BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ QUỐC PHÒNG HỌC VIỆN QUÂN Y NGUYỄN HỒNG SƠN NGHIÊN CỨU BÀO CHẾ, ĐÁNH GIÁ ĐỘC TÍNH VÀ MỘT SỐ TÁC DỤNG SINH HỌC CỦA CAO KHÔ HÀNH ĐEN LUẬN ÁN TIẾN SĨ DƯỢC HỌC HÀ NỘI 2023 BỘ GIÁO[.]
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Hành tươi thu hoạch vào mùa vụ tháng 7/2017 tại huyện đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi được làm sạch đất cát rồi phơi khô để chuẩn bị lên men tạo hành đen Quá trình sản xuất diễn ra tại Trung tâm Nghiên cứu Ứng dụng Sản xuất Thuốc - Học viện Quân y, sau khi hành được vận chuyển bằng tàu và máy bay về bảo quản trong điều kiện khô ráo, thoáng mát để đảm bảo chất lượng.
Chúng tôi lựa chọn kỹ càng từng củ hành, ưu tiên những củ hành to, chắc chắn, có vỏ tím và không mọc mầm để đảm bảo chất lượng khi lên men thành hành đen Trước khi tiến hành nghiên cứu, hành được rửa sạch, để nguyên vỏ và phơi khô ráo nước, giúp quá trình lên men đạt hiệu quả cao và sản phẩm cuối cùng đạt chất lượng tối ưu.
Các mẫu củ đã nuôi cấy lên cây gồm thân, rễ, lá được làm tiêu bản lưu giữ tại Phòng Thí nghiệm 228, Bộ môn Khoa học Thực vật, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN Mẫu nghiên cứu này đã được TS Đỗ Thị Xuyến giám định và xác định tên khoa học là Allium ascalonicum L., thuộc họ Hành, góp phần quan trọng vào nghiên cứu thực vật tại trường.
- Chuột nhắt trắng chủng Swiss trưởng thành, khỏe mạnh, không phân biệt giống, cân nặng 20 - 25 g
- Thỏ trắng chủng New Zealand White trưởng thành, khỏe mạnh, không phân biệt giống, cân nặng 2,0 - 2,5 kg
- Các động vật do Ban cung cấp động vật thí nghiệm - Học viện Quân y cung cấp, được nuôi trong phòng thí nghiệm, ánh sáng tự nhiên, uống nước và ăn thức ăn bảo đảm theo nhu cầu
2.1.3 Các dòng tế bào và chủng vi sinh vật kiểm định cho nghiên cứu in vitro
Các dòng tế bào như A549 (tế bào ung thư phổi người), HepG2 (tế bào ung thư gan người), Hela (tế bào ung thư cổ tử cung người) và MCF-7 (tế bào ung thư vú người) đều được cung cấp bởi GS Joeng-Hyung Lee từ trường ĐHQG Các dòng tế bào này đóng vai trò quan trọng trong nghiên cứu về ung thư, giúp các nhà khoa học hiểu rõ hơn về đặc tính và cơ chế tiến triển của các loại ung thư khác nhau Việc sử dụng các dòng tế bào này hỗ trợ đắc lực cho công tác nghiên cứu thuốc và phát triển phương pháp điều trị mới, góp phần nâng cao hiệu quả điều trị ung thư.
