số sinh vật biển sẽ giảm 40 –
Trang 950% do biến đổi khí hậu Các nhà khoa học nhấn mạnh tương lai của các hệ sinh tháibiển sẽ phụ thuộc nhiều vào tình trạng biến đổi khí hậu Các đại dương hấp thu hơn20% khí gây hiệu ứng nhà kính do con người phát thải vào không khí Tuy nhiên, việctích lũy toàn bộ lượng CO2 cũng khiến nồng độ axit trong nước biển tăng cao hơn, đedọa làm mất cân bằng hệ sinh thái biển.
3 Nguyên nhân gây ra biến đổi khí hậu
3.1 Nguyên nhân khách quan
Thay đổi ở đại dương
Đại dương thế giới, bao gồm các đại dương và biển, bao phủ khoảng 71% diệntích bề mặt Trái đất và được xem là hệ thống duy trì đời sống Trái đất Đặc biệt, đạidương có chức năng điều chỉnh cân bằng các cực trị nhiệt độ thịnh hành và có thể làmdịu các ảnh hưởng khốc liệt của thời tiết - khí hậu trên Trái đất Đại dương bảo đảm anninh thực phẩm và an ninh năng lượng cho loài người khi các nguồn này đang cạn dầntrên các đại lục Chúng ta biết nhiều hơn về biến đổi khí hậu và tác động của nó đếnđại dương, hải đảo và vùng ven biển, nhưng còn ít đề cập đến biến đổi đại dương(ocean change) và tác động của nó đối với hệ thống khí hậu Các nhà khoa học tiếp tụckhẳng định: Biến đổi khí hậu và biến đổi đại dương có liên quan chặt chẽ với nhau và
là hai mặt của một vấn đề thông qua quá trình tương tác giữa chúng trong tự nhiên.Biến đổi khí hậu đang hiện hữu và tác động mạnh mẽ đến toàn bộ đời sống Trái đất,trong đó có biển và đại dương Ngược lại, biến đổi đại dương, tuy chưa được hiểu đầy
đủ so với biến đổi khí hậu, nhưng chắc chắn cũng tác động trở lại bầu khí quyển mộtcách mạnh mẽ Biến đổi đại dương không chỉ do tác động của BĐKH mà còn do cácyếu tố tự nhiên và nhân sinh khác Kevin Noone và cộng sự (2005) [1] cho rằng có 6
đe dọa chủ yếu đến sức khỏe đại dương: axit hóa đại dương, đại dương ấm lên, đạidương thiếu ôxy, nước biển dâng, ô nhiễm biển và sử dụng quá mức tài nguyên biển.Những mối đe dọa này sẽ gây áp lực rất lớn đến khí hậu của Trái đất Axit hóa đạidương sẽ làm chậm lại khả năng hấp thụ và lưu giữ cacbon khổng lồ của đại dương,nghĩa là chúng ta đang bước vào một tương lai nhiều cacbon trong bầu khí quyển hơn
và “tiếp tay” cho biến đổi khí hậu Theo Kevin Noone và các cộng sự (Valuing theOcean - 2012), đại dương ấm lên sẽ gây ra hai loại tác động: tác động vật lý liên quantới các hiện tượng thời tiết cực đoan và hậu quả sinh học bao gồm một loạt thay đổitrong các quần thể cá Các quan sát và mô hình đều cho thấy thay đổi nền nhiệt của đạidương ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tương tác biển - khí quyển, tăng tần xuất bão,lốc tố, lũ lụt ven biển và xói lở bờ biển Phần trăm các cơn bão mạnh nhất tăng từkhoảng 20% trong các năm 1970 - 1974 lên đến 35% trong các năm 2000 - 2004.Nhiệt độ nước đại dương tăng còn liên quan tới El-nino mà hậu quả là lụt lội và hạnhán Các hiện tượng thời tiết cực đoan như vậy làm tăng các tác động xấu đối với các
hệ sinh thái, cũng như các quần thể biển - ven bờ trên phạm vi toàn cầu; gây thiệt hại
