1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Thực trạng và giải pháp hoạt động cho vay cầm cố chứng khoán của các nhtm việt nam thực trạng và giải pháp hoạt động cho vay cầm cố chứng khoán của các nhtm việt nam

26 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng và giải pháp hoạt động cho vay cầm cố chứng khoán của các NHTM Việt Nam
Người hướng dẫn PGS. TS. Bùi Kim Yến
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế TP. HCM
Chuyên ngành Ngân hàng – Tài chính
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2009
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 311,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM KHOA ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC  TIỂU LUẬN THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOẠT ĐỘNG CHO VAY CẦM CỐ CHỨNG KHOÁN CỦA CÁC NHTM VIỆT NAM GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN PGS TS BÙI KIM YẾN NHÓM HỌC[.]

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM KHOA ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC



-TIỂU LUẬN THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOẠT ĐỘNG CHO VAY CẦM CỐ CHỨNG KHOÁN CỦA CÁC

VŨ THANH TÙNG NGUYỄN THỊ THANH VÂN (1982) PHẠM THỊ HỒNG PHƯƠNG NGUYỄN ĐỨC TRUNG

NIÊN KHÓA 2007-2010

Trang 2

Lời cảm ơn



Thị trường tài chính là 1 môn học lý thú & bổ ích Nó thật sự đãõ đem lại cho chúng em thêm những kiến thức, những hiểu biết mới về thị trường chứng khoán nói riêng và thị trường tài chính nói chung

Tuy rằng chỉ tiếp xúc với môn học trong chương trình cao học một thời gian ngắn, nhưng chúng em đã thật sự có ấn tượng với môn học này Xin gửi lời cảm

ơn đến cô Bùi Kim Yến – người đã tận tình chỉ dạy, hướng dẫn chúng em trong suốt thời gian qua

Do điều kiện thời gian và trình độ, đây lại là một chủ đề mới, nên đề tài thực hiện chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Mong cô xem xét và hướng dẫn để tiểu luận được hoàn thiện hơn

Xin chân thành cám ơn

Thành phố Hồ Chí Minh tháng 06/2009 Nhóm thực hiện đề tài

1 LÝ LUẬN VỀ CHO VAY CHỨNG KHỐN

1.1 Khái niệm

Cho vay chứng khốn (cịn được gọi là cho vay đầu tư chứng khốn) làhình thức các tổ chức tín dụng cho nhà đầu tư vay tiền để thực hiện đầu tư, kinhdoanh chứng khốn

Cho vay chứng khốn ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu vay vốn cho các nhàđầu tư cĩ các hoạt động mua bán, chuyển nhượng các loại cổ phiếu, trái phiếuniêm yết tại sàn giao dịch chính thức, khơng chính thức, hoặc mua cổ phần pháthành lần đầu của các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hĩa

Trang 3

Để thực hiện nhu cầu vay này, ngoài những hình thức thế chấp cầm cốthông thường, khách hàng còn có thể dùng cổ phiếu đã phát hành hoặc sắp pháthành làm tài sản đảm bảo cho khoản vay.

Ở Việt Nam thì hình thức này chỉ mới xuất hiện vài năm gần đây, khi thị trường chứng khoán bắt đầu phát triển

1.2 Điều kiện cho vay đối với khách hàng cá nhân của NHTM

 Khách hàng có đủ năng lực pháp luật dân sự; có hộ khẩu thường trú tại các tỉnhthành

 Có phương án sử dụng vốn vào mở rộng sản xuất kinh doanh mang lại hiệu quả,đảm bảo có lợi nhuận đủ để trả nợ, lãi cho Ngân hàng

 Có tài sản đảm bảo cho khoản vay và có ít nhất 30% kinh phí tham gia vàophương án

1.3 Tài sản bảo đảm cho khoản vay

 Bất động sản: Nhà, đất…

 Động sản: Hàng hóa, máy móc thiết bị, ôtô, phương tiện vận tải… đã mua cácloại bảo hiểm cần thiết

 Sổ tiết kiệm, số dư tài khoản tiền gửi, chứng chỉ tài khoản tiền gửi;

 Chứng khoán và các giấy tờ có giá khác;

 Tài sản khác phù hợp với đánh giá của Ngân hàng

 Tài sản bảo đảm cho khoản vay phải có giấy tờ chứng minh quyền sở hữu hợppháp, hoàn thành các thủ tục cầm cố và thế chấp đối với Ngân hàng, được quảngiữ theo pháp luật hiện hành Khách hàng cũng có thể cam kết thế chấp bằng tàisản của bên thứ ba bảo lãnh cho việc vay tiền

1.4 Cho vay cầm cố chứng khoán

Trong các hình thức cho vay đầu tư kinh doanh chứng khoán thì hình thứccho vay cầm cố chứng khoán là hình thức được áp dụng phổ biến nhất hiện nay

Cho vay cầm cố chứng khoán là hình thức khách hàng khi vay tiền nhằmmục đích mua chứng khoán sẽ cầm cố chính các chứng khoán đó tại tổ chức chovay

Trang 4

Tổng số tiền khách hàng có thể cầm cố = tổng số lượng CP x Giá cầm cố của loại

cổ phiếu đó (giá cầm cố do ngân hàng quy định)

 Cho vay cầm cố chứng khoán, rút tiền ngày T:

 Điều kiện:

Đảm bảo đủ số dư chứng khoán được phép cầm cố trong tài khoản

Số dư chứng khoán được phép cầm cố bằng số dư chứng khoán sử dụngđược

Mức cho vay, lãi suất và kỳ hạn tối đa được vay đối với từng loại chứngkhoán được quy định theo từng thời điểm

 Thủ tục:

Nhà đầu tư cung cấp chứng minh nhân dân, tài khoản lưu ký, nhu cầu vayvốn cho nhân viên Cầm cố

Nhân viên Cầm cố kiểm tra và đối chiếu thông tin của nhà đầu tư

Nhà đầu tư ký hợp đồng cầm cố hoặc hợp đồng vay tiền ngày T

Tổ chức cho vay sẽ phong tỏa số dư chứng khoán tương ứng với số trênhợp đồng cầm cố hoặc ghi nhận phong tỏa số tiền về ngày T+3 tương ứngvới số tiền trên hợp đồng vay tiền ngày T

Nhân viên Cầm cố chuyển hợp đồng cầm cố hoặc hợp đồng vay tiền ngày

T cho tổ chức cho vay để tiến hành giải ngân khoản vay cho nhà đầu tư

Khi giá chứng khoán giảm đến mức giá xử lý thì tổ chức cho vay sẽ yêucầu nhà đầu tư bổ sung thêm tài sản đảm bảo Trong vòng 1 ngày làmviệc, nhà đầu tư phải bổ sung bằng tiền hoặc cổ phiếu có giá trị tươngđương khoản chênh lệnh Nếu tài sản đảm bảo không được bổ sung, tổchức cho vay sẽ xử lý chứng khoán cầm cố bằng cách bán cho bên thứ ba(do tổ chức chỉ định) để thu hồi nợ và các chi phí khác

Đối với vay tiền ngày T: tổ chức cho vay tự động trích thu từ số tiềnchuyển về ngày T+3 của chứng khoán bán được của nhà đầu tư

 Giải tỏa chứng khoán cầm cố:

Trang 5

Trả nợ khoản vay bằng tiền mặt:

 Nhà đầu tư nộp tiền mặt để trả nợ khoản vay từng phần hay toàn

bộ tại nơi nhận cầm cố cho nhà đầu tư

 Khi nhận được thông báo, nhân viên cầm cố thực hiện giải tỏađúng số lượng được yêu cầu cho nhà đầu tư

Trả nợ khoản vay bằng cách bán chứng khoán:

 Tổ chức cho vay cho phép nhà đầu tư đặt lệnh bán chứng khoáncầm cố

 Sau khi có kết quả khớp lệnh (khớp một phần hay toàn bộ), tổchức cho vay sẽ tiến hành thu hồi nợ vào ngày T+3

 Nếu không có thoả thuận khác, nhà đầu tư bán chứng khoán cùngloại với chứng khoán cầm cố thì sẽ được ưu tiên bán chứng khoánkhông cầm cố trước

+ Giấy đề nghị giải tỏa (khi khách hàng trả nợ cầm cố)

1.6 Ý nghĩa của cho vay chứng khoán

An toàn: Khách hàng sẽ được các chuyên gia tài chính tư vấn để có phương án

bổ sung vốn kinh doanh hợp lý và có lợi nhất Các thông tin về kết quả hoạt độngluôn được bảo mật

 Hiệu quả: Người đi vay có thể lựa chọn thời hạn vay trong ngắn hạn, trung hạn

hay dài hạn tùy thuộc vào nhu cầu sử dụng vốn, nguồn và khả năng trả nợ củamình Lãi suất cho vay của của các tổ chức tín dụng thường ở mức vừa phải vàhợp lý

 Thuận lợi: Khách hàng có được vốn vay nhanh nhất với thủ tục hồ sơ đơn giản

Trang 6

2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CẦM CỐ CHỨNG KHOÁN CỦA CÁC NHTM VIỆT NAM

2.1 Sơ lược về tình hình hoạt động của thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam

Từ đầu năm 2006 đến tháng 3/2007, thị trường chứng khoán phát triểnmạnh mẽ cả về chủng loại lẫn số lượng chứng khoán, số lượng nhà đầu tư và các

tổ chức dịch vụ chứng khoán; giá cổ phiếu có dấu hiệu “tăng nóng” trên cả thịtrường chính thức và thị trường không chính thức, giá trị vốn hóa thị trường chínhthức tăng ở mức khá lớn Từ nửa cuối tháng 3/2007 đến nay, thị trường chứngkhoán đã có điều chỉnh mạnh theo hướng suy giảm, thị giá chứng khoán có xuhướng giảm cả trên thị trường chính thức và thị trường không chính thức Mãi đếnđầu năm 2009, khi chính phủ công bố gói kích cầu, thị trường chứng khoán mớibắt đầu dần dần hồi phục Và cho đến tháng 5/2009 thì mới bắt đầu có dấu hiệukhởi sắc lại

Sự kiện hội nhập kinh tế thế giới đã giúp hình ảnh Việt Nam trở nên môitrường hấp dẫn các nhà đầu tư, cùng với sự bùng nổ số lượng các công ty niêm yếttrên thị trường chứng khoán và kết quả kinh doanh tốt năm 2006 của phần lớn cácdoanh nghiệp đã cộng hưởng tạo nên một thị trường tăng trưởng mạnh mẽ Tuynhiên, theo quy luật, sau 3 tháng chỉ số VN-Index tăng mạnh lên đến đỉnh1.170,67 điểm và HASTC-Index đạt kỷ lục 459,36 điểm, đến tháng 3-2007, giaiđoạn điều chỉnh toàn thị trường đã xảy ra theo đúng dự báo của nhiều chuyên giakinh tế về “độ nóng” của TTCK Việt Nam

Sự phát triển của thị trường chứng khoán trong thời gian qua đã tác độnglàm tăng nhu cầu vay vốn ngân hàng để đầu tư, kinh doanh chứng khoán; nguy cơrủi ro tín dụng đối với các nhu cầu vốn đầu tư, kinh doanh chứng khoán cũng tănglên do thị giá chứng khoán có sự biến động theo xu hướng suy giảm Tình hìnhhoạt động cho vay, chiết khấu giấy tờ có giá để đầu tư, kinh doanh chứng khoáncủa các tổ chức tín dụng nhìn chung được thể hiện như sau:

2.2 Tình hình cho vay cầm cố CK của các NHTM trước chỉ thị 03 (tháng 06/2007)

Nghiệp vụ cho vay vốn cầm cố chứng khoán mới xuất hiện đối với cácngân hàng thương mại cổ phần và công ty chứng khoán ở nước ta vào cuối năm

Trang 7

2005 và đầu năm 2006, gia tăng mạnh vào các tháng 4, 5 và 6 - 2006, khi giaodịch cổ phiếu ngân hàng trên thị trường OTC sôi động.

Theo số liệu báo cáo của các tổ chức tín dụng, tỷ lệ dư nợ tín dụng để đầu

tư, kinh doanh chứng khoán và cho vay cầm cố chứng khoán của các TCTD đếncuối tháng 4/2007 (khoảng 2,5%) chỉ giảm nhẹ (-0,1%) so với cuối năm 2006(2,6%), do tỷ trọng dư nợ tín dụng để đầu tư, kinh doanh chứng khoán của cácngân hàng thương mại nhà nước và công ty tài chính ở mức thấp và có xu hướnggiảm, nhưng khối ngân hàng thương mại cổ phần thì gia tăng cả dư nợ và tỷ trọng

so với cuối năm 2006 Nếu loại trừ các khoản cho vay cầm cố chứng khoán, chiếtkhấu giấy tờ có giá để sử dụng cho các mục đích khác không phải để đầu tư, kinhdoanh chứng khoán, thì tỷ lệ nêu trên ở mức khoảng 2,2% tổng dư nợ tín dụng

Và đến tháng 04/2008, dư nợ cho vay đầu tư chứng khoán của toàn hệthống ngân hàng còn 9.754 tỷ đồng, chiếm khoảng 0,78% tổng dư nợ toàn nềnkinh tế Con số này đã giảm đáng kể so với thời điểm 8/2007 khi dư nợ cho vaychứng khoán thật sự rất cao vào khoảng 26 ngàn tỷ

Tháng 6/2007, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) VN ra Chỉ thị 03 với nộidung chính khống chế mức vay cầm cố chứng khoán để đầu tư chứng khoánkhông được vượt quá 3% dư nợ của các ngân hàng thương mại trước thời hạn31/12 cùng năm Đây được xem là một trong những nguyên nhân chính góp phầnlàm cho TTCK rơi vào đợt điều chỉnh giảm sâu và dài ngày

Tỷ lệ 3% trên tổng dư nợ chưa thể hiện hết những rủi ro tín dụng Ví dụ NH

A có tổng tài sản 20.000 tỉ đồng, có tổng dư nợ cho vay là 8.000 tỉ đồng thì mứccho vay chứng khoán là 240 tỉ đồng Trong khi đó, NH B có tổng tài sản là 10.000

tỉ đồng nhưng cũng có tổng dư nợ cho vay là 8.000 tỉ đồng thì mức cho vay chứngkhoán cũng là 240 tỉ đồng Rõ ràng NH B tỷ lệ rủi ro sẽ cao hơn NH A

Theo Ngân hàng Nhà nước, mức cho vay cầm cố chứng khoán ở các ngânhàng thương mại quốc doanh (hiện chiếm 70% tổng thị phần tín dụng) chỉ chiếmkhoảng 1-2% tổng dư nợ tín dụng Tỉ lệ này ở các ngân hàng thương mại cổ phầncao hơn Vì thế, Ngân hàng Nhà nước đưa ra lộ trình để các Ngân hàng đang

“vượt trần” thu nợ nhằm giảm xuống tỉ lệ cho phép Ngoài ra, tỉ lệ 3% chỉ áp dụngđối với việc cầm cố chứng khoán để đầu tư trở lại thị trường, còn cầm cố chứng

Trang 8

khoán để đầu tư vào sản xuất kinh doanh thì không thuộc diện điều chỉnh của quiđịnh này.

2.3 Phản ứng của các NHTM đối với chỉ thị 03

Hầu hết các ngân hàng đều cho rằng qui định cho vay chứng khoán khôngvượt quá 3% tổng dư nợ của NH mang tính hành chính và không phù hợp với thực

tế, đã làm “méo mó” môi trường kinh doanh

Các ngân hàng cũng cho biết qui định của Ngân hàng Nhà nước đã phá vỡ

kế hoạch kinh doanh của họ vì hầu hết đều đã xây dựng kế hoạch cho vay chứngkhoán cao hơn mức mà Ngân hàng Nhà nước qui định Trong khi đó, các công tychứng khoán cũng kêu trời vì chắc chắn nguồn thu của các công ty này cũng bịảnh hưởng mạnh

Giám đốc tín dụng một ngân hàng thương mại cho biết: “Với độ rủi ro hiệnnay của thị trường chứng khoán tôi cho rằng Ngân hàng Nhà nước lo hơi quá”.Ông này nói rõ, số tiền vay của các nhà đầu tư tối đa cũng chỉ bằng 40% - 50% thịgiá nên mức rủi ro là rất thấp.Ví dụ như cổ phiếu VNM giá 180.000đ/cp thì chỉđược tính để vay là 90.000đ/cp Hơn nữa các ngân hàng không phải cho vay vớibất cứ cổ phiếu nào mà chỉ chọn những loại có tính thanh khoản cao

Ngân hàng Nhà nước cũng có ý kiến đồng ý với các ngân hàng thương mạitôn trọng hợp đồng nếu đáo hạn sau 31/12/2007 với điều kiện không cho vay saungày chỉ thị 03 có hiệu lực Hơn nữa khách hàng vẫn có thể dùng những tài sảnkhác để vay đầu tư chứng khoán Không ít ngân hàng đã mách nước cho kháchhàng của mình làm thủ tục để thế chấp nhà cửa thay thế cho chứng khoán và ngânhàng sẽ linh động giữ nguyên mức lãi suất, đơn giản hoá thủ tục

Khi đến thời hạn hiệu lực (31.12.2007), buộc các ngân hàng thương mại cổphần đã phải đồng thời thực hiện hai giải pháp tình thế:

+ Một là: tăng tổng dư nợ cho vay các sản phẩm tín dụng khác thì sẽ giảmđược tỷ lệ cho vay, cầm cố kinh doanh chứng khoán Để thực hiện được giải phápnày các ngân hàng thương mại nới lỏng các điều kiện cho vay và như vậy cũngtiềm ẩn các rủi ro cho ngân hàng

Như vậy, để đối phó với tình hình khó khăn, nhiều ngân hàng đã tìm cáchlách luật Thay vì giải quyết các khoản nợ đến hạn, họ lại tìm cách nâng tổng dư

Trang 9

nợ cho vay của mình lên thật cao cho phù hợp với mức khống chế 3% Và nhưvậy, vô hình chung qui định 03 lại khiến rủi ro của các ngân hàng tăng lên rấtnhiều !

+ Hai là: ngân hàng thu hồi nợ đến hạn, không cho gia hạn nợ hoặc khôngcho vay cầm cố kinh doanh chứng khoán Nhà đầu tư không tìm được nguồn vốn

để trả nợ cho ngân hàng đành phải bán chứng khoán với giá thấp

2.4 Tình hình cho vay cầm cố CK của các NHTM từ tháng 01/2008 đến nay

Cuối tháng 1/2008, cơ chế cho vay chứng khoán mới được công bố: Tổchức tín dụng được cho vay chứng khoán lên đến 20% vốn điều lệ Biện pháp nàygắn liền với quy mô và rủi ro cho vay kinh doanh chứng khoán và khả năng vốncủa tổ chức tín dụng

Theo Ngân hàng Nhà nước, cơ chế này không quá mở rộng cho vay nhưngnhiều ngân hàng thương mại có mức cho vay thấp so với vốn điều lệ vẫn có thểtiếp tục cho vay Ngân hàng Nhà nước cũng lưu ý rằng, hệ số rủi ro các khoản chovay đầu tư chứng khoán được áp dụng khoảng 200% đến 250% để tính hệ số antoàn vốn tối thiểu, cao hơn mức quy định hiện nay là 150% Giá chứng khoán trênthị trường biến động khá lớn Quy định này sẽ có tác dụng yêu cầu các tổ chức tíndụng xem xét, quyết định cho vay một cách thận trọng

Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước còn quy định một số điều kiện đối vớicác tổ chức tín dụng cho vay kinh doanh chứng khoán nhằm yêu cầu các tổ chứctuân thủ về pháp lý và đảm bảo an toàn trong khi vay như: xây dựng quy trìnhnghiệp vụ cho vay kinh doanh chứng khoán làm cơ sở cho việc thanh tra, giám sáthoạt động cho vay; đảm bảo các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của các tổchức tín dụng theo quy định Ngân hàng Nhà nước, nhất là tỷ lệ an toàn vốn tốithiểu

Sau một thời gian trầm lặng theo đà đi xuống của thị trường chứng khoán,đến tháng 8/2008, dịch vụ cho vay cầm cố chứng khoán đã được một số ngân hàng

và công ty chứng khoán mở cửa trở lại với một danh mục chứng khoán nhận cầm

cố khá thận trọng Danh mục này thường thấy chỉ còn khoảng 15 - 20 loại cổphiếu thay vì lên đến gần hàng trăm như trước đây.  Ngoài danh mục chứng khoánđược lọc kỹ, hầu hết các công ty chứng khoán và ngân hàng cũng cho vay với tỷ lệthấp hơn trước đây, chỉ từ 30 - 40% thị giá của CK đó

Trang 10

Trước đây nhiều công ty chứng khoán đã chấp nhận cho vay ngay cả khikhông nắm rõ tình trạng cổ phiếu Một phần do quá lạc quan về thị trường, mộtphần do không đủ nhân lực để theo dõi mảng thị trường này nên đã chấp nhậnmức giá cho vay cao hơn nhiều lần so với giá trị thực của cổ phiếu Bài học kinhnghiệm từ đợt biến động đó cũng là lý do để hạn mức cho vay của nhiều công tychứng khoán hiện nay không cao, tối đa chỉ từ 3- 5 tỉ đồng/khách hàng

Ngân hàng và công ty chứng khoán thận trọng, nhưng nhà đầu tư thì cũngkhông còn hào hứng với dịch vụ này như trước đây Hiện nhu cầu đi vay cầm cốchứng khoán của nhà đầu tư là rất ít so với nhu cầu trước đây Đó là thực trạngchung tại các sàn giao dịch chứng khoán trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.Bên cạnh đó, mức lãi suất cho vay cầm cố chứng khoán hiện nay đang được cácngân hàng áp dụng từ 1,66 - 1,8%/tháng cũng làm chùn tay người đầu tư

Về cho vay đầu tư, kinh doanh chứng khoán theo số liệu báo cáo của các

Tổ chức tín dụng đến cuối tháng 4/2009 dư nợ cho vay chứng khoán là 7.157 tỷđồng, tăng 4% so với cuối năm 2008, chiếm 0,5% tổng dư nợ và tương đương4,4% tổng vốn điều lệ của hệ thống các TCTD (giới hạn được phép là 20% vốnđiều lệ)

Gói kích cầu kinh tế đầu năm 2009 của Chính phủ gồm hỗ trợ lãi suất vàgiãn, giảm thuế đang phát huy tác dụng tích cực trong nền kinh tế Tuy nhiên,phân tích về dòng tiền chảy vào thị trường chứng khoán, nhiều chuyên gia vẫn bày

tỏ những quan ngại về việc một phần vốn vay đang đổ vào đầu tư chứng khoán,khiến dòng tiền hỗ trợ lãi suất dành cho sản xuất, kinh doanh chưa thực sự hiệuquả

Về nguyên tắc, các khoản vay hỗ trợ lãi suất mà Chính phủ đưa ra không hỗtrợ cho đầu tư chứng khoán, song với việc thị trường chứng khoán sôi động cùngthời điểm Chính phủ triển khai mạnh mẽ gói kích cầu đã khiến nhiều chuyên giađặt câu hỏi về dòng vốn rẻ đang được đổ một phần vào chứng khoán Một quanchức của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước cũng nhận định: Tiền hỗ trợ lãi suất phảiđược đưa vào sản xuất, kinh doanh nhưng cũng không thể loại trừ một phần vốnđang vào chứng khoán bởi ở đâu mang lại lợi nhuận thì nơi đó sẽ hút được vốn

Trên thực tế, một dòng chảy âm thầm dòng tiền từ ngân hàng thông qua chovay hỗ trợ lãi suất đã được dùng một phần vào đầu tư chứng khoán

Trang 11

Nhiều doanh nghiệp đang có tâm lý tranh thủ nguồn vốn hỗ trợ lãi suất rẻ,

có thể đầu tư một phần vốn vay vào đầu tư chứng khoán vì giá chứng khoán cũngđang rẻ và nếu lựa chọn tốt có thể mang lại lợi nhuận nhiều hơn so với kinh doanh.Nếu chịu khó để ý chúng ta sẽ thấy một thực tế, thời gian triển khai vay vốn hỗ trợlãi suất chưa nhiều thế nên hiệu quả sản xuất cũng khó có ngay được, trong khiđầu tư chứng khoán thì khác- lãi có thể tính bằng ngày

2.5 Dự thảo Luật các Tổ chức tín dụng (TCTD) và ảnh hưởng của dự thảo này

Theo quy định mới tại dự thảo Luật Các tổ chức tín dụng: ngân hàngthương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được cho vay đầu tư, kinhdoanh chứng khoán

Ngoài quy định không được cho vay, đầu tư kinh doanh chứng khoán, dựthảo Luật còn quy định, tổ chức tín dụng không được cho vay để góp vốn vào một

tổ chức tín dụng khác trên cơ sở nhận tài sản đảm bảo bằng cổ phiếu của chính tổchức tín dụng được góp vốn Đồng thời, tổ chức tín dụng không được cấp tín dụngcho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán mà mà mình nắmquyền kiểm soát

Cũng theo dự thảo Luật, ngân hàng thương mại chỉ được phép mở rộnghoạt động sang lĩnh vực chứng khoán, bảo hiểm, quản lý tài sản, thông tin tín dụngthông qua việc lập các công ty độc lập

Vốn ngân hàng được rót sang chứng khoán chủ yếu dưới dạng cho vay cầm

cố chứng khoán, với rào cản “dư nợ cho vay kinh doanh chứng khoán không đượcquá 20% vốn điều lệ của ngân hàng” Đợt tuột dốc mạnh của thị trường chứngkhoán trong năm 2008 khiến nhiều ngân hàng không còn mặn mà với nghiệp vụnày Song đến nay, khi thị trường nóng lại, tính thanh khoản của các ngân hàngđược cải thiện mạnh, nhà đầu tư muốn linh hoạt và gia tăng lượng tiền đầu tư, vìthế cầm cố chứng khoán là đòn bẩy nhiều nhà đầu tư tìm đến Có cầu ắt sinh cung,nhiều ngân hàng đã khởi động trở lại chương trình cho vay đầu tư chứng khoán.Nhưng dự thảo này ra đời đã gây không ít tâm lý hoang mang, lo lắng trên thịtrường

Lý do mà Ngân hàng Nhà nước đưa ra dự thảo này là rủi ro từ việc cho vaykinh doanh chứng khoán đối với hệ thống ngân hàng là rất lớn, nó đã được cơn

Trang 12

khủng hoảng tài chính vừa qua chứng minh Chính vì thế, việc thắt chặt cho vaychứng khoán là cần thiết.

Theo Phó thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Đồng Tiến cho biết,hiện dư nợ cho vay kinh doanh chứng khoán không nhiều, chỉ dao động hơn chụcnghìn tỷ đồng, song để đảm bảo an toàn cho hoạt động của hệ thống ngân hàng,cần thiết phải đưa ra quy định khắt khe như trên

Không ít ý kiến của các chuyên gia trong ngành ngân hàng, ủng hộ tinhthần của dự thảo Theo họ, độ rủi ro của thị trường chứng khoán rất lớn Thực tếchứng minh biến động của thị trường nhiều khi tuỳ thuộc vào tâm lý nhà đầu tưnhiều hơn hiệu quả sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp niêm yết Hiện giá cổphiếu có thể tăng giảm 25%/tuần, trong khi mức độ tăng trưởng được xem là thần

kỳ của một công ty là 50%/năm và của một quốc gia chỉ là 10%/năm Tiền huyđộng từ ngân hàng nên dùng cho sản xuất - kinh doanh tạo ra công ăn việc làm,kích thích sản xuất

Tuy nhiên, đứng ở góc độ khác, việc chặn vốn ngân hàng sang chứngkhoán có thể là quy định quá khắt khe Hơn ai hết chính ngân hàng là người hiểu

và chịu trách nhiệm bảo đảm an toàn cho đồng vốn của họ Thực tế gần đây chothấy, nhiều ngân hàng rộng cửa với cho vay chứng khoán song không phải nhàđầu tư nào cũng có thể tiếp cận với dịch vụ, không phải cổ phiếu nào cũng đượccầm cố

Liên Việt Bank được coi là mạnh tay trong giải ngân vốn cũng chỉ đưa 80

mã chứng khoán vào danh sách cổ phiếu được cầm cố Trên sàn OTC, ngân hàngnày chỉ chấp nhận 3 cổ phiếu là VCB, MB và EIB Mỗi mã chứng khoán lại có sốlượng cổ phiếu cầm cố tối đa và NĐT đến sau chỉ được giải quyết nếu hạn mứccòn lại phù hợp tương ứng

Eximbank thì thận trọng hơn khi danh sách chỉ có 30 mã trên cả hai sànHOSE và HASTC, hạn mức cho vay cao nhất không quá 30% thị giá và gấp 3 lầnmệnh giá, thời gian cho vay tối đa 3 tháng, lãi suất 0,83%/tháng, ngoài ra cổ phiếuphải có thị giá trên 15.000 đồng mới được cho vay

Dòng tiền mạnh đã và đang đổ vào thị trường đến từ những nguồn khácnhư: Tiền gửi tiết kiệm, tiền vay tiêu dùng, tiền bán chứng khoán của khối ngoại

từ thời gian trước, chứ không phải phụ thuộc vào cầm cố như những năm 2007,

Trang 13

2008 Tuy nhiên, việc tước đi của nhà đầu tư một công cụ hỗ trợ quen thuộc sẽ gây

ra những ảnh hưởng nhất định đến thị trường

Một số thông tin cho hay, có thể dừng cho vay cầm cố là bước chuẩn bị đểđưa vào thực hiện một nghiệp vụ khác là cho vay ký quỹ Cho vay ký quỹ chophép nhà đầu tư mua được khối lượng cổ phiếu nhiều hơn số tiền họ bỏ ra và đượcđảm bảo bằng chính lượng cổ phiếu đó

Nghiệp vụ này do các công ty chứng khoán thực hiện, và cũng đã rất phổbiến trên thế giới, nhưng trước hết, đối với thị trường và các nhà đầu tư, những sựthay đổi cần được chuẩn bị kỹ càng và giải thích rõ để không gây sốc

Ngân hàng không cho vay chứng khoán, không trực tiếp đầu tư chứngkhoán, không nhận cầm cố bằng chứng khoán Như vậy nếu dự thảo này đượcthông qua sẽ có tác động lớn đến thị trường, bởi nhà đầu tư thiếu đi công cụ đònbẩy tài chính hiệu quả, đồng thời không ít ngân hàng sẽ áp dụng các biện pháp đểđốc thúc thu hồi số tiền đã cho vay Hơn thế, bản thân các ngân hàng cũng là tổchức đầu tư, liệu họ có phải thoái những khoản đầu tư lớn ra thị trường?

Câu hỏi khiến nhiều người băn khoăn là ngân hàng không được trực tiếpcho vay chứng khoán, vậy gián tiếp thì sao? Liệu ngân hàng có thể phối hợp vớicông ty chứng khoán làm cầu nối tới nhà đầu tư trong việc cung cấp dịch vụ tàichính Không được rót vốn cho công ty chứng khoán trực thuộc thực hiện dịch vụ

hỗ trợ tài chính, vậy ngân hàng có được rót vốn cho công ty chứng khoán khác?

Về vấn đề này, Phó thống đốc Nguyễn Đồng Tiến cho hay, Luật không cấm thìngân hàng vẫn có thể làm, miễn sao quản trị rủi ro phải được tuân thủ, đối với chovay chứng khoán, an toàn phải được đặt hàng đầu Với thông điệp như vậy, tìmkiếm một giải pháp trung hòa cả quyền lợi thị trường chứng khoán và đảm bảo antoàn cho bản thân hệ thống ngân hàng đang là bài toán cần được quan tâm và giảiđáp

2.6 Các yếu tố tiềm ẩn nguy cơ rủi ro tín dụng đối với cho vay đầu tư, kinh doanh chứng khoán

Nhiều ngân hàng thương mại căn cứ vào thị giá của cổ phiếu cầm cố để xácđịnh giá trị tài sản cầm cố và mức cho vay, trong khi thị giá của cổ phiếu có thểbiến động thất thường theo quan hệ cung - cầu trên thị trường và hoạt động kinh

Ngày đăng: 13/03/2023, 12:58

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w