- Các chủng vi sinh vật kiểm định chuẩn quốc tế ATCC: E coli
(ATCC25922), P aeruginosa (ATCC27853), S enterica (ATCC12228),
E faecalis (ATCC13124), S aureus (ATCC25923), B cereus (ATCC 13245) và nấm men C albicans (ATCC10231) được cung cấp bởi viện Kiểm nghiệm vệ sinh an toàn thực phẩm quốc gia
2.1.4 Thuốc thử, hóa chất và dung môi
Các thuốc thử, hóa chất, dung môi sử dụng, nguồn gốc và tiêu chuẩn được trình bày ở bảng 2.1
Bảng 2.1 Danh mục thuốc thử, hóa chất và dung môi sử dụng
STT Thuốc thử, hóa chất, dung môi Nguồn gốc Tiêu chuẩn
Dùng cho nghiên cứu bào chế
1 Protease Ấn Độ Hoạt lực 10000 IU/g
2 Cellulase Ấn Độ Hoạt lực 400 U/mg
3 Nước tinh khiết Việt Nam DĐVN V
4 Ethanol tuyệt đối Việt Nam DĐVN V
7 Gôm arabic Trung Quốc Nhà sản xuất
9 Lactose dạng khan Trung Quốc BP 2015
Dùng cho chiết xuất, phân lập
1 Methanol Trung Quốc Tinh khiết phân tích
2 Nước cất Việt Nam DĐVN V
3 Ethanol tuyệt đối Việt Nam DĐVN V
4 Dicloromethan Trung Quốc Tinh khiết phân tích
5 Ethyl acetat Trung Quốc Tinh khiết phân tích
6 n - hexan Trung Quốc Tinh khiết phân tích
STT Thuốc thử, hóa chất, dung môi Nguồn gốc Tiêu chuẩn
7 Aceton Trung Quốc Tinh khiết phân tích
Dùng cho đánh giá, kiểm nghiệm
Cycloalliin hydroclorid monohydrat chuẩn, hàm lượng 99,5% tính theo nguyên trạng, số lô KCK45
Wako Nhật Bản Nhà sản xuất
90,87% tính theo nguyên trạng Viện KN thuốc TƯ DĐVN V
Acid gallic monohydrat chuẩn, hàm lượng 99,69% tính theo nguyên trạng
Trung Quốc Nhà sản xuất
4 Thuốc thử Folin-Ciocalteu Đức Tinh khiết phân tích
5 Methanol Merck - Đức Tinh khiết HPLC
6 Acetonitril Merck - Đức Tinh khiết HPLC
7 Acid phosphoric Merck - Đức Tinh khiết HPLC
8 Nước cất 2 lần Việt Nam DĐVN V
9 Diethyl Ether Trung Quốc Nhà sản xuất
10 DMSO Merck - Đức Nhà sản xuất
11 FBS Gibco - Mỹ Nhà sản xuất
12 MTT Merck - Mỹ Nhà sản xuất
13 -glucosidase Sigma - Mỹ Nhà sản xuất
14 Na2HPO4 Merck - Mỹ Tinh khiết hóa học
15 Na2CO3 Merck - Mỹ Tinh khiết hóa học
16 Acarbose Sigma - Mỹ Nhà sản xuất
17 Camptothecin Trung Quốc Nhà sản xuất
18 Streptomycin Mỹ Nhà sản xuất
19 Cyclohexamid Mỹ Nhà sản xuất
20 Bột pha tiêm Streptozocin MP Biochemicals
(Glucophage 500 mg) Merck - Đức Nhà sản xuất
Một số thuốc thử, hóa chất, dung môi khác thường dùng trong thí nghiệm
Bảng 2.2 Thiết bị sử dụng trong nghiên cứu
STT Thiết bị Nước sản xuất
Thiết bị trong bào chế
1 Tủ lên men hành đen, Constant Temp & Humidity Chamber
2 Tủ sấy YDO 200 Trung Quốc
3 Hệ thống chiết xuất, cô thu hồi dung môi DT-100S Trung Quốc
4 Thiết bị phun sấy LPG-5 Trung Quốc
Thiết bị trong chiết xuất, phân lập
1 Bản mỏng tráng sẵn pha thuận DC-Alufolien 60 GF254 Đức
2 Bản mỏng tráng sẵn pha đảo RP-18GF254S Đức