Trang 10nghiêm trọng cho những khu vực đông dân cư ven biển và trên các hải đảo, nơi ngườidân dễ bị tổn thương nhất vì họ thiếu năng lực để ứng phó với các hiện tượng như vậy.Còn Robert J Díaz (2013 The Coast and Oceans: Home of the Excess Nutrients!Report in 2nd Global Conference on Land-Ocean Connections, Jamaica.) cho rằngtăng trưởng kinh tế và dân số trong hơn 60 năm qua đã làm gia tăng các chất dinhdưỡng và hữu cơ ở các vùng biển và đại dương ven bờ trên phạm vi toàn cầu Hậu quả
là các hệ sinh thái biển bị “quá tải”, nồng độ ôxy giảm, nitơ và phốtpho tăng, còn CO2thay đổi rõ rệt Môi trường biển bị yếm khí do thiếu ôxy, các vùng biển ven bờ bị phìdưỡng, bùng phát vi tảo biển gây hại và xuất hiện thủy triều đỏ ngày càng nhiều.Trong các vùng biển như vậy, cá và các loài hải sản khác bị chết, bị nhiễm độc tố,cộng đồng ven biển mất chỗ dựa sinh kế, an ninh thực phẩm quốc gia và sức khỏe conngười bị ảnh hưởng nặng nề Đó là một vài trích dẫn cho thấy rằng, sự biến đổi của đạidương, ít nhiều cũng có tác động đến khí hậu Trái đất và con người cần phải hànhđộng trước khi quá muộn
Thay đổi quỹ đạo:
Mới đây, một nghiên cứu về chuyển động của Trái đất chỉ ra rằng cứ mỗi202.500 năm, quỹ đạo xoay quanh Mặt trời lại thay đổi từ dạng gần như tròn thànhmột hình elip Nhưng sau 202.500 năm tiếp sau đó, nó lại quay về hình dạng ban đầu -tức là gần tròn Chu kì kéo dài 405.000 năm này diễn ra đều đặn từ hàng trăm triệunăm trước cho đến nay.Ở thời điểm hiện tại, Trái đất của chúng ta đang ở một quỹ đạo
có dạng gần như tròn một cách hoàn hảo xung quanh Mặt trời, và chẳng bao lâu nữachúng sẽ lại biến thành một hình elip Những biến đổi nhỏ về quỹ đạo Trái Đất gây ranhững thay đổi về sự phân bố năng lượng mặt trời theo mùa trên bề mặt Trái Đất vàcách nó được phân bố trên toàn cầu Đó là những thay đổi rất nhỏ theo năng lượng mặttrời trung bình hàng năm trên một đơn vị diện tích; nhưng nó có thể gây biến đổi mạnh
mẽ về sự phân bố các mùa và địa lý Có 3 kiểu thay đổi quỹ đạo là thay đổi quỹ đạolệch tâm của Trái Đất, thay đổi trục quay, và tiến động của trục Trái Đất Kết hợp cácyếu tố trên, chúng tạo ra các chu kỳ Milankovitch, là các yếu tố ảnh hưởng mạnh mẽđến khí hậu và mối tương quan của chúng với các chu kỳ băng hà và gian băng, quan
hệ của chúng với sự phát triển và thoái lui của Sahara, và đối với sự xuất hiện củachúng trong các địa tầng
Hiện tượng núi lửa:
Núi lửa là một quá trình vận chuyển vật chất từ vỏ và lớp phủ của Trái đất lên
bề mặt của nó Phun trào núi lửa, mạch nước phun, và suối nước nóng, là những ví dụcủa các quá trình đó giải phóng khí núi lửa và hoặc các hạt bụi vào khí quyển Phuntrào đủ lớn để ảnh hưởng đến khí hậu xảy ra trên một số lần trung bình mỗi thế kỷ, vàgây ra làm mát (bằng một phần ngăn chặn sự lây truyền của bức xạ mặt trời đến bềmặt trái đất) trong thời gian một vài năm Các vụ phun trào của núi lửa Pinatubo vào
Trang 11năm 1991, là vụ phun trào núi lửa lớn thứ hai trên mặt đất của thế kỷ 20 (sau vụ phuntrào năm 1912 của núi lửa Novarupta ảnh hưởng đến khí hậu đáng kể Nhiệt độ toàncầu giảm khoảng 0,5°C (0.9°F) Vụ phun trào của núi Tambora năm 1815 đã khiếnkhông có một mùa hè trong một năm Phần lớn các vụ phun trào lớn hơn xảy ra chỉmột vài lần mỗi trăm triệu năm, nhưng có thể gây ra sự ấm lên toàn cầu và tuyệt chủnghàng loạt.
