Chuyên đề thực tập ngành Luật Chuyên đề thực tập ngành Luật TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN KHOA LUẬT o0o CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP Tên đề tài PHÁP LUẬT VỀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ VÀ THỰC TIỄN Á[.]
Trang 1KHOA LUẬT -o0o -
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
Tên đề tài:
PHÁP LUẬT VỀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI CÔNG TY TNHH KINH DOANH
DỊCH VỤ BẢO VỆ CHUYÊN NGHIỆP HNK
Tên sinh viên : Nguyễn Ngọc Khánh
Chuyên ngành : Luật Kinh doanh
Địa điểm thực tập : Công ty TNHH kinh doanh dịch vụ
bảo vệ chuyên nghiệp HNK Giáo viên hướng dẫn : ThS Nguyễn Hữu Mạnh
Hà Nội, tháng 12/2018
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIAO KẾT HĐTM DỊCH VỤ 31.1 TỔNG QUAN VỀ GIAO KẾT HĐTM DỊCH VỤ 3
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm giao kết HĐTM dịch vụ 3
1.1.2 Ý nghĩa của hoạt động giao kết HĐTM dịch vụ 5
1.1.3 Các văn bản QPPL chủ yếu điều chỉnh hoạt động giao kết HĐTM dịch
1.2.7 Trách nhiệm dân sự trong giao kết HĐTM dịch vụ21
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ADPL VỀ GIAO KẾT HĐTM DỊCH VỤ TẠI CÔNG
TY TNHH KDDVBV CHUYÊN NGHIỆP HNK 232.1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY TNHH HNK 23
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty 23
2.1.2 Chức năng, mục tiêu của công ty 24
2.1.3 Cơ cấu tổ chức của công ty 25
2.1.4 Tình hình hoạt động kinh doanh của công ty 29
2.2 THỰC TRẠNG ADPL TRONG HOẠT ĐỘNG GIAO KẾT HĐTM DỊCH
VỤ TẠI CÔNG TY TNHH KĐVBV chuyên nghiệp HNK 36
2.2.1 Chủ thể trong giao kết 36
2.2.2 Trình tự thực hiện hoạt động giao kết hợp đồng trong công ty 37
Trang 3CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢADPL TRONG HOẠT ĐỘNG GIAO KẾT HĐTM DỊCH VỤ 403.1 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN HOẠT ĐỘNG GIAOKẾT HĐTM DỊCH VỤ 40
3.1.1 Những thành tựu mà công ty đạt được 40
3.1.2 Những tồn tại, hạn chế41
3.1.3 Nguyên nhân của những hạn chế 42
3.2 NHỮNG GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢHOẠT ĐỘNG GIAO KẾT HĐTM DỊCH VỤ TẠI CÔNG TY TNHH HNK44
3.2.1 Đối với Nhà nước 44
3.2.2 Đối với công ty TNHH KĐVBV chuyên nghiệp HNK 48
KẾT LUẬN 50DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 52
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính tất yếu của việc lựa chọn đề tài
Ngành dịch vụ đang là một trong những ngành có tiềm năng phát triển lớn vàđem lại nhiều lợi nhuận Xã hội ngày càng phát triển, hội nhập kinh tế toàn cầu, đầu
tư, sản xuất được mở rộng nhiều hơn thì nhu cầu về các loại hình cung cấp dịch vụcàng phong phú Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam như vậy, mỗi cá nhân hay tổchức đều cần đến sự trợ giúp của pháp luật để có thể đảm bảo cho các giao dịch củamình không xảy ra những tranh chấp không đáng có So với việc mua bán hàng hóathì cung cấp dịch vụ càng khó định hình hơn và dễ xảy ra sai sót hơn Tính chấtđịnh hình không rõ ràng của loại hình dịch vụ tiềm ẩn nhiều rủi ro, vì vậy mà việcgiao kết dưới hình thức hợp đồng là một bước quan trọng và tiên phong để đi đếngiao dịch thành công Để đảm bảo quyền và lợi ích của mỗi bên trong giao dịch vàphòng tránh những tranh chấp xảy ra thì cần có một hành lang pháp lý đủ chặt chẽ.Cho nên, pháp luật Việt Nam cần hoàn thiện hơn nữa và phải phù hợp với cả cácĐiều ước quốc tế khi mà nhu cầu của con người ngày càng cao, hội nhập kinh tếdiễn ra mạnh mẽ trong thời buổi hiện nay
Giao kết hợp đồng là bước đi đầu tiên để xây dựng và quyết định sự tồn tạicủa một giao dịch Tuy nhiên, khi ADPL về giao kết hợp đồng vào thực tiễn thì cònxảy ra nhiều vấn đề vướng mắc Từ thực tế tại nơi thực tập, em nhận thấy nhiều vấn
đề khó khăn xuất hiện trong việc giao kết hợp đồng nói chung và giao kết HĐTMdịch vụ nói riêng, và cụ thể hơn nữa là giao kết HĐTM dịch vụ trong quan hệthương mại Vấn đề về giao kết hợp đồng không phải là một vấn đề mới nhưng tầmquan trọng của việc giao kết vẫn hết sức quan trọng và thường xuyên thay đổi theonền kinh tế thị trường hiện nay, do đó, em xin chọn đề tài để nghiên cứu là “Phápluật về giao kết HĐTM dịch vụ và thực tiễn áp dụng tại Công ty TNHH KDDVBVchuyên nghiệp HNK”
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu: Đề tài dựa trên việc phân tích thực trạng, đánh giánhững thành tựu cũng như hạn chế của việc ADPL tại công ty TNHH HNK, từ đó
đề xuất những giải pháp và kiến nghị cho công ty cũng như cho Nhà nước nhằmnâng cao hiệu quả
Trang 6 Nhiệm vụ nghiên cứu: Để thực hiện được mục tiêu trên, đề tài sẽ thực hiệncác nhiệm vụ nghiên cứu như sau:
- Thứ nhất, khái quát cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý về giao kết HĐTM dịch vụ
- Thứ hai, phân tích thực trạng ADPL về giao kết HĐTM dịch vụ trong hoạtđộng kinh doanh của công ty TNHH HNK
- Thứ ba, rút ra những đánh giá về thành tựu và những hạn chế của công ty trongviệc thực hiện hoạt động giao kết hợp đồng Từ đó đề xuất giải pháp và kiếnnghị nhằm nâng cao hiệu quả ADPL tại công ty TNHH HNK
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động giao kết hợp đồng dịch vụ trong quan hệthương mại
Phạm vi nghiên cứu: Công ty TNHH KDDVBV chuyên nghiệp HNK (gọi tắt
là công ty TNHH HNK)
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phân tích, tổng hợp và xử lý thông tin thu thập
Sử dụng nguồn dữ liệu, bản báo cáo của công ty TNHH KDDVBV chuyên nghiệp HNK
5 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và các danh mục từ viết tắt, danh mục tài liệutham khảo thì đề tài gồm 3 phần chính như sau:
Chương 1: Lý luận chung về giao kết HĐTM dịch vụ
Chương 2: Thực trạng ADPL về giao kết HĐTM dịch vụ tại công ty TNHHKDDVBV chuyên nghiệp HNK
Chương 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả ADPL trong hoạtđộng giao kết HĐTM dịch vụ
Trang 7CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIAO KẾT HĐTM DỊCH VỤ
1.1 TỔNG QUAN VỀ GIAO KẾT HĐTM DỊCH VỤ
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm giao kết HĐTM dịch vụ
1.1.1.1 Khái niệm giao kết HĐTM dịch vụ
Để có thể hiểu được khái niệm Giao kết HĐTM dịch vụ là gì, ta cần hiểu rõkhái niệm từng cụm từ ghép trong khái niệm này Khái niệm giao kết là gì? Theo từ
điển tiếng Việt, “giao kết có nghĩa là cam kết thực hiện”1 Phân tích từng từ, có thểhiểu giao trong giao hẹn, kết trong cam kết, tức là cam kết thực hiện những gì đã
từng thỏa thuận Theo khoa học pháp lý, giao kết là “việc thỏa thuận bằng ý chí tự
nguyện của các bên”2
Sau khi hiểu khái niệm giao kết, ta tìm hiểu về khái niệm HĐTM dịch vụ.Hiện nay, HĐTM dịch vụ nói chung tồn tại rất phổ biến trong rất nhiều lĩnh vực, từtrong đời sống hàng ngày cho đến kinh doanh thương mại Pháp luật Việt Namkhông có định nghĩa cụ thể HĐTM dịch vụ là gì, chỉ có định nghĩa về hợp đồng
dịch vụ như sau: “Hợp đồng dịch vụ là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên
cung ứng dịch vụ thực hiện công việc cho bên sử dụng dịch vụ, bên sử dụng dịch vụ phải trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ”3 Giữa khái niệm về hợp đồng dịch
vụ và HĐTM dịch vụ chỉ khác nhau ở hai chữ “thương mại” Vì vậy, HĐTM dịch
vụ là hợp đồng được giao kết trong một lĩnh vực hoạt động nhất định là thương mại,
là một bộ phận trong hợp đồng dịch vụ nói chung Trong LTM có định nghĩa như
sau: “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi” 4 Có thể hiểu
HĐTM dịch vụ là một hình thức ghi lại sự thỏa thuận giữa đôi bên về quyền vànghĩa vụ trong suốt quá trình cung ứng dịch vụ và chỉ trong phạm vi hoạt động về
1 Xem Hoàng Phê (Chủ biên) (2003), Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, tr 393.
2 Xem Đinh Văn Thanh và Nguyễn Minh Tuấn (Đồng chủ biên) (2009), Giáo trình luật dân sự Việt Nam tập
2, NXB Công an nhân dân, tr 91.
3 Xem Điều 513 Bộ luật Dấn sự 2015.
4 Xem Khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại 2005.
Trang 8thương mại nhằm mục đích sinh lợi Mỗi bên cần có trách nhiệm và nghĩa vụ vềviệc thực hiện những gì đã trao đổi với nhau
Giao kết hợp đồng dân sự là khái niệm nói chung của việc giao kết các loại
hợp đồng khác Từ định nghĩa về giao kết hợp đồng dân sự là “việc các bên bày tỏ ý
chí với nhau theo những nguyên tắc và trình tự nhất định để qua đó xác lập với nhau các quyền, nghĩa vụ dân sự”5, ta có thể rút ra khái niệm giao kết hợp đồngthương dịch vụ là việc các bên trong mối quan hệ thương mại về cung ứng dịch vụthỏa thuận với nhau bằng sự tự do về ý chí theo một trình tự nhất định và nguyêntắc cụ thể để xác lập các quyền và nghĩa vụ mà hai bên cần thực hiện
1.1.1.2 Đặc điểm giao kết HĐTM dịch vụ
Trước hết, giao kết ở đây là giao kết hợp đồng Đây không phải là hành vipháp lý đơn phương mà là hành vi đến từ hai phía, có ý thức và thể hiện ý chí củahai bên Ý chí của hai bên cần được thống nhất với nhau và cần phải phù hợp theo ýchí của Nhà nước Khi ý chí của Nhà nước được đáp ứng phù hợp thì Nhà nước mớikiểm soát được và để cho HĐTM dịch vụ có thể phát sinh trên thực tế Nếu như ýchí của hai bên không được làm rõ ra dưới một hình thức nào đó thì không thể thựchiện được việc giao kết Đối tượng của HĐTM dịch vụ là một công việc cụ thể cầnthực hiện và mục đích của việc giao kết HĐTM là vì mục đích sinh lợi, khác vớihợp đồng mua bán hàng hóa, hàng hóa là một vật cụ thể, có thể nhìn thấy được và
dễ dàng kiểm soát được
Thứ hai, quá trình giao kết cần tuân thủ nguyên tắc nhất định do Nhà nước đề
ra và đi theo một trình tự hoạt động nhất định Nguyên tắc này là nguyên tắc chungđiều chỉnh hành vi của mọi chủ thể dựa trên nguyên tắc đạo đức xã hội và các quyền
cơ bản của con người như Hiến pháp quy định Trình tự đó xuất phát từ việc thểhiện ý chí của một bên và kết thúc bằng sự ưng thuận từ bên còn lại
Thứ ba, mục đích của giao kết HĐTM dịch vụ là đi đến sự thỏa thuận cuốicùng, thống nhất về hình thức bên ngoài và nội dung bên trong của một hợp đồng.Hình thức có thể là bằng lời nói, có thể là một hành vi cụ thể hoặc là bằng văn bản.Nội dung gồm các quyền được làm việc nào đó, lợi ích bên có quyền nhận được vànghĩa vụ phải thực hiện công việc theo đúng những gì đã thỏa thuận
5 Xem Đinh Văn Thanh và Nguyễn Minh Tuấn (Đồng chủ biên) (2009), Giáo trình luật dân sự Việt Nam tập
2, NXB Công an nhân dân, tr 107.
Trang 91.1.2 Ý nghĩa của hoạt động giao kết HĐTM dịch vụ
Giao kết HĐTM dịch vụ có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động kinh doanhcủa mọi tổ chức, doanh nghiệp Hầu hết mọi hoạt động gây lợi nhuận cho doanhnghiệp đều xuất phát từ việc kí kết những hợp đồng kinh doanh mà giao kết hợpđồng lại là bước đầu thiết yếu để tạo dựng hợp đồng Trong kinh doanh, giao kếtHĐTM dịch vụ là sự kiện pháp lý có ảnh hưởng tới sự phát triển chung của nềnkinh tế - xã hội Việt Nam và cả chính sự phát triển của doanh nghiệp
Thứ nhất, mỗi bên trong giao kết hợp đồng được thỏa mãn nhu cầu của mình.Những người có nhu cầu riêng tìm đến nhau để trao đổi theo quy luật ngang giá trị.Một bên cung cấp dịch vụ, dùng chính sức lao động của mình thực hiện công việcnhư đã thỏa thuận Còn một bên quy đổi giá trị đó ra tiền tệ thông qua việc trả giádịch vụ cho đối phương mà mình giao kết Nhờ có giao kết hợp đồng, hai bên đạtđược lợi ích mà mình muốn
Thứ hai, việc giao kết hợp đồng là nền tảng hình thành hợp đồng Hợp đồngnhư một bản ghi chép quyền và nghĩa vụ của mỗi bên, đồng thời được pháp luậtđiều chỉnh Từ đó đảm bảo quyền và lợi ích mỗi bên, tránh xảy ra những tranh chấpkhông đi đến hồi kết Bên nào vi phạm những điều khoản đã được thỏa thuận tronghợp đồng thì sẽ bị áp dụng các chế tài xử phạt Hợp đồng như là một cơ sở để phápluật bảo vệ quyền và lợi ích của các bên tham gia giao kết hợp đồng Hiện nayHĐTM dịch vụ thường xuyên được kí kết và trở thành một xu hướng phổ biến trongcác mối quan hệ xã hội riêng tư giữa các chủ thể HĐTM dịch vụ còn là cở pháp lýquan trọng để doanh nghiệp thực hiện việc cung ứng dịch vụ của mình một cách cóđảm bảo tới khách hàng, giúp nâng cao sự tin tưởng đối với khách hàng Vậy nên,giao kết HĐTM dịch vụ có một ý nghĩa vô cùng to lớn trong sự nghiệp phát triểncủa doanh nghiệp
Thứ ba, giao kết HĐTM dịch vụ góp phần gia tăng giá trị kinh tế của mỗidoanh nghiệp hay cá nhân kinh doanh, tạo bước phát triển trong nền kinh tế ViệtNam Bản chất của việc giao kết hợp đồng trong kinh doanh là tạo lợi nhuận chothương nhân, lợi nhuận tạo ra càng nhiều thì càng đẩy mạnh nền kinh tế nước nhàtăng trưởng nhanh chóng
Trang 101.1.3 Các văn bản QPPL chủ yếu điều chỉnh hoạt động giao kết HĐTM dịch vụ
Hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động giao kết HĐTM dịch vụ hầu hết làcác Bộ luật và đạo luật, ít có trong các văn bản dưới luật Những quy định về giaokết HĐTM dịch vụ được thể hiện khá chi tiết trong văn bản luật và không cần vănbản hướng dẫn chi tiết nữa
Đầu tiên, giao kết HĐTM dịch vụ không phải là loại hợp đồng dân sự thôngthường được thực hiện bởi những cá nhân, pháp nhân thông thường mà phạm vitrong giao kết HĐTM dịch vụ chỉ nằm trong hoạt động thương mại của các doanhnghiệp Vì thế, LTM 2005 đang hiện hành là Luật chuyên ngành được áp dụng đểđiều chỉnh hoạt động giao kết HĐTM dịch vụ
Thứ hai, BLDS là Bộ luật quy định các nguyên tắc chung, điều chỉnh cáchoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau trong đời sống riêng tư của mỗi cá nhân
và tổ chức Giao kết hợp đồng nói chung và giao kết HĐTM dịch vụ nói riêng làmột phần trong hoạt động dân sự mà BLDS tham gia điều chỉnh Đối với giao kếtHĐTM dịch vụ, là một lĩnh vực riêng nên sẽ tuân theo LTM Những gì mà khôngđược quy định trong LTM thì sẽ áp dụng các quy định chung trong BLDS 2015
Thứ ba, ngoài hình thức giao kết HĐTM dịch vụ theo truyền thống (giao kếttrực tiếp) thì ngày càng phổ biến hơn hình thức giao kết HĐTM điện tử (giao kếtgián tiếp) Cuộc sống ngày càng hiện đại hóa thì cách thức thông qua PTĐT sẽ giúptiết kiệm được thời gian và chi phí Đây là một hình thức mới và được quy địnhtrong Luật giao dịch điện tử 2005, cho nên Luật giao dịch điện tử cũng được ápdụng để điều chỉnh hoạt động giao kết HĐTM dịch vụ
Ngoài ra, tùy từng nhóm lĩnh vực dịch vụ cụ thể hay ngành nghề kinh doanh
có điều kiện, pháp luật chuyên ngành sẽ điều chỉnh từng trường hợp cụ thể tronglĩnh vực đó Có thể kể đến các đạo luật như Luật đầu tư 2014 sửa đổi bổ sung 2016,Luật đấu thầu 2014,…Chủ thể giao kết HĐTM có thể là người nước ngoài nên cònphải tuân theo Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên như Hiệp định chung vềthương mại dịch vụ GATS
Những quy định chung đã được nêu ra đầy đủ trong BLDS 2015, trong từnglĩnh vực liên quan đã có đạo luật chuyên ngành áp dụng Với giao kết HĐTM dịch
Trang 11vụ điện tử, là hợp đồng giao kết theo hình thức mới, được quy định hướng dẫn thêm
ở Nghị định 52/2013/NĐ-CP của Chính phủ ngày 16 tháng 05 năm 2013 về TMĐT
1.2 NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA PHÁP LUẬT VỀ GIAO KẾT HĐTM DỊCH VỤ
Nội dung pháp luật về giao kết HĐTM dịch vụ có thể hiểu là tất cả các quyđịnh của pháp luật được ban hành nhằm điều chỉnh các mối quan hệ trong giao kếtHĐTM dịch vụ HĐTM dịch vụ trong các mối quan hệ khác nhau thì sẽ có nhữngđiểm khác nhau Hợp đồng trong mối quan hệ thương mại thì sẽ hình thành nênHĐTM dịch vụ, hợp đồng trong mối quan hệ dân sự thì hình thành nên hợp đồngdịch vụ thông thường Ở hai loại hợp đồng này, dấu hiệu để phân biệt là về chủ thể
và mục đích giao kết Hợp đồng dịch vụ nói chung và HĐTM dịch vụ nói riêngchính là một giao dịch dân sự, vì thế vấn đề liên quan đến giao kết hợp đồng đượcquy định chủ yếu tại BLDS về các khía cạnh cơ bản gồm chủ thể, nội dung và hìnhthức giao kết hợp đồng, trình tự giao kết hợp đồng, thời điểm giao kết hợp đồng vàmột số yếu tố liên quan khác Tuy nhiên, giao kết HĐTM dịch vụ phải tuân theoquy định của LTM trước, nếu trong LTM không điều chỉnh thì mới áp dụng quyđịnh của luật chung là BLDS Vì thế ngoài những điểm chung trong hoạt động giaokết hợp đồng được quy định tại BLDS thì với giao kết HĐTM, có những điểm riêngđược quy định trong LTM
1.2.1 Nguyên tắc giao kết hợp đồng
Quyền và lợi ích của các bên muốn được pháp luật bảo vệ thì bản hợp đồngđược kí kết giữa hai bên cần phải có giá trị pháp lý và có hiệu lực pháp luật Theođịnh nghĩa mà đã tìm hiểu trước đó, việc giao kết là việc thỏa thuận bằng ý chí,nhưng ý chí của các bên phải tuân theo ý chí của Nhà nước mới được coi là có hiệulực pháp luật Giao kết HĐTM dịch vụ không thể tùy tiện lựa chọn nội dung, cáchthức thực hiện mà cần phải tuân theo những nguyên tắc nhất định dựa trên nguyêntắc của Hiến pháp và BLDS Khi thực hiện đúng các nguyên tắc đề ra thì giao kếtHĐTM dịch vụ mới hợp pháp Vì vậy, nguyên tắc trong giao kết hợp đồng cần đượctuân thủ nghiêm ngặt và đó là yếu tố cơ bản trong hoạt động giao kết hợp đồng.Trong giao kết HĐTM dịch vụ, có 2 nguyên tắc chung mà khi giao kết hợp đồngnào cũng phải tuân theo
Trang 121.2.1.1 Nguyên tắc tự do nhưng không trái với đạo đức và pháp luật
Nguyên tắc thứ nhất, cá nhân, tổ chức được tự do thỏa thuận kí kết bất kì loạihợp đồng nào nhưng không được trái với đạo đức xã hội, trái với pháp luật Đây lànội dung quan trọng trong việc giao kết hợp đồng, là nguyên tắc mà Nhà nước đặt
ra nhằm thể hiện quyền tự do cơ bản của mỗi con người và tạo điều kiện cho mỗichủ thể được đáp ứng nhu cầu của mình Nhưng tự do cũng phải có giới hạn nhấtđịnh, đó là không trái với quy tắc đạo đức chung trong xã hội và luật pháp Nhữnggiao kết HĐTM dịch vụ mà trái với khuôn khổ quy định của pháp luật và xã hội thìmặc nhiên bị cho là vô hiệu, không phát sinh hiệu lực Các chủ thể có quyền đượcthỏa mãn mọi nhu cầu của mình, bên cạnh đó cũng phải có nghĩa vụ đảm bảo lợi íchcủa người khác nói chung và toàn xã hội nói riêng
Tự do giao kết ở đây có ba khía cạnh: Tự do về mặt chủ thể, tự do giao kếtnội dung và tự do lựa chọn hình thức giao kết Về mặt chủ thể, bất kì cá nhân hay tổchức nào, chỉ cần đủ điều kiện về tư cách chủ thể đều có thể thực hiện giao kếtHĐTM dịch vụ theo nguyện vọng của mình Chủ thể có quyền lựa chọn bất cứ đốitác nào mà mình mong muốn Về mặt nội dung giao kết, nội dung giao kết phải làtoàn bộ chính xác ý chí của hai bên Các bên có thể tự quyết định đối tượng củagiao kết HĐTM dịch vụ, giá cả đưa ra theo mong muốn của mỗi bên Sau đó thốngnhất ý chí giữa hai bên hình thành nên các điều khoản hợp đồng Cuối cùng là tự dolựa chọn hình thức giao kết HĐTM dịch vụ Pháp luật cho phép chủ thể lựa chọnbất kì hình thức nào, miễn là phù hợp và thuận lợi đối với việc giao kết của đôi bên
1.2.1.2 Nguyên tắc bình đẳng, tự nguyện, thiện chí và hợp tác trung thực
Nguyên tắc thứ hai, các bên trong giao kết hợp đồng được tự nguyện và bìnhđẳng với nhau, phải thiện chí và hợp tác trung thực Mỗi một người đều bình đẳngvới nhau dù có khác biệt về tôn giáo, giới tính, tính chất giàu nghèo,…Họ được tựnguyện làm theo mong muốn của mình mà không bị ai ép buộc, cấm đoán và ngăncản Địa vị các bên phải bình đẳng với nhau thì tính chất tự nguyện mới được bảođảm Nguyên tắc này đảm bảo nội dung giao kết HĐTM dịch vụ không trái với ýchí của chủ thể Một giao kết hợp đồng không đáp ứng sự bình đẳng cũng nhưkhông hề có sự tự nguyện của hai bên thì sẽ không có sự thừa nhận từ pháp luật.Tuy nhiên trong pháp luật vẫn có nhiều quy định ưu tiên dành cho một số chủ thể
Trang 13nhất định Những quy định này không trái với nguyên tắc bình đẳng trong giao kết
mà để đảm bảo sự cân bằng cho mọi đối tượng
Nguyên tắc trung thực, thiện chí thể hiện mong muốn được giao kết một cáchthật tâm, không lừa dối Đi kèm với sự tự do và bình đẳng mà pháp luật cho phépthì bản thân chủ thể đó càng cần có sự thiện chí đối với chủ thể khác Cách mà chủthể đối xử với đối tác thì sẽ được đối tác đáp lại y như thế Nguyên tắc này là cơ sở
để hai bên thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ của mình, giảm thiểu xảy ra sự tranhchấp Các nguyên tắc trong giao kết HĐTM dịch vụ có ý nghĩa rất quan trọng, đây
là nền tảng chung cho các hành vi của các chủ thể hướng tới một môi trường hoạtđộng giao kết minh bạch, tự do và hợp pháp
1.2.1.3 Một số nguyên tắc riêng khác
Trong hoạt động thương mại, khi giao kết hợp đồng cũng cần tôn trọng cácnguyên tắc về thói quen thương mại, tập quán thương mại đã được thiết lập từtrước Đây là một nguyên tắc riêng được quy định trong LTM để giảm bớt thủ tụcgiữa hai bên, giúp việc hợp tác được nhanh chóng hơn Bởi trong hoạt động thươngmại chủ yếu thông qua hợp đồng để thỏa mãn mục đích của mình, đó là một việcthường xuyên diễn ra nên nguyên tắc này được đưa ra sẽ tạo thuận lợi cho chủ thểtrong hoạt động giao kết của mình Ngoài ra còn có nguyên tắc bảo vệ người tiêudùng, theo đó chủ thể phải đảm bảo tính chính xác của những thông tin về dịch vụ
mà chủ thể đó cung cấp cho người tiêu dùng cũng như chất lượng và tính hợp phápcủa loại dịch vụ đó Ngoài 2 nguyên tắc chung nêu trên thì chủ thể trong giao kếtHĐTM dịch vụ cần tuân thủ thêm những nguyên tắc đặc thù này
1.2.2 Chủ thể giao kết HĐTM dịch vụ
Trong bất kì quan hệ pháp luật nào cũng cần quan tâm đến vấn đề chủ thểbởi chủ thể là người trực tiếp đứng ra tham gia vào quan hệ pháp luật đó và chịutrách nhiệm về những hành vi mà mình đã làm Nếu như vi phạm pháp luật thì phảichịu các chế tài xử phạt do pháp luật quy định Tuy nhiên, không phải chủ thể nàocũng được tham gia tất cả các loại quan hệ pháp luật, còn tùy thuộc vào điều kiệnmỗi quan hệ pháp luật đưa ra Chủ thể trong giao kết HĐTM dịch vụ có thể là cánhân hoặc tổ chức Đối với giao kết HĐTM dịch vụ thông thường, chủ thể có thể làmột hoặc không có bên nào là thương nhân Còn đối với giao kết HĐTM dịch vụ thì
Trang 14cả hai bên phải là thương nhân “Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành
lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng kí kinh doanh” 6 Có thể hiểu chủ thể của giao kết HĐTM dịch vụ phải là cá
nhân hoặc là pháp nhân có đăng kí kinh doanh
Về điều kiện của chủ thể trong giao kết HĐTM dịch vụ, ngoài quy địnhchung về nguyên tắc tự nguyện, tự do của chủ thể giao kết HĐTM dịch vụ thì còn
phụ thuộc vào năng lực chủ thể: “Giao dịch dân sự có hiệu lực khi chủ thể có NLPL
dân sự, NLHV dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập”7 Trên cơ sở đó,nếu là cá nhân thì cần đủ tuổi và có khả năng nhận thức, làm chủ hành vi của mình
Cá nhân kinh doanh đó phải là người thành niên đủ 18 tuổi trở lên mới được tựmình giao kết HĐTM dịch vụ Nếu như là pháp nhân kinh doanh cần được thành lập
theo đúng quy định của Luật Doanh nghiệp bởi “NLPL dân sự của pháp nhân phát
sinh từ thời điểm được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập hoặc cho phép thành lập…”8 Với chủ thể là pháp nhân, cần có người đại diện theo pháp luật hoặctheo ủy quyền đứng ra giao kết hợp đồng Bản thân pháp nhân là một tổ chức,không phải là một cá thể riêng lẻ, vì thế cần có người đại diện đứng ra thay mặtpháp nhân trực tiếp giao kết hợp đồng với bên kia Đại diện cho pháp nhân có hai
kiểu, đại diện theo pháp luật và đại diện theo ủy quyền “Đại diện theo pháp luật
của pháp nhân có thể là người được pháp nhân đó đề cử và được ghi trong điều lệ của công ty” 9 Hoặc như pháp nhân đó không đề cử được ai làm người đại diện thì
sẽ theo pháp luật quy định đối tượng nào có thẩm quyền làm người đại diện Đạidiện theo ủy quyền là việc cá nhân hoặc pháp nhân ủy quyền cho một cá nhân haypháp nhân khác thực hiện một phần việc nào đó trong một phạm vi và thời hạn nhấtđịnh Thông thường, một cá nhân được ủy quyền cần phải có văn bản ủy quyền vàđược Nhà nước chứng nhận tư cách được ủy quyền
Bên cạnh bộ phận chủ thể chiếm đa số là cá nhân, pháp nhân trong giao kếtHĐTM dịch vụ thì còn có hộ gia đình, tổ hợp tác cùng các tổ chức khác không có tưcách pháp nhân Đối với hoạt động thương mại dịch vụ có yếu tố nước ngoài thì chinhánh của thương nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam là chủ thể trong giao
6 Xem Khoản 1 Điều 6 Luật Thương mại 2005.
7 Xem Điểm a Khoản 1 Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015.
8 Xem Khoản 2 Điều 86 Bộ luật Dân sự 2015.
9 Xem Khoản 1 Điều 137 Bộ luật Dân sự 2015.
Trang 15kết hợp đồng “Chi nhánh có quyền giao kết hợp đồng tại Việt Nam phù hợp với nội
dung hoạt động được quy định trong giấy phép thành lập Chi nhánh…”10
Như vậy, chủ thể trong giao kết HĐTM dịch vụ có phạm vi lớn, nhưng muốnthực hiện hành vi giao kết hợp đồng cũng cần đáp ứng đủ những điều kiện mà phápluật yêu cầu Với một phạm vi thực hiện giao kết hợp đồng lớn như thế, không chỉ
cá nhân đáp ứng được hết các công việc mình cần thực hiện một cách nhanh chóng,
dễ dàng mà cả pháp nhân kinh doanh cũng được chủ động thiết lập các giao dịch đểphục vụ, duy trì hoạt động kinh doanh, không bị hạn chế quyền tự do giao kết hợpđồng Tuy nhiên, chủ thể càng có phạm vi lớn thì càng cần kiểm soát chặt chẽ trongmột khuôn khổ giới hạn mà pháp luật quy định Mỗi phạm vi chủ thể đưa ra cần cómột vài điều kiện nhất định để đảm bảo lợi ích trong toàn xã hội nói chung và lợiích của chính chủ thể đó nói riêng Ví dụ như về độ tuổi quy định hay khả năng chịutrách nhiệm trước hành vi của mình hoặc việc giao kết đó không được trái nền tảngđạo đức xã hội và quy định của pháp luật
1.2.3 Nội dung, hình thức giao kết HĐTM dịch vụ
Về nội dung của giao kết HĐTM dịch vụ Hiện nay trong các văn bản phápluật không quy định về nội dung lẫn hình thức giao kết hợp đồng nói chung vàHĐTM dịch vụ nói riêng Nhưng pháp luật có quy định việc giao kết hợp đồng phảithể hiện rõ ý định và mong muốn giao kết đến từ một bên trước tiên Để chứngminh việc bày tỏ ý muốn giao kết của mình thì nội dung giao kết HĐTM dịch vụcần đáp ứng được yêu cầu về mặt khách quan và chủ quan Về khách quan, nộidung giao kết hợp đồng không nằm trong những điều mà pháp luật cấm, đây là yêucầu chung và khách quan đối với mọi loại giao kết trong xã hội Về chủ quan, nộidung giao kết càng thể hiện rõ ràng, chi tiết càng khẳng định được mong muốn giaokết và ý chí của chủ thể đó, vì thế mà nội dung của giao kết HĐTM dịch vụ cũngcần có đủ nội dung cơ bản của HĐTM dịch vụ, ví dụ như đối tượng của hợp đồng,giá dịch vụ,…
Về hình thức của giao kết HĐTM dịch vụ Hình thức giao kết hợp đồng làcách thức thể hiện ra bên ngoài dưới một dạng nhất định của chủ thể để cho một bênchủ thể khác biết được Pháp luật cũng không quy định cụ thể vấn đề này nhưng
10 Xem Khoản 3 Điều 19 Luật thương mại 2005.
Trang 16dựa vào hình thức của HĐTM dịch vụ và phương thức giao tiếp, ta có thể chia thànhhai loại như sau:
Thứ nhất, căn cứ vào cách thức thực hiện giao kết hợp đồng, giao kết hợpđồng được chia thành hai loại là giao kết trực tiếp và giao kết gián tiếp
Giao kết trực tiếp là hình thức mà các chủ thể của các bên hoặc làngười đại diện của các bên gặp mặt trực tiếp để thỏa thuận, đàm phánvới nhau và tiến tới kí kết hợp đồng Địa điểm, thời điểm tiến hànhquá trình giao kết được xác định cụ thể và rõ ràng
Giao kết gián tiếp là hình thức mà các chủ thể trong giao kết hợp đồngkhông gặp mặt trực tiếp, có thể thông qua internet để thỏa thuận vớinhau Thời điểm tiến hành giao kết có thể được xác định nhưng địađiểm thì không cụ thể, rõ ràng
Thứ hai, căn cứ vào hình thức hợp đồng giao kết, có thể chia thành 3 loại làgiao kết bằng lời nói, bằng văn bản và bằng hành vi cụ thể
Giao kết hợp đồng bằng lời nói (hay còn gọi là giao kết miệng), làhình thức được thể hiện bằng ngôn ngữ nói, bằng lời Hai bên dùngphương thức nói chuyện trực tiếp với nhau để giao kết HĐTM dịch
vụ, có thể gặp mặt hoặc giao tiếp qua điện thoại
Giao kết hợp đồng bằng văn bản, là việc các bên thỏa thuận với nhaudưới hình thức văn bản hay là dữ liệu điện tử Hai bên có thể gửi giấy
tờ, văn bản giao kết cho nhau qua đường bưu điện hoặc bằng đườngtruyền internet
Giao kết hợp đồng bằng hành vi cụ thể, là việc hai bên thực hiệnnghĩa vụ của mình thông qua các hành động cụ thể của hai bên màkhông cần dùng đến lời nói hay một văn bản nào
Trang 171.2.4 Trình tự giao kết hợp đồng
Trình tự giao kết hợp đồng là thứ tự, quá trình mà hai bên bày tỏ mongmuốn, ý chí của mình cho đối phương biết Trong quá trình này, quyền và nghĩa vụcủa mỗi bên được thiết lập thông qua đàm phán Theo pháp luật quy định, giao kếthợp đồng cần tuân thủ đầy đủ 2 bước gồm ĐNGKHĐ và chấp nhận ĐNGKHĐ thìmới được coi là có hiệu lực Hai bước này mang nặng tính thủ tục pháp lý
1.2.4.1 Đề nghị giao kết HĐTM dịch vụ
Theo pháp luật, ta có thể định nghĩa “ĐNGKHĐ là việc thể hiện rõ ý định
giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của BĐN đối với bên đã được xác định hoặc tới công chúng”11 Một bên có ý muốn giao kết hợp đồng vớimột bên khác thì cần thể hiện ý muốn đó bằng một hành vi nhất định, hành vi đóchính là đưa ra lời đề nghị Việc đưa ra lời đề nghị rất cần thiết và việc đó cầnchuyển tới chính xác đối tượng mà mình muốn giao kết Nếu không thì sẽ chẳng aibiết bạn muốn đề nghị với ai, về cái gì?
Phân tích ra ta có thể thấy nội dung của lời đề nghị giao kết HĐTM dịch vụcần thể hiện rõ những vấn đề như sau:
Thứ nhất, nội dung lời đề nghị giao kết HĐTM dịch vụ cần thể hiện rõđối tượng là gì, là công việc nào hay chủ thể cung cấp loại dịch vụ gì?
Ví dụ, chủ thể cung cấp dịch vụ bảo vệ và muốn biết xem đối phươngcần thuê bảo vệ hay không
Thứ hai, ít nhất nội dung của lời ĐNGKHĐ cần có những nội dung cơbản của hợp đồng chính thức Tuy lời đề nghị chưa phải là hợp đồnghoàn chỉnh nhưng cũng nên có đầy đủ nội dung của hợp đồng hoànchỉnh để thể hiện rõ ý định giao kết của mình
Thứ ba, lời đề nghị giao kết HĐTM dịch vụ cần hướng tới một chủthể nhất định đã xác định trước đó hoặc hướng tới toàn dân Việc đưa
ra lời đề nghị giao kết tới toàn dân gần giống với việc chào hàng,trưng bày, giới thiệu dịch vụ và quảng cáo
11 Xem Khoản 1 Điều 386 Bộ luật Dân sự 2015.
Trang 18 Thứ tư, có thể xác định rõ về thời hạn trả lời chấp nhận trong lời đềnghị giao kết HĐTM dịch vụ dù rằng pháp luật không bắt buộc phảinêu rõ thời hạn.
Quy định rõ về thời hạn trả lời rất cần thiết trong việc xác định vấn đề chấpnhận đề nghị giao kết HĐTM dịch vụ có tính hợp pháp hay không Nhưng pháp luậtvừa không bắt buộc xác định cụ thể thời hạn trả lời chấp nhận giao kết HĐTM dịch
vụ, lại không quy định cách để xác định như thế nào là một thời hạn hợp lý Điềunày có thể dẫn đến xảy ra tranh chấp và khó phân ra trách nhiệm thuộc về bên nào
ĐNGKHĐ có thể được thực hiện qua nhiều cách thức khác nhau, thông quahai hình thức là trực tiếp và gián tiếp Theo hình thức trực tiếp, một bên gặp mặt vàtrực tiếp đưa ra lời mời Theo hình thức gián tiếp, một bên có thể chuyển giấy tờqua đường bưu điện hoặc theo bằng PTĐT như điện thoại, fax, email,…Theo Luậtgiao dịch điện tử, hiện nay khái niệm ĐNGKHĐ được quy định bằng việc gửi, nhậnthông điệp dữ liệu Việc gửi nhận thông điệp dữ liệu cũng mang tính chất một lời
mời giao kết, tuy nhiên nó còn chưa được rõ ràng “Một thông điệp dữ liệu được
xem là của người khởi tạo nếu thông điệp dữ liệu đó được người khởi tạo gửi hoặc được gửi bởi một hệ thống thông tin được thiết lập để hoạt động tự động do người khởi tạo chỉ định” 12 Cách quy định này vẫn gây khó hiểu và không đáp ứng được
yêu cầu về nguyên tắc tự nguyện Chẳng hạn như một người lấy trộm tài khoảnemail và xưng danh người khởi tạo để đưa ra lời mời giao kết Vậy thì việc quy địnhđiều luật này vẫn chưa chặt chẽ
Vấn đề sửa đổi, thay đổi, rút lại hay hủy bỏ đề nghị giao kết HĐTM dịch vụcũng thường xảy ra trong thực tế hiện nay Việc trả lời của BĐĐN có thể chấp nhậnmột phần hoặc toàn bộ nội dung hoặc chấp nhận giao kết nhưng không phải với nộidung như BĐN đưa ra Khi đó, BĐĐN trở thành người đề nghị với nội dung đề nghị
mới “Khi BĐĐN đã chấp nhận giao kết hợp đồng nhưng có nêu điều kiện hoặc sửa
đổi đề nghị thì coi như người này đã đưa ra đề nghị mới” 13 Quy định này phần nào
thể hiện sự tự do giao kết hợp đồng của mỗi cá nhân, tổ chức Sự lặp đi lặp lại củaviệc đưa ra lời đề nghị mới sẽ kết thúc cho đến khi cả hai bên thống nhất được ý chíchung, thực tiễn gọi đây là quá trình đàm phán giữa hai bên BĐĐN có thể sửa đổithì BĐN cũng được phép thay đổi, rút lại đề nghị giao kết, tuy nhiên, chỉ trong một
12 Xem Điểm a Khoản 2 Điều 16 Luật giao dịch điện tử 2005.
13 Xem Điều 392 Bộ luật Dân sự 2015.
Trang 19số trường hợp đủ điều kiện hoặc trong khoảng thời gian trước hoặc cùng thời điểm
mà bên kia nhận được lời đề nghị giao kết Pháp luật có quy định chung về điềukiện được thay đổi, rút lại là khi điều kiện phát sinh mà đã thỏa thuận trước đó xảy
ra thì BĐN được phép thay đổi hoặc được rút lại đề nghị đó Điều kiện phát sinhnày phải diễn ra và tồn tại một cách khách quan Tức là nếu có sự thúc đẩy về mặtchủ quan từ một phía nào đó, điều kiện này đáng ra phải xảy ra nhưng nó đã khôngxảy ra thì sẽ coi như điều kiện này đã xảy ra Còn nếu điều kiện này đã xảy ra do tácđộng chủ quan thì coi như chưa xảy ra
Cũng như vấn đề về sửa đổi đề nghị giao kết, BĐN giao kết có quyền hủy bỏ
đề nghị giao kết Điều kiện là việc hủy bỏ này đã được ghi trong bản đề nghị giaokết và trước thời điểm BĐĐN gửi chấp nhận đề nghị giao kết thì BĐN đã gửi thôngbáo tới Điều này tránh làm lỡ việc của BĐĐN và để họ tìm đối tác khác giao kếthợp đồng Tương tự về sự bình đẳng giữa hai bên, BĐN có quyền hủy bỏ đề nghịgiao kết thì BĐĐN cũng có quyền rút lại thông báo chấp nhận đề nghị giao kết.Điều kiện cũng tương tự về thời điểm như hủy bỏ đề nghị giao kết, phải trước hoặccùng thời điểm mà bên kia nhận được thông báo chấp nhận đề nghị giao kết Sựbình đẳng giữa hai bên trong giao kết luôn được pháp luật coi trọng và xem đó làyêu cầu quan trọng để giữ sự cân bằng trong quan hệ lợi ích hai bên
Quy định về việc chấm dứt đề nghị giao kết HĐTM dịch vụ cũng được quyđịnh khá cụ thể, có 6 trường hợp xảy ra thì đề nghị giao kết HĐTM dịch vụ sẽ chấmdứt:
Thứ tư, việc thay đổi hay rút lại đề nghị giao kết HĐTM dịch vụ chínhthức có hiệu lực pháp luật
Thứ năm, việc hủy bỏ đề nghị giao kết HĐTM dịch vụ chính thức cóhiệu lực
Trang 20 Thứ sáu, theo thỏa thuận về thời hạn trả lời chấp nhận giao kết hợpđồng giữa hai bên Hết thời hạn này, nếu xảy ra một trong 3 trườnghợp đầu tiên thì sẽ chấm dứt đề nghị giao kết HĐTM dịch vụ
Pháp luật rất đề cao sự tự do trong giao kết HĐTM dịch vụ Bên cạnh nhữngquy định mang tính thủ tục, cứng nhắc thì pháp luật cũng quy định thêm cả việc tùythuộc vào sự thỏa thuận của hai bên trong giao kết Tuy pháp luật quy định khá đầy
đủ và cho phép thỏa thuận giữa hai bên nhưng có một số trường hợp như trong thờihạn trả lời giao kết hợp đồng mà có một bên bị chết hoặc mất NLHV dân sự, mấtNLPL dân sự cũng cần được quy định cụ thể
đề nghị giao kết Còn thông thường, sự im lặng không được xem là chấp nhận đềnghị giao kết Tuy nhiên, nếu như BĐĐN không biết gì về lời đề nghị này thì quyđịnh này lại trở thành vấn đề bất cập, nhất là đối với giao kết hợp đồng bằng hìnhthức gián tiếp, rất dễ xảy ra trường hợp này
Pháp luật không quy định cụ thể về hình thức cũng như nội dung của chấpnhận ĐNGKHĐ Hình thức của chấp nhận giao kết hợp đồng cũng không phụ thuộcvào hình thức của ĐNGKHĐ Ví dụ như BĐN đưa ra lời ĐNGKHĐ bằng hình thứcvăn bản, BĐĐN có thể trả lời bằng hình thức lời nói hoặc bằng hình thức khác, chỉcần thể hiện được ý chí của mình cho đối phương hiểu rằng mình đồng ý toàn bộnội dung mà đối phương đưa ra Đối với nội dung chấp nhận đề nghị giao kếtHĐTM dịch vụ, cần đảm bảo đủ 2 yếu tố sau Thứ nhất, đồng ý với toàn bộ nộidung trong đề nghị giao kết HĐTM dịch vụ Thứ hai, không sửa đổi thêm hoặc bớt
14 Xem Khoản 1 Điều 393 Bộ luật Dân sự 2015.
Trang 21nội dung hay bỏ qua bất cứ nội dung nào so với đề nghị giao kết HĐTM dịch vụđược đưa ra Nếu như nội dung chấp nhận giao kết HĐTM dịch vụ gửi đến BĐNtrong thời hạn trả lời không đủ 2 yếu tố trên thì xem như BĐĐN đưa ra lời đề nghịgiao kết HĐTM dịch vụ mới hoặc là không chấp nhận Trong trường hợp hết thờihạn trả lời, nếu BĐĐN đưa ra lời chấp nhận giao kết thì lời chấp nhận này cũngđược coi là lời đề nghị giao kết HĐTM dịch vụ mới.
Vấn đề về thời hạn trả lời chấp nhận giao kết HĐTM dịch vụ được quy địnhmột cách khái quát, bao tầm như sau:
Hai bên giao kết hợp đồng bằng hình thức trực tiếp thì khi BĐN đưa
ra lời đề nghị giao kết, BĐĐN phải trả lời là có chấp nhận hay khôngngay lập tức, trừ trường hợp thời hạn trả lời được hai bên thỏa thuận
Việc trả lời chấp nhận giao kết nếu được ấn định bởi BĐN thì nó chỉ
có hiệu lực trong khoảng thời gian đó Ngoài khoảng thời gian đó thìmọi lời chấp nhận đều được xem là lời đề nghị mới do BĐĐN đưa ra,trừ một số trường hợp bất khả kháng và mang tính khách quan
Đối với trường hợp do khách quan mà sự trả lời chấp nhận giao kếthợp đồng đến chậm thì vẫn được pháp luật công nhận có hiệu lực Tấtnhiên phải chứng minh được sự việc đó là vì lý do khách quan Tuynhiên, trừ trường hợp thông báo chấp nhận của BĐĐN bị từ chối ngaybởi BĐN thì thông báo chấp nhận này không còn hiệu lực nữa
Chấp nhận đề nghị giao kết HĐTM dịch vụ là bước kết để hình thành nênmột HĐTM dịch vụ HĐTM dịch vụ thể hiện sự ràng buộc về mặt pháp lý giữa haibên Một khi lời đề nghị giao kết HĐTM dịch vụ được chấp nhận thì quyền vànghĩa vụ giữa hai bên được xác lập và hai bên phải chịu trách nhiệm về những gì
mà mình đã thỏa thuận Pháp luật không quy định vấn đề một trong hai bên chết,mất NLHV dân sư, mất NLPL dân sự trước thời điểm trả lời chấp nhận giao kếtHĐTM dịch vụ nhưng lại quy định vấn đề đó sau thời điểm trả lời chấp nhận giaokết HĐTM dịch vụ Nhằm bảo đảm quyền và lợi ích của hai bên, pháp luật vẫn chophép HĐTM dịch vụ đã được hình thành đó được tiếp tục thực hiện, vẫn có hiệu lực
và được pháp luật bảo vệ Nhưng đối với nội dung giao kết là những giá trị gắn liềnvới nhân thân một trong hai bên thì buộc phải chấm dứt Việc giao kết HĐTM dịch
Trang 22vụ trên được thực hiện đúng theo pháp luật, cho nên quy định về hiệu lực đối vớitrường hợp trên là rất hợp lý.
1.2.5 Địa điểm và thời điểm giao kết hợp đồng
Địa điểm giao kết HĐTM dịch vụ do các bên tự thỏa thuận với nhau Nếu
như không có bất cứ thỏa thuận nào thì địa điểm giao kết hợp đồng sẽ là “nơi cư trú
của cá nhân hoặc trụ sở của pháp nhân” 15, cá nhân và pháp nhân ở đây là chủ thểBĐN giao kết HĐTM dịch vụ Quy định này có thể gây khó khăn và hạn chế sựgiao kết HĐTM dịch vụ của người nước ngoài tại Việt Nam Bởi nơi cư trú của cánhân nước ngoài là ở quốc gia khác Việt Nam, có khoảng cách địa lý khá xa nhau,vậy nên cần sửa đổi quy định pháp luật để hành lang pháp lý dành cho giao kết quốc
tế được thông thoáng hơn
Theo quy định chung, “Hợp đồng được giao kết vào thời điểm BĐN nhận
được chấp nhận giao kết” 16 Khi nhận được lời chấp nhận giao kết, tức là hai bên đãhoàn thành việc thỏa thuận qua lại, cũng chính là xác lập các quyền và nghĩa vụgiữa hai bên với nhau Việc đề nghị và chấp nhận đề nghị là trình tự, thủ tục mangtính pháp lý trong quá trình giao kết hợp đồng, vì vậy, thời điểm thực hiện xong 2bước này chính là thời điểm giao kết hợp đồng Đối với hình thức giao kết trực tiếp
bằng lời nói, thời điểm giao kết là “thời điểm các bên đã thỏa thuận về nội dung
của hợp đồng” 17 Với HĐTM dịch vụ, nội dung được thống nhất ở đây gồm đối
tượng của HĐTM dịch vụ là công việc cụ thể nào đó cần thực hiện, có thể thỏa
thuận luôn giá dịch vụ, địa điểm và thời hạn thực hiện công việc đó “Thời điểm
giao kết hợp đồng bằng văn bản là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản hay bằng hình thức chấp nhận khác được thể hiện trên văn bản” Giao kết hợp đồng bằng văn
bản là hình thức giao kết phổ biến nhất hiện nay, thể hiện được một cách rõ ràngnhất và tránh nhiều rủi ro Hai bên sẽ ký tên hoặc có thể đóng dấu vào một văn bản,thời điểm bên ký cuối cùng được xác định là thời điểm giao kết
Thời điểm giao kết hợp đồng giúp xác định thời điểm hợp đồng có hiệu lựctheo pháp luật Việc xác định này khá là quan trọng bởi từ thời điểm mà hợp đồngđược giao kết, các bên phải có nghĩa vụ thực hiện các công việc như đã thỏa thuận
15 Xem Điều 399 Bộ luật Dân sự 2015.
16 Xem Khoản 1 Điều 400 Bộ luật Dân sự 2015.
17 Xem Khoản 3 Điều 400 Bộ luật Dân sự 2015.
Trang 23Đây cũng là một trong các căn cứ giúp giải quyết khi có tranh chấp thực tế xảy ra vềquyền và nghĩa vụ đôi bên Bởi vì thời điểm giao kết HĐTM dịch vụ là cơ sở nhằmxác định quyền và nghĩa vụ của cả hai bên trong quá trình thực hiện HĐTM dịch
vụ Từ cơ sở này mới đưa ra hướng giải quyết của vấn đề
1.2.6 Giao kết HĐTM dịch vụ bằng PTĐT
Giao kết HĐTM dịch vụ bằng PTĐT là giao kết bằng hình thức văn bản và
đã được pháp luật thừa nhận như sau: “Giao dịch dân sự thông qua PTĐT dưới
hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản” 18 Đây là một hình thức mới được ra đời do sự phát
triển vượt bậc của công nghệ và xu hướng hiện đại hóa trong thời điểm hiện nay
Trong Luật giao dịch điện tử 2005 có giải thích khái niệm mới: “Thông điệp
dữ liệu là thông tin được tạo ra, được gửi đi, được nhận và được lưu trữ bằng PTĐT” 19 Thông điệp dữ liệu được coi là văn bản nhưng cũng không giống văn bản
Có rất nhiều hình thức đặc biệt thể hiện đó là một thông điệp dữ liệu như “trao đổi
dữ liệu điện tử, chứng từ điện tử, thư điện tử, điện tín, điện báo, fax và các hình thức tương tự khác” 20 Vấn đề quy trình giao kết hợp đồng thì được thay thế bằngquy định về việc gửi, nhận thông điệp dữ liệu do người khởi tạo tạo ra Người khởitạo có thể được xem như chủ thể trong giao kết, tuy nhiên, việc xác định NLPLcũng như NLHV của đối tượng chủ thể trong hình thức giao kết bằng PTĐT vẫncòn gặp nhiều khó khăn Bởi thông qua PTĐT thì không thể nhận biết được đốiphương là ai hay ở đâu Thời điểm gửi thông điệp dữ liệu được xác định là lúc
“thông điệp dữ liệu này nhập vào hệ thống thông tin nằm ngoài sự kiểm soát của người khởi tạo” 21 Vì đây là qua một hệ thống trung gian khác và là một hình thức
có nhiều khái niệm hoàn toàn mới nên có thể gây khó hiểu cho nhiều người Nếu cógửi thì ắt phải có nhận, quy định về việc nhận thông điệp dữ liệu cũng có một số
điều kiện sau: “Người nhận được xem là đã nhận được thông điệp dữ liệu nếu
thông điệp dữ liệu được nhập vào hệ thống thông tin do người đó chỉ định và có thể truy cập được” 22 Thứ nhất, hệ thống được gửi vào phải do bên kia chỉ định và yêu
cầu gửi vào hệ thống đó Thứ hai, hệ thống đó có thể truy cập được mà không bị lỗi
18 Xem Khoản 1 Điều 119 Bộ luật Dân sự 2015.
19 Xem Khoản 12 Điều 4 Luật Giao dịch điện tử 2005.
20 Xem Điều 10 Luật Giao dịch điện tử 2005.
21 Xem Khoản 1 Điều 17 Luật Giao dịch điện tử 2005.
22 Xem Điểm a Khoản 2 Điều 18 Luật Giao dịch điện tử 2005.
Trang 24nào khiến cho việc gửi thông điệp bị đình trị và có thể là không thể gửi được Vìtính khó xác định của hình thức này nên hai bên được pháp luật cho phép yêu cầucác bên phải thông báo bằng cách thức trực tiếp về việc đã gửi, nhận thông điệp dữliệu cho bên kia Bên cạnh đó, có những hìn thức giao kết HĐTM dịch vụ điện tử
mới như “Sử dụng chức năng đặt hàng trực tuyến trên website TMĐT” 23 Quy trình
thực hiện đối với hình thức gián tiếp này cũng tương tự như được nêu ở trên Tuynhiên, đây là hình thức thông qua một hệ thống trung gian, vì thế sẽ có những điểmkhác biệt Khách hàng sẽ là người đưa ra đề nghị giao kết và việc chấp nhận đề nghịgiao kết do bên cung cấp dịch vụ trả lời Khi đưa ra chấp nhận giao kết hợp đồng thìbên cung cấp dịch vụ phải đưa ra các thông tin sau:
Danh sách dịch vụ khách hàng yêu cầu cùng với giá dịch vụ và tổnggiá trị hợp đồng
Thời hạn cung cấp dịch vụ
Thông tin và cách thức liên hệ của bên cung cấp dịch vụ
Những quy định về hình thức giao kết bằng PTĐT còn có nhiều điều mới và
phức tạp cần phải tìm hiểu kĩ trước khi tiến hành thực hiện Dù thông điệp dữ liệuđược thừa nhận là loại hình thức văn bản nhưng cũng không hoàn toàn giống hìnhthức bằng văn bản Ta có thể thấy sự khác biệt qua một số phương diện sau:
Về nguyên tắc, các bên không chỉ cần tuân theo nguyên tắc trong LTM màcòn phải tuân thủ nguyên tắc riêng trong giao kết hợp đồng điện tử được quy địnhtại Luật Giao dịch điện tử Cụ thể, các bên được quyền thỏa thuận sẽ sử dụng PTĐTnào làm phương tiện giao kết mà không phải sử dụng một phương tiện nhất định
Và một nguyên tắc đặc trưng về tính chất PTĐT là “Các bên có quyền thoả thuận
về yêu cầu kỹ thuật, chứng thực, các điều kiện bảo đảm tính toàn vẹn, bảo mật có liên quan đến hợp đồng điện tử đó” 24 Khi giao kết HĐTM dịch vụ bằng PTĐT cầntuân thủ những nguyên tắc này vì sử dụng máy móc khác xa với sử dụng phươngthức thủ công truyền thống Việc sử dụng PTĐT mặc dù nhanh chóng, tiện lợinhưng dễ gây ra nhiều rủi ro về mặt kĩ thuật, xác thực và tính bảo mật
Trình tự giao kết HĐTM dịch vụ bằng PTĐT cũng gồm 2 bước như phươngtiện truyền thống Tuy nhiên, quy định của pháp luật không ghi rõ tên của hai bước
đó mà thay thế bằng quy định về gửi, nhận thông điệp dữ liệu Người gửi đi thông
23 Xem Mục 2 Chương 2 Nghị định 52/2013/NĐ-CP quy định về Thương mại điện tử.
24 Xem Khoản 3 Điều 35 Luật Giao dịch điện tử 2005.
Trang 25điệp dữ liệu cần có chữ ký điện tử của chính mình được ký cùng với thông điệp đómới coi là hợp pháp Chữ kí điện tử dùng để xác nhận thân phận người gửi đi Dùhơi phức tạp về thủ tục nhưng điều đó là cần thiết để đảm bảo xác định chắc chắnchủ thể giao kết HĐTM dịch vụ.
Về địa điểm và thời điểm đưa ra lời đề nghị, hay gọi chính xác là gửi đithông điệp dữ liệu cũng rất khó xác định chính xác Pháp luật chỉ nêu là thời điểmgửi đi là lúc thông điệp dữ liệu được truyền đến một hệ thống thông tin mà hệ thống
đó không chịu sự kiểm soát của người gửi Còn địa điểm cũng chỉ quy định chung
là nơi cư trú của người gửi Nếu là cá nhân thì chính là nơi ở thường xuyên, nếu làpháp nhân thì là trụ sở Còn nếu có nhiều nơi cư trú thì chọn nơi có mối liên hệ gắn
bó nhất Nhưng pháp luật lại không nói rõ như thế nào được coi là mật thiết nhất vớihợp đồng được giao kết đấy Giao kết hợp đồng bằng PTĐT ngày càng nhiều hơnbởi những lợi ích mà nó đem lại Tuy là vậy, nhưng đây là một hình thức mới và cónhiều lỗ hổng, pháp luật Việt Nam cần bổ sung thêm những trường hợp có thể xảy
ra, tạo một hành lang pháp lý chặt chẽ để việc giao kết này được tiến hành thuận lợi
và tránh được ít rủi ro nhất
1.2.7 Trách nhiệm dân sự trong giao kết HĐTM dịch vụ
Giao kết HĐTM dịch vụ là hành vi có ý chí, cơ sở hình thành một trongnhững quyền dân sự Chủ thể vi phạm những quy định của pháp luật thì phải gánhchịu hậu quả bất lợi, thường được gọi là trách nhiệm dân sự Bồi thường thiệt hại làchế tài hay được đưa ra nhất để xử lý những hành vi vi phạm Trong giao kếtHĐTM dịch vụ, BĐN lẫn BĐĐN đều có những trường hợp nếu vi phạm sẽ bị xửphạt Đối với BĐN, trách nhiệm dân sự phát sinh khi BĐN không “giữ lời” Tuy chỉ
là một lời đề nghị được đưa ra nhưng nó đã có tính chất bắt buộc nhất định Khôngthể coi lời ĐNGKHĐ là lời mời suông, thích thì có thể đưa ra cho bất kì ai Để đảmbảo tính nghiêm túc, trung thực và có trách nhiệm, Nhà nước đưa ra điều luật bảo vệ
người nhận lời đề nghị như sau: “Trường hợp ĐNGKHĐ có nêu rõ thời hạn trả lời,
nếu BĐN lại giao kết hợp đồng với bên thứ ba trong thời hạn chờ BĐĐN trả lời thì phải bồi thường thiệt hại cho BĐĐN mà không được giao kết hợp đồng nếu có thiệt hại phát sinh” 25 Trên thực tế, có nhiều trường hợp cũng cần có chế tài xử phạt cụ
thể Ví dụ như trường hợp đề nghị giao kết không nêu rõ thời hạn trả lời hay là
25 Xem Khoản 2 Điều 386 Bộ luật Dân sự 2015.
Trang 26trong vấn đề về thay đổi, rút lại, hủy bỏ đề nghị giao kết HĐTM dịch vụ Trongnhững vấn đề nêu trên, nếu như chủ thể chấp hành không đúng quy định thì sẽ phảichịu hậu quả bất lợi nào? Pháp luật mới yêu cầu cần phải thực hiện như thế nàonhưng lại chưa thể hiện được tính bắt buộc một cách cụ thể ĐNGKHĐ bước đầuđược bảo đảm theo nguyên tắc giao kết hợp đồng là trung trực, thiện chí Tuy nhiên,
sự trung thực, thiện chí mới chỉ được bảo vệ khi có thiệt hại thực tế xảy ra, cònkhông có thiệt hại thì chung quy, việc không giữ lời cũng không gây thiệt hại lớnđối với BĐN
Hiện nay, đối với những thông tin mà hai bên nhận được trong giao kết hợpđồng thì cả hai bên cần có nghĩa vụ bảo đảm những thông tin đó không bị lộ rangoài, không sử dụng thông tin đó vào mục đích khác gây bất lợi cho đối phương.Giả như thông tin mà một bên nhận được có thể là nguyên nhân dẫn đến sự giánđoạn của việc chấp nhận giao kết HĐTM dịch vụ của bên kia thì cần phải báo chobên kia biết Cũng giống như phía trên, khi có thiệt hại thực tế xảy ra do hành vi củamột bên tại một trong hai trường hợp đó thì phải bồi thường Đây là một quy địnhmới so với trước kia, khi mà thông tin cá nhân hiện nay cũng có thể được đem bán
và thời đại công nghệ ngày càng phát triển, hình thức giao tiếp gián tiếp trở nên phổbiến hơn, việc bảo mật thông tin càng cần được chú ý
Trang 272.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty
Công ty TNHH HNK được Sở Kế hoạch và Đầu tư cấp Giấy chứng nhậnđăng kí doanh nghiệp số 0105456939 lần đầu vào ngày 18 tháng 08 năm 2011 vớiloại hình doanh nghiệp là công ty TNHH một thành viên do ông Nguyễn TháiNguyện làm chủ Đến ngày 27 tháng 04 năm 2017, công ty đăng kí thay đổi lần thứ
5, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp sang công ty TNHH hai thành viên Công ty
có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng kí doanh nghiệplần đầu và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ trong phạm vi số vốn điều lệ Công
ty không có quyền phát hành cổ phiếu và phải góp đủ phần vốn góp của mỗi thànhviên như đã cam kết Dưới đây là một số thông tin của công ty TNHH HNK:
“Tên đầy đủ của công ty: Công ty TNHH KDDVBV chuyên nghiệp HNKTên tiếng Anh: HNK Professional Security Services Busines Company Limited
Tên viết tắt: HNK Security Co.,LTD
Địa chỉ trụ sở chính: TT04-09, Khu đô thị Mon city, đường Hàm Nghi, phường Mỹ Đình 2, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội
Điện thoại: 04.37835882 Fax: 04.37835881
Email: support@hnk.vn
Website: http://www.hnk.vn”26
Vốn điều lệ của công ty hiện nay là hai tỷ đồng Thành viên góp vốn gồm có ông Nguyễn Thái Nguyện với tỷ lệ góp vốn là 60% và bà Nguyễn Thị Kim Dung với tỷ lệ còn lại là 40%
26 Xem Khoản 1, 2, 3 Điều 2 Điều lệ Công ty.
Trang 28Công ty hoạt động từ khi thành lập đến nay đã được 7 năm và số lượng nhânviên bảo vệ lên tới 2000 người Với tôn chỉ hoạt động “Là người bạn đồng hànhđáng tin cậy của khách hàng”, công ty luôn cố gắng nghiên cứu, tìm hiểu, đào tạo,bồi dưỡng kĩ năng để đáp ứng mọi nhu cầu khắt khe nhất của khách hàng Trong bốicảnh thành lập năm 2011, thị trường ngành dịch vụ bảo vệ trong nước đang rất sôiđộng, nhưng cùng với đó, rất nhiều công ty ngành dịch vụ bảo vệ tiên phong và cónhiều kinh nghiệm như Công ty Dịch vụ bảo vệ Long Hải, Công ty Bảo vệ NhậtViệt YUKI SEPRE 24, Công ty TNHH dịch vụ bảo vệ Đất Việt,…Tại thời điểm đó,gây ra không ít khó khăn cho công ty Bằng sự nỗ lực và nhận thức được chất lượngchính là yếu tố quan trọng nhất để phát triển bền vững, công ty đã phát triển khôngngừng, mở ra thêm nhiều chi nhánh và văn phòng đại diện Năm 2015, mở chinhánh tại thành phố Hồ Chí Minh; Năm 2016, mở chi nhánh tại Đà Nẵng; Giữa năm
2017, mở thêm hai văn phòng đại diện ở Bắc Ninh và Vũng Tàu
Sau 7 năm đi vào hoạt động, công ty dành được sự tin tưởng từ phía kháchhàng và đã có một vị trí nhất định trong ngành KDDVBV ở thị trường trong nước.Đặc biệt với đối tác Hàn Quốc, đạt được rất nhiều thành tựu và được đánh giá cao,không chỉ công ty nhận được lời khen ngợi từ phía đối tác Hàn Quốc mà cả nhânviên bảo vệ của công ty cũng nhận được giấy khen từ phía khách hàng Điều này thểhiện sự cố gắng, nỗ lực của mỗi cá nhân đã góp phần xây dựng hình ảnh đẹp chocông ty đối với khách hàng
2.1.2 Chức năng, mục tiêu của công ty
Theo giấy phép đăng ký kinh doanh và trong Điều lệ công ty, công ty hoạtđộng trong các lĩnh vực là27:
- Dịch vụ bảo vệ chuyên nghiệp: Bao gồm dịch vụ đào tạo huấn luyệnbảo vệ; Dịch vụ quản lý bảo vệ; và dịch vụ tư vấn giải pháp an ninh
- Dịch vụ vệ sỹ, áp tải, bảo vệ yếu nhân, lái xe kiêm vệ sỹ
- Dịch vụ vệ sinh công nghiệp
- Dịch vụ tư vấn, thẩm định tài sản của các tổ chức tín dụng
- Dịch vụ thiết bị an ninh, giám sát an ninh: Cung cấp thiết bị an ninh;Dịch vụ và hệ thống giám sát an ninh từ xa; Quản lý hệ thống an ninh;
và tổng thể các giải pháp an ninh
27 Xem Khoản 1 Điều 3 Điều lệ Công ty.