3 Thiết bị chiết siêu âm Sony Medi SM30 - CEP Hàn Quốc
4 Hệ thống cất quay Rotavapor R-200 Ika Rota Đức
5 Tủ sấy Ketong TDA-8001 Trung Quốc
6 Máy đo phổ khối Agilent 6550 iFunnel Q-TOF và Agilent
7 Máy đo phổ cộng hưởng từ Bruker AM500 FT-NMR
Thiết bị trong đánh giá, kiểm nghiệm
1 Hệ thống máy HPLC Alliance Waters 2695D Mỹ
2 Cột sắc ký Wakopak Wakosil 5NH2, kích thước cột 250 mm ×
4,6 mm, đường kớnh hạt nhồi 5 àm Nhật Bản
3 Máy quang phổ UV - VIS UI 900 Hitachi Nhật Bản
4 Cân xác định độ ẩm tự động Adam AMB310 Anh
5 Kính hiển vi sinh học Labomert và quét laze LSM510 Meta Đức
6 Máy đo quang phổ hấp phụ nguyên tử AAS Analytik Jena Đức
7 Tủ vi khí hậu Binder 115 Đức
8 Máy huyết học tự động Nihon Kohden Celtas Nhật Bản
9 Máy xét nghiệm sinh hóa tự động Cobas 8000 Roche - Hitachi Đức
10 Máy đọc ELISA Bio - Rad Mỹ
11 Khay 96 giếng SPL Life Sciences Hàn Quốc
Một số dụng cụ, thiết bị khác thường dùng trong phòng thí nghiệm
2.1.6 Địa điểm thực hiện nghiên cứu
Trung tâm Nghiên cứu Ứng dụng và Sản xuất Thuốc, Viện Đào tạo Dược - Học viện Quân y focus vào nghiên cứu quy trình lên men hành đen để tối ưu hóa chất lượng sản phẩm Đồng thời, trung tâm nghiên cứu thành phần hóa học và phân lập các hợp chất quan trọng trong hành đen, góp phần làm rõ tác dụng dược lý của nguyên liệu này Việc bào chế cao khô hành đen và nghiên cứu độ ổn định của chế phẩm giúp đảm bảo hiệu quả và an toàn cho người dùng Ngoài ra, trung tâm còn xây dựng tiêu chuẩn chất lượng (TCCS) cho nguyên liệu hành tây, hành đen và cao khô hành đen, đảm bảo các sản phẩm đạt tiêu chuẩn quốc tế.
Bộ môn Sinh lý bệnh tại Trung tâm Nghiên cứu Động vật Thực nghiệm, Học viện Quân Y, tiến hành nghiên cứu độc tính và đánh giá tác dụng sinh học của cao khô hành đen Nghiên cứu này nhằm xác định mức độ an toàn của cao khô hành đen và khám phá các tác dụng sinh học tiềm năng của nó trong điều trị y học Các kết quả này góp phần vào việc phát triển các sản phẩm dược liệu an toàn, hiệu quả từ hành đen, đáp ứng các tiêu chuẩn của ngành y tế và dược phẩm.
- Viện hóa sinh biển - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam: Thử một số tác dụng sinh học của cao khô hành đen.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Nghiên cứu xây dựng quy trình lên men tạo hành đen và tiêu chuẩn chất lượng hành đen
2.2.1.1 Thẩm định phương pháp định lượng cycloalliin trong hành đen bằng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao
Dựa trên một số tài liệu tham khảo và khảo sát sơ bộ ban đầu, hàm lượng CYC trong hành đen được xác định bằng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC) theo các điều kiện đã được nghiên cứu và đề xuất, đảm bảo độ chính xác và độ nhạy cao trong phân tích hợp chất này.