Kiến tạo địa tầng:
Qua hàng triệu năm, sự chuyển động của các mảng làm tái sắp xếp các lục địa
và đại dương trên toàn cầu đồng thời hình thành lên địa hình bề mặt Đều này có thểảnh hưởng đến các kiểu khí hậu khu vực và toàn cầu cũng như các dòng tuần hoàn khíquyển-đại dương Vị trí của các lục địa tạo nên hình dạng của các đại dương và tácđộng đến các kiểu dòng chảy trong đại dương Vị trí của các biển đóng vai trò quantrọng trong việc kiểm soát sự truyền nhiệt và độ ẩm trên toàn cầu và hình thành nênkhí hậu toàn cầu Một ví dụ về ảnh hưởng của kiến tạo đến sự tuần hoàn trong đạidương là sự hình thành eo đất Panama cách đây khoảng 5 triệu năm, đã làm dừng sựtrộn lẫn trực tiếp giữa Đại Tây Dương và Thái Bình Dương Đều này có ảnh hưởng rấtmạnh mẽ đến các chế độ động lực học của đại dương của hải lưu Gulf Stream và đãlàm cho bắc bán cầu bị phủ băng Trong suốt kỷ Cacbon, khoảng 300 đến 365 triệunăm trước, hoạt động kiến tạo mảng có thể đã làm tích trữ một lượng lớn cacbon vàlàm tăng băng hà Các dấu hiệu địa chất cho thấy những kiểu tuần hoàn "gió mùa lớn"(megamonsoonal) trong suốt thời gian tồn tại của siêu lục địa Pangaea, và từ mô hìnhkhí hậu người ta cho rằng sự tồn tại của siêu lục địa đã dẫn đến việc hình thành giómùa
3.2 Nguyên nhân chủ quan
Nguyên nhân chủ quan (do sự tác động của con người) xuất phát từ sự thay đổimục đích sử dụng đất và nguồn nước và sự gia tăng lượng phát thải khí CO2 và cáckhí nhà kính khác từ các hoạt động của con người
Kể từ thời kỳ tiền công nghiệp (khoảng từ năm 1750), con người đã sử dụng ngày càngnhiều năng lượng, chủ yếu từ các nguồn nguyên liệu hóa thạch (than, dầu, khí đốt),qua đó đã thải vào khí quyển ngày càng tăng các chất khí gây hiệu ứng nhà kính củakhí quyển, dẫn đến tăng nhiệt độ của trái đất Những số liệu về hàm lượng khí CO2trong khí quyển được xác định từ các lõi băng được khoan ở Greenland và Nam cựccho thấy, trong suốt chu kỳ băng hà và tan băng (khoảng 18.000 năm trước), hàmlượng khí CO2 trong khí quyển chỉ khoảng 180 -200ppm (phần triệu), nghĩa là chỉbằng khoảng 70% so với thời kỳ tiền công nghiệp (280ppm) Từ khoảng năm 1800,hàm lượng khí CO2 bắt đầu tăng lên, vượt con số 300ppm và đạt 379ppm vào năm
2005, nghĩa là tăng khoảng 31% so với thời kỳ tiền công nghiệp, vượt xa mức khí CO2
Trang 12tự nhiên trong khoảng 650 nghìn năm qua Hàm lượng các khí nhà kính khác như khímêtan (CH4), ôxit nitơ (N2O) cũng tăng lần lượt từ 715ppb (phần tỷ) và 270ppb trongthời kỳ tiền công nghiệp lên 1774ppb (151%) và 319ppb (17%) vào năm 2005 Riêngcác chất khí chlorofluoro carbon (CFCs) vừa là khí nhà kính với tiềm năng làm nónglên toàn cầu lớn gấp nhiều lần khí CO2, vừa là chất phá hủy tầng ôzôn bình lưu, chỉmới có trong khí quyển do con người sản xuất ra kể từ khi công nghiệp làm lạnh, hóa
mỹ phẩm phát triển Từ năm 1840 đến 2004, tổng lượng phát thải khí CO2 của cácnước giàu chiếm tới 70% tổng lượng phát thải khí CO2 toàn cầu, trong đó ở Hoa Kỳ
và Anh trung bình mỗi người dân phát thải 1.100 tấn, gấp khoảng 17 lần ở Trung Quốc
và 48 lần ở Ấn Độ Riêng năm 2004, lượng phát thải khí CO2 của Hoa Kỳ là 6 tỷ tấn,bằng khoảng 20% tổng lượng phát thải khí CO2 toàn cầu Trung Quốc là nước phátthải lớn thứ 2 với 5 tỷ tấn CO2, tiếp theo là Liên bang Nga 1,5 tỷ tấn, Ấn Độ 1,3 tỷtấn, Nhật Bản 1,2 tỷ tấn, CHLB Đức 800 triệu tấn, Canada 600 triệu tấn, Vương quốcAnh 580 triệu tấn Các nước đang phát triển phát thải tổng cộng 12 tỷ tấn CO2, chiếm42% tổng lượng phát thải toàn cầu so với 7 tỷ tấn năm 1990 (29% tổng lượng phát thảitoàn cầu), cho thấy tốc độ phát thải khí CO2 của các nước này tăng khá nhanh trongkhoảng 15 năm qua Một số nước phát triển dựa vào đó để yêu cầu các nước đang pháttriển cũng phải cam kết theo Công ước Biến đổi khí hậu
II Thực trạng biến đổi khí hậu ở Việt Nam
Việt Nam là nước dễ bị tổn thương trước tác động của biến đổi khí hậu Theođánh giá hàng năm về những nước chịu ảnh hưởng nặng nhất bởi các hiện tượng thờitiết cực đoan giai đoạn 1997-2016, Việt Nam đứng thứ 5 về Chỉ số rủi ro khí hậu toàncầu năm 2018 và thứ 8 về Chỉ số rủi ro khí hậu dài hạn (CRI) Những diễn biến củabiến đổi khí hậu tại Việt Nam bao gồm các hiện tượng thời tiết cực đoan đang ngàycàng gia tăng về tần suất và thường khó dự đoán
Những kỷ lục mới vẫn được thiết lập mỗi năm Các cụm từ “mưa lớn kỷ lục”, “nắngnóng kỷ lục”, “kỷ lục về lũ lụt” đã và đang xuất hiện ngày càng phổ biến trên cácphương tiện thông tin đại chúng ở Việt Nam trong những năm gần đây Năm 2017được coi là năm kỷ lục về thảm họa thiên tai tại Việt Nam, với hơn 16 cơn bão, lũ lịch
sử trái quy luật Nhiệt độ trung bình tại miền Bắc và Bắc Trung Bộ Việt Nam hiện tạicao hơn từ 0,5 -1,0°C so với nhiệt độ trung bình của các năm trước theo tính toán dựatrên dữ liệu cập nhật của 30 năm trở lại đây Sự thay đổi trong tần suất xuất hiện cáccơn bão và áp thấp nhiệt đới ngày càng rõ rệt Ví dụ, có năm xảy ra tới 18 – 19 cơn lốc
và áp thấp nhiệt đới trên biển Đông, nhưng cũng có năm chỉ xảy ra từ 4-6 cơn lốc và
áp thấp nhiệt đới Số cơn bão với sức gió đạt từ cấp 12 trở lên đã tăng nhẹ kể từ năm
1990 đến 2015 Những biến đổi trong nguồn nước (lượng mưa, mực nước sông) trongnăm 2018 cũng tăng đáng kể so với mức trung bình của năm 2017 Năm 2018 đồngthời ghi nhận những con số kỉ lục về nhiệt độ trong vòng 46 năm qua tại Hà Nội, vớinhiệt độ cao nhất có lúc đạt tới 42°C
Trang 13Xu hướng chung của biến đổi khí hậu ở Việt Nam là nhiệt độ ở các vùng phíaBắc tăng nhanh hơn các vùng phía Nam, nhiệt độ ở các vùng ven biển tăng chậm hơncác vùng sâu hơn trong lục địa Đến cuối thế kỷ 21 nhiệt độ có thể tăng thêm từ 4,0đến 4,5°C theo kịch bản cao nhất và 2,0 đến 2,2°C Biên độ dâng cao mực nước biển ởnước ta là khá lớn, măc dù vậy vẫn chỉ là tương đương hoặc thấp hơn chút ít so với dựbáo của IPCC năm 2007.
Biến đổi khí hậu kéo theo hiện tượng El Nino, làm giảm đến 20-25% lượng mưa ở khuvực miền Trung-Tây Nguyên, gây ra hạn hán không chỉ phổ biến và kéo dài mà thậmchí còn gây khô hạn thời đoạn ngay trong thời gian El Nino Tác động này ở NamTrung Bộ lớn hơn Bắc Trung Bộ, Bắc Tây Nguyên lớn hơn Nam Tây Nguyên
1 Nhiệt độ
Nhiệt độ có xu thế tăng ở hầu hết các trạm quan trắc, tăng nhanh trong nhữngthập kỷ gần đây Trung bình cả nước, nhiệt độ trung bình năm thời kỳ 1958-2014 tăngkhoảng 0,62 C, riêng giai đoạn (1985-2014) nhiệt độ tăng khoảng 0,42 C (Hình 1.1).Tốc độ tăng trung bình mỗi thập kỷ khoảng 0,10oC, thấp hơn giá trị trung bình toàncầu (0,12oC/thập kỷ, IPCC2013)
Nhiệt độ tại các trạm ven biển và hải đảo có xu thế tăng ít hơn so với các trạm ởsâu trong đất liền (Hình 1.2) Có sự khác nhau về mức tăng nhiệt độ giữa các vùng vàcác mùa trong năm Nhiệt độ tăng cao nhất vào mùa đông, thấp nhất vào mùa xuân.Trong 7 vùng khí hậu, khu vực Tây Nguyên có mức tăng nhiệt độ lớn nhất, khu vựcNam Trung Bộ có mức tăng thấp nhất
Trang 14Hình 1.1 Chuẩn sai nhiệt độ ( C) trung bình năm (a) và nhiều năm (b) trên quy ⁰C) trung bình năm (a) và nhiều năm (b) trên quy
mô cả nước.
Hình 1.2 Chuẩn sai nhiệt độ trung bình năm ( C) đối với các trạm ven biển và ⁰C) trung bình năm (a) và nhiều năm (b) trên quy
hải đảo.