ContentsDANH MỤC BẢNG BIỂU, ĐỒ THỊ .............................................................................IV DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ........................................................................................... V LỜI MỞ ĐẦU ................................................................................................................ VII CHƯƠNG 1. TÁC ĐỘNG CỦA NỢ CÔNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ – ÝNGHĨA CỦA NGƯỠNG NỢ VÀ TRẦN NỢ QUỐC GIA............................................ 11.1.TÁC ĐỘNG CỦA NỢ CÔNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ - BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM .............................................................................................. 11.1.1.Năm quan điểm về tác động của nợ công đến tăng trưởng kinh tế............... 11.1.2.Môi trường kinh tế dẫn đến sự tác động khác nhau của nợ công đối vớităng trưởng kinh tế: so sánh giữa Nigeria và Nam Phi ............................................ 71.1.3.Nợ công vượt ngưỡng 90% GDP thì tăng trưởng kinh tế giảm – Bằng chứng ởcác nước phát triển, mới nổi và nhóm nước sử dụng đồng tiền chung châu Âu. ...... 131.2QUẢN LÝ NỢ CÔNG THEO TRẦN NỢ THÔNG QUA THAM KHẢO NGƯỠNG NỢ CỦA MỖI QUỐC GIA – BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TẠI ẤN ĐỘ ............ 181.2.1.rần nợ –cách xác định trần nợ....................................................................... 181.2.2.Quản lý nợ công theo trần nợ 60 – 65% GDP của Ấn Độ............................... 211.3. IMF KHUYẾN NGHỊ MỨC TRẦN NỢ CÔNG 35-40% GDP CHO CÁC NỀN KINH TẾ MỚI NỔI, TRONG ĐÓ CÓ VIỆT NAM....................................................... 23CHƯƠNG 2: NHỮNG KÊNH TRUYỀN DẪN TRUNG GIAN CỦA NỢ CÔNGĐỐI VỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ.......................................................................... 262.1.CƠ CHẾ TÁC ĐỘNG CỦA NỢ CÔNG LÊN TĂNG TRƯỞNG THÔNG QUA NHỮNG KÊNH TRUYỀN DẪN TRUNG GIAN ......................................................... 262.1.1.Nợ công vượt ngưỡng 82 – 91% GDP, tiết kiệm tư nhân sẽ chững lại ........... 272.1.2.Nợ công vượt ngưỡng 45% - 68% GDP, tỷ lệ đầu tư công giảm dần ............. 292.1.3.Mối quan hệ giữa nợ công và lãi suất là không rõ ràng ................................. 302.1.4.Nợ công tăng cao gây áp lực tăng thuế trong tương lai để ổn định nợ........... 322.2.ĐIỂM KHÁC BIỆT Ở VIỆT NAM VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NỢ CÔNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ THÔNG QUA KÊNH TIẾT KIỆM TRONG NƯỚC VÀ THUẾ -THỐNG KÊ MÔ TẢ GIAI ĐOẠN 1990-2009 .............................................................. 342.2.1.ợ nước ngoài và tiết kiệm trong nước có mối quan hệ ngược chiều – giaiđoạn 1990-2009 ......................................................................................................... 352.2.2.ợ nước ngoài và thuế có mối quan hệ ngược chiều – giai đoạn 1990-2009 . 37CHƯƠNG 3: BÀI HỌC KINH NGHIỆM QUẢN LÝ NỢ CÔNG CỦA INDONESIA, BRAZIL, TRUNG QUỐC VÀ PHILIPPINES – THẤT BẠI VÀ THÀNH CÔNG TỪ SỰ KHÁC NHAU VỀ QUAN ĐIỂM QUẢN LÝ...................... 403.1. THÀNH CÔNG TRONG VIỆC ĐÀM PHÁN GIÃN NỢ VÀ THIẾT LẬP SÁU BƯƠC QUẢN LÝ NỢ CÔNG HIỆU QUẢ CỦA INDONESIA ................................... 41 3.2THÀNH CÔNG TRONG VIỆC PHÁT HÀNH CÁC LOẠI TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ NỘI ĐỊA CỦA BRAZIL ....................................................................................... 463.3CHÚ TRỌNG PHÁT TRIỂN FDI VÀ HỆ THỐNG GIÁM SÁT NGÂN HÀNG CHẶT CHẼ CỦA TRUNG QUỐC................................................................................ 503.4KHÔNG CÓ CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ NỢ CÔNG DÀI HẠN VÀ KẾ HOẠCH TRẢ NỢ HIỆU QUẢ DẪN ĐẾN KHỦNG HOẢNG NỢ Ở PHILIPPINES DƯỚI ẢNH HƯỞNG CỦA KHỦNG HOẢNG DẦU MỎ Ở MEXICO ............................................ 52CHƯƠNG 4: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NỢ CÔNG Ở VIỆT NAM VÀ KHUYẾN NGHỊ GIẢI PHÁP........................................................................................................... 544.1. GIẢI PHÁP THUỘC VỀ KỸ THUẬT QUẢN LÝ NỢ: QUY TRÌNH QUẢN LÝ NỢ CÔNG VIỆT NAM CẦN ĐƯỢC KIỂM SOÁT CHẶT CHẼ VÀ CÓ SỰ THAM GIA CỦA LĨNH VỰC TƯ NHÂN................................................................................. 544.2QUẢN LÝ NỢ CÔNG VỀ MẶT THỂ CHẾ BAO GỒM HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÁP LUẬT, NÂNG CÁO TRÌNH ĐỘ CHUYÊN MÔN NGHIỆP VỤ, KẾT HỢP CÁC CHÍNH SÁCH VÀ PHÂN NHIỆM CHỨC NĂNG QUẢN LÝ PHÙ HỢP 714.2.1. Hoàn thiện hệ thống luật pháp, nâng cao vấn đề đạo đức và chuyên môn nghiệp vụ quản lý cho đội ngũ cán bộ ....................................................................... 714.2.2Chính sách tiền tệ, chính sách tài khoá cần có sự phối hợp hiệu quả để tácđộng tích cực đến tăng trưởng kinh tế ....................................................................... 734.2.3Chức năng và nhiệm vụ của cơ quan quản lý nợ công ..................................... 74KẾT LUẬN ...................................................................................................................... 77PHỤ LỤC ......................................................................................................................... 79PHỤ LỤC A1: THỐNG KÊ THEO THỜI GIAN VỀ DIỄN BIẾN CỦA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ KHI NỢ CÔNG THAY ĐỔI ....................................................... 79PHỤ LỤC A2: NHỮNG KẾT QUẢ THU ĐƯỢC TỪ ƯỚC LƯỢNG MÔ HÌNH HỒIQUY SỰ TÁC ĐỘNG CỦA NỢ CÔNG ĐỐI VỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CỦA NIGERIA VÀ NAM PHI. .............................................................................................. 81PHỤ LỤC A3: MỐI QUAN HỆ TRỰC TIẾP GIỮA NỢ VÀ TĂNG TRƯỞNG GDP THEO ĐẦU NGƯỜI ..................................................................................................... 82PHỤ LỤC A4: QUẢN LÝ NỢ CÔNG THEO TRẦN NỢ 60-65% GDP CỦA ẤN ĐỘ 89PHỤ LỤC A5: SỰ KHÔNG KHOAN NHƯỢNG CỦA NỢ-TRƯỜNG HỢP ẤN ĐỘ. 91PHỤ LỤC A6: STRESS TEST ...................................................................................... 97PHỤ LỤC A7: PHÂN TÍCH CỦA CÁC KÊNH TRUYỀN DẪN THÔNG QUA ĐÓ NỢCÔNG CÓ THỂ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ ............................. 99PHỤ LỤC A8: MỐI QUAN HỆ GIỮA NỢ CÔNG VÀ LÃI SUẤT – BÀI NGHIÊN CỨU CỦA LUIGI MARATTIN VÀ SIMONE SALOTTI (7/2006) ........................... 103PHỤ LỤC A9: SỰ KHÁC BIỆT TRONG ĐỊNH NGHĨA NỢ CÔNG CỦA VIỆT NAM VÀ IMF........................................................................................................................ 107PHỤ LỤC A10: CÂU LẠC BỘ PARIS VÀ CÂU LẠC BỘ LUÂN ĐÔN................... 111PHỤ LỤC A11: BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ ................................................................................................112DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO..................................................................................122 DANH MỤC BẢNG BIỂU, ĐỒ THỊHình 1.1: Nợ công, tăng trưởng: những nền kinh tế phát triển chọn lọc, 1946-2009.Hình 1.2: Nợ công, tăng trưởng và lạm phát: những thị trường mới nổi được chọn lọc, 1946-2009.Hình 1.3: Nợ công định giá bằng đồng nội tệ, 2004 – 2009Hình 2.1: Nợ nước ngoài, tiết kiệm trong nước và tăng trưởng kinh tế Việt Nam (1999- 2009)Hình 2.2: Nợ nước ngoài, thuế và tăng trưởng kinh tế Việt Nam (1999-2009) Hình 3.1: Tỷ lệ nợ ròng/GDP của BrazilHình 3.2: Nợ trong nước và nước ngoài do khu vực công nắm giữHình 3.3: Cơ cấu nợ công nước ngoài theo đồng tiềnHình 3.4: DPMFi (Nợ nội địa) nắm giữ bởi khu vực côngHình 4.1: Dư nợ nước ngoài của Chính Phủ và được Chính Phủ bảo lãnh (2005-2009) Hình 4.2: Xu hướng nợ công và các loại nợ công Việt Nam, Cơ cấu nợ công Việt Nam 2009.Hình 4.3: Nợ của Doanh nghiệp Nhà nước và Chính phủ năm 2008 và 2009Hình 4.4: Tỷ lệ các loại tiền định danh các khoản nợ công của Việt Nam DANH MỤC TỪ VIẾT TẮTKý hiệuTên Tiếng AnhTên Tiếng ViệtADBAsia Development BankNgân hàng phát triển Châu ÁEMUEuropean Monetary UnionLiên minh Tiền tệ Châu ÂuFDIForeign Direct InvestmentĐầu tư trực tiếp nước ngoàiGDPGross Domestic productTổng sản phẩm quốc nộiGNPGross National ProductTổng sản lượng quốc giaGNIGross National IncomeTổng thu nhập quốc dânGoIGovernment of IndonesiaChính phủ của IndonesiaINDRAIndonesianDebtRestructuringAgencyTái cấu trúc nợ IndonesiaIMFInternational Monetary FundQuỹ Tiền tệ quốc tếJITFJakarta Initiative Task ForceLực lượng hỗ trợ nhiệm vụ củaJakartaOECDOrganization for Economic Co-operation and DevelopmentTổ chức hợp tác và phát triểnkinh tế PPGPublic and Publicly GuaranteedNợ nước ngoài được bảo lãnhSOEsState owned EnterprisesDoanh nghiệp nhà nướcVDBVietNam Development BankNgân hàng phát triển Việt NamTABMISTreasuryandBudgetManagement Information SystemHệ thống thông tin quản lý vềkho bạc và ngân sáchTFPTotal factor ProductivityTổng năng suất các yếu tốUNDPUnitedNationsDevelopmentProgrammeChương trình Phát triển Liên hiệpquốcVECMVector Error Correction ModelMô hình vecto tự hồi quyWBWorld BankNgân hàng thế giới LỜI MỞ ĐẦUNợ công đang gia tăng ở các quốc gia trên toàn thế giới do ảnh hưởng trầm trọng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Sự gia tăng trong nợ công đã làm tăng thêm những lo ngại liệu rằng nợ công sẽ tác động như thế nào đến tăng trưởng kinh tế? Cơ chế tác động của nó? Cơ sở nào để xác định sự tác động đó? Và có những bằng chứng lịch sử giúp củng cố những quan điểm đã đưa ra không?Chúng tôi xem xét rất nhiều các quan điểm về mối quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế và tiến hành thu thập bằng chứng thực nghiệm qua các nước, nhóm quốc gia khác nhau. Chúng tôi đã rút ra được những kết luận quan trọng. Thứ nhất, các nước có bối cảnh kinh tế khác nhau sẽ có ngưỡng nợ công khác nhau thông qua tìm hiểu nợ công của Nigeria và Nam Phi. Thứ hai, nợ công tác động phi tuyến đến tăng trưởng kinh tế. Nhóm 20 nước phát triển và 24 nước đang phát triển mà chúng tôi đề cập đến trong bài nghiên cứu đều có ngưỡng nợ là 90% GDP. Khi nợ dưới ngưỡng 90% GDP thì nợ càng tăng, tốc độ tăng trưởng kinh tế càng tăng. Khi nợ trên ngưỡng này, tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm khi nợ tăng, cụ thể là ở các nước phát triển, tốc độ tăng trưởng bình quân giảm đột ngột từ 5% xuống thấp hơn 0%; ở nhóm nước mới nổi, tốc độ tăng trưởng bình quân giảm từ 4% xuống còn 1%. Kết quả ngưỡng nợ 90% GDP của các nước Khu vực Đồng tiền chung Châu Âu củng cố thêm một cách vững chắc cho mối quan hệ phi tuyến giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế. Thứ ba, trần nợ là chỉ tiêu quản lý nợ tốt hơn ngưỡng nợ. Chúng tôi cũng tìm hiểu ngưỡng nợ của Ấn Độ và thấy rằng Ấn Độ đang chịu gánh nặng nợ lớn 78% GDP 2008/2009 và Ấn Độ đề nghị 4 kịch bản để đưa nợ công về “trần nợ” thận trọng 60 – 65% GDP. Tuy nhiên, ngưỡng nợ mà IMF khuyến nghị cho các nền kinh tế mới nổi trong đó có Việt Nam lại là 35-40% GDP để có thể tạo ra được một khoảng trống tiếp nhận các rủi ro tiềm ẩn và không thể đo lường hết.Nợ công tác động đến tăng trưởng kinh tế thông qua một số kênh truyền dẫn, trong đó chúng tôi nghiên cứu 4 kênh sau: tiết kiệm tư, đầu tư công, lãi suất dài hạn và thuế. Lưu ý rằng, nợ công tác động lên lãi suất dài hạn là không rõ ràng.
Trang 1MỤC LỤC
-
CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
“NHÀ KINH TẾ TRẺ – NĂM 2011”
TÊN CÔNG TRÌNH:
MỐI QUAN HỆ GIỮA NGƯỠNG NỢ VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ – VẤN ĐỀ
QUẢN LÝ NỢ CÔNG Ở VIỆT NAM
THUỘC NHÓM NGÀNH: KHOA HỌC KINH TẾ
Trang 2DANH MỤC BẢNG BIỂU, ĐỒ THỊ IV DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT V LỜI MỞ ĐẦU VII CHƯƠNG 1 TÁC ĐỘNG CỦA NỢ CÔNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ – Ý
NGHĨA CỦA NGƯỠNG NỢ VÀ TRẦN NỢ QUỐC GIA 1
1.1 TÁC ĐỘNG CỦA NỢ CÔNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ - BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM 1
1.1.1 Năm quan điểm về tác động của nợ công đến tăng trưởng kinh tế 1
1.1.2 Môi trường kinh tế dẫn đến sự tác động khác nhau của nợ công đối với tăng trưởng kinh tế: so sánh giữa Nigeria và Nam Phi 7
1.1.3 Nợ công vượt ngưỡng 90% GDP thì tăng trưởng kinh tế giảm – Bằng chứng ở các nước phát triển, mới nổi và nhóm nước sử dụng đồng tiền chung châu Âu 13
1.2QUẢNLÝNỢCÔNGTHEOTRẦNNỢTHÔNGQUATHAMKHẢONGƯỠNG NỢCỦAMỖIQUỐCGIA–BẰNGCHỨNGTHỰCNGHIỆMTẠIẤNĐỘ 18
1.2.1 Trần nợ –cách xác định trần nợ 18
1.2.2 Quản lý nợ công theo trần nợ 60 – 65% GDP của Ấn Độ 21
1.3.IMFKHUYẾNNGHỊMỨCTRẦNNỢCÔNG35-40%GDPCHOCÁCNỀN KINHTẾMỚINỔI,TRONGĐÓCÓVIỆTNAM 23
CHƯƠNG 2: NHỮNG KÊNH TRUYỀN DẪN TRUNG GIAN CỦA NỢ CÔNG ĐỐI VỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 26
2.1.CƠCHẾTÁCĐỘNGCỦANỢCÔNGLÊNTĂNGTRƯỞNGTHÔNGQUA NHỮNGKÊNHTRUYỀNDẪNTRUNGGIAN 26
2.1.1 Nợ công vượt ngưỡng 82 – 91% GDP, tiết kiệm tư nhân sẽ chững lại 27
2.1.2 Nợ công vượt ngưỡng 45% - 68% GDP, tỷ lệ đầu tư công giảm dần 29
2.1.3 Mối quan hệ giữa nợ công và lãi suất là không rõ ràng 30
2.1.4 Nợ công tăng cao gây áp lực tăng thuế trong tương lai để ổn định nợ 32
2.2.ĐIỂMKHÁCBIỆTỞVIỆTNAMVÀTÁCĐỘNGCỦANỢCÔNGĐẾNTĂNG TRƯỞNGKINHTẾTHÔNGQUAKÊNHTIẾTKIỆMTRONGNƯỚCVÀTHUẾ -THỐNGKÊMÔTẢGIAIĐOẠN1990-2009 34
2.2.1 Nợ nước ngoài và tiết kiệm trong nước có mối quan hệ ngược chiều – giai đoạn 1990-2009 35
2.2.2 Nợ nước ngoài và thuế có mối quan hệ ngược chiều – giai đoạn 1990-2009 37 CHƯƠNG 3: BÀI HỌC KINH NGHIỆM QUẢN LÝ NỢ CÔNG CỦA INDONESIA, BRAZIL, TRUNG QUỐC VÀ PHILIPPINES – THẤT BẠI VÀ THÀNH CÔNG TỪ SỰ KHÁC NHAU VỀ QUAN ĐIỂM QUẢN LÝ 40
3.1.THÀNHCÔNGTRONGVIỆCĐÀMPHÁNGIÃNNỢVÀTHIẾTLẬPSÁU BƯƠCQUẢNLÝNỢCÔNGHIỆUQUẢCỦAINDONESIA 41
Trang 3PHỦNỘIĐỊACỦABRAZIL 46
3.3CHÚTRỌNGPHÁTTRIỂNFDIVÀHỆTHỐNGGIÁMSÁTNGÂNHÀNG CHẶTCHẼCỦATRUNGQUỐC 50
3.4KHÔNGCÓCHÍNHSÁCHQUẢNLÝNỢCÔNGDÀIHẠNVÀKẾHOẠCH TRẢNỢHIỆUQUẢDẪNĐẾNKHỦNGHOẢNGNỢỞPHILIPPINESDƯỚIẢNH HƯỞNGCỦAKHỦNGHOẢNGDẦUMỎỞMEXICO 52
CHƯƠNG 4: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NỢ CÔNG Ở VIỆT NAM VÀ KHUYẾN NGHỊ GIẢI PHÁP 54
4.1.GIẢIPHÁPTHUỘCVỀKỸTHUẬTQUẢNLÝNỢ:QUYTRÌNHQUẢNLÝ NỢCÔNGVIỆTNAMCẦNĐƯỢCKIỂMSOÁTCHẶTCHẼVÀCÓSỰTHAM GIACỦALĨNHVỰCTƯNHÂN 54
4.2QUẢNLÝNỢCÔNGVỀMẶTTHỂCHẾBAOGỒMHOÀNTHIỆNHỆ THỐNGPHÁPLUẬT,NÂNGCÁOTRÌNHĐỘCHUYÊNMÔNNGHIỆPVỤ,KẾT HỢPCÁCCHÍNHSÁCHVÀPHÂNNHIỆMCHỨCNĂNGQUẢNLÝPHÙHỢP 71 4.2.1 Hoàn thiện hệ thống luật pháp, nâng cao vấn đề đạo đức và chuyên môn nghiệp vụ quản lý cho đội ngũ cán bộ 71
4.2.2 Chính sách tiền tệ, chính sách tài khoá cần có sự phối hợp hiệu quả để tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế 73
4.2.3 Chức năng và nhiệm vụ của cơ quan quản lý nợ công 74
KẾT LUẬN 77
PHỤ LỤC 79
PHỤLỤCA1:THỐNGKÊTHEOTHỜIGIANVỀDIỄNBIẾNCỦATĂNG TRƯỞNGKINHTẾKHINỢCÔNGTHAYĐỔI 79
PHỤLỤCA2:NHỮNGKẾTQUẢTHUĐƯỢCTỪ ƯỚCLƯỢNGMÔHÌNHHỒI QUYSỰTÁCĐỘNGCỦANỢCÔNGĐỐIVỚITĂNGTRƯỞNGKINHTẾCỦA NIGERIAVÀNAMPHI 81
PHỤLỤCA3:MỐIQUANHỆTRỰCTIẾPGIỮANỢVÀTĂNGTRƯỞNGGDP THEOĐẦUNGƯỜI 82
PHỤLỤCA4:QUẢNLÝNỢCÔNGTHEOTRẦNNỢ60-65%GDPCỦAẤNĐỘ 89 PHỤLỤCA5:SỰKHÔNGKHOANNHƯỢNGCỦANỢ-TRƯỜNGHỢPẤNĐỘ 91 PHỤLỤCA6:STRESSTEST 97
PHỤLỤCA7:PHÂNTÍCHCỦACÁCKÊNHTRUYỀNDẪNTHÔNGQUAĐÓNỢ CÔNGCÓTHỂẢNHHƯỞNGĐẾNTĂNGTRƯỞNGKINHTẾ 99
PHỤLỤCA8:MỐIQUANHỆGIỮANỢCÔNGVÀLÃISUẤT–BÀINGHIÊN CỨUCỦALUIGIMARATTINVÀSIMONESALOTTI(7/2006) 103
PHỤLỤCA9:SỰKHÁCBIỆTTRONGĐỊNHNGHĨANỢCÔNGCỦAVIỆTNAM VÀIMF 107
PHỤLỤCA10:CÂULẠCBỘPARISVÀCÂULẠCBỘLUÂNĐÔN 111
PHỤLỤCA11:BIỂUĐỒ,HÌNHVẼ 112
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 122
Trang 4DANH MỤC BẢNG BIỂU, ĐỒ THỊ
Hình 1.1: Nợ công, tăng trưởng: những nền kinh tế phát triển chọn lọc, 1946-2009
Hình 1.2: Nợ công, tăng trưởng và lạm phát: những thị trường mới nổi được chọn lọc, 1946-2009
Hình 1.3: Nợ công định giá bằng đồng nội tệ, 2004 – 2009
Hình 2.1: Nợ nước ngoài, tiết kiệm trong nước và tăng trưởng kinh tế Việt Nam 2009)
(1999-Hình 2.2: Nợ nước ngoài, thuế và tăng trưởng kinh tế Việt Nam (1999-2009)
Hình 3.1: Tỷ lệ nợ ròng/GDP của Brazil
Hình 3.2: Nợ trong nước và nước ngoài do khu vực công nắm giữ
Hình 3.3: Cơ cấu nợ công nước ngoài theo đồng tiền
Hình 3.4: DPMFi (Nợ nội địa) nắm giữ bởi khu vực công
Hình 4.1: Dư nợ nước ngoài của Chính Phủ và được Chính Phủ bảo lãnh (2005-2009) Hình 4.2: Xu hướng nợ công và các loại nợ công Việt Nam, Cơ cấu nợ công Việt Nam
2009
Hình 4.3: Nợ của Doanh nghiệp Nhà nước và Chính phủ năm 2008 và 2009
Hình 4.4: Tỷ lệ các loại tiền định danh các khoản nợ công của Việt Nam
Trang 5
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Agency
Tái cấu trúc nợ Indonesia
JITF Jakarta Initiative Task Force Lực lượng hỗ trợ nhiệm vụ của
Jakarta
Co-operation and Development
Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
Trang 6PPG Public and Publicly Guaranteed Nợ nước ngoài được bảo lãnh
TABMIS Treasury and Budget
Management Information System
Hệ thống thông tin quản lý về kho bạc và ngân sách
Programme
Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc
VECM Vector Error Correction Model Mô hình vecto tự hồi quy
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
Nợ công đang gia tăng ở các quốc gia trên toàn thế giới do ảnh hưởng trầm trọng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu Sự gia tăng trong nợ công đã làm tăng thêm những lo ngại liệu rằng nợ công sẽ tác động như thế nào đến tăng trưởng kinh tế? Cơ chế tác động của nó? Cơ sở nào để xác định sự tác động đó? Và có những bằng chứng lịch sử giúp củng cố những quan điểm đã đưa ra không?
Chúng tôi xem xét rất nhiều các quan điểm về mối quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế và tiến hành thu thập bằng chứng thực nghiệm qua các nước, nhóm quốc
gia khác nhau Chúng tôi đã rút ra được những kết luận quan trọng Thứ nhất, các nước
có bối cảnh kinh tế khác nhau sẽ có ngưỡng nợ công khác nhau thông qua tìm hiểu nợ
công của Nigeria và Nam Phi Thứ hai, nợ công tác động phi tuyến đến tăng trưởng kinh
tế Nhóm 20 nước phát triển và 24 nước đang phát triển mà chúng tôi đề cập đến trong bài nghiên cứu đều có ngưỡng nợ là 90% GDP Khi nợ dưới ngưỡng 90% GDP thì nợ càng tăng, tốc độ tăng trưởng kinh tế càng tăng Khi nợ trên ngưỡng này, tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm khi nợ tăng, cụ thể là ở các nước phát triển, tốc độ tăng trưởng bình quân giảm đột ngột từ 5% xuống thấp hơn 0%; ở nhóm nước mới nổi, tốc độ tăng trưởng bình quân giảm từ 4% xuống còn 1% Kết quả ngưỡng nợ 90% GDP của các nước Khu vực Đồng tiền chung Châu Âu củng cố thêm một cách vững chắc cho mối quan hệ phi
tuyến giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế Thứ ba, trần nợ là chỉ tiêu quản lý nợ tốt hơn
ngưỡng nợ Chúng tôi cũng tìm hiểu ngưỡng nợ của Ấn Độ và thấy rằng Ấn Độ đang chịu gánh nặng nợ lớn 78% GDP 2008/2009 và Ấn Độ đề nghị 4 kịch bản để đưa nợ công
về “trần nợ” thận trọng 60 – 65% GDP Tuy nhiên, ngưỡng nợ mà IMF khuyến nghị cho các nền kinh tế mới nổi trong đó có Việt Nam lại là 35-40% GDP để có thể tạo ra được một khoảng trống tiếp nhận các rủi ro tiềm ẩn và không thể đo lường hết
Nợ công tác động đến tăng trưởng kinh tế thông qua một số kênh truyền dẫn, trong
đó chúng tôi nghiên cứu 4 kênh sau: tiết kiệm tư, đầu tư công, lãi suất dài hạn và thuế Lưu ý rằng, nợ công tác động lên lãi suất dài hạn là không rõ ràng
Trang 8Sự tác động của nợ công đến tăng trưởng kinh tế cần được kiểm soát trong một môi trường quản lý nợ công hiệu quả, do đó, chúng tôi xem xét kinh nghiệm quản lý nợ công của Indonesia, Brazil, Trung Quốc và Philippines Đồng thời phân tích tình trạng nợ công Việt Nam hiện tại để đề xuất những khuyến nghị về quản lý nợ công cho Chính Phủ, cụ thể hơn là cho Bộ Tài Chính để nợ công thật sự là một công cụ tài chính tốt giúp phát triển đất nước
Đối với bài nghiên cứu này, chúng tôi sẽ thiết kế nội dung thành 4 chương lớn, không tuân theo khuôn mẫu những bài nghiên cứu truyền thống với 3 chương chủ đạo, lý thuyết, thực trạng và giải pháp, mà trong bài viết này, với mỗi chương, chúng tôi bố cục theo dạng giải quyết sáng tỏ từng vấn đề, trong đó, bao gồm lý thuyết tổng quan về vấn
đề được đưa ra, những bằng chứng thực nghiệm trên thế giới và liên hệ ngay đến Việt Nam
Chương 1: Chúng tôi tiến hành dẫn chứng những quan điểm của nhiều nhà kinh tế học và những phương pháp tính toán khác nhau để minh chứng cho một nhận định chung: nợ công thực sự tác động đến tăng trưởng kinh tế Với mỗi quốc gia, nhóm quốc
gia, kể cả Việt Nam, chúng tôi sẽ trình bày lý thuyết, phương pháp đo lường sự tác động
và kết quả thu được để làm bằng chứng thực nghiệm cho nhận định sự tác động của nợ công đến tăng trưởng kinh tế thông qua:
- Nigeria và Nam Phi
- Nhóm nước phát triển và đang phát triển
- Khu vực sử dụng đồng tiền chung Châu Âu
Đồng thời, chương 1 còn đưa ra lý thuyết xoay quanh vấn đề ngưỡng nợ và trần nợ phù hợp của một quốc gia
Trang 9công, lãi suất dài hạn và thuế, bằng chứng thực nghiệm thu được từ các nước trên thế giới và liên hệ Việt Nam
- Khu vực sử dụng đồng tiền chung Châu Âu
- Thống kê mô tả đối với Việt Nam
Chương 3: Bài học kinh nghiệm quản lý nợ công của Indonesia, Brazil, Trung Quốc và Philippines – thất bại và thành công từ sự khác nhau về quan điểm quản lý
Hầu hết những thành công đều xuất phát từ việc phát triển thị trường trái phiếu Chính Phủ, gia tăng huy động đầu tư trực tiếp FDI, và hệ thống kiểm soát tài chính quốc gia chặt chẽ
Bên cạnh đó, sự thất bại trong việc quản lý nợ công xảy ra, điển hình với Philippines là do không có chính sách vay mượn và kế hoạch trả nợ phù hợp, dẫn đến vượt ngoài khả năng kiểm soát
Chương 4: Khuyến nghị giải pháp đối với Chính Phủ Việt Nam trong việc quản lý
nợ công và chính sách tài chính công nói chung
Trong chương này, chúng tôi trình bày thực trạng nợ công và quản lý nợ công tại Việt Nam Thông qua việc phân tích thực trạng đã nêu trên và nghiên cứu kinh nghiệm các nước, chúng tôi khuyến nghị các giải pháp quản lý nợ công cho Việt Nam
Trang 10CHƯƠNG 1 TÁC ĐỘNG CỦA NỢ CÔNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ – Ý NGHĨA CỦA NGƯỠNG NỢ VÀ TRẦN NỢ QUỐC GIA
“Nợ công là một trong những nguồn cần thiết của cấu trúc vốn mỗi quốc gia Nó góp phần tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn, nhưng lại gây tổn hại cho nền kinh tế trong dài hạn, do gánh nặng thực hiện nghĩa vụ nợ cả vốn gốc và lãi Theo tính toán của những nhà kinh tế học, khi vay nợ tăng vượt ngưỡng 90-100% GDP, tốc độ tăng trưởng kinh tế sẽ suy giảm với tất cả các nhóm nước, nhóm nước phát triển, mới nổi và cả khu vực sử dụng đồng tiền chung Châu Âu Tuy nhiên, môi trường kinh tế khác nhau lại đưa ra kết quả tác động khác nhau của nợ công đối với tăng trưởng kinh
tế, minh chứng cụ thể với Nigeria và Nam Phi Do đó, quản lý nợ công của mỗi quốc gia đòi hỏi phải dựa trên trần nợ hợp lý, tạo khoảng trống bù đắp những rủi ro tiềm ẩn phát sinh thông qua tham khảo ngưỡng nợ tính toán được phù hợp cho mỗi quốc gia Mức trần nợ này được IMF khuyến nghị là khoảng 35-40% GDP đối với những nước mới nổi
và trong đó có Việt Nam.”
1.1 Tác động của nợ công đến tăng trưởng kinh tế - Bằng chứng thực nghiệm
1.1.1 Năm quan điểm về tác động của nợ công đến tăng trưởng kinh tế
Khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 diễn ra đưa đến những hậu quả rất nặng nề cho nền kinh tế thế giới, theo đó, nhiều vấn đề về quản trị tài chính quốc gia được lật lại nhưng nổi trội hơn hẳn là vấn đề nợ công Những câu hỏi liên tục được đặt ra: Sức mạnh của nợ công và ảnh hưởng của nó đến tăng trưởng kinh tế là gì? Chính Phủ cần phải lưu ý những vấn đề gì trong chính sách quản lý nợ công nói riêng và tài chính công nói chung? Với mục tiêu trọng tâm hướng về chính sách quản lý nợ công của các quốc gia trên thế giới và từ đó đưa ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam, phần đầu tiên trong bài nghiên cứu, chúng tôi sẽ trình bày mối quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế - nguyên nhân giúp Chính Phủ nhận thấy cần phải có một chính sách quản lý nợ công phù hợp để đảm bảo tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế
Qua nghiên cứu và tìm hiểu những quan điểm của các nhà kinh tế học trên thế giới, chúng tôi tìm ra được năm quan điểm như sau:
Trang 11Thứ nhất, nợ công là một nguồn rất cần thiết thuộc cấu trúc vốn tài chính của các quốc gia, đặc biệt là những quốc gia đang phát triển, góp phần vào sự phát triển kinh tế đất nước trong ngắn hạn, nhưng trong dài hạn có nguy cơ gây tổn hại cho nền kinh tế bởi những yêu cầu thanh toán cả vốn gốc và lãi của nó
Theo quan điểm của Folorunso S Ayadi và Felix O Ayadi (2008)1, nợ là một trong
những nguồn thuộc cấu trúc vốn tài chính của bất kỳ một nền kinh tế nào, đặc biệt, đối với những đất nước đang phát triển thuộc Châu Phi, Châu Á, Châu Mỹ La Tinh, đặc trưng bởi một cấu trúc vốn nội bộ không thỏa đáng, do đó, luôn gặp phải vòng luẩn quẩn của năng suất thấp do thiếu nguồn vốn đầu tư nâng cấp và xây dựng cơ sở hạ tầng, cập nhật công nghệ kỹ thuật, rồi dẫn đến thu nhập thấp, kéo theo là tiết kiệm cũng thấp và tiếp tục quay lại với cấu trúc vốn nội bộ thiếu thốn Vì vậy, lúc này, những kiến thức thuộc về chuyên môn, bộ máy quản lý tài chính quốc gia và sự hỗ trợ tài chính từ những nước Phương Tây để khắc phục sự khó khăn về nguồn lực là điều trở nên rất cần thiết Mặt khác, nợ nước ngoài như là một sự ràng buộc chính yếu đến cấu trúc vốn của những quốc gia đang phát triển Trong hầu hết các trường hợp, nợ dồn tích lại bởi vì những yêu cầu thanh toán cả vốn gốc và lãi của nó, do đó, nợ dần trở nên không góp phần một cách đáng kể cho sự phát triển kinh tế tại những đất nước đang phát triển trong dài hạn Phát
triển những ý tưởng trên, theo Elmendorf và Mankiw (1999)2, nợ công có ảnh hưởng quan trọng đến nền kinh tế cả trong ngắn và dài hạn Các khoản nợ (phản ánh tài trợ thâm hụt)
có thể kích thích tổng cầu và sản lượng trong ngắn hạn do lượng vốn cung cấp cho nền kinh tế tăng cao, đáp ứng nhu cầu huy động vốn của những cá nhân và tổ chức trong nền kinh tế, nhưng chèn lấn vốn đầu tư và làm giảm sản lượng trong dài hạn Nợ công cao có thể ảnh hưởng bất lợi đến tích lũy vốn và tăng trưởng thông qua lãi suất dài hạn cao hơn, bóp méo hệ thống thuế trong tương lai cao hơn, lạm phát và sự không chắc chắn cao hơn
Trang 12Có thể nói rằng: trong ngắn hạn, nợ công tác động tích cực lên tăng trưởng kinh tế bởi cung cấp một lượng vốn thiết yếu đối với chi tiêu cho đầu tư phát triển của quốc gia, nâng cao năng suất nhưng kèm theo đó là những nghĩa vụ nợ phải thực hiện trong tương lai, dẫn đến những ảnh hưởng bất lợi đến tích lũy vốn và tăng trưởng kinh tế dài hạn nếu không có một chính sách quản lý nợ công phù hợp và hữu hiệu
Thứ hai, đối với những quốc gia phát triển và những nền kinh tế thị trường mới nổi, mối quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế biểu hiện rõ nhất khi nợ vượt mức 90-100% GDP; lúc này, nợ càng tăng, tăng trưởng kinh tế giảm đáng kể
Theo M Reinhart và S Rogoff3, hai nhà kinh tế học nổi tiếng về nghiên cứu lĩnh vực nợ công, đã xem xét mối quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế với các mức độ khác nhau của nợ công ở những nền kinh tế tiên tiến và mới nổi, dựa trên chuỗi số liệu quá khứ dài hạn và mô tả thực nghiệm đã đưa ra kết quả tác động phi tuyến của nợ công đối với tăng trưởng kinh tế Nghiên cứu gần đây (2010) được thực hiện bởi hai tác giả này, thông qua thống kê tương quan đơn giản về những mức khác nhau của nợ công và tốc độ tăng trưởng GDP thực dài hạn trong mẫu 20 quốc gia phát triển4 trải dài khoảng hai thế
kỷ (1790 – 2009), và mẫu 24 nền kinh tế thị trường mới nổi5 giai đoạn 1946-2009 nhận thấy rằng: (i) mối quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng dài hạn thì yếu đối với tỷ số nợ/GDP dưới ngưỡng 90% GDP; (ii) trên 90%, khi nợ tăng, tốc độ tăng trưởng giảm đáng kể Điều này sẽ được trình bày rõ hơn ở phần bằng chứng thực nghiệm tiếp theo và bảng thống kê về nợ và tăng trưởng kinh tế của một số quốc gia chọn lọc trong phần phụ lục A1
Như vậy, đây chính là điểm mấu chốt trong việc đề ra những chính sách quản lý nợ công
và trần nợ công phù hợp cho mỗi quốc gia dựa vào ngưỡng nợ cảnh báo, từ đó, tránh vay
Trang 13mượn quá đà, rơi vào trạng thái mất khả năng chi trả và ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế
Thứ ba, có thể xem xét sự tác động của nợ công lên tăng trưởng kinh tế thông qua
dữ liệu nợ nước ngoài cùng với những rủi ro và hệ lụy mà nó đưa lại: sự không khuyến khích đầu tư, giới hạn sự tham gia của các quốc gia đang phát triển với nền kinh tế toàn cầu, sự trống rỗng trong dự trữ ngoại hối quốc gia, cứng nhắc trong chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa
Một số nghiên cứu của Krugman (1988) và Sachs (1989)6 đã xem xét tác động của
nợ công lên tăng trưởng kinh tế thông qua sự tác động của một yếu tố đóng vai trò quan trọng: đó là nợ nước ngoài, lên tăng trưởng kinh tế ở những nền kinh tế đang phát triển Hầu hết động cơ của các nghiên cứu này là giả thuyết "số dư nợ quá mức" – một tình huống trong đó, gánh nặng nghĩa vụ nợ của một quốc gia là quá nặng đến nỗi một phần sản lượng lớn phải tích lũy cho các chủ nợ nước ngoài và do đó gây nên sự không khuyến
khích đầu tư Cũng theo đánh giá của Ayadi (1999) và Ayadi et al (2003)7, gánh nặng nợ nước ngoài đã giới hạn sự tham gia của những quốc gia đang phát triển với nền kinh tế toàn cầu và kèm theo đó là những nghĩa vụ nợ đã gây trở ngại đến tăng trưởng và phát triển kinh tế Khi vay nợ của một quốc gia tăng lên và càng cao, những e ngại về vấn đề mất khả năng chi trả được đặt nặng, các quốc gia khác tiến hành thẩm định môi trường đầu tư kỹ càng hơn và từ đó, đưa ra những điều khoản khắt khe hơn gây ảnh hưởng đến hội nhập kinh tế của nền kinh tế chính quốc Hơn thế nữa, gánh nặng nợ quốc gia gây cản trở chi tiêu công cho đầu tư phát triển, hạn chế việc tích lũy nguồn vốn (sự trống rỗng trong dự trữ) và có khuynh hướng cản trở áp dụng những chính sách tiền tệ linh hoạt để củng cố những doanh nghiệp vừa và nhỏ do nguồn thu được phải đáp ứng phần lớn nghĩa
vụ nợ cả gốc và lãi Điều này đã ảnh hưởng một cách gián tiếp đến việc làm, học vấn và
sự bần cùng, nghèo khó của người dân trong một quốc gia
6 Manmohan S Kumar và Jaejoon Woo, “Public Debt and Growth”, 2010, IMF Working Paper Fiscal Affairs
Department
7 Folorunso S Ayadi, University of Lagos; Felix O Ayadi, Texas Southern University; “The impact of external debt
on economic growth: A comparative study of Nigeria and South Africa”; 2008.
Trang 14Thứ tư, tăng trưởng kinh tế, tiết kiệm và đầu tư có mối quan hệ với nhau, khi vốn nội địa không đủ để tài trợ cho chi tiêu đầu tư trong nước thì vay nợ là tất yếu để phục vụ phát triển kinh tế Tuy nhiên, vay nợ luôn kèm theo những rủi ro do lãi suất, thời hạn, cơ cấu vay mượn, gây ảnh hưởng tiêu cực lên tăng trưởng kinh tế, do đó vấn đề quản lý nợ hiệu quả đang trở nên cấp thiết
Theo Hunt (2007) 8, sự tăng lên trong tiết kiệm và đầu tư của nền kinh tế dẫn đến
tăng trưởng kinh tế Sachs (2002) tranh luận rằng sự tăng trưởng sẽ không tăng cho đến
khi tổng lượng vốn tăng đạt đến một ngưỡng nhất định Khi lượng vốn tăng, đầu tư và sản lượng đầu ra tăng, trong vòng xoắn tiến lên, tiết kiệm sẽ tiếp tục tăng Sau khi đạt được một mức độ, sự tăng lên trong cả vốn và tiết kiệm sẽ kích thích sự tăng lên trong tăng trưởng một cách tự lực Lý thuyết “dual-gap” nói rằng đầu tư là một hàm của tiết kiệm, và trong những quốc gia đang phát triển, mức độ tiết kiệm nội địa không đủ để tài trợ cho đầu tư cần thiết để đảm bảo phát triển kinh tế, vì vậy, thật hợp lý khi tìm kiếm sử
dụng những sản phẩm và dịch vụ từ bên ngoài Colaco (1985) đã giải thích tính chất nhạy
cảm của việc thanh toán nợ đối với những nước đang phát triển thông qua sử dụng ba kịch bản: (i) quy mô khoản nợ nước ngoài đạt đến một mức độ mà lớn hơn so với vốn tự
có, dẫn đến sự không cân bằng giữa nợ và vốn tự có; (ii) tỷ lệ nợ với lãi suất thả nổi tăng đột ngột, vì vậy những người vay mượn phải đối mặt trực tiếp với việc lãi suất tăng cao; (iii) thời hạn vay rút ngắn đáng kể, một phần bởi vì sự giảm đi của những nguồn chính
thức Bên cạnh đó, Mehran (1986) cho rằng quản lý nợ tương xứng là thiết yếu trong môi
trường tài chính ngày càng phức tạp Mehran cũng xác định môi trường quản lý nợ là sự kết hợp về chính sách, môi trường kiểm soát, kế toán, phân tích thống kê và những yếu tố khác như chính sách minh bạch và chống tham nhũng, sự cải tiến của cấu trúc quản lý nợ
và quá trình đưa ra quyết định Vấn đề tiếp theo trong việc nhận và quản lý nợ là quyết định quy mô nợ thực tế Vay mượn nước ngoài trong thực tế được đo lường bởi những tỷ
số riêng, ví dụ như nợ trên xuất khẩu, thanh toán nợ trên xuất khẩu, nợ trên GDP (hoặc GNP), và nợ nước ngoài so với tổng thu nhập quốc dân (GNI) Tuy nhiên, quyết định
8 Folorunso S Ayadi, University of Lagos; Felix O Ayadi, Texas Southern University; “The impact of external debt
on economic growth: A comparative study of Nigeria and South Africa”; 2008.
Trang 15mức phù hợp của những chỉ số này khó xác định và việc hữu ích bây giờ là giảm thiểu nguy cơ bùng nổ trong tăng trưởng nợ nước ngoài Ví dụ, nếu nợ nước ngoài tăng cao, thanh toán gánh nặng nợ cao hơn so với khả năng chịu đựng gánh nặng nợ của quốc gia, việc nhận nợ sẽ trở nên rắc rối và tình huống này phải được đảo ngược thông qua mở rộng xuất khẩu; nếu xuất khẩu không được mở rộng, vay mượn nhiều hơn sẽ cần thiết cho thanh toán nợ, và nợ nước ngoài sẽ chồng chất vượt quá khả năng chịu đựng của một quốc gia
Do đó, điều cần tham khảo ở đây chính là xác định đúng những yếu tố thuộc môi trường quản lý nợ công của mỗi quốc gia, đặc trưng vốn có của chúng để có thể đề ra được chính sách quản lý phù hợp: môi trường kiểm soát, hệ thống kế toán nợ công, vấn
đề thực hiện minh bạch và chống tham nhũng, quy trình ra quyết định khi vay nợ và xét duyệt dự án
Thứ năm, nợ tích lũy theo thời gian và dòng chi trả nợ đã gây cản trở lớn đến tăng trưởng kinh tế do những trở ngại thuế khóa, bất ổn vĩ mô và sự giảm bớt chi tiêu cho đầu
tư phát triển của Chính Phủ
Cohen (1993) và Clements et al (2003) cũng làm vững thêm cho tác động đã nói ở
trên của nợ, như họ quan sát thấy tác động tiêu cực của nợ lên tăng trưởng không chỉ thông qua sự tồn đọng của nợ, mà còn thông qua dòng chi trả nợ, điều mà giống như sự giảm bớt chi tiêu cho đầu tư Chính Phủ Điều này rất quan trọng cho việc đánh giá, xem xét vì chi tiêu công được xem là yếu tố quyết định chủ yếu của các hoạt động kinh tế trong nhiều vấn đề chức năng Nợ tích lũy làm giảm sức mạnh của nền kinh tế thông qua tác động “nợ tăng thêm” với trở ngại thuế khóa và bất ổn định vĩ mô Trở ngại thuế khóa nghĩa là tồn nợ lớn không khuyến khích đầu tư vì những người đầu tư tiềm năng nhận thấy rằng sẽ có thuế cao hơn trên thu nhập tương lai để tạo nên khoản hoàn trả nợ Bất ổn
vĩ mô có liên quan đến việc gia tăng thiếu hụt tài chính, không chắc chắn do sự huy động vốn bất thường, sự suy giảm giá trị đồng nội tệ, mở rộng tiền tệ và lạm phát dự đoán
Tóm lại, theo phân tích của giới kinh tế học trên thế giới, nợ công là thành phần không thể thiếu được trong cấu trúc tài chính của mỗi quốc gia Nó có tác động tích cực đến nền kinh tế trong ngắn hạn, nhưng cũng có thể gây nên nguy cơ tổn hại đối với nền
Trang 16kinh tế trong dài hạn Đó là do sự tồn đọng nợ theo thời gian, những yêu cầu chi trả nợ cả vốn gốc và lãi, sự trở ngại thuế khóa, bất ổn vĩ mô và sự giảm bớt chi tiêu đầu tư phát triển quốc gia một cách đáng kể Do đó, chính sách quản lý nợ công hiệu quả đòi hỏi phải lường trước những nguy cơ, rủi ro gặp phải, xác định mức nợ phù hợp, cân đối hợp lý mức chi trả nợ trong tương lai, góp phần tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế Để minh họa cho sự tác động của nợ công đối với tăng trưởng kinh tế và nhấn mạnh thêm vai trò quản lý tài chính công của Chính Phủ, chúng tôi đã tiến hành thu thập thông tin và tìm hiểu về diễn biến tác động của nợ công đến tăng trưởng kinh tế trên thực tế của một số quốc gia, do các tác giả thuộc những tổ chức có uy tín thực hiện, dựa vào những bộ dữ liệu thu thập được trong một quá trình dài từ các nhóm quốc gia khác nhau Đầu tiên, chúng tôi sẽ trình bày môi trường kinh tế ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế như thế nào
1.1.2 Môi trường kinh tế dẫn đến sự tác động khác nhau của nợ công đối với tăng trưởng kinh tế: so sánh giữa Nigeria và Nam Phi
Qua quá trình nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy rằng môi trường kinh tế chính là nguồn gốc sự tác động khác nhau của nợ công đối với tăng trưởng kinh tế của các quốc gia trên toàn thế giới Để minh họa cho nhận định trên, chúng tôi chọn hai quốc gia thuộc Châu Phi, đó là Nigeria và Nam Phi Hai quốc gia này đa dạng về thiên nhiên và tài nguyên, phát triển du lịch, công nghiệp, nông nghiệp với nhiều loại hình Do đó, có thể liên hệ đối với Việt Nam về cơ cấu phát triển kinh tế và đưa ra chính sách quản lý tài chính quốc gia phù hợp dựa vào bài học kinh nghiệm được đưa ra từ những nước này Hơn thế nữa, khi nhắc đến Châu Phi, chúng ta không có những ấn tượng riêng cho từng quốc gia nơi đây mà thường nghĩ đến cả châu lục của họ với cùng một đặc điểm: phát triển nhiều loại hình kinh tế, dàn trải và thiếu sự chuyên sâu Nam Phi và Nigeria nhận ra được điều này và đang cố gắng xây dựng thương hiệu cho chính quốc, phát triển kinh tế đất nước theo phương hướng riêng Từ lý do này, sự khác biệt về môi trường kinh tế tại hai quốc gia dần hình thành Hơn thế nữa, Nigeria và Nam Phi cũng là hai quốc gia có tăng trưởng kinh tế khá tốt và là hai nền kinh tế mũi nhọn giúp thúc đẩy nền kinh tế toàn Châu Phi Đây là lý do mà chúng tôi chú tâm nhiều hơn đến hai quốc gia này
Trang 17“Nigeria: quốc gia có điều kiện sống kém, nhưng có ngành khai thác dầu phát triển nhất Châu Phi, nông nghiệp đóng vai trò chủ đạo nhưng chưa sử dụng hiệu quả phần lớn diện tích đất, vay nợ nhiều sử dụng cho đầu tư ngành dầu và phát triển thị trường tài chính nên gặp nhiều rủi ro.”
Nigeria là nước có số dân đông nhất châu Phi, điều kiện sức khỏe và chất lượng cuộc sống ở Nigeria được đánh giá là kém Nigeria đang tiến tới nhóm các nước có thu nhập trung bình Bên cạnh đó, Nigeria vẫn có thế mạnh riêng, là một trong những nước xuất khẩu dầu và có trữ lượng dầu thô lớn nhất thế giới (thứ 12 về sản xuất dầu, thứ 8 về xuất khẩu dầu và thứ 10 về trữ lượng dầu thô trên thế giới) Nigeria gia nhập tổ chức cartel OPEC vào năm 1971 Dầu mỏ đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế, chiếm 40% GDP và 80% thu nhập của Chính Phủ Nigeria có danh mục rất nhiều khoáng sản chưa được khai thác đúng mức như khí ga tự nhiên, than đá, bô-xít, vàng, thiếc, quặng sắt, đá vôi Nông nghiệp là một ngành chủ đạo, nhưng phần lớn diện tích đất sử dụng kém hiệu quả
Về tài chính quốc gia, Nigeria dựa đáng kể vào các nguồn quỹ tài chính nước ngoài để phục vụ cho các dự án phát triển quốc gia – nhà máy sắt thép, khai thác, sản xuất dầu, đường sá, những kế hoạch hoàn thiện về điện lực Vào những năm đầu tiên sau khi có được một nền chính trị độc lập (tức là những năm từ 1960 đến 1975), quy mô của những khoản vay mượn này nhỏ, lãi suất ưu đãi, kỳ hạn dài và nguồn thường là song phương hoặc đa phương Nợ nước ngoài của Nigeria vào năm 1960 là khoảng 150 triệu USD Tuy nhiên, đến đầu năm 1978, hoàn cảnh đã thay đổi, với sức hút của những trung tâm tài chính lớn trên thế giới, Nigeria bắt đầu vay mượn những khoản tiền lớn, từ những nguồn cá nhân với lãi suất thả nổi và kỳ hạn ngắn, chỉ riêng khoản vay lớn năm 1978 được ước tính khoảng 1 tỷ USD Năm 1982, giá trị của khoản nợ nước ngoài là 18,631 tỷ USD, tương ứng với hơn 160% sản lượng GDP của Nigeria năm đó Đồng thời, trong thời kỳ phát triển dầu mỏ những năm 1970, Nigeria chủ yếu đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển ngành này, tuy nhiên, sang đến những năm 1980, giá dầu biến động mạnh đã làm Nigeria thiệt hại lớn và phải cật lực đối phó với những khoản chi trả
nợ cả vốn gốc và lãi
Trang 18“Nam Phi: nền kinh tế mới nổi, tài nguyên thiên nhiên đa dạng, cơ sở hạ tầng phát triển, có thế mạnh đặc biệt về công nghiệp khai khoáng, là nền kinh tế dẫn đầu Châu Phi và là thị trường tiềm năng được nhiều nhà đầu tư công nhận Xu hướng vay nợ nước ngoài tăng dần theo thời gian, sử dụng chủ yếu cho đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng.”
Nam Phi được đánh giá là một đất nước tương đối phát triển và đã chính thức gia nhập nhóm nước mới nổi BRICS (gồm Brazil, Ấn Độ, Trung Quốc, Nga và Nam Phi) vào ngày 18/02/2011 Sản xuất công nghiệp của Nam Phi được chú trọng đầu tư phát huy lợi thế về sự đa dạng tài nguyên thiên nhiên, cơ sở hạ tầng phát triển và tiềm năng tài chính tốt Những năm gần đây công nghiệp Nam Phi đã có sự gia tăng mạnh mẽ, đặc biệt
là công nghiệp khai khoáng Hiện nay, Nam Phi là nước xuất khẩu vàng lớn nhất thế giới (ngành công nghiệp khai thác vàng đóng góp khoảng 2% tổng sản phẩm quốc nội của Nam Phi), sản xuất rượu vang lớn thứ 4 thế giới và cung cấp 3/5 lượng giao dịch Crôm trên thị trường thế giới Theo IMF tính toán thì GDP của Nam Phi chiếm 1/3 GDP của toàn châu lục Tỷ trọng hàng xuất và nhập khẩu của Nam Phi lần lượt chiếm 60% và 50% tổng hàng xuất, nhập khẩu của tất cả các nước miền Nam Châu Phi Ngành du lịch Nam Phi phát triển rất mạnh, tỷ lệ khách du lịch nước ngoài tăng trung bình khoảng 30% một năm Cùng với đó, thế mạnh về thể thao cũng giúp Nam Phi quảng bá rộng rãi hơn về hình ảnh của đất nước, du lịch phát triển mạnh và nguồn thu từ xuất khẩu cũng từ đó được đẩy mạnh Có thể nói, Nam Phi là nước phát triển nhất ở Châu Phi và là quốc gia đóng vai trò thúc đẩy sự phát triển mọi mặt của 14 nước trong Cộng đồng Phát triển miền Nam Châu Phi (SADC) Hơn thế nữa, với thị trường tiềm năng của mình, Nam Phi đang dần trở thành môi trường hấp dẫn đầu tư từ các nước khác trên thế giới như Nhật Bản, Trung Quốc, Anh, Pháp, Mỹ, Đức
Về tài chính quốc gia, khoản vay vốn luôn sẵn có đối với Nam Phi trong suốt những năm 1970, cả lĩnh vực công và tư nhân đều vay nợ rất mạnh mẽ, thường thì dưới dạng tín dụng thương mại Vào những năm đầu 1980, những nguồn đầu tư nước ngoài giảm dần cùng với đó là những khoản vay nợ nước ngoài tăng để tài trợ cho tăng trưởng kinh tế Tài trợ bằng vốn tự có giảm tỷ trọng từ 60% vào những năm 1970 xuống còn nhỏ
Trang 19hơn 30% vào năm 1984, thay vào đó, nợ nước ngoài của Nam Phi tăng từ 40% lên 70%
cơ cấu vốn Nợ nước ngoài của Nam Phi luôn cao và tiếp tục theo xu hướng tăng dần Năm 2003, nợ nước ngoài là 38,1 tỷ USD đã tăng lên 68 tỷ USD vào năm 2007 (tăng 78%) Nợ nước ngoài tính trên phần trăm GDP là 22,9% vào năm 2003, và tăng nhẹ lên 23,2% vào năm 2007
Đó là cơ bản về đặc điểm môi trưởng kinh tế nổi bật của hai quốc gia Nigeria và Nam Phi Vấn đề chính tiếp theo là chúng tôi sẽ phân tích sự tác động của những khoản
nợ nước ngoài, cùng với những yêu cầu thanh toán của nó, lên sự tăng trưởng kinh tế để xem xét liệu môi trường kinh tế khác nhau có cho ra kết quả tác động khác nhau của nợ công đối với tăng trưởng kinh tế hay không Tại sao tác giả lại sử dụng dữ liệu nợ nước ngoài mà không sử dụng trực tiếp dữ liệu tổng nợ công? Thứ nhất, vấn đề về công bố thông tin có thể ảnh hưởng đến tình hình chính trị quốc gia, do đó, nếu có những dữ liệu được công bố về tổng nợ công thì những dữ liệu đó cũng không có cơ sở chắc chắn; thứ hai, nợ công gồm có nợ công nước ngoài và nợ công trong nước, trong đó, nợ công nước ngoài chiếm tỷ trọng lớn và có cùng xu hướng biến động với tổng nợ công, vì vậy có thể
sử dụng nợ nước ngoài để thay thế; thứ ba, bản thân nợ nước ngoài ẩn chứa rất nhiều rủi
ro, do đó, số liệu nợ nước ngoài cần phải được quan tâm hơn nợ nội địa và được dùng để ước lượng tác động đối với tăng trưởng kinh tế
Bài viết mà chúng tôi tìm được của hai tác giả Folorunso S Ayadi, Felix O Ayadi
đã phân tích tác động của nợ và gánh nặng thanh toán nợ nước ngoài lên sức mạnh của nền kinh tế và sự đầu tư ở Nigeria và Nam Phi Hai tác giả thực hiện thu thập bộ dữ liệu của hai quốc gia Nigeria và Nam Phi qua giai đoạn gần 30 năm từ 1980 đến 2008, gồm các biến số vĩ mô hàng năm: tổng đầu tư, xuất khẩu, nợ nước ngoài, thanh toán nợ hàng năm, GDP thực và tổng nợ công của mỗi quốc gia Bộ dữ liệu này được lấy từ nguồn số liệu kết hợp của EIU (2008) Một số dữ liệu khác được lấy thông qua các nguồn riêng lẻ
và được tính toán bởi chính tác giả
Đầu tiên, hai tác giả tiến hành hồi quy tuyến tính bình phương nhỏ nhất OLS bộ dữ liệu gồm các biến số: biến phụ thuộc: tỷ lệ tăng trưởng thực hàng năm Y g; các biến độc lập:
Trang 20tỷ lệ tăng trưởng xuất khẩu hàng năm
EXPO
EXPO
Δ , tỷ lệ đầu tư trên GDP thực
RGDP RGFI , tỷ lệ
thanh toán nợ trên GDP thực DSERGDP, quy mô của nợ nước ngoài đối với GDP thực
DEBGDP và tăng trưởng vốn GCAP Phương trình đầy đủ và kết quả chạy hồi quy mô
hình tuyến tính OLS từ những biến số trên được trình bày trong bảng phụ lục A2
Hệ số của biến DEBGDP trong phương trình ước lượng thu được đối với Nigeria
là -0,96; với prob=0,3464 (prob là xác suất mắc sai lầm loại 1, tức là xác suất gặp sai lầm nếu bác bỏ giả thuyết Ho bằng 0,3464) và độ tin cậy là 90%, do đó, theo kiểm định p-value thì giả thiết Ho: biến DEBGDP không tác động lên tăng trưởng kinh tế được chấp nhận (vì prob=0,3464> α=0,1) Từ đó, ta đưa ra kết luận, tác động của biến số quy mô nợ nước ngoài trên GDP thực (DEBGDP) lên tăng trưởng kinh tế không có ý nghĩa trong mô hình hồi quy tuyến tính trên đối với Nigeria Hơn thế nữa, với R-squared bằng 42,08%, những biến độc lập trong mô hình chỉ giải thích được 42,08% sự biến đổi trong tỷ lệ tăng trưởng thực hằng năm của Nigeria Điều này đặt ra một câu hỏi liệu có phải các biến đưa vào mô hình chưa phù hợp và phải chăng mô hình hồi quy tuyến tính đo lường tác động của nợ nước ngoài lên tăng trưởng kinh tế là không hợp lý đối với trường hợp của Nigeria Bên cạnh đó, nền kinh tế Nigeria được đặc trưng bởi ngành khai thác và sản xuất dầu mỏ, do đó, bỏ qua biến số giá dầu có thể là một thiếu sót, vì sự biến động trong giá dầu cũng ảnh hưởng lên việc vay nợ nước ngoài tại Nigeria và từ đó ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế của đất nước này
Đối với Nam Phi, hệ số thu được với biến số DEBGDP là 2,28 và prob thu được là 0,01; hợp lý khi thực hiện với kiểm định p-value và bác bỏ giả thiết Ho, (giả thiết Ho luôn được quy định là Beta = 0, tức là biến số đó không ảnh hưởng đến biến phụ thuộc),
độ tin cậy 90% Ngoài ra, còn có các biến: tỷ lệ tăng trưởng xuất khẩu hàng năm
EXPO
EXPO
Δ , tỷ lệ đầu tư trên GDP thực
RGDP RGFI , tăng trưởng vốn GCAP cũng có ý nghĩa khi
kiểm định sự tác động của từng biến đối với tăng trưởng GDP Hơn thế nữa, tỷ lệ squared lên tới 99,59% cho thấy các biến độc lập đã giải thích được hầu như bao trùm sự biến đổi trong tỷ lệ tăng trưởng thực tại Nam Phi
Trang 21R-Không dừng lại ở hồi quy tuyến tính, hai tác giả nghi ngờ một sự tác động phi tuyến của nợ nước ngoài lên tăng trưởng kinh tế Do đó, họ tiếp tục thực hiện kiểm định tác động phi tuyến bằng việc hồi quy OLS các biến số sau: biến phụ thuộc: tỷ lệ tăng trưởng thực hàng năm Y g; các biến độc lập: quy mô của nợ nước ngoài đối với GDP thực
DEBGDP với hệ số mũ bậc 1 và 2, tăng trưởng vốn GCAP, cú sốc thuộc về bên ngoài
(được đo lường bằng biến động trong mậu dịch) TOT và DSEREXP: tỷ lệ thanh toán nợ trên xuất khẩu Bảng kết quả hồi quy sẽ được nêu rõ ở phụ lục A2
Đối với Nigeria, hệ số của biến DEBGDP và (DEBGDP) 2lần lượt là 2,17 và -0,009; với độ tin cậy là 90% và prob thu được đối với cả hai biến trên (lần lượt là 0,0262 và 0,0886) đều thoả mãn điều kiện bác bỏ giả thiết Ho dựa theo kiểm định p-value Do đó,
có thể khẳng định rằng nợ công tác động một cách phi tuyến đến tăng trưởng kinh tế của Nigeria Ngoài ra, các biến TOT (cú sốc bên ngoài) và GCAP (tăng trưởng vốn) cũng có tác động dương đến tăng trưởng kinh tế R-squared đạt 92,19%, cho thấy các biến đưa vào trong mô hình giải thích được 92,19% sự biến đổi trong tỷ lệ tăng trưởng kinh tế
Về phần Nam Phi, hệ số của các biến DEBGDP và (DEBGDP) 2lần lượt là 4,702 và -0,076, với độ tin cậy tối thiểu là 90%, prob thu được đối với hai biến lần lượt là 0,1505
và 0,1731; lớn hơn so với mức ý nghĩa Vì vậy, theo kiểm định p-value, giả thiết Ho được chấp nhận, tức là hai biến này không tác động lên tăng trưởng kinh tế trong mô hình ước lượng phi tuyến này Trong kết quả ước lượng mô hình phi tuyến đối với Nam Phi, R-squared tính được là 99,3% và chỉ có hai biến có ý nghĩa, đó là TOT và GCAP, tuy nhiên, tác động của hai biến này được đo lường bằng ước lượng tuyến tính (bậc 1), khác so với ước lượng phi tuyến của biến quy mô nợ trên GDP thực (bậc 2)
Do đó, có thể kết luận như sau: đối với Nam Phi, nợ nước ngoài của quốc gia tác động tuyến tính đến tăng trưởng kinh tế và tác động này là tích cực (hệ số tác động: 2,28), ngoài ra, các biến số khác như TOT (cú sốc bên ngoài) tác động (+) đến tăng trưởng kinh tế, GCAP (tăng trưởng vốn) tác động (+), tỷ lệ tăng trưởng xuất khẩu tác động (+) và tỷ lệ đầu tư trên GDP thực tác động (-)
Trang 22Đối với Nigeria, tác động của nợ nước ngoài đối với tăng trưởng kinh tế là tác động phi tuyến, và mẫu hình thu được là mẫu hình Parabol có một điểm cực đại, tại điểm
đó, tăng trưởng kinh tế là cao nhất Trước điểm này, khi nợ càng tăng, tăng trưởng kinh tế càng tăng, sau điểm này, nợ càng tăng thì tăng trưởng kinh tế càng giảm
Như vậy, ở mỗi quốc gia, sự tác động của nợ lên tăng trưởng kinh tế là khác nhau
và tuỳ thuộc vào môi trường kinh tế, mục đích sử dụng nợ và quản lý tính hiệu quả của việc vay nợ Tác động này có thể là tác động tuyến tính hay phi tuyến ở những mức độ khác nhau Do đó, khi nhận định sự tác động của nợ công đối với tăng trưởng kinh tế, chúng ta cần phân tích kỹ môi trường kinh tế của mỗi quốc gia, xác định những biến số phù hợp, từ đo, ước lượng đúng sự tác động và đưa ra những chính sách quản lý nợ công hiệu quả
1.1.3 Nợ công vượt ngưỡng 90% GDP thì tăng trưởng kinh tế giảm – Bằng chứng ở các nước phát triển, mới nổi và nhóm nước sử dụng đồng tiền chung châu
Âu
Như đã nói ở trên, nợ công thực sự có tác động đến tăng trưởng kinh tế, tác động của nợ công đến tăng trưởng kinh tế có thể là tác động tuyến tính hay tác động phi tuyến, phụ thuộc vào đặc điểm môi trường kinh tế và chính sách quản lý tài chính của các quốc gia Đó là kết luận chúng tôi rút ra được từ kết quả của hồi quy ước lượng sự tác động Chúng tôi lần lượt xem xét cả thống kê mô tả lẫn mô hình hồi quy để so sánh các kết quả với nhau Và một câu hỏi được đặt ra là nếu nợ công tác động phi tuyến thì ngưỡng cực đại lúc này là bao nhiêu Thật bất ngờ, khi nợ công tăng đến 90% GDP thì tăng trưởng kinh tế đều giảm ở các nước phát triển, mới nổi lẫn nhóm nước sử dụng đồng tiền chung châu Âu Đây là mức nợ trung bình mà tăng trưởng kinh tế theo thống kê mô tả ở tất cả những nhóm nước đều giảm, điều này không có nghĩa là ngưỡng nợ đối với tất cả những nước là giống nhau và bằng 90% GDP, mà có thể tăng trưởng kinh tế của một số nước đã
bị giảm với vay nợ nhỏ hơn tỷ số này hay cũng có thể lớn hơn
Nhóm nước phát triển
Trang 23Reinhart và Rogoff (2010) 9 đã tiến hành nghiên cứu, tìm hiểu về mối quan hệ giữa
tỷ lệ tăng trưởng GDP và các mức nợ khác nhau của 20 nước phát triển trong khoảng thời gian 1946-2009 Nhóm này gồm Úc, Áo, Bỉ, Canada, Đan Mạch, Phần Lan, Pháp, Đức,
Hy Lạp, Ireland, Ý, Nhật Bản, Hà Lan, New Zealand, Na Uy, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Anh và Mỹ Quan sát hàng năm được gộp thành 4 nhóm, dựa theo tỷ lệ nợ trên GDP trong suốt phạm vi quan sát, cụ thể như: những năm khi nợ/GDP dưới 30% (nợ thấp), những năm mà Nợ công/GDP từ 30% đến 60% (nợ trung bình), 60-90% (nợ cao),
và trên 90% (rất cao) Có tổng cộng 1180 quan sát với 443 quan sát cho Nợ công/GDP dưới 30%, 442 cho Nợ công/GDP từ 30-60%, 199 cho Nợ công/GDP từ 60-90%, và 96 cho Nợ công/GDP trên 90% (những quan sát này thuộc về Bỉ, Hy Lạp, Ý và Nhật Bản) Các cột trên hình 1.110 cho thấy tăng trưởng GDP trung bình và trung vị cho mỗi trong 4 nhóm kể trên Từ hình này, chúng ta thấy rằng không có sự kết nối rõ ràng nào giữa nợ và tăng trưởng cho đến khi nợ công chạm đến ngưỡng 90% Những quan sát Nợ/GDP trên 90% có tăng trưởng trung vị thấp hơn gần 1% so với nhóm nợ cao, đạt mức dưới 4,5% và mức tăng trưởng bình quân thấp hơn gần 4% so với nhóm nợ cao, đạt giá trị âm
Như vậy, đối với nhóm quốc gia phát triển, ngưỡng nợ 90% GDP đã hạn chế tăng trưởng kinh tế trung bình của các nước Vậy thì đối với nhóm nước đang phát triển, liệu ngưỡng nợ này có chi phối tăng trưởng kinh tế các nước này không, hay một tỷ lệ nợ nào
khác
Nhóm nước mới nổi
Chúng tôi xem xét tỷ lệ nợ của 24 nền kinh tế mới nổi trong giai đoạn 1946-200911
và phân loại nhóm nợ như khi ta tiến hành đối với những nền kinh tế phát triển 24 nước trong mẫu là Argentina, Bolivia, Brazil, Chile, Trung Quốc, Colombia, Ai Cập, Ấn Độ, Indonesia, Hàn Quốc, Malaysia, Mexico, Nigeria, Peru, Philippines, Nam Phi, Thái Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, Uruguay, and Venezuela Có tổng số 1142 quan sát hàng năm, cụ thể là: 502 quan sát cho Nợ/GDP dưới 30%, 385 cho Nợ/GDP từ 30-60%, 145 cho Nợ/GDP từ 60-
Trang 2490%, và 110 cho Nợ/GDP trên 90%.12 Đáng ngạc nhiên là mối quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng thì tương tự nhau một cách đáng chú ý ở cả những thị trường mới nổi lẫn những nền kinh tế phát triển Trong giai đoạn 1946-2009, tốc độ tăng trưởng trung vị và bình quân xấp xỉ khoảng 4-4,5% cho tất cả những mức độ nợ khoảng 90% GDP Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng GDP trung vị giảm mạnh còn 2,9% đối với tỉ lệ nợ trên 90%, sự sụt giảm này còn lớn hơn khi xét đến tốc độ tăng trưởng bình quân, giảm chỉ còn 1% Như vậy, đối với những nước mới nổi, tỷ lệ nợ có ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế nhiều nhất cũng được tìm thấy là mức 90% GDP
Do đó, có thể nói, mức nợ 90% GDP là mức nợ đe dọa chung đến tăng trưởng kinh tế của tất cả các nhóm nước, từ đó, giúp các Chính Phủ có thể nhận định được ngưỡng nợ trung bình tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế trên thế giới Tuy nhiên, những kết quả trên được tính toán cho trung bình các quốc gia, do đó, chưa kể đến môi trường kinh tế đặc trưng, chính sách quản lý và điều hành đất nước của mỗi Chính Phủ,
do đó, việc phân tích những đặc trưng riêng cho mỗi nước là điều cần thiết và ngưỡng nợ của mỗi quốc gia sẽ thay đổi khác nhau
Đó là cái nhìn tổng quan về sự tác động của nợ đối với tăng trưởng kinh tế thông qua thống kê mô tả được tìm hiểu từ những nghiên cứu của Reinhart và Rogoff Chúng tôi chuyển hướng nghiên cứu mô hình thực nghiệm cũng điều tra mối quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế nhưng theo một mẫu các nước khác và với phạm vi thời gian
khác
Khu vực sử dụng đồng tiền chung Châu Âu
Cuộc khủng hoảng 2008-2009 đã tạo ra những căng thẳng đáng kể lên lĩnh vực tài chính công trong khu vực đồng tiền chung châu Âu, cụ thể là nợ công của mỗi quốc gia Nhiều nước trong Liên Minh Châu Âu và khu vực đồng tiền chung châu Âu đang ở mức rủi ro cao có liên quan đến việc duy trì ổn định tài chính Nợ công tăng lên đáng kể qua nhiều thập niên và xu hướng này càng được thấy rõ khi quan sát sự mở rộng trong quy
mô của Chính Phủ Đối với nhiều nước công nghiệp, tăng trưởng tổng chi tiêu Chính Phủ thì khổng lồ trong thế kỷ 20 Vào cuối giai đoạn hiện nay, tỷ lệ nợ công/GDP trung bình
12 Phụ lục A11, hình 1.2
Trang 25là 79% đối với những Chính Phủ cỡ lớn, 60% đối với những Chính Phủ cỡ vừa và 53% đối với Chính Phủ cỡ nhỏ
Khủng hoảng kinh tế và tài chính có khuynh hướng đóng góp vào việc gia tăng nợ, cuộc khủng hoảng 2008-2009 đã tạo những căng thẳng đáng kể lên nợ, và tổng quát, lên lĩnh vực tài chính công ở các nước trong khu vực đồng tiền chung Châu Âu Tỷ lệ thâm hụt chính phủ khu vực này được ước tính tăng lên nhanh chóng từ 0,6% GDP năm 2007 lên đến 6,6% GDP năm 2011, trong khi tỷ lệ tổng nợ chính phủ được cho là bùng phát từ 66,0% đến 88,5% GDP trong suốt cùng một giai đoạn Nhìn chung, sự duy trì ổn định tài chính dài hạn trong khu vực đồng tiền chung châu Âu đã trở nên xấu hơn một cách rõ rệt
và nhiều nhận định rằng những ảnh hưởng như thế sẽ tiếp tục kéo dài trong trung và dài hạn Dựa theo bản báo cáo mới nhất về Sự bền vững của Hội đồng Châu Âu, nhiều quốc gia trong khu vực đồng tiền chung và Liên Minh Châu Âu (8 nước trong khu vực đồng tiền chung và 13 nước trong Liên Minh châu Âu) đang ở mức rủi ro cao về sự duy trì ổn định tài chính Điều này phản ánh sự thâm hụt tài chính lớn hiện tại, dự đoán về khả năng tăng trưởng GDP bị chế ngự
trung bình giữa tỷ lệ nợ Chính Phủ trên GDP và tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người trong mẫu gồm 12 nước thuộc khu vực đồng tiền chung châu Âu (Áo, Bỉ, Phần Lan, Pháp, Đức, Hy Lạp, Ireland, Ý, Luxembourg, Hà Lan, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha) trong giai đoạn xấp xỉ bốn thập niên bắt đầu từ năm 1970 đến 2010
Vì mô hình dạng tuyến tính của nợ không có ý nghĩa nên hai tác giả trên chuyển sang hồi quy bậc hai biến nợ Mẫu hình tăng trưởng thực nghiệm cơ bản dựa trên một phương trình hội tụ có điều kiện, hồi quy tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người với logarit tự nhiên của chính nó, nợ công, nợ công bậc hai, tỷ lệ đầu tư/tiết kiệm trên GDP và tốc độ tăng trưởng dân số (xem phụ lục A3) Kỹ thuật ước lượng căn bản là cố định các nhân tố được điều chỉnh để loại bỏ tác động của phương sai thay đổi và tự tương quan Hai tác giả thiết lập biến nợ cho mỗi nước thông qua hoặc độ trễ thời gian (lên đến
13 Cristina Checherita và Philipp Rother, The impact of high and growing government debt on economic growth –
An empirical investigation for the euro area, 2010
Trang 265 đơn vị) hoặc thông qua mức nợ trung bình của những nước còn lại trong mẫu Hiểu theo cách thông thường, công cụ này có ưu điểm là không gây ra tác động trực tiếp lên kết quả tỷ lệ tăng trưởng, ít nhất là nếu một ai đó cho rằng không có sự tác động mạnh giữa những mức nợ trong khu vực những nước sử dụng đồng tiền Euro và tỷ lệ tăng trưởng GDP trên đầu người của một nước xác định Vấn đề tương quan nội sinh được coi
là nét đặc biệt bởi thực tế là những biến giải thích đều trễ 1 hoặc 5 năm so với biến phụ thuộc
Khi sử dụng tỷ lệ tăng trưởng GDP hàng năm chúng ta đã thấy được tác động ngắn hạn của nợ lên sự tăng trưởng, trong khi đó đối với những đặc điểm 5 năm, chúng ta tìm được sự tác động dài hạn của nợ lên sự tăng trưởng Như đã tóm tắt trong bảng A3.1 và A3.2 của phụ lục A3, những kết quả cho tất cả các mô hình đã đưa ra thống kê cao một mối quan hệ phi tuyến xác định giữa tỷ lệ nợ Chính Phủ và tỷ lệ tăng trưởng GDP trên đầu người cho 12 nước sử dụng đồng tiền chung Châu Âu được bao gồm trong mẫu của chúng tôi, bắt đầu từ 1970 đến nay Điểm đổi hướng (điểm ngoặt) nợ so với GDP của mối quan hệ dạng lõm này (hình U lật ngược) xấp xỉ giữa 90-100% trung bình mẫu, với tất cả các mô hình (xem Phụ lục A3, bảng A3.2 và A3.3) Điều này nghĩa là, trung bình cho 12 nước sử dụng đồng tiền Euro, tỷ lệ nợ Chính Phủ so với GDP cao hơn ngưỡng này tạo nên tăng trưởng âm của nền kinh tế
Tóm lại:
• Nợ công, tính trung bình, là có hại cho tăng trưởng kinh tế đối với mẫu đã thu thập, sự thay đổi hàng năm trong tỷ lệ nợ công/GDP có quan hệ nghịch biến với tăng trưởng bình quân đầu người
• Mẫu hình thu được từ ước lượng phương trình nói trên là một mẫu hình chữ U lật ngược (mẫu hình phi tuyến)
• Và sự tác động này liên quan đến một điểm ngoặt hay còn gọi là ngưỡng nợ ở
mức xấp xỉ 90-100% GDP tính trung bình cho cả mẫu
Như vậy, chúng ta đều biết mức nợ kìm hãm tăng trưởng kinh tế cho hầu hết các nước trên thế giới đều ở ngưỡng 90 – 100% GDP Vậy khi đặt ngưỡng nợ trong vấn đề quản lý nợ công thì liệu các quốc gia sẽ quản lý nợ dựa trên ngưỡng nợ này để đạt được
Trang 27tốc độ tăng trưởng kinh tế tối ưu? Phương pháp quản lý nợ này là tốt nhất cho các quốc gia, đặc biệt cho các nền kinh tế mới nổi trong đó có Việt Nam chứ? Trường hợp của Ấn
Độ sẽ trả lời cho chúng ta câu hỏi trên Chúng ta sẽ tiếp cận khái niệm “trần nợ” để từ đó việc quản lý nợ công được thực hiện theo cách “thận trọng” Chúng ta sẽ thấy ngưỡng nợ
mà tăng trưởng là tối đa không phải là phương pháp quản lý tốt nhất
1.2 Quản lý nợ công theo trần nợ thông qua tham khảo ngưỡng nợ của mỗi quốc gia – Bằng chứng thực nghiệm tại Ấn Độ
1.2.1 Trần nợ –cách xác định trần nợ
“Trần nợ không được đề cập đến như là mức nợ “tối ưu”, mà được đề cập như là mức
nợ thận trọng và bền vững dưới đường cong biểu diễn sự tăng trưởng giả định của một quốc gia”
Chúng ta đã biết ngưỡng nợ là tỷ số nợ công/GDP mà tại giá trị này tăng trưởng là tối ưu Khi tỷ lệ nợ của một quốc gia dưới ngưỡng nợ thì tỷ lệ nợ càng tăng, tốc độ tăng trưởng kinh tế cũng càng tăng Tương quan thuận cứ thế tiếp diễn cho đến khi tỷ lệ nợ vượt quá ngưỡng nợ cụ thể của quốc gia đó, lúc này, tỷ lệ nợ càng tăng sẽ khiến cho tốc
độ tăng trưởng càng giảm
Trần nợ là mức nợ tối đa mà một quốc gia tự giới hạn việc vay mượn nợ của mình Trần nợ được đề nghị là một chỉ số quản lý nợ công thay thế cho ngưỡng nợ vì ngưỡng
nợ chỉ là một giá trị tham khảo cho trần nợ và khoảng chênh lệch giữa trần nợ và ngưỡng
nợ tạo một khoảng cách đủ thận trọng để tiếp nhận những rủi ro tiềm ẩn, không lường trước được của thị trường tài chính, trong đó nổi bật nhất là những khoản nợ bất ngờ Vai trò của trần nợ đặc biệt quan trọng trong quản lý nợ công Khi một lực tác động bên ngoài
đe dọa đến tính bền vững của nợ công, sự tổn thương này dễ dẫn đến khủng hoảng niềm tin, hệ lụy là khủng hoảng tài chính không mong đợi.15 Một số nước đã nhìn nhận mục
14 Petia Topalova and Dan Nyberg, What Level of Public Debt Could India Target, 1/2010, IMF working paper
15 Carmen M Reinhart và Kenneth S Rogoff, From Finance Crash to Debt Crisis, 3/2010, NBER working paper
series.
Trang 28tiêu trần nợ trong luật trách nhiệm tài khóa của họ và đồng thời, những bản thỏa thuận hợp nhất mang tính khu vực cũng đã áp đặt trần nợ như là một phần quy ước của các nước tham gia
Vấn đề ở đây là bằng cách nào để có thể xác định mức trần nợ này Chúng ta có thể áp dụng cách kiểm tra bằng chứng thực nghiệm về mức nợ nào giúp đất nước đạt được những mục tiêu nêu bên dưới:
Không có quy tắc đơn giản nào giúp xác định liệu nợ của một chính phủ có bền vững hay không Do đó, một tiếp cận thường được sử dụng là xem xét chính sách tài khóa có bền vững nếu chính sách này tạo ra một mức nợ công trên GDP cân bằng Mức nợ cân bằng ở đây được xác định bằng hiện giá của những khoản thặng dư trong tương lai được mong đợi của các chứng khoán nợ đó Tuy nhiên, phương pháp này không phù hợp với các nước đang phát triển với tình trạng tài chính liên tục thâm hụt Một cách tiếp cận khác nghiêm ngặt hơn để đánh giá tính bền vững của nợ là quan sát sự phân phối kết quả thu nhập của chính phủ, cũng như là mức độ linh hoạt trong chi tiêu mà một chính phủ có được, và ước lượng mức nợ tối đa mà đất nước đó có thể trả lãi khi đối mặt với một giai đoạn dài tổng thu thấp IMF (2003) cũng chỉ ra rằng những nước có doanh thu chịu thuế thường xuyên biến đổi hơn, ít có khả năng điều chỉnh chi tiêu và có một khác biệt lớn hơn giữa lãi suất thực và tốc độ tăng trưởng thực, đất nước đó phải duy trì tỷ lệ nợ công thấp hơn
Thứ hai, mức nợ mà tại đó làm giảm tính dễ bị tổn thương bởi khủng hoảng
Khủng hoảng tính thanh khoản và vỡ nợ quốc gia xuất hiện ở những mức nợ công rất
khác nhau Những cuộc nghiên cứu hàng loạt nỗ lực kiểm tra tại mức nợ nước ngoài nào
gây ảnh hưởng tiêu cực lên tăng trưởng bằng cách làm gia tăng đáng kể xác xuất xảy ra khủng hoảng, và với xác suất khủng hoảng thu được ứng với mỗi mức nợ cũng giúp chúng ta tìm ra được mức trần nợ hợp lý Vòng đời, cấu trúc tiền tệ và tuýp nhà đầu tư đầu tư vào một nước cũng liên quan mức nợ nước ngoài thận trọng
Thứ ba, mức nợ mà tại đó tối ưu hóa tăng trưởng bằng cách giảm rủi ro Mức nợ
cao có thể dẫn đến gánh nặng thuế được cho là cao hơn trong tương lai, điều này sẽ làm
Trang 29giảm đầu tư và tăng trưởng, đồng thời cũng đưa đến một mức độ rủi ro cao hơn và sự không ổn định trong chính sách kinh tế vĩ mô Lấy ví dụ, Smyth et al (1995) ước lượng rằng tỷ lệ nợ tối đa hóa tăng trưởng của Mỹ xấp xỉ 40% GDP Mati (2005) ước lượng rằng mức nợ trên khoảng 38% GDP sẽ có hại cho tăng trưởng trong trường hợp của Indonesia Do đó, có thể xác định trần nợ hợp lý bằng cách lấy mức nợ mà tại đó tối ưu hóa về tăng trưởng và giảm thiểu về rủi ro Từ đó có thể nhận thấy ngưỡng nợ là một chỉ tiêu tham khảo nhằm xác định trần nợ
Thứ tư, mức nợ mà tại đó tạo khoảng cách cho các khoản nợ bất ngờ lớn Kinh
nghiệm gần đây cho thấy rằng sự nhận thức về những khoản nợ bất ngờ lớn – cụ thể là những khoản có liên quan đến hoạt động tái cấp vốn trong lĩnh vực tài chính – có thể làm tăng đáng kể nợ công, và đe dọa đến sự bền vững của nợ Chi phí mà chính phủ tiêu tốn trong những cuộc khủng hoảng ngân hàng toàn diện hơn ba thập niên qua tính trung bình
là 16% GDP.16 Tuy nhiên, chi phí trung bình của một cuộc khủng hoảng ngân hàng phải được tính toán lại và có thể tăng cao hơn con số 16% GDP sau khi xem xét các vụ phá sản khu vực ngân hàng gần đây vì khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2008 – 2009 Do đó, mức nợ hợp lý chỉ khi nào nó tạo ra khoảng cách đủ để bao trùm những khoản nợ đặc biệt bất ngờ
Một điều cần lưu ý, ngưỡng nợ công tiềm năng thực sự còn phụ thuộc vào hoàn cảnh của quốc gia và sự ưu tiên trong mục tiêu chính sách của quốc gia đó Do vậy, việc tìm ra ngưỡng nợ và thiết kế trần nợ hợp lý sẽ khác nhau giữa các quốc gia và khác nhau qua các thời kỳ
Như vậy, ngưỡng nợ là con số mà mỗi quốc gia phải tiến hành tìm hiểu, và không chỉ dừng lại ở đó, mà còn phải phân tích môi trường quốc gia để đưa ra được mức trần nợ hợp lý trong chính sách quản lý tài chính công, giúp Chính Phủ linh động trong việc đối phó với những trường hợp bất ngờ
16 Laeven, L và F Valencia, “Systemic Banking Crises: a new database, 2008”, IMF Working Paper Số 08/224
Trang 301.2.2 Quản lý nợ công theo trần nợ 60 – 65% GDP của Ấn Độ
“Mức trần nợ hay mức nợ mục tiêu trong trung hạn nên dựa trên mức nợ “thận trọng” của Ấn Độ trong dài hạn và dựa vào khả năng của chính phủ để đạt được mục tiêu trong kịch bản với những ước lượng vĩ mô thực tế và những cải cách thích hợp.”
Giữa năm 1991 và 2009, nợ công Ấn Độ đã ở mức từ giữa 68% đến 87% GDP, với mức trung bình là 78% GDP Điểm thấp nhất 68% GDP đạt được vào năm 1996/97
và đỉnh xuất hiện vào năm 2004 Kể từ năm 1991, Ấn Độ đi qua 2 giai đoạn củng cố tài khóa đáng kể: (1) trong nửa đầu thập niên 1990; và (2) năm 2003 cho đến 2007/08 Trong giai đoạn củng cố đầu, tỷ lệ nợ/GDP giảm từ 79% trong năm 1993/94 xuống còn 68% trong năm 1996/97; trong giai đoạn thứ hai, tỷ lệ nợ/GDP giảm từ đỉnh 87% năm 2003/04 xuống còn 81% năm 2007/08 Tuy nhiên, nguyên nhân sự củng cố tài chính bị đảo ngược
ở cả 2 giai đoạn này: năm 1996/97 vì sự xuống dốc của nền kinh tế và sự trả lương vượt trội cho nhân viên Chính Phủ của Hội Đồng Chi Trả Lương Lần Năm; với giai đoạn hiện nay, vì sự chi tiêu rất cao cho trợ cấp, sự trả lương vượt trội của Hội Đồng Chi Trả Lương Lần Sáu, sự từ bỏ nợ nông nghiệp và những biện pháp tài chính liên quan đến khủng hoảng (xem Phụ lục A4, hình A4.1 )
Trong suốt giai đoạn 1991 – 2008, sự chênh lệch giữa lãi suất và tăng trưởng khá tốt trang bị cho sự củng cố tài chính đầu 1990 và giữa 2000 Tuy nhiên, khoảng chênh lệch âm không có khuynh hướng tồn tại trong dài hạn vì sự nới lỏng tài chính và phát triển kinh tế làm hẹp lại khoảng cách giữa lãi suất và tăng trưởng Thật vậy, xu hướng chênh lệch giữa lãi suất và tăng trưởng leo dốc qua giai đoạn này, cho thấy rằng duy trì mức nợ lịch sử cao ở Ấn Độ có thể trở nên khó khăn hơn trong ước tính dài hạn (xem Phụ lục A4, hình A4.1)
Một cách khác để xác định trần nợ là xem xét sự phân phối nợ công của Ấn Độ Dựa vào những thời điểm của sự phân phối này, một “sự gián đoạn” từ quá khứ, trần nợ được định nghĩa là khi nó ít nhất thấp hơn mức trung bình trong quá khứ trừ đi độ lệch chuẩn Với mức trung bình 78% GDP và độ lệch chuẩn 6% GDP trong hơn 20 năm qua,
17Petia Topalova and Dan Nyberg, “What Level of Public Debt Could India Target”, 1/2010, IMF working paper
Trang 31điều này ngụ ý một mức trần nợ tối đa là 72% GDP Một tiêu chuẩn nghiêm ngặt hơn đó
là yêu cầu mức trần nợ này thấp hơn mức thấp nhất mà Ấn Độ đạt được trong 20 năm qua, nghĩa là ở mức tối đa là 68% GDP, sẽ gửi tín hiệu mạnh về cam kết của chính phủ đến tính ngay thẳng tài khóa bằng cách tạo ra một sự đột phá so với quá khứ
Tuy nhiên, Ấn Độ đưa ra 5 kịch bản để xác định mức trần nợ, đó là kịch bản:
• Đường cơ bản với giả định không có sự thay đổi trong chính sách hiện hành
• Cải cách trợ cấp: cải cách hệ thống trợ cấp nhiên liệu, giảm nhu cầu phát hành trái phiếu trợ cấp, cải cách phân phối thực phẩm, trợ cấp phân bón
• Cải cách doanh thu Chính Phủ: những khoản thu nhập tăng thêm trong quá trình cải cách sẽ giúp GDP tăng 1% trong suốt giai đoạn mô phỏng Hệ thống trợ cấp không được cải cách, giống như trong kịch bản đường cơ bản
• Tư nhân hóa các công ty Nhà Nước
• Kịch bản kết hợp của cải cách trợ cấp, cải cách doanh thu và tư nhân hóa Như vậy, kết quả mô phỏng cho thấy hơn 4 – 5 năm sắp tới, nguồn nợ công của
Ấn Độ có thể có một khoảng biến thiên các giá trị dựa vào những cải cách nào mà chính phủ Ấn Độ lựa chọn thực hiện Vào cuối giai đoạn mô phỏng (2015/2016), nợ công có thể giảm rất ít đến 74% GDP dưới một kịch bản không cải cách, trong khi một sự kết hợp của một cuộc cải cách trợ cấp, cải cách doanh thu và tư nhân hóa một phần những doanh nghiệp nhà nước có thể mang đến mức nợ dưới 60% GDP Một cải cách chỉ thiên về trợ cấp có tiềm năng tạo ra những thành quả trong củng cố tài khóa Cải cách doanh thu có thể mang lại sự cắt giảm cần thiết trong thâm hụt ngân sách và nợ, trong khi tiến trình bán tài sản có thể được sử dụng để làm giảm mức nợ công (xem kết quả mô phỏng ở Phụ lục A4, hình A4.2) Tuy nhiên, không có cải cách nào đủ mạnh Để tạo ra một sự đột phá
so với quá khứ, một sự kết hợp cải cách trợ cấp và doanh thu cũng như tư nhân hóa sẽ thật cần thiết Trong kịch bản kết hợp, Ấn Độ có thể giảm tỷ lệ nợ công xuống thấp bằng 60% GDP Trần tỷ lệ 60 – 65% GDP của nợ, trong khi vẫn ở trên mức trung bình của các nước mới nổi, nằm trong mức tỷ lệ nợ mà mức này sẽ tạo ra cơ hội cho chính sách tài khóa phản chu kỳ đáng kể và những khoản nợ bất ngờ Mức nợ có thể bền vững xét đến
Trang 32những giả định có lý về chênh lệch tăng trưởng và lãi suất và cân bằng (trạng thái tổng chi tiêu và đầu tư của Chính Phủ đúng bằng doanh thu thuế của Chính Phủ)
1.3 IMF khuyến nghị mức trần nợ công 35 – 40% GDP cho các nền kinh tế mới nổi, trong đó có Việt Nam
Như đã trình bày ở trên, trần nợ 60 – 65% GDP được khuyến nghị cho công tác quản lý nợ công ở Ấn Độ Các nền kinh tế mới nổi nói chung và Việt Nam nói riêng cũng
có mức trần nợ được khuyến nghị Theo Kế Hoạch Phát Triển Kinh Tế Xã Hội 2011 –
2015, Chính Phủ Việt Nam đưa ra mức trần nợ công danh nghĩa là 50% GDP, được IMF đánh giá là một bước đi đúng hướng Tuy nhiên, theo tính toán riêng của IMF, con số trần
nợ này thấp hơn, ở khoảng 35 – 40% GDP Trong phần này, chúng tôi khuyến nghị Việt Nam nên quản lý nợ công theo mức trần nợ 35 – 40% GDP của IMF và lý giải cho tính hợp lý của con số này thông qua tính hợp lý của việc tạo một khoảng cách giữa ngưỡng
nợ và trần nợ để tiếp nhận các rủi ro bất ngờ, đe dọa tính bền vững của nợ công Việt Nam Những rủi ro này là những bất ổn không lường trước được trong thị trường tài chính toàn cầu ảnh hưởng đến Việt Nam, rủi ro tỷ giá với tấm đệm dự trữ ngoại hối thấp
và tính dễ bị tổn thương của nợ nội địa ở Việt Nam
Theo tính toán của IMF, ngưỡng nợ công khoảng 50% GDP thì phù hợp với khu vực Châu Á Ngưỡng nợ này sẽ hỗ trợ tối đa cho tăng trưởng của Châu Á Tuy nhiên, đối với những nền kinh tế mới nổi, mục tiêu nợ nên vào khoảng 35 – 40% GDP để có thể tạo
ra một khoảng trống tiếp nhận các rủi ro tiềm ẩn và không thể đo lường hết Cùng với việc đưa ra mức trần nợ đối với những quốc gia mới nổi, IMF cũng khuyến cáo không nên quá dựa vào ngưỡng nợ bởi trên thực tế có nhiều quốc gia vẫn gặp phải khủng hoảng tài chính dù đang ở mức nợ thấp
Mức trần nợ mà IMF đưa ra liệu có hợp lý? Trong bản Phân Tích Tính Bền Vững
tính bền vững nợ công của Việt Nam
18 Masahiko Takeda, Dhaneshwar Ghura (IMF) và Lili Liu, Vikram Nehru (IDA), “Joint IMF/World Bank Debt
Sustainability Analysis 2010”, 7/2010, IMF và IDA
Trang 33Theo ước tính của IMF, chỉ số nợ công ngắn hạn và trung hạn của Việt Nam đang dần xấu đi Khi ước tính nợ công Việt Nam cuối 2009 khoảng 49% GDP thì ước tính năm
2010 là 51,3% GDP, tức là tăng 2,3% (thực tế năm 2010 nợ công Việt Nam đạt 56,6% GDP) Sau đó, nợ công giảm nhẹ qua các năm và đạt 48% GDP vào năm 2015 Xu hướng
nợ này phản ánh mạnh mẽ sự mở rộng tài khóa được thực hiện trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu Gói kích cầu đo lường sự tăng cao trong chi đầu tư, đẩy tổng thâm hụt 2009 lên gần 9% GDP Mặc dù chính gói kích thích đã hỗ trợ cho tăng trưởng
và đa phần gói kích thích đó được tài trợ bởi nội địa nhưng vay mượn đồng ngoại tệ, sự cam kết cho vay ưu đãi lẫn thương mại cho đến năm 2012 và ảnh hưởng trầm trọng của việc giảm giá trị đồng nội tệ năm 2009 và đầu 2010 đã góp phần gia tăng nợ Như vậy có thể thấy, những bất ổn không lường trước được trong thị trường tài chính toàn cầu đã ảnh hưởng đến Việt Nam, khiến Việt Nam phải có những biện pháp đối phó mà những hành động này gây áp lực lên gánh nặng nợ quốc gia
IMF cũng tiến hành thực hiện “stress test”19 cho nợ công Việt Nam Mức thâm hụt tài khóa 2009 sẽ bất ổn và sẽ đẩy hiện giá của nợ đến gần 60% GDP chậm nhất là năm
2015 Trong một stress test, với tấm đệm dự trữ ngoại hối thấp cùng với tình trạng chung
ở các nước Châu Á là lạm phát leo thang, IMF giả định rằng tiền đồng Việt Nam sẽ giảm giá trị thực khoảng 30% vào năm 2011, điều này có thể đẩy nợ đến gần mức 60% GDP trong 1 năm Kết quả này hợp lý vì đến 60% nợ công Việt Nam được định danh bằng đồng ngoại tệ tính đến cuối 2009 Nếu chỉ tính riêng bất ổn trong tỷ giá hối đoái thì chỉ số
nợ công tăng vọt, vượt hẳn ngưỡng 50% GDP mà IMF khuyến nghị cho Châu Á, nên một khoảng trống để tiếp nhận rủi ro cho nợ công là hợp lý
Ngoài ra, nợ nội địa của các nước mới nổi nói chung và Việt Nam nói riêng cũng rất dễ bị tổn thương Tính dễ bị tổn thương này thể hiện rõ qua thời gian đáo hạn nợ nội địa ngày càng ngắn lại.20
Theo hình 1.3 thì thời gian đáo hạn trung bình của các loại trái phiếu giảm nhanh
từ 10 năm vào năm 2004 xuống còn 2 năm vào năm 2009, trong khi đó, lãi suất trung
19 Xem phụ lục A6
20 Phụ lục A11, hình 1.3
Trang 34bình có xu hướng tăng và tăng cao nhất vào năm 2008 đến gần mức 12% Những diễn tiến này cho thấy tính dễ bị tổn thương tăng lên trong thị trường tín phiếu, trái phiếu Chính Phủ và trái phiếu của VDB, sự khó khăn trong thanh khoản và sự khao khát nguồn cung mạnh mẽ (dễ nhận thấy qua việc gia tăng các khoản được phát hành vào năm 2008)
Như vậy, trần nợ 35 – 40% GDP mà IMF đưa ra cho các nền kinh tế mới nổi nói chung và Việt Nam nói riêng là hợp lý Những rủi ro về nợ bất ngờ trong khu vực SOEs, rủi ro tỷ giá hối đoái, cấu trúc nợ nội địa của Việt Nam là khó lường cần có một khoảng trống trong giới hạn nợ quốc gia để tiếp nhận Đây chính là con số tham khảo có ý nghĩa đối với Việt Nam, để từ đó xây dựng chính sách quản lý tài chính công phù hợp
Trang 35CHƯƠNG 2: NHỮNG KÊNH TRUYỀN DẪN TRUNG GIAN CỦA NỢ CÔNG ĐỐI VỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
“Nợ công không tác động một cách trực tiếp đối với tăng trưởng kinh tế mà thông qua các kênh truyền dẫn trung gian: tiết kiệm tư, đầu tư công, thuế và lãi suất danh nghĩa, lãi suất thực Trong đó, khi nợ công vượt ngưỡng 82 – 91% GDP, tiết kiệm tư nhân sẽ chững lại; nợ công vượt ngưỡng 45% - 68% GDP, tỷ lệ đầu tư công có khuynh hướng giảm dần; khi nợ công tăng cao sẽ gây áp lực tăng thuế trong tương lai để ổn định nợ; và kết luận cuối cùng, nợ công và lãi suất có mối quan hệ không rõ ràng Đây là những bằng chứng thu được khi tiến hành nghiên cứu bộ dữ liệu của 12 nước thuộc khu vực sử dụng đồng tiền chung Châu Âu.”
2.1 Cơ chế tác động của nợ công lên tăng trưởng thông qua những kênh truyền dẫn trung gian
Chương đầu tiên đã cho chúng ta cái nhìn tổng quan về sự tác động của nợ công đến tăng trưởng kinh tế: tốt hiện tại, khó tương lai Do đó, vấn đề đặt ra lúc này là phải quản lý nợ công như thế nào cho hiệu quả, không tạo ra những gánh nặng về bất ổn vĩ mô
và thuế khóa cho các thế hệ sau Tuy nhiên, những nhận định ban đầu mà chúng tôi phân tích cùng với những dẫn chứng về thống kê mô tả và ước lượng hồi quy chỉ đưa ra một lời khẳng định: nợ công có tác động mạnh mẽ đến tăng trưởng kinh tế, trong khi đó, cơ chế tác động như thế nào và có những yếu tố nào kết hợp cùng với nợ công để tác động đến tăng trưởng kinh tế hay không, chúng tôi vẫn chưa phân tích Đây mới là điều cốt lõi
và hữu ích cho chính sách quản lý nợ công của Chính Phủ trong mọi giai đoạn và bất cứ một quốc gia nào Bởi căn cứ vào sự tác động của nợ công lên những yếu tố này sẽ giúp chính phủ xác định được mức trần nợ phù hợp của quốc gia mình, quản lý hiệu quả tài chính công và góp phần thức đẩy tăng trưởng kinh tế
Trong chương 2, chúng tôi sẽ làm rõ hơn cơ chế tác động của nợ công lên tăng trưởng kinh tế bằng cách chỉ ra những kênh truyền dẫn mà nợ công thông qua đó, gây ảnh hưởng lên tăng trưởng kinh tế Những kênh truyền dẫn mà chúng tôi tìm hiểu được là: (i)
Trang 36tiết kiệm tư, (ii) đầu tư công, (iii) lãi suất danh nghĩa dài hạn tham chiếu, lãi suất thực và (iv) thuế Mục đích trình bày cơ chế tác động này của nợ công là giúp cho chúng ta có cái nhìn cụ thể, ro ràng về ảnh hưởng của nợ công đến chính sách tài khóa và chính sách tiền
tệ như thế nào, để từ đó cân đối số dư nợ công cho hợp lý, tránh gây những cú sốc trong hai loại chính sách kể trên
Chúng tôi tập trung giải thích kết quả phát hiện được trong bài nghiên cứu của hai
tác giả Cristina Checherita 21 và Philipp Rother 22, nợ công không tác động trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế mà thông qua những kênh truyền dẫn trung gian để từ đó mỗi sự thay đổi trong nợ công sẽ làm biến động những kênh trung gian này và qua đó tác động lên tăng trưởng kinh tế theo một độ trễ nhất định Đồng thời đưa ra những quan điểm và bằng chứng thực nghiệm khác để lý giải về mỗi cơ chế tác động đang xem xét
Hai tác giả trên tiến hành điều tra mối quan hệ giữa tỷ lệ nợ chính phủ trên GDP
và tỷ lệ tăng trưởng GDP trên đầu người đối với mẫu 12 nước thuộc khu vực đồng tiền Euro, gồm có: Áo, Bỉ, Phần Lan, Pháp, Đức, Hy Lạp, Ireland, Ý, Lucxembua, Hà Lan,
Bồ Đào Nha, và Tây Ban Nha Dữ liệu bắt nguồn đầu tiên từ cơ sở dữ liệu European Commission AMECO, trong suốt giai đoạn 1970-2011 Chúng ta thấy được một số bằng chứng cho các kênh truyền dẫn của tiết kiệm tư nhân, đầu tư công (xem các kết quả hồi quy trong Bảng A7.1 và A7.2, Phụ lục A7) Hai kênh truyền này có mối quan hệ phi tuyến với nợ công23
2.1.1 Nợ công vượt ngưỡng 82 – 91% GDP, tiết kiệm tư nhân sẽ chững lại
Việc phân tích kênh tỷ lệ tiết kiệm tư nhân sử dụng phương trình hồi quy sau:
Trang 37Phương trình xem xét tác động của nợ công lên tỷ lệ tiết kiệm tư nhân có biến phụ thuộc là tỷ lệ tiết kiệm tư nhân, biến độc lập là nợ công và nợ công bình phương Ngoài
tỷ lệ tiết kiệm tư nhân và biến số nợ, các biến kiểm soát còn lại là các yếu tố quyết định của tiết kiệm Tỷ lệ tiết kiệm tư nhân được cho rằng phụ thuộc vào: (i) mức thu nhập theo đầu người, (ii) những sự thay đổi nhân khẩu và cấu trúc dân số được xác định bởi tốc độ tăng trưởng dân số và tỷ số giữa số dân không thuộc độ tuổi lao động trên số dân thuộc
độ tuổi lao động, chia tách tỷ lệ người già và trẻ em phụ thuộc; (iii) mức thuế (được xác định bởi tổng số thu từ thuế của chính phủ tính theo phần trăm GDP); (iv) chiều sâu của
hệ thống tài chính và các chỉ số tài chính khác, được xác định bởi phần trăm tín dụng tư nhân trong nước trong GDP và lãi suất dài hạn; (v) các chỉ số thể hiện độ mở của nền kinh tế thu hút tiềm năng của các dòng vào và các dòng ra tiết kiệm nước ngoài
Các kết quả hồi quy đã trình bày trong Bảng A7.1 Phụ lục A7 chỉ ra tác động phi tuyến tương tự của nợ công đối với tiết kiệm tư nhân Điểm ngoặt trong tỷ lệ nợ trên GDP là tại các mức thấp hơn, ví dụ như giữa 82% và 91% Nếu vượt trên ngưỡng này và giữ cho các yếu tố khác không đổi thì khu vực tư nhân sẽ bắt đầu không tiết kiệm, điều này có thể là bằng chứng chống lại giả thuyết tương đương của Ricardian Các kết quả này có thể được giải thích bằng thực tế là các cá nhân có thể chống lại các áp lực do lạm phát gây ra và/hoặc những rắc rối trong thị trường tài chính và/hoặc sự chuyển giao vốn ra nước ngoài
Trang 382.1.2 Nợ công vượt ngưỡng 45% - 68% GDP, tỷ lệ đầu tư công có khuynh hướng giảm dần
Xét đến kênh đầu tư tư nhân, chúng tôi không tìm thấy tác động (trực tiếp) của nợ lên đầu
tư tư nhân Phương trình ước lượng tổng nguồn vốn cố định như sau:
Như được trình bày trong Bảng A7.2 Phụ lục A7, kết quả qua các mô hình khác nhau không thuyết phục thì cũng không mạnh, các biến số của nợ hầu như là vô nghĩa
Xoay quanh đầu tư công (tính trên tổng nguồn vốn cố định của chính phủ), phương trình hồi quy sau được đưa ra:
Kết quả hồi quy chỉ ra mối quan hệ dạng lõm giống nhau giữa nợ công và đầu tư công; với điểm ngoặt từ 45% GDP đến 68% GDP Vượt trên ngưỡng này, mối quan hệ phủ định giữa nợ công và đầu tư công có thể được giải thích bởi thực tế là khi nợ vay tăng quá cao, nỗi lo sợ về vấn đề phụ thuộc kinh tế và ảnh hưởng đến can thiệp chính trị
đã làm cho các Chính Phủ có xu hướng cắt giảm chi tiêu cho đầu tư công, kể cả việc xây dựng và bảo quản cơ sở hạ tầng công cộng, điều thiết yếu trong lĩnh vực công để dồn sức
hoàn trả những khoản nợ đang tăng dần
Liên quan đến kênh truyền đầu tư, có quan điểm cho rằng việc vay mượn của Chính Phủ thì mở rộng trong ngắn hạn nhưng bị thu hẹp trong dài hạn Lý thuyết kinh tế của Keynes tranh luận rằng: khi khoảng cách giữa giá cả và lương bổng bị thu hẹp, nợ cao hơn do cắt giảm thuế để tài trợ cho thâm hụt hoặc gia tăng tiêu dùng làm tăng tổng cầu, dẫn đến thu nhập và sản lượng đầu ra gia tăng Tuy nhiên, thâm hụt làm giảm tiết kiệm khu vực công Nếu tiết kiệm tư nhân và dòng vốn vào không tăng đủ để bù đắp hoàn toàn cho vay mượn của Chính Phủ, lãi suất sẽ tăng theo thời gian Kết quả là, đầu tư
Trang 39bị chèn lấn, vốn và sản lượng sẽ sụt giảm, làm vô hiệu hóa lợi ích mở rộng nợ trong ngắn hạn Như vậy, trong ngắn hạn, tác động của nợ Chính Phủ chủ yếu được xác định bởi kiểu cú sốc tài khóa hoặc tiền tệ gây ra việc mở rộng nợ Nợ Chính Phủ cao hơn vẫn có thể thu hút đầu tư vào trong nước mặc dù lãi suất thực cao hơn nếu nợ được tạo ra bởi việc giảm thuế hoặc bởi việc gia tăng đầu tư hữu ích của Chính Phủ, bởi vì cả hai đều làm tăng dòng vốn ròng Trong thời gian dài hơn, sau khi mở rộng nợ, việc bóp méo hệ thống thuế sẽ ảnh hưởng tiêu cực trong đầu tư Chúng tôi nhận thấy rằng hầu hết các công cụ tài chính phản ứng lại nợ một cách có hệ thống theo các ưu tiên: khi tỷ số nợ/sản lượng tăng, Chính Phủ sẽ giảm sức mua và gia tăng thuế thu nhập để ổn định nợ Trong số các công
cụ khác nhau được sử dụng điều chỉnh tài chính, tăng thuế thu nhập, thông thường là thuế suất đánh trên vốn, sẽ có tác động rất tiêu cực đối với đầu tư 24
2.1.3 Mối quan hệ giữa nợ công và lãi suất là không rõ ràng
Về tác động tiềm tàng của nợ công lên lãi suất quốc gia dài hạn, mô hình hồi quy sau được đưa ra lần lượt cho lãi suất danh nghĩa và lãi suất thực
Phương trình ước lượng lãi suất thực dài hạn cũng tương tự:
Trong khi tác động phi tuyến của nợ lên tỷ lệ nợ công trên GDP hầu như được xác định cho hai kênh đầu tiên, một tác động mạnh mẽ lên lãi suất danh nghĩa cũng như lãi suất thực dài hạn được tìm thấy từ những thay đổi trong tỷ lệ nợ Mức tỷ số nợ công
24 Nora Traum và Shu-Chun S Yang, “When does Government Debt crowd out investment”, 1/2010, CAEPR
Working Paper
Trang 40(hoặc là dạng tuyến tính hoặc là dạng bậc hai) đều không có ý nghĩa trên mức trung bình trong việc xác định lãi suất dài hạn trong mô hình nêu trên
Có một vài cách lý giải về mối quan hệ cùng chiều giữa nợ công và lãi suất
Thứ nhất, việc vay mượn nợ tăng khiến sự e ngại về mất khả năng trả nợ tăng, dẫn đến phần bù rủi ro được đẩy lên cao làm tăng lãi suất Cách lý giải này chưa chặt chẽ vì trong một mức độ nào đó, khi mà khả năng trả nợ của quốc gia chưa ở tình trạng “báo động” thì việc tăng phần bù rủi ro là không hợp lý
Thứ hai, giả định rằng Chính Phủ vay mượn để đầu tư, sự đầu tư kém hiệu quả của chính phủ dẫn đến lượng sản phẩm đầu ra không tương xứng với vốn đầu tư ban đầu, xuất hiện tình trạng sự vận động tiền không tương thích với số hàng hóa trên thị trường, làm cho lạm phát tăng lên Để giải quyết vấn đề lạm phát này, biện pháp “chữa cháy” tức thời của chính phủ là thắt chặt chính sách tiền tệ – tăng lãi suất Cách lý giải này phù hợp với nợ được bảo lãnh của chính phủ cho các doanh nghiệp Nhà nước làm ăn kém hiệu quả Tuy nhiên, đầu tư chỉ là một khía cạnh của việc vay nợ và nợ bảo lãnh cũng chiếm một tỷ lệ nhỏ trong nợ công, nên tác động theo cách lý giải này chưa bao quát được vấn
đề
Cách lý giải khác là dựa vào việc duy trì tình trạng có thể trả được nợ của Chính Phủ thông qua điều chỉnh chính sách thuế Khi Chính Phủ trì hoãn thuế bằng cách phát hành nợ hôm nay và tăng thuế trong tương lai, thế hệ tương lai sẽ gánh chịu một phần sự gia tăng thuế trong tương lai này Thế hệ hiện tại nhận thức rằng việc cắt giảm thuế hôm nay có giá trị hơn hiện giá của tất cả các khoản thuế trong tương lai, nói cách khác giảm thuế hôm nay dẫn đến sự giàu có ròng và do đó tăng tiêu dùng bằng cách giảm tài sản sản xuất (nhà xưởng, máy móc, thiết bị…) Vì vậy, bằng cách tăng mức nợ hiện tại và chuyển
sự giàu có qua các thế hệ, Chính Phủ làm giảm sự tích lũy vốn và kết quả là khiến lãi suất tăng.25 Tuy nhiên, Noriaki Kinoshita (2006) tiến hành hồi quy và nhận thấy ảnh hưởng
đến lãi suất của việc tăng chi tiêu Chính Phủ sẽ lớn hơn gấp nhiều lần so với ảnh hưởng của nợ công Vậy, chỉ khi nợ công tăng để bù chi thì ảnh hưởng lên lãi suất mới đáng kể
25 Noriaki Kinoshita, “Government Debt and Long-Term interest Rate”s của Noriaki Kinoshita, 3/2006