- Cột sắc ký: Cột Wakopak Wakosil 5NH2 (250 x 4,6 mm, 5 àm)
- Pha động: Dung dịch acid phosphoric 0,5% trong nước (A) và dung dịch acid phosphoric 0,5% trong acetonitril (B) chạy theo chương trình gradient (0-5 phút: 84% B, 5-15 phút: 84-80% B, 15-20 phút: 80-84%B, 20-
- Tốc độ dòng pha động: 1,5 ml/phút
- Thể tớch tiờm mẫu: 10 àl
- Detector UV, bước sóng 210 nm
Dung dịch chuẩn gốc CYC có nồng độ 1,0 mg/ml được pha trong hỗn hợp acetonitril và nước theo tỷ lệ 50:50 Từ dung dịch này, có thể chuẩn bị các dung dịch chuẩn làm việc với nồng độ lần lượt là 5, 10, và 25 mg/ml trong cùng hỗn hợp acetonitril - nước 50:50 Quy trình này đảm bảo độ chính xác và độ tin cậy cho các phép phân tích.
Mẫu thử hành đen được chuẩn bị bằng cách cân chính xác khoảng 5,0 g hành đen, nghiền nhỏ và cho vào bình nón 50 ml Tiến hành chiết siêu âm trong 90 phút ở 40°C với dung môi methanol (3 lần x 30 ml), sau đó gộp các dịch chiết, lọc qua giấy lọc vào bình định mức 100 ml, thêm methanol đến vạch và lắc đều để tạo dung dịch phù hợp Dung dịch này được pha loãng tới nồng độ thích hợp bằng methanol, lọc qua màng 0,45 µm trước khi tiến hành phân tích HPLC, đảm bảo độ tinh khiết và chính xác của mẫu nghiên cứu.
- Hàm lượng CYC trong hành đen được tính theo công thức:
Hàm lượng CYC (mg/g) được tính bằng công thức: CYC = C x f x 100 x 100 / m x (100 - h) x 1000, trong đó C là nồng độ CYC trong dịch chiết tính từ đường chuẩn xây dựng được (àg/ml), m là khối lượng hành đen (g), f là hệ số pha loãng, và h là độ ẩm hành đen (%) Công thức này giúp xác định chính xác hàm lượng CYC trong mẫu hành đen, đảm bảo các tiêu chuẩn về an toàn và chất lượng sản phẩm.
Để đảm bảo phương pháp định lượng CYC chính xác trong phạm vi giới hạn nồng độ đã khảo sát, quy trình thẩm định phương pháp cần tuân thủ theo hướng dẫn chung của AOAC [105] Quá trình này giúp xác định độ chính xác, độ tuyến tính và độ hoạt động của phương pháp trong phạm vi nồng độ, từ đó nâng cao độ tin cậy và hiệu quả của kết quả phân tích Việc thực hiện thẩm định đúng quy trình là yếu tố then chốt để đảm bảo kết quả định lượng đáng tin cậy và phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế.
+ Tính tương thích hệ thống: Phân tích sắc ký 6 lần liên tiếp mẫu chuẩn
Công suất nhóm CYC đạt nồng độ 4,95 ng/ml, được lựa chọn dựa trên điều kiện đã đặt ra Quá trình phân tích bao gồm việc ghi lại thời gian lưu, diện tích pic, số đĩa lý thuyết và hệ số bất đối xứng, giúp đảm bảo độ chính xác của kết quả Đánh giá độ chính xác được thực hiện thông qua giá trị RSD, phản ánh sự biến thiên của các phép đo Các bước này giúp xác định độ tin cậy của phương pháp và đảm bảo kết quả phân tích đạt yêu cầu chuẩn phù hợp với các tiêu chuẩn SEO.
Để đảm bảo tính chọn lọc và đặc hiệu, phân tích đồng thời mẫu chuẩn CYC, dung môi pha mẫu và mẫu thử trong cùng điều kiện sắc ký đã được lựa chọn Quá trình so sánh hình ảnh (pic) của dung môi pha mẫu và mẫu thử tại thời gian lưu của mẫu chuẩn CYC giúp xác định đặc tính và hiệu quả phân tích một cách chính xác nhất.
Phân tích sắc ký dãy chuẩn CYC với nồng độ từ 4,95 đến 99,82 àg/ml giúp xác định khoảng nồng độ tuyến tính của phương pháp Độ liên quan giữa diện tích mẫu sắc ký và nồng độ dung dịch chuẩn thể hiện mối liên hệ tuyến tính rõ ràng, đảm bảo độ chính xác trong đo lường Việc chọn đúng khoảng nồng độ này là yếu tố quan trọng để xây dựng phương pháp phân tích đáng tin cậy.
Độ lặp lại của phương pháp được đánh giá bằng cách đo lường hàm lượng CYC trên các lượng cân khác nhau (50, 100 và 150 mg) cùng một mẫu hành đen Mỗi lượng cân được chuẩn bị 3 mẫu để đảm bảo tính chính xác và độ tin cậy của kết quả Phân tích sắc ký được thực hiện theo điều kiện đã được tối ưu hóa trong cùng một ngày để xác định độ lặp lại trong ngày, đồng thời phân tích trên các mẫu khác ngày để kiểm tra độ lặp lại giữa các ngày.
+ Độ đúng: Thực hiện theo phương pháp thêm chuẩn Cân chính xác 50 mg hành đen, tiến hành chiết như mô tả ở mục chuẩn bị mẫu thử Tiến hành thêm các lượng chuẩn lần lượt là 1,2; 1,8 và 2,4 mg chất chuẩn vào dịch chiết hành đen sao cho hàm lượng hoạt chất trong mẫu phân tích nằm trong khoảng tuyến tính Tiến hành phân tích sắc ký theo điều kiện đã lựa chọn Độ đúng được xác định dựa vào tỷ lệ % lượng chất tìm thấy so với lượng thực tế thêm vào
2.2.1.2 Phương pháp xây dựng tiêu chuẩn cơ sở dược liệu hành ta làm nguyên liệu bào chế hành đen
Nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn cơ sở (TCCS) trên 5 mẫu hành ta thu mua ở huyện đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi với các chỉ tiêu:
- Mô tả dược liệu: Mô tả hình thái, màu sắc, mùi vị bằng cảm quan
Hàm lượng nước của hành được xác định theo tiêu chuẩn DĐVN V, phụ lục 12.13, bằng phương pháp cất với dung môi để đảm bảo độ chính xác Phương pháp sử dụng phần thân hành bên trong để tiến hành thử nghiệm nhằm đo lường chính xác hàm lượng nước trong sản phẩm [106].
Tro toàn phần được xác định bằng phương pháp thử theo DĐVN V, phụ lục 9.8 Cần lấy 2 g bột mẫu thử, đặt vào chén sứ đã nung và cân kỹ, sau đó nung ở nhiệt độ không quá 450°C cho đến khi không còn carbon Sau khi làm nguội, cân lại chén sứ và tính tỷ lệ phần trăm của tro toàn phần dựa trên dược liệu đã được làm khô trong không khí, đảm bảo độ chính xác và tuân thủ tiêu chuẩn kỹ thuật.
- Giới hạn kim loại nặng: Thử theo DĐVN V, phụ lục 9.4.11 - Phương pháp AAS, xác định giới hạn 4 kim loại nặng gồm: Cd, Hg, As, Pb [106]
- Định tính cycloalliin: Trong phần định lượng, so sánh thời gian lưu
(tR) của CYC trên sắc ký đồ của dung dịch thử và chuẩn
Định lượng cycloalliin được thực hiện bằng phương pháp HPLC theo điều kiện sắc ký đã được lựa chọn trong mục 2.2.1.1 Mẫu thử được chuẩn bị tương tự như mẫu thử hành đen, chỉ khác biệt ở việc thay hành đen bằng hành ta, giúp đảm bảo độ chính xác và tin cậy trong quá trình phân tích.
2.2.1.3 Phương pháp xây dựng quy trình lên men tạo hành đen
Hành đen được hình thành qua quá trình lên men tự nhiên của hành ta dưới điều kiện nhiệt độ, độ ẩm thích hợp, có thể bổ sung enzym như protease hoặc cellulase để thúc đẩy quá trình lên men Quá trình lên men hành đen diễn ra trong tủ lên men có khả năng điều chỉnh nhiệt độ và độ ẩm, giúp các nhà nghiên cứu khảo sát ảnh hưởng của các yếu tố này đến sự biến đổi màu sắc, thể chất và hàm lượng CYC của hành đen Trong đó, thời gian lên men là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến độ hoàn chỉnh và chất lượng của sản phẩm.
Trong quá trình chuẩn bị hành để lên men, nguyên liệu được loại bỏ đất, cát và củ không đảm bảo chất lượng để đảm bảo hiệu quả lên men tối ưu Quá trình lên men hành được duy trì ở nhiệt độ khoảng 65-70°C và độ ẩm tương đối khoảng 70% để thúc đẩy quá trình lên men diễn ra thuận lợi Lấy mẫu hành ở các ngày 2, 4, 6, 8, 10, 12, 14, 16, 18, 20, 22, 24, 26, 28, 30 để đánh giá sự biến đổi về màu sắc, thể chất và hàm lượng CYC, qua đó xác định thời gian thích hợp cho quy trình lên men hành đen trong quy mô phòng thí nghiệm (2 kg/mẻ) Ngoài ra, nghiên cứu cũng khảo sát ảnh hưởng của độ ẩm đến quá trình lên men để tối ưu hóa điều kiện lên men hành đen.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG QUY TRÌNH LÊN MEN TẠO HÀNH ĐEN VÀ TIÊU CHUẨN CHẤT LƯỢNG HÀNH ĐEN
3.1.1 Kết quả thẩm định phương pháp định lượng cycloalliin trong hành đen bằng sắc ký lỏng hiệu năng cao
* Tính tương thích của hệ thống sắc ký
Tiến hành tiêm lặp lại 6 lần trên một dung dịch chuẩn có nồng độ CYC 4,95 àg/ml với cỏc điều kiện chạy sắc ký được thể hiện ở mục 2.2.1.1, ghi lại các giá trị về thời gian lưu, diện tích pic Độ lặp lại của hệ thống được biểu thị bằng độ lệch chuẩn tương đối RSD của diện tích pic Kết quả được trình bày ở bảng 3.1
Bảng 3.1 Kết quả khảo sát tính tương thích của hệ thống sắc ký (n=6)
Lần đo Thời gian lưu t R (phút)
Hệ số bất đối xứng
Kết quả phân tích cho thấy, độ lệch chuẩn tương đối (RSD) của thời gian lưu và diện tích pic CYC đều nhỏ hơn 2%, khẳng định độ chính xác của phương pháp Hệ số bất đối xứng của pic CYC nằm trong khoảng 0,8 - 1,5, cho thấy dữ liệu phân tích đạt chuẩn về tính đối xứng Số đĩa lý thuyết trung bình là 5690, chứng tỏ phương pháp phân tích phù hợp và tối ưu cho hệ thống sắc ký này.
* Tính chọn lọc - đặc hiệu của phương pháp phân tích
Tiến hành tiêm mẫu chuẩn, mẫu thử và dung môi pha mẫu qua cột sắc ký dưới các điều kiện sắc ký đã trình bày tại mục 2.2.1.1 để phân tích các đặc điểm của pic sắc ký Quá trình này giúp xác định các thành phần trong mẫu dựa trên hình dạng và vị trí của các đỉnh trên sắc ký đồ Kết quả phân tích được trình bày trong hình 3.1, thể hiện rõ các đặc trưng của các thành phần phân tích, từ đó hỗ trợ đánh giá và so sánh mẫu thử với mẫu chuẩn một cách chính xác.
Hình 3.1 Sắc ký đồ của mẫu chuