1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Bài tập lớn thực trạng đô la hóa ở việt nam và những giải pháp khắc phục

18 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Trạng Đô La Hóa Ở Việt Nam Và Những Giải Pháp Khắc Phục
Tác giả Nguyễn Thị Thúy
Người hướng dẫn TS. Diệp Gia Luật
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế TP Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kinh tế tài chính
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2009
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 330 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC KINH TEÁ TP HOÀ CHÍ MINH TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC KINH TEÁ TP HOÀ CHÍ MINH KHOA TÀI CHÍNH NHÀ NƯỚC ********* TIỂU LUẬN MOÂN TÀI CHÍNH TIỀN TỆ ÑEÀ TAØI “THỰC TRẠNG ĐÔ LA HÓA Ở VIỆT NAM VÀ NH[.]

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH.

KHOA TÀI CHÍNH NHÀ NƯỚC

*********

TIỂU LUẬN MÔN : TÀI CHÍNH-TIỀN TỆ

ĐỀ TÀI :

“THỰC TRẠNG ĐƠ LA HĨA Ở VIỆT NAM VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC”

GVHD : TS.DIỆP GIA LUẬT

SVTH : NGUYỄN THỊ THÚY MSSV :107202034

STT : 34 LỚP : TCDN4 KHÓA : 33

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NĂM 2009

Trang 2

MỤC LUC

 

A Khái quát tỉ giá hối đoái 1

1 Khái niệm tỉ giá hối đoái 1

2 Các loại tỉ giá hối đoái 2

3 Lên giá và Xuống giá 4

4 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự biến động của tỷ giá hối đoái 4 5 Các chế độ tỷ giá hối đoái 4

6 Các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái 5

B Ảnh hưởng của đồng USD,EUR tới hoạt động xuất, nhập khẩu của Việt Nam 6

1 Sơ lược về đồng USD và EUR 6

2 Ảnh hưởng của biến động tỷ giá EUR/USD tới hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam: 8

C Lời khuyên cho các doanh nghiệp đang sử dụng ngoại tệ 15

LỜI MỞ ĐẦU Nền kinh tế ngày nay luôn biến động không ngừng làm cho tỉ giá hối đoái cũng biến động theo rất phức tạp đặc biệt là đồng USD và đồng EUR.

Trang 3

Bài tiểu luận “ảnh hưởng của biến động tỉ giá đồng USD, EUR đến xuất nhập

khẩu Việt Nam” sẽ phân tích những biến động ảnh hưởng của hai đồng tiền

USD và EUR đến hoạt động xuất nhập khẩu Việt Nam và sau đó dưa ra

những lời khuyên cho các doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh tỉ giá hối

đoái biến động lien tục

ĐẶT VẤN ĐỀ

Từ ngày 7-11-2007, Việt Nam(VN) chính thức là thành viên Tổ chức Thương mại Thế giới – WTO, cánh cửa mở ra thế giới của VN đã được mở toan, đưa nền kinh tế VN hội nhập với kinh tế quốc tế với tốc độ nhanh hơn, mức độ lớn hơn Một nền kinh tế phát triển ổn định bền vững, tự chủ về tài chính sẽ giúp nền kinh tế đất nước có sức đề kháng trước những cú sốc kinh

tế bên ngoài nhất là các cuộc khủng hoảng kinh tế “Chẩn đoán” ra các căn bệnh của nền kinh tế

và tìm cách “chữa trị” nó là cách hữu hiệu để đứng vững trên con đường hội nhập, trong đó vấn

đề đặt ra đối với hệ thống tài chính cũng như nền kinh tế hiện nay là tình hình “đô la hóa” mà theo các chuyên gia “đô la hóa VN đang ở mức báo động” có thể ảnh hưởng rất sâu sắc đối với nền kinh tế VN

Hiện tượng đô la hóa bắt nguồn từ cơ chế tiền tệ thế giới hiện đại, trong đó tiền tệ của một số quốc gia phát triển, đặc biệt là đô la Mỹ, được sử dụng trong giao lưu quốc tế làm vai trò của

"tiền tệ thế giới" Cho nên người ta thường gọi hiện tượng ngoại tệ hóa là "đô la hóa" Trong phạm vi đề tài này, chúng ta giả định chỉ nghiên cứu nền kinh tế bị đô la hóa bằng đồng USD

mà cụ thể là nên kinh tế VN trong giai đoạn từ sau cải cách kinh tế đến nay

Hàng loạt những vấn đề phải được giải quyết : Làm sao để giảm hiện tượng Đô La hoá trong hệ thống tiền tệ trong nước? Cơ chế điều hành tỷ giá sẽ như thế nào, để tác động vào cung cầu USD sao cho có lợi nhất đối với nền kinh tế? Khả năng hấp thụ vốn đầu tư nước ngoài của nền kinh tế VN…

Bài viết “Tình trạng đô la hoá ở Việt Nam và những giải pháp khắc phục” dưới đây sẽ làm rõ

một phần nào những vấn đề có tính cấp bách ở trên

Trong qua trình nghiên cứu tuy đã tham khảo qua nhiều tài liệu song vẫn không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong được sự góp ý của thầy để bài làm sau của em được hoàn thiện hơn

Trang 4

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆN TƯỢNG ĐÔ LA HÓA

1.1 Khái niệm đô la hóa

Tiền tệ có 3 chức năng là: Dự trữ giá trị; phương tiện thanh toán và đơn vị tính toán Khi ngoại

tệ được sử dụng rộng rãi trong một quốc gia để thay thế một hay nhiều chức năng của nội tệ thì nền kinh tế đó gọi là bị đô la hoá (dollarization)

(Nguồn: Ngân hàng Nhà nước VN)

Theo IMF, tiêu chí để đo lường mức độ đô la hóa của một quốc gia là cao hay thấp chính là tỷ

lệ tiền gửi bằng ngoại tệ trên tổng khối tiền M2 (FCD/M2) bao gồm: tiền mặt trong lưu thông, tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi ngoại tệ

Theo đó, một nền kinh tế được coi là có tình trạng đô la hóa cao khi mà tỷ trọng tiền gửi bằng ngoại tệ chiếm trên 30% trong tổng khối tiền tệ mở rộng(M2) (FCD/M2 trên 30%)

Một nền kinh tế được coi là có tình trạng đô la hóa trung bình khi FCD/M2 từ 15% đến 30% Một nền kinh tế được coi là có tình trạng đô la hóa thấp khi FCD/M2 dưới 15%

Theo đánh giá của IMF năm 1998 trường hợp đô la hoá cao có 19 nước, trường hợp đô la hoá cao vừa phải với tỷ lệ tiền gửi ngoại tệ/M2 khoảng 16,4% có 35 nước, trong số đó có VN

1.2 Phân loại

1.2.1 Căn cứ vào hình thức:

Đô la hóa được thể hiện dưới 3 hình thức sau:

Đô la hóa thay thế tài sản: Thể hiện qua tỷ lệ tiền gửi ngoại tệ trên tổng phương tiện thanh toán (FCD/M2) Theo IMF, khi tỷ lệ này trên 30% thì nền kinh tế đó được cho là có tình trạng

đô la hóa cao, tạo ra các lệch lạc trong điều hành tài chính tiền tệ vĩ mô Nhìn chung đối với các nền kinh tế chuyển đổi, tỷ lệ đô la hóa hiện nay bình quân là 29%

Đô la hóa phương tiện thanh toán: Là mức độ sử dụng ngoại tệ trong thanh toán Các giao dịch thanh toán bất hợp pháp bằng ngoại tệ rất khó đánh giá nhất là đối với những nền kinh tế tiền mặt như VN

Đô la hóa định giá, niêm yết giá: Là việc niêm yết, quảng cáo, định giá bằng ngoại tệ

1.2.2 Căn cứ vào phạm vi:

Tùy theo mức độ sử dụng rộng rãi đồng USD trong nền kinh tế và thái độ của quốc gia đó đối với việc thừa nhận hay không thừa nhận đồng Đô la mà Đô la hóa được chia làm 3 mức độ:

a) Đô la hóa không chính thức (Unofficial Dollarization): là trường hợp đồng đô la được sử

dụng rộng rãi trong nền kinh tế, mặc dù không được quốc gia đó chính thức thừa nhận Ở những nước có nền kinh tế bị đô la hóa không chính thức, phần lớn người dân đã quen với việc sử dụng đồng đô la nhưng Chính phủ vẫn cấm niêm yết giá hàng hóa bằng đô la, cấm dùng đô la đối với hầu hết giao dịch trong nước Trên thực tế, ở rất nhiều nước, đô la hoá không chính thức mặc nhiên tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau bất chấp các quy định của luật pháp Ở một

số nước thì việc cất trữ tài sản nước ngoài là hợp pháp nhưng một số nước khác thì không cho

Trang 5

phép dân chúng nắm giữ các tài sản nước ngoài, chẳng hạn cấm mở tài khoản bằng ngoại tệ ở nước ngoài Thuật ngữ đô la hoá không chính thức được dùng bao gồm cho cả hai trường hợp, hợp pháp lẫn bất hợp pháp

Đô la hoá không chính thức có thể bao gồm các loại sau:

• Các trái phiếu ngoại tệ và các tài sản phi tiền tệ ở nước ngoài

• Tiền gửi bằng ngoại tệ ở nước ngoài

• Tiền gửi ngoại tệ ở các ngân hàng trong nước

• Trái phiếu hay các giấy tờ có giá bằng ngoại tệ cất trong túi

VN được xếp vào nhóm những nước Đô la hóa không chính thức

b) Đô la hóa bán chính thức (Semiofficial Dollarization) hay còn gọi là đô la hóa từng phần là

tình trạng đồng đô la được sử dụng như một đơn vị kế toán, phương tiện trao đổi, dự trữ giá trị

và phương tiện thanh toán trong khi đồng nội tệ vẫn tồn tại và lưu thông Đồng đô la có chức năng như một đồng tiền hợp pháp thứ hai của nền kinh tế Các nước ở tình trạng này vẫn duy trì một Ngân hàng Trung ương để thực hiện chính sách tiền tệ của họ

c) Đô la hóa chính thức (Official Dollarization) hay còn gọi là đô la hóa hoàn toàn xảy ra khi

đồng ngoại tệ là đồng tiền hợp pháp duy nhất được lưu hành Nghĩa là đồng ngoại tệ không chỉ được sử dụng hợp pháp trong các hợp đồng giữa các bên tư nhân mà còn hợp pháp trong các khoản thanh toán của Chính phủ Nếu đồng ngoại tệ còn tồn tại thì nó chỉ có vai trò thứ yếu và thường chỉ là đồng tiền xu hay các đồng tiền mệnh giá nhỏ Thông thường, các nước chỉ áp dụng đô la hóa chính thức khi đã thất bại trong việc thực thi các chương trình ổn định kinh tế và khẳng định chủ quyền quốc gia

Đô la hoá chính thức không có nghĩa là chỉ có một hoặc hai đồng ngoại tệ được lưu hành hợp pháp Tuy nhiên, các nước đô la hoá chính thức thường chỉ chọn một đồng ngoại tệ làm đồng tiền hợp pháp

1.3 Nguồn gốc của đô la hóa

Trước hết, đô la hoá là hiện tượng phổ biến xẩy ra ở nhiều nước, đặc biệt là ở các nước chậm

phát triển Đô la hoá thường gặp khi một nền kinh tế có tỷ lệ lạm phát cao, sức mua của đồng bản tệ giảm sút thì người dân phải tìm các công cụ dự trữ giá trị khác, trong đó có các đồng ngoại tệ có uy tín Song song với chức năng làm phương tiện cất giữ giá trị, dần dần đồng ngoại

tệ sẽ cạnh tranh với đồng nội tệ trong chức năng làm phương tiện thanh toán hay làm thước đo giá trị

Tình trạng đô la hoá bao gồm cả ba chức năng thuộc tính của tiền tệ, đó là:

• Chức năng làm phương tiện thước đo giá trị

• Chức năng làm phương tiện cất giữ

• Chức năng làm phương tiện thanh toán

Thứ hai, hiện tượng đô la hoá bắt nguồn từ cơ chế tiền tệ thế giới hiện đại, trong đó tiền tệ của

một số quốc gia phát triển, đặc biệt là đô la Mỹ, được sử dụng trong giao lưu quốc tế làm vai trò của "tiền tệ thế giới" Nói cách khác, đô la Mỹ là một loại tiền mạnh, ổn định, được tự do chuyển đổi đã được lứu hành khắp thế giới và từ đầu thế kỷ XX đã dần

thay thế vàng, thực hiện vai trò tiền tệ thế giới Ngoài đồng đô la Mỹ, còn có một số đồng tiền của các quốc gia khác cũng được quốc tế hoá như: bảng Anh, mác Đức, yên Nhật, Franc Thuỵ

Sỹ, Euro của EU nhưng vị thế của các đồng tiền này trong giao lưu quốc tế không lớn; chỉ có

đô la Mỹ là chiếm tỷ trọng cao nhất (khoảng 70% kim ngạch giao dịch thương mại thế giới) Cho nên người ta thường gọi hiện tượng ngoại tệ hoá là "đô la hoá"

Thứ ba, trong điều kiện của thế giới ngày nay, hầu hết các nước đều thực thi cơ chế kinh tế thị

trường mở cửa; quá trình quốc tế hoá giao lưu thương mại, đầu tư và hợp tác kinh tế ngày càng tác động trực tiếp vào nền kinh tế và tiền tệ của mỗi nước, nên trong từng nước

xuất hiện nhu cầu khách quan sử dụng đơn vị tiền tệ thế giới để thực hiện một số chức năng của tiền tệ Đô la hoá ở đây có khi là nhu cầu, trở thành thói quen thông lệ ở các nước

Thứ tư, mức độ đô la hoá ở mỗi nước khác nhau phụ thuộc vào trình độ phát triển nền kinh

tế, trình độ dân trí và tâm lý người dân, trình độ phát triển của hệ thống ngân hàng, chính sách tiền tệ và cơ chế quản lý ngoại hối, khả năng chuyển đổi của đồng tiền quốc gia Những yếu tố

Trang 6

nói trên ở mức độ càng thấp thì quốc gia đó sẽ có mức độ đô la hoá càng cao Đối với trường hợp VN ngoài các yếu tố trên, chúng ta cần nhấn mạnh thêm một

số nguyên nhân sau đây của hiện tượng đô la hoá:

 Tình trạng buôn lậu, nhất là buôn bán qua biên giới và trên biển khá phát triển và sự quản lý lỏng lẻo của chính quyền các cấp Tình trạng các doanh nghiệp, các cửa hàng kinh doanh bán hàng thu bằng ngoại tệ còn tuỳ tiện và diễn ra phổ biến

 Thu nhập của các tầng lớp dân cư còn thấp, đa số dân cư có tâm lý tiết kiệm để dành,

lo xa cho cuộc sống

Mối quan hệ giữa lãi suất nội tệ và ngoại tệ, xu hướng biến đổi của tỷ giá VNĐ/USD là nguyên nhân quan trọng của xu hướng tích trữ và gửi tiền bằng đô la Các ngân hàng thương mại trong nước tăng lãi suất huy động vốn đô la lên tương ứng, đầu tư trên thị trường tiền gửi quốc tế, đem lại lợi ích thu nhập về lãi suất cho người dân và cho hệ thống ngân hàng Cũng do tỷ giá ổn định, lãi suất vay vốn đô la Mỹ bình quân chỉ có 3% - 4%/năm, thấp chỉ bằng 1/3 lãi suất vay vốn VN đồng, nên nhiều doanh nghiệp lựa chọn vay đô la Mỹ, làm cho tỷ trọng và số tuyệt đối

dư nợ vốn vay đô la Mỹ tăng lên

Bên cạnh đó nhiều người có tâm lý do sợ sự mất giá của VN đồng, nên họ lựa chọn đô la Mỹ

để gửi ngân hàng Thực trạng đó còn do nguyên nhân đồng tiền VN mệnh giá còn nhỏ, cao nhất

là tờ 500.000 đồng mới được đưa ra lưu thông vào cuối năm 2003, song tờ 100 USD lại tương ứng với gần 1,8 triệu đồng Bởi vậy việc sử dụng đồng đô la tiện lợi trong các giao dịch lớn như: mua bán đất đai, nhà cửa, ô tô Các hoạt động kinh tế ngầm vẫn diễn biến phức tạp, việc

sử dụng đô la Mỹ tiện lợi hơn nhiều đối với họ

lên Đó là thu nhập của những người VN làm việc cho các công ty nước ngoài và các tổ chức quốc tế ở VN; tiền cho người nước ngoài thuê nhà và kinh doanh du lịch; khách quốc tế đến và chi tiêu đô la bằng tiền mặt ở VN; người nước ngoài sinh sống và làm việc ở VN tiêu dùng; tiền của người VN định cư ở nước ngoài gửi về; tiền của những người đi xuất khẩu lao động, đi học tập, hội thảo, làm việc ngắn ngày mang về

Số liệu thống kê của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, lượng kiều hối chuyển về nước ta các năm gần đây không ngừng tăng lên như sau:

Kiều hối (triệu USD) 1757 2154 2700 3200 4000 5000 8000

Đó là con số thống kê được qua hệ thống ngân hàng, chưa kể ngoại hối được chuyên ngoài luồng, ngoại tệ tiền mặt người VN và Việt kiều mang trực tiếp theo người khi nhập cảnh

Lượng khách quốc tế đến VN cũng tăng nhanh,

Số lượng (triệu lượt

Ngoài ra, trong tháng 11, lượng khách quốc tế đến VN ước đạt 387.871 lượt Tính chung 11 tháng năm 2009, lượng khách quốc tế ước đạt 3.400.088 lượt Số lượng khách đó mang theo một số lượng lớn ngoại tệ, và chi tiêu bằng ngoại tệ tiền mặt tại các cơ sở tư nhân

1.4 Những tác động của đô la hoá

Tình trạng "đô la hoá" nền kinh tế có tác động tích cực và tác động tiêu cực

1.4.1 Những tác động tích cực:

 Tạo một cái van giảm áp lực đối với nền kinh tế trong những thời kỳ lạm phát cao, bị mất cân đối và các điều kiện kinh tế vĩ mô không ổn định Do có một lượng lớn đô la Mỹ trong

hệ thống ngân hàng, sẽ là một công cụ tự bảo vệ chống lại lạm phát và là phương tiện để mua hàng hoá ở thị trường phi chính thức Bên cạnh đó, USD là đồng tiền đáng tin cậy nhất thế giới Bất kỳ nước nào chấp nhận đô la hóa cũng sẽ chấp nhận chính sách tiền tệ của FED ( Cục dự

Trang 7

trữ liên bang Mỹ) Nhờ đó, sẽ giảm thiểu các rủi ro về khả năng mất giá tiền tệ.

Ở các nước đô la hoá chính thức, bằng việc sử dụng đồng ngoại tệ, họ sẽ duy trì được tỷ lệ lạm phát gần với mức lạm phát thấp làm tăng sự an toàn đối với tài sản tư nhân, khuyến khích tiết kiệm và cho vay dài hạn Hơn nữa, ở những nước này ngân hàng trung ương sẽ không còn khả năng phát hành nhiều tiền và gây ra lạm phát, đồng thời ngân sách nhà nước sẽ không thể trông chờ vào nguồn phát hành này để trang trải thâm hụt ngân sách, kỷ luật về tiền tệ và ngân sách được thắt chặt Do vậy, các chương trình ngân sách sẽ mang tính tích cực hơn

lượng ngoại tệ lớn được gửi vào các Ngân hàng sẽ tạo thành nguồn vốn lớn để cho vay và đầu

tư vào nền kinh tế, hạn chế việc đi vay nước ngoài, và tăng cường khả năng kiểm soát của ngân hàng trung ương đối với luồng ngoại tệ Song trong điều kiện cho vay bằng ngoại tệ của Ngân hàng gặp khó khăn, thì với lãi suất trên thị trường quốc tế cao, các ngân hàng trong nước đem gửi ở nước ngoài Người dân cũng sẽ được hưởng từ lãi suất hơn là cất giữ trong nhà và các ngân hàng cũng có thu nhập về nghiệp vụ tiền gửi và có lợi ích Quốc gia cũng có thêm nguồn

dự trữ ngoại tệ

Với đô la hóa, các ngân hàng có một lượng ngoại tệ lớn sẽ có điều kiện mở rộng hoạt động của mình, nhất là hoạt động đối ngoại Hơn nữa sự tồn tại các khoản tiền gửi bằng ngoại tệ tại các ngân hàng trong nước sẽ tạo công cụ hội nhập thị trường trong nước với thị trường khu vực, thị trường thế giới, giảm thiểu các chi phí giao dịch tài chính quốc tế

 Hạ thấp chi phí giao dịch Ở những nước đô la hoá chính thức, các chi phí như chênh lệch giữa tỷ giá mua và bán khi chuyển từ đồng tiền này sang đồng tiền khác được xoá bỏ Các chi phí dự phòng cho rủi ro tỷ giá cũng không cần thiết, các ngân hàng có thể hạ thấp lượng dự trữ, vì thế giảm được chi phí kinh doanh Với nền kinh tế đô la hóa sẽ giúp thu hút đầu tư nước ngoài do các nhà đầu tư biết rõ giá trị tài sản quy ra tiền của họ sẽ gặp ít rủi ro Đô la hóa có thể

là yếu tố thu hút khách du lịch bởi việc mua bán và trao đổi ngoại tệ dễ dàng

 Thúc đẩy thương mại và đầu tư Các nước thực hiện đô la hoá chính thức có thể loại

bỏ rủi ro cán cân thanh toán và những kiểm soát mua ngoại tệ, khuyến khích tự do thương mại

và đầu tư quốc tế Các nền kinh tế đô la hoá có thể được, chênh lệch lãi suất đối với vay nợ nước ngoài thấp hơn, chi ngân sách tiảm xuống và thúc đẩy tăng trưởng và đầu tư

Thu hẹp chênh lệch tỷ giá trên hai thị trường chính thức và phí chính thức Tỷ giá chính thức càng sát với thị trường phi chính thức, tạo ra động cơ để chuyển các hoạt động từ thị trường phi chính thức (bất hợp pháp) sang thị trường chính thức (thị trường hợp pháp)

1.4.2 Những tác động tiêu cực:

 Một nền kinh tế bị đô la hóa cao càng dễ bị tổn thương và nhạy cảm hơn với những thay đổi liên quan đến đồng đô la, cũng như các cú sốc kinh tế như sự dao động của giá dầu Ngành xuất khẩu sẽ chịu tác động trực tiếp Do đó, đô la hóa ảnh hưởng đến việc hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô Trong một nền kinh tế có tỷ trọng ngoại tệ lớn, việc hoạch định các chính sách kinh

tế vĩ mô, đặc biệt là chính sách tiền tệ sẽ bị mất tính độc lập mà chịu nhiều ảnh hưởng bởi diễn biến kinh tế quốc tế, nhất là khi xảy ra các cuộc khủng hoảng kinh tế

 Làm giảm hiệu quả điều hành của chính sách tiền tệ :

• Gây khó khăn trong việc dự đoán diễn biến tổng phương tiện thanh toán, do đó dẫn đến việc đưa

ra các quyết định về việc tăng hoặc giảm lượng tiền trong lưu thông kém chính xác và kịp thời

• Làm cho đồng nội tệ nhạy cảm hơn đối với các thay đổi từ bên ngoài, do đó những cố gắng của chính sách tiền tệ nhằm tác động đến tổng cầu nền kinh tế thông qua việc điều chỉnh lãi suất cho vay trở nên kém hiệu quả

• Tác động đến việc hoạch định và thực thi chính sách tỷ giá Đô la hoá có thể thực thi chính sách

tỷ giá Mức cung tiền trở nên khó dự báo hơn và mức cầu nội tệ trong nước không ổn định, do người dân có xu hướng chuyển từ đồng nội tệ sang đô la Mỹ, làm cho cầu của đồng đô la Mỹ tăng mạnh gây sức ép đến tỷ giá

Khi các đối thủ cạnh tranh trên thị trường thế giới thực hiện phá giá đồng tiền, thì quốc gia bị đô

la hoá sẽ không còn khả năng để bảo vệ sức cạnh tranh của khu vực xuất khẩu thông qua việc điều chỉnh lại tỷ giá hối đoái

Trang 8

• Ở trong các nước đô la hoá không chính thức, nhu cầu về nội tệ không ổn định Trong trường hợp có biến động, mọi người bất ngờ chuyển sang ngoại tệ có thể làm cho đồng nội tệ mất giá và bắt đầu một chu kỳ lạm phát Khi người dân giữ một khối lượng lớn tiền gửi bằng ngoại tệ, những thay đổi về lãi suất trong nước hay nước ngoài có thể gây ra sự chuyển dịch lớn từ đồng tiền này sang đồng tiền khác (hoạt động đầu cơ tỷ giá) Những thay đổi này sẽ gây khó khăn cho ngân hàng trung ương trong việc đặt mục tiêu cung tiền trong nước và có thể gây ra những bất ổn định trong hệ thống ngân hàng

Trường hợp tiền gửi của dân cư bằng ngoại tệ cao, nếu khi có biến động làm cho người dân đổ xô

đi rút ngoại tệ, trong khi số ngoại tệ này đã được ngân hàng cho vay, đặc biệt là cho vay dài hạn, khi đó ngân hàng nhà nước của nước bị đô la hoá cũng không thể hỗ trợ được vì không có chức năng phát hành đô la Mỹ

 Chính sách tiền tệ bị phụ thuộc nặng nề vào nước Mỹ Trong trường hợp đô la hoá chính thức, chính sách tiền tệ và chính sách lãi suất của đồng tiền khi đó sẽ do nước Mỹ quyết định Trong khi các nước đang phát triển và một nước phát triển như Mỹ không có chu kỳ tăng trưởng kinh tế giống nhau, sự khác biệt về chu kỳ tăng trưởng kinh tế tại hai khu vực kinh tế khác nhau đòi hỏi phải có những chính sách tiền tệ khác nhau

hoảng tài chính trong 2 thập kỷ qua Một hệ thống như thế này sẽ có rủi ro cao về thanh khoản

và khả năng chi trả Rủi ro về khả năng chi trả phát sinh bởi sự khác biệt về đồng tiền huy động

và cho vay Các ngân hàng với một lượng vốn lớn bằng ngoại tệ có được từ huy động tiền gửi ngoại tệ của công chúng trong nước buộc phải tìm cách cho vay một phần trong số này cho các đối tượng trong nước, và như vậy là đã chuyển giao rủi ro tiền tệ sang khách hàng không có biện pháp phòng hộ rủi ro này, đồng thời vẫn còn giữ lại rủi ro về tín dụng cho mình Khi bản tệ

bị phá giá, các con nợ của ngân hàng dễ bị mất khả năng thanh toán vì các khoản thu của họ phần lớn bằng bản tệ, trong khi họ đi vay ngân hàng bằng ngoại tệ, những khoản vay này nay đã

“phình to” ra nếu tính theo bản tệ bị mất giá Đối với người gửi ngoại tệ vào ngân hàng, nếu họ

lo ngại rằng ngân hàng mà họ gửi tiền đang có vấn đề với những khoản cho vay mất khả năng thu hồi của nó, họ sẽ thi nhau rút tiền của mình ra khỏi ngân hàng Để đáp ứng được sự rút ồ ạt

đó, ngân hàng buộc phải có một nguồn tài sản ngoại tệ có tính thanh khoản cao đủ lớn hoặc đi vay của ngân hàng trung ương và các ngân hàng khác Nhưng những nguồn trên đều có hạn, nhất là vào thời điểm mà các ngân hàng khác cũng bị rơi vào tình trạng này Kết cục là sự sụp

đổ của cả một hệ thống ngân hàng

ngoại hối kém phát triển do các quan hệ vay – trả bằng ngoại tệ lấn át các quan hệ mua bán ngoại tệ Về cơ bản, ưu quyền tiền tệ là lợi nhuận thu được từ phát hành tiền Đây là một hoạt động kinh tế rất có lãi vì chi phì in tiền, phát hành tiền thấp hơn rất nhiều so với giá trị hàng hóa

mà giấy bạc phát hành thu mua được Chính phủ Mỹ thu được 25 tỉ USD mỗi năm từ ưu quyền tiền tệ Và khi người dân các nước khác giữ tờ đô la trong tay, họ đang góp phần làm giàu cho

Bộ tài chính Mỹ

 Về dài hạn, ĐLH có những tác động tiêu cực đối với tăng trưởng kinh tế bền vững do

nó làm giảm chất lượng hoạch định và thực thi chính sách tiền tệ, giảm hiệu quả của chính sách

tỷ giá, tạo ra nguy cơ mất an toàn hệ thống ngân hàng vì NHTW không thực hiện được vai trò

“Người cho vay cuối cùng” của mình Đô la hoá chính thức sẽ làm mất đi chức năng của ngân hàng trung ương là người cho vay cuối cùng của các ngân hàng Trong các nước đang phát triển chưa bị đô la hoá hoàn toàn, mặc dù các ngân hàng có vốn tự có thấp, song công chúng vẫn tin tưởng vào sự an toàn đối với các khoản tiền gửi của họ tại các ngân hàng Nguyên nhân là do có

sự bảo lãnh ngầm của Nhà nước đối với các khoản tiền này Điều này chỉ có thể làm được đối với đồng tiền nội tệ, chứ không thể áp dụng được đối với đô la Mỹ Đối với vác nước đô la hoá hoàn toàn, khu vực ngân hàng sẽ trở nên bất ổn hơn trong trường hợp ngân hàng thương mại bị phá sản và sẽ phải đóng cửa khi chức năng người cho vay cuối cùng của ngân hàng trung ương

đã bị mất Tất nhiên, Ngân hàng Trung ương các nước này có thể đề nghị FED hỗ trợ tài chính

Trang 9

khẩn cấp Nhưng trong lịch sử tiền tệ thế giới, FEG chưa hề có sự giúp đỡ hệ thống ngân hàng của nước thực hiện đô la hóa chính thức khi họ gặp cơn nguy khốn

phát triển, ảnh hưởng tiêu cực tới sản xuất trong nước Nhà nước không những mất luôn nguồn thu về thuế mà còn mất cả nguồn thu từ việc phát hành đồng nội tệ

(*)Bên cạnh đó, xét về khía cạnh chi phí thì khi xảy ra đô la hoá, chính phủ sẽ mất đi chênh lệch giá phí (seigniorage) tức là khoản chênh lệch giữa chi phí khi đưa đồng tiền vào lưu thông và giá trị hàng hoá mà đồng tiền đó mua được (ở đây, khái niệm chênh lệch giá phí áp dụng cho toàn bộ cơ số tiền đang lưu hành cộng với dự trữ ngân hàng) Nghiên cứu của Stanley Fischer, Phó giám đốc điều hành của IMF vào năm 1982 đã chia chênh lệch giá phí từ đô la hoá ra làm hai phần là “stock cost” và “flow cost” Theo Fischer, “stock cost” là chi phí một lần ban đầu khi đưa một lượng tiền giấy, tiền xu đô la cần thiết để thay cho đồng nội tệ đang lưu hành và Fischer ước tính chi phí này chiếm khoảng 8% GNP với nhận định rằng càng nhiều người thích

sử dụng tiền giấy và tiền xu nhiều hơn séc và thẻ tín dụng thì “stock cost” càng cao Còn “flow cost” là chi phí liên tục mất đi do tiền giấy và tiền xu không sinh lãi và tỉ lệ lạm phát càng cao thì “flow cost” càng cao với ước tính khoảng 0,75% đến 1% GNP mỗi năm

Ngoài ra, nước thực hiện đô la hoá còn phải chịu các chi phí khác như chi phí cho một lần chuyển đổi giá cả, thay đổi chương trình máy tính, thay thế hệ thống máy bán hàng tự động, máy rút tiền và cả những chi phí do đánh mất sự độc lập và linh động trong chính sách tiền tệ khi phải bó buộc với chính sách tiền tệ của nước có đồng tiền sử dụng trong thời kỳ giá cả tăng vọt

Như vậy, nhìn chung hiện tượng đô la hoá đã có những tác động tiêu cực đối với nền kinh tế Trong những thời điểm cung cầu ngoại tệ trên thị trường mất cân bằng như một vài thời điểm trong thời gian vừa qua, tình trạng đô la hoá cũng gây thêm khó khăn cho việc ổn định trở lại thị trường ngoại tệ do đô la hoá làm tăng hiện tượng đầu cơ, bóp méo cung cầu ngoại tệ Bên cạnh

đó, đô la hoá làm giảm nhu cầu phát triển các công cụ phòng ngừa rủi ro trên thị trường ngoại hối, không chỉ ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển thị trường ngoại hối, mà các doanh nghiệp cũng đối mặt với nguy cơ thiệt hại lớn do không có công cụ phòng ngừa rủi ro khi đồng đô la

Mỹ biến động bất thường Ngoài ra, việc niêm yết giá bằng ngoại tệ cũng khiến cho người dân

bị thiệt khi thanh toán tiền mua hàng hoá do các cửa hàng áp dụng tỷ giá không thống nhất Vấn đề nào cũng có hai mặt, không thể phủ nhận mặt tích cực của “đô la hoá” trong nền kinh tế

VN Một trong những điểm tích cực của “đô la hoá” là giúp thu hút đầu tư nước ngoài, tăng cung ngoại tệ… do các nhà đầu tư biết rõ giá trị tài sản quy ra tiền của họ sẽ không thay đổi

“Đô la hoá” có thể là yếu tố thu hút khách du lịch, giúp việc mua bán, trao đổi bằng ngoại tệ của khách du lịch nước ngoài được dễ dàng Nhưng một khi nền kinh tế bị “đô la hoá” cao càng dễ

bị tổn thương và nhạy cảm hơn với những thay đổi liên quan đến đồng đô la trên thế giới, cũng như các cú sốc kinh tế như sự dao động của giá dầu, thép… ngành xuất khẩu sẽ chịu tác động trực tiếp trước tiên Chẳng hạn, giá cà phê trên thị trường thế giới giảm mạnh, xuất khẩu cũng giảm, kéo theo nền kinh tế phát triển chậm lại Nếu đồng nội tệ không hấp thụ bớt tác động của

cú sốc bên ngoài đó, nó sẽ truyền thẳng vào các hoạt động kinh tế khác Chính vì thế Ngân hàng Nhà nước đã đặt ra mục tiêu hạn chế “đô la hoá”, đặt mục tiêu đến năm 2010 sẽ giảm tỷ lệ “đô

Trang 10

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐÔ LA HÓA TẠI

VIỆT NAM

2.1.Tổng quan

Ở VN, theo thống kê, tỷ lệ đô la hóa luôn ở mức trên 20% trong khi tỷ lệ này ở các nước trong khu vực thấp hơn rất nhiều, như: Indonesia, Thái Lan, Malaysia chỉ khoảng 7-10% Mục tiêu của Ngân hàng nhà nước VN tới năm 2010 sẽ giảm tỷ lệ này xuống còn 15%

Cuộc khủng hoảng tiền tệ sau năm 1985 và những năm 1997-1998 Thêm vào đó là hiện tượng lạm phát phi mã trong những năm cuối thập niên 80, đầu thập niên 90 càng làm làm cho đồng nội tệ mất giá nhanh và tạo cho những người giữ tiền cảm thấy quá rủi ro khi giữ một khối lượng đồng nội tệ lớn Hơn thế nữa, sau một thời gian ổn định, chỉ số giá đang ngày càng gia tăng khiến mọi người thêm ngần ngại hơn trong việc chuyển từ ngoại tệ sang VNĐ Người ta thích dùng USĐ không chỉ vì tính ổn định mà còn vì sự gọn nhẹ và tiện dụng của nó

Bức tranh tổng quát về tình hình đô la hóa ở VN qua các năm được biểu hiện cụ

thể qua số liệu sau:

Hiện tượng nền kinh tế VN sử dụng rộng rãi đồng đô la Mỹ trong giao dịch buôn bán bắt đầu được chú ý đến từ năm 1988 khi các ngân hàng được phép nhận tiền gửi bằng đồng đô la Đến năm 1992, tình trạng đô la hoá đã tăng lên mạnh với hơn 41% lượng tiền gửi vào các ngân hàng

là bằng đô la USD Trước tình trạng này, Ngân hàng Nhà nước VN đã cố gắng đảo ngược quá trình đô la hoá nền kinh tế và đã khá thành công khi giảm mạnh mức tiền gửi bằng USD vào các ngân hàng xuống còn 20% vào năm 1996 Nhưng tiếp theo đó cuộc khủng hoảng tài chính châu Á

đã khiến cho đồng tiền VN giảm giá trị, và VN lại tiếp tục chịu sức ép của tình trạng đô la hoá Đến cuối năm 2001, tỷ lệ đồng USD được gửi vào các ngân hàng tăng lên đến 31,7% Tỷ lệ này

có xu hướng giảm đáng kể trong những năm tiếp theo Đến năm 2008 tỷ lệ này gần 25% Đây là

xu hướng tích cực, cho thấy tình trạng đô la hoá tài sản nợ trong hệ thống ngân hàng thương mại đang được kiềm chế một cách có hiệu quả Người dân đã có niềm tin vào đồng tiền nội địa nhiều hơn Con số này một mặt cho thấy tiềm lực nguồn vốn nhàn rỗi trong dân mà hệ thống ngân hàng

có thể huy động được cho đầu tư phát triển kinh tế, những mặt khác cũng đáng quan tâm ở góc độ

đô la hoá

Ngày đăng: 13/03/2023, 13:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w