BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM KHOA NGÂN HÀNG PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG GÓI HỖ TRỢ LÃI SUẤT ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ VIỆT NAM GVHD TS Diệp Gia Luật SVTH Đào Ngọc Phong Lớp 02 NH1 MỤC[.]
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM
KHOA NGÂN HÀNG
PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG GÓI HỖ TRỢ LÃI SUẤT ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
GVHD : TS Diệp Gia Luật SVTH : Đào Ngọc Phong Lớp : 02-NH1
Trang 2MỤC LỤC
Trang
Lời mở đầu 1
I Giới thiệu chung về gói kích thích kinh tế của Việt Nam……… 2
II Phân tích ảnh hưởng của gói hỗ trợ lãi suất đối với nền kinh tế Việt Nam………2
1.Vài nét sơ lược về gói hỗ trợ lãi suất……….2
2.Ảnh hưởng của gói kích cầu& hỗ trợ lãi suất……… 3
a.Đối với doanh nghiệp được thụ hưởng……… 3
b.Đối với ngân hàng ……….4
c Đối với thị trường chứng khoán……… 4
d.Đối với thị trường ngoại hối……… 5
e.Đối với nền kinh tế vĩ mô……… 6
3.Kết quả đạt được………6
4.Những hạn chế,tồn tại………8
5.Những biện pháp khắc phục và bài học kinh nghiệm……….9
Lời Mở Đầu
uộc khủng hoảng kinh tế-tài chính toàn cầu nổ ra đầu năm 2008,mà nguyên nhân là
do nền kinh tế đứng đầu thế giới(Mỹ) đã kích cầu tiêu dùng quá mức,cho vay dưới chuẩn,và các hoạt động đầu cơ tài chính vào bất động sản và các sản phẩm tài chính hóa đã tạo ra các bong bóng tài chính khổng lồ bắt nguồn cho cuộc khủng hoảng,đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế toàn cầu.Nó làm suy giảm toàn bộ các phương diện về tài chính,sản xuất,thương mại dịch vụ của nền kinh tế thê giới Trước tình hình này,chính phủ các nước đã có những hành động ngăn chặn ảnh hưởng đến mức thấp nhất của cuộc khủng hoảng.Một trong những biện pháp ngăn chặn suy thoái mà được cho là khá hiệu quả vào thời điểm này là việc thực hiện các gói kích cầu cho nền kinh tế “Liệu pháp kích cầu” về bản chất
C
Trang 3là việc Nhà nước chủ động tác động tích cực tới tổng cung và tổng cầu xã hội một cách thống nhất, có tổ chức và có chủ đích, theo hướng khuyến khích đầu tư và mở rộng quy mô tiêu dùng; kích hoạt và tăng động lực phát triển kinh tế trong bối cảnh có sự suy giảm các động lực phát triển kinh tế do các khó khăn về nguồn vốn và thị trường tiêu thụ của doanh nghiệp, nhất
là khu vực kinh tế tư nhân
Trong bối cảnh khủng hoảng tài chính và suy giảm kinh tế toàn cầu năm 2009, sự xuất hiện các “gói kích cầu” này là phổ biến ở các quốc gia, các tổ chức khu vực và quốc tế như IMF, EU, ASEAN, với quy mô ngày càng tăng, từ hàng ngàn tỷ USD như ở Mỹ, hàng trăm tỷ USD như ở Nhật, Trung Quốc, Nga và các nước thành viên EU…
Việt Nam cũng không nằm ngoài tầm ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế-tài chính này nhưng không quá nghiêm trọng như các nước khác.Bởi lẽ nền kinh tế Việt Nam chưa thực
sự hội nhập với nền kinh tế thế giới.Để ngăn chặn hậu quả khôn lường của cuộc khủng hoảng tác động đến nền kinh tế,Chính phủ Việt Nam đã kịp thời tung ra gói kích cầu cho nền kinh tế bằng nhiều biện pháp như hỗ trợ lãi suất,cắt giảm thuế,hỗ trợ vốn v.v…Trong các gói kích thích kinh tế kể trên, quan trọng bậc nhất là gói kích cầu bù lãi suất 4%/năm (trị giá khoảng 17.000 tỉ đồng), được thực hiện từ đầu tháng 2-2009 Do đề tài khá rộng nên em chỉ nghiên cứu về gói kich cầu 1 tỉ USD(17.000 tỉ đồng) thông qua gói hỗ trợ lãi suất 4% dành cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ.Phần nghiên cứu của em gồm 2 nội dung:
-Phần I: Giới thiệu chung về gói kích thích kinh tế của Việt Nam
-Phần II: Phân tích ảnh hưởng của gói hỗ trợ lãi suất 4% đối với nền kinh tế Việt Nam
Trong quá trình thực hiện không tránh khỏi những sai sót mong thầy,cô thông cảm.Và góp ý kiến hướng dẫn để sau này em thực hiện tốt hơn
-
I Giới thiệu chung về gói kích thích kinh tế của Việt Nam
Trước khi đi vào nghiên cứu gói hỗ trợ lãi suất chúng ta sẽ tìm hiểu khái quát về gói kích thích kinh tế mà Chính phủ Việt Nam đã tiến hành
Ngay từ kỳ họp thứ 5 Quốc hội khoá XII, Chính phủ đã báo cáo Quốc hội dự kiến nguồn lực thực hiện tổng cộng khoảng 145,6 nghìn tỷ đồng, tương đương với khoảng trên 8 tỷ USD để sử dụng cho năm 2009 và một số năm sau, bao gồm: khoảng 17 nghìn tỷ đồng (tương đương 1 tỷ USD) hỗ trợ lãi suất vay vốn tín dụng; khoảng 90,8 nghìn tỷ đồng vốn đầu tư phát triển của Nhà nước, khoảng 28 nghìn tỷ đồng thực hiện chính sách miễn giảm thuế cùng với khoảng 9,8 nghìn tỷ đồng các khoản chi khác
Cùng với ban hành Nghị quyết số 30/2008/NQ- CP, Nghị quyết 30a/2008/NQ- CP của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ký các Quyết định số:
Trang 4 131/QĐ-TTg ngày 23/1/2009 hỗ trợ lãi suất 4% cho các khoản vay vốn lưu động của các doanh nghiệp không phân biệt thành phần kinh tế với thời gian hỗ trợ không quá 8 tháng đối với các khoản vay được ký kết và giải ngân từ ngày 1/2/2009 đến ngày 31/12/2009
443/QĐ-TTg ngày 4/4/2009 hỗ trợ lãi suất với mức 4% cho các khoản vay vốn trung, dài hạn để đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh với thời gian hỗ trợ không quá
24 tháng
497/QĐ-TTg ngày 17/4/2009 hỗ trợ lãi suất các khoản vay mua máy móc, thiết
bị (tối đa 24 tháng), vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp và vật liệu xây dựng nhà ở khu vực nông thôn (tối đa là 12 tháng)
Ngoài ra, cơ chế hỗ trợ lãi suất cũng được áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân vay vốn tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam và Quỹ Đầu tư phát triển địa phương (Văn bản số 670/TTg-KTTH ngày 5/5/2009); vay vốn của hộ nghèo và các đối tượng chính sách tại Ngân hàng Chính sách xã hội (Quyết định số 579/QĐ-TTg ngày 6/5/2009)
Do đề tài khá rộng nên chúng ta chỉ tìm hiểu một trong những gói kích thích được cho là hiệu quả đến thời điểm này là gói hỗ trợ lãi suất 4% trị giá 17.000 tỉ đồng của Chính phủ
II Phân tích ảnh hưởng của gói hỗ trợ lãi suất đối với nền kinh tế Việt Nam
1.Vài nét sơ lược về gói hỗ trợ lãi suất.
Thời điểm triển khai
Đầu năm 2009, Chính phủ đã ra quyết định dành 17.000 tỷ đồng kích thích sản xuất, thông qua việc giảm 4% lãi suất vay ngân hàng cho các doanh nghiệp, đặc biệt chú ý đến đối tượng doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNV&N) Gói kích cầu này ngay lập tức được triển khai nhằm tạo ra 420.000 tỷ đồng vốn vay lãi suất thấp
Cụ thể là ngày 23/1/2009 Thủ Tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định 131/QĐ-TTg ngày 23/1/2009 hỗ trợ lãi suất 4% cho các khoản vay vốn lưu động của các doanh nghiệp không phân biệt thành phần kinh tế với thời gian hỗ trợ không quá 8 tháng đối với các khoản vay được ký kết và giải ngân từ ngày 1/2/2009 đến ngày 31/12/2009
Cụ thể quy định là:
Loại cho vay được hỗ trợ lãi suất
là các khoản cho vay ngắn hạn (thời hạn cho vay đến 12 tháng) bằng đồng Việt Nam theo các hợp đồng tín dụng được ký kết và giải ngân trong khoảng thời gian từ ngày 01 tháng
02 đến 31 tháng 12 năm 2009
Thời hạn vay được hỗ trợ lãi suất
Trang 5Tối đa là 08 tháng, áp dụng trong năm 2009 đối với các khoản vay theo hợp đồng tín dụng được ký kết và giải ngân trong khoảng thời gian từ ngày 01 tháng 02 đến ngày 31 tháng
12 năm 2009; các khoản vay có thời hạn vay vượt quá năm 2009, thì được hỗ trợ lãi suất đối với khoảng thời gian vay của năm 2009, các khoản vay quá hạn trả nợ, được gia hạn nợ vay thì không được tính hỗ trợ lãi suất đối với khoảng thời gian quá hạn trả nợ và gia hạn nợ vay
Đối với hợp đồng tín dụng được ký kết trước ngày 01 tháng 02 năm 2009 trong đó có thoả thuận việc giải ngân nhiều lần thì các khoản cho vay được giải ngân trong khoảng thời gian từ ngày 01 tháng 02 đến 31 tháng 12 năm 2009 được hỗ trợ lãi suất
Mức lãi suất hỗ trợ cho khách hàng vay
4%/năm, tính trên dư nợ vay và thời hạn cho vay thực tế nằm trong khoảng thời gian từ ngày
01 tháng 02 đến ngày 31 tháng 12 năm 2009.
Phương thức thực hiện hỗ trợ lãi suất
Đến kỳ hạn thu lãi tiền vay, các ngân hàng thương mại giảm trừ ngay số lãi tiền vay phải trả của khách hàng bằng với số lãi tiền vay được hỗ trợ lãi suất Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chuyển số lãi tiền vay đã hỗ trợ lãi suất trên cơ sở báo cáo số tiền hỗ trợ lãi suất của ngân hàng thương mại
Đối tượng tiếp nhận
Là các các doanh nghiệp vừa và nhỏ, có vốn điều lệ dưới 10 tỷ đồng, sử dụng không quá
300 công nhân, không nợ đóng thuế và nợ tín dụng quá hạn …
Đối tượng triển khai
Các tổ chức tín dụng cho vay vốn đối với tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật thực hiện việc hỗ trợ lãi suất, bao gồm: Ngân hàng thương mại nhà nước, ngân hàng thương mại cổ phần, ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam, ngân hàng 100% vốn nước ngoài và Quỹ Tín dụng nhân dân trung ương
2.Ảnh hưởng của gói kich cầu& hỗ trợ lãi suất.
Tuy còn cần thời gian cũng như các số liệu cần thiết để tổng kết thực tế, phân tích khách quan hiệu quả của các gói kích cầu này, song trước mắt có thể cảm nhận được một số tác động của chúng.Có thể nói, gói kích cầu nói chung và gói hỗ trợ lãi suất 4% nói riêng trước hết có hiệu ứng tâm lý tích cực, làm tăng tức thời lòng tin của các doanh nghiệp, các ngân hàng và nhà đầu tư trong nước và quốc tế vào trách nhiệm của Nhà nước trong việc hỗ trợ các doanh nghiệp đang gặp khó khăn, cũng như tin vào triển vọng thị trường và môi trường đầu tư trong nước.Hơn nữa, gói kích cầu còn trực tiếp góp phần gia tăng các hoạt động đầu tư phát triển cơ
sở hạ tầng kinh tế và xã hội, duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế, tạo nền tảng và động lực của
sự phát triển xã hội cả hiện tại, cũng như tương lai
Trang 6a.Đối với doanh nghiệp được thụ hưởng
Gói kích cầu đã trực tiếp hỗ trợ các doanh nghiệp tiếp cận được các nguồn vốn ngân hàng với chi phí rẻ hơn, từ đó giảm bớt chi phí kinh doanh, góp phần giảm giá thành sản phẩm, tăng cạnh tranh và tăng tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ trên thị trường
Nhiều doanh nghiệp nhận được sự hỗ trợ kịp thời của gói kích cầu đã có thêm cơ hội giữ vững và mở rộng sản xuất, từ đó góp phần giảm bớt áp lực thất nghiệp và đảm bảo ổn định xã hội
Đây chính là một trong những biện pháp giúp doanh nghiệp vượt qua khó khăn trước ảnh hưởng bởi khủng hoảng
b.Đối với ngân hàng
Giúp các ngân hàng cải thiện hoạt động huy động vốn và cho vay tín dụng của mình, một mặt, không phải hạ thấp lãi suất huy động dễ gây giảm và biến động mạnh nguồn tiền gửi và huy động; mặt khác, mở rộng đầu ra nhờ không buộc phải nâng lãi suất cho vay dễ làm thu hẹp cầu tín dụng trên thị trường.Tuy nhiên ngân hàng càng phải cẩn trọng với những khoản nợ xấu phát sinh từ những khoản vay hỗ trợ này hơn là lợi nhuận thu được
c Đối với thị trường chứng khoán
Chính sách kích cầu của Chính phủ mà cụ thể là gói hỗ trợ lãi suất có tác động rất lớn đến thị trường chứng khoán.Nó củng cố niềm tin cho thị trường chứng khoán.Gói hỗ trợ lãi suất không thực sự đẩy thị trường phục hồi như lúc trước khủng hoảng nhưng nó đã góp phần ngăn chặn sự suy giảm quá mức trong kênh huy động vốn khổng lồ cho nền kinh tế này.Điều này
có thể thấy rõ thông qua tình hình thị trường chứng khoán gần thời điểm của gói kích cầu nhất,đó là vào quý I/2009
Tiếp tục sức giảm từ tháng tháng 09/2008, chỉ số hai sàn HOSE và HASTC rơi qua mốc
300 (VN-Index) và 100 điểm (HaSTC-Index), chạm đáy 235,5 điểm và 78,06 điểm vào tuần cuối tháng 02/2009.Đây là thời điểm mà gói kích cầu chưa thực sự phát huy tác dụng vì còn phải có độ trễ về thời gian.Tuy nhiên, bước sang tháng cuối Quý, hai sàn đều có những cải thiện tích cực về mức điểm cũng như khối lượng giao dịch:
- HOSE: tăng 19% so với đáy 235,5 điểm tạo tại 24/02 Khối lượng giao dịch tháng 03/2009 tăng gấp 2,4 lần so với tháng 2 và 3,3 lần so với tháng 1
- HASTC: mức điểm được cải thiện 26% so với đáy 78,06 điểm (ngày 24/02) Trong khi
đó, khối lượng giao dịch trong tháng cuối Quý cũng tăng 2,7 lần và 4 lần so với tháng hai tháng tương ứng trước đó
Trang 7Chỉ số VN-Index
Chỉ số HASTC-Index
Diễ
n biến chỉ số VN và HaSTC Khối lượng giao dịch tương ứng
Nguồn: Reuters
d.Đối với thị trường ngoại hối
Mức lãi suất sau khi được hỗ trợ tương đương lãi suất cho vay bằng USD và thấp hơn lãi suất tiền gửi có kỳ hạn hiện nay đã tác động làm tăng trưởng tín dụng ở mức cao, gây sức ép tăng lãi suất và tỷ giá ảnh hưởng đến cung cầu ngọai tệ và cán cân thanh toán.Vấn đề trên có thể khái quát là với chính sách hỗ trợ lãi suất sẽ khiến cung nội tệ sẽ tăng làm đồng nội tệ mất giá làm tỷ giá hối đoái tăng.Điều này sẽ gây sức ép tăng lãi suất và làm lượng dự trữ ngoại tệ giảm do Chính phủ phải tung ngoại tệ để mua nội tệ để bình ổn tỷ giá hối đoái.Và hậu quả là cán cân thanh toán bị xấu đi.Tuy nhiên vấn đề này đã được khắc phục bởi các giái pháp linh hoạt của ngân hàng nhà nước,đó là Mở rộng biên độ ấn định tỷ giá mua bán USD/VND của
Trang 8các ngân hàng thương mại từ +3% lên +5% và điều hành linh hoạt tỷ giá bình quân liên ngân hàng phù hợp với tín hiệu thi trường và mục tiêu đẩy mạnh xuất khẩu, hạn chế nhập siêu; Tăng cường các biện pháp điều tiết cung cầu ngoại tệ trên thị trường: Bán ngoại tệ hỗ trợ nhu cầu nhập khẩu các mặt hàng thiết yếu đảm bảo ổn định sản xuất và đời sống; điều hoà ngoại tệ trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng; Trình Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Tài chính bán nguồn ngoại tệ thu được từ phát hành trái phiếu Chính phủ cho Ngân hàng Nhà nước; đề nghị một số doanh nghiệp nhập khẩu lớn chuyển từ mua ngoại tệ sang vay bằng ngoại tệ; Phối họp chặt chẽ với Bộ Công thương trong việc kiểm soát nhập siêu, đáp ứng các nhu cầu ngoại tệ thiết yếu của nền kinh tế và đề xuất giải pháp hạn chế nhập khẩu những mặt hàng không thiết yếu…
e.Đối với nền kinh tế vĩ mô
Đây là một chính sách về kinh tế vĩ mô của chính phủ mà nó nghiên về chính sách tiền tệ
và được thực hiện cùng với chính sách tài khóa là giảm và giãn thuế cho các doanh nghiệp,các ngành nghề trong nền kinh tế.Chính sách hỗ trợ lãi suất tuy giải quyết tốt tình trạng hỗ trợ kịp thời cho doanh nghiệp trong suy thoái kinh tế,giải quyết việc làm nhưng trong dài hạn có thể gây ra những tác động tiêu cực đến nền kinh tế vĩ mô ví dụ như khi khoản hỗ trợ được giải ngân ra tăng trưởng tín dụng sẽ tăng gây ra lạm phát trong lâu dài
3.Kết quả đạt được
Theo nhận định chung của các chuyên gia là Việt Nam đã thoát khỏi cuộc khủng hoảng tương đối nhanh và gói kích cầu của chính phủ,đặt biệt là gói hỗ trợ lãi suất 4% đã hoàn thành được sứ mệnh giải cứu nền kinh tế.Tình trạng thất nghiệp không quá nghiêm trọng như dự kiến.Thông qua báo cáo tài chính quý III/2009,chúng ta có thể thấy khái quát nền kinh tế Việt Nam 9 tháng đầu năm và qua đó cũng thấy được kết quả của gói hỗ trợ lãi suất
-Về mức tăng trưởng GDP:
Mức tăng trưởng GDP đang thể hiện xu hướng tăng tích cực Đạt tốc độ tăng trưởng thấp nhất trong quý I 2009 với 3,1%, GDP đã không ngừng tăng lên trong quý II và quý III với tốc
độ tăng lần lượt 4,5% và 5,8% Tính lũy kế 9 tháng, GDP cả nước đạt tăng trưởng 4,6% so với cùng kỳ năm 2008.Sau đây là bảng thống kê tăng trưởng của GDP của từng lĩnh vực qua các năm:
Tăng trưởng
GDP 9 tháng đầu
năm (%)
Nông – lâm –
thủy sản 4,10 3,32 3,02 3,57 1,60
Công nghiệp – 10,00 9,85 10,15 7,09 4,50
Trang 9Xây dựng
Dịch vụ 8,20 8,03 8,54 7,23 5,90
GDP 8,10 7,84 8,16 6,52 4,56
Để đạt được tốc độ tăng trưởng lũy kế qua 9 tháng đầu năm là 4.56%(được coi là khá cao trong khu vực&thế giới) thì cần phải phối hợp nhiều công cụ,nhiều chính sách kích cầu trong
đó chúng ta không thể không kể đến tác dụng của gói kích thích kinh tế của chính phủ
-Sản xuất công nghiệp:
Giá trị sản xuất công nghiệp tháng 9/2009 theo giá so sánh 1994 đạt 63,3 nghìn tỷ đồng, tăng 13,8% so với cùng kỳ năm 2008 Tính chung 9 tháng năm 2009, giá trị sản xuất công nghiệp tăng 6,5% Kết quả này chủ yếu bắt nguồn từ tăng trưởng khu vực ngoài nhà nước (8,4%) và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (7%) (trong khu vực này dầu mỏ và khí đốt tăng mạnh 13,1%)
Trong 9 tháng đầu
năm 2009, chi tiết
sản lượng một số
sản phẩm công
nghiệp quan trọng
biến động như sau:
Sản phẩm
Tăng/Giảm
9 tháng 2009
% Tăng/Giảm
9 tháng 2009
Tăng/Giảm
9 tháng 2008
% Tăng/Giảm
9 tháng 2008
Điều hòa nhiệt độ Tăng 48,2% Giảm 3,6%
Tủ lạnh, tủ đá Tăng 30,9% Tăng 26,7%
Xà phòng giặt Tăng 21,3% Tăng 20,3% Thép tròn Tăng 18,8% Giảm 1%
Xi măng Tăng 18,3% Tăng 10,9% Dầu thô khai thác Tăng 17,6% Giảm 7,6%
Dày, dép, ủng da Tăng 16,8% Giảm 14%
Thuốc lá điếu Tăng 13,5% n/a n/a
Xe tải Giảm 3,1% Tăng 72,2% Thủy hải sản chế
biến
Giảm 5,6% Tăng 24,6%
Phân hóa học Giảm 5,7% Giảm 1,8%
Gạch lát ceramic Giảm 6,7% n/a n/a
Xe chở khách Giảm 9,7% Tăng 67,4%
Trang 10Nhìn vào số liệu trên, có thể thấy giá trị sản xuất công nghiệp các nhóm ngành vật liệu xây dựng tăng không ngừng từ năm 2008 đến 2009 Đây là kết quả từ chủ trương phát triển cơ
sở hạ tầng và xây dựng các công trình trọng điểm, đồng thời là đích đến của gói kích cầu thời gian vừa qua
-Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng qua các tháng:
Tổng mức lưu chuyển hàng hóa và dịch vụ xã hội tháng 9 đạt 101,5 nghìn tỷ đồng, đưa tổng mức lưu chuyển hàng hóa và dịch vụ xã hội 9 tháng đầu năm lên 845,4 nghìn tỷ đồng, tăng 18,6% so với cùng kỳ 2008 Nếu loại trừ yếu tố trượt giá, tốc độ tăng cùng kỳ đạt khoảng 12% Độ trễ của gói hỗ trợ lãi suất của Chính phủ vẫn tiếp tục phát huy tác dụng và thúc đẩy tiêu dùng cuối cùng ở các mặt hàng trọng yếu liên quan tới vật liệu xây dựng và máy móc sản xuất nông nghiệp
-Cán cân thương mại:
Mặc dù tỉ lệ nhập siêu vẫn còn tăng nhưng nhìn chung thì cán cân thương mại có cải thiện đáng kể nhờ sự hỗ trợ của các chính sách kích thích kinh tế của Chính phủ mà trọng tâm
là các doanh nghiệp sản xuất hướng đến xuất khẩu sẽ duy trì được sản lượng xuất khẩu hàng hóa có giá trị thấp của Việt Nam
Bên cạnh đó số lượng doanh nghiệp thành lập mới tiếp tục tăng lên.Đó là nhờ những biện pháp phục hồi kinh tế cùng với việc cải thiện môi trường đầu tư,kinh doanh của chính phủ đã tác động tích cực tới nhà đầu tư khiến họ mạnh dạn và tin tưởng bỏ vốn của mình để đầu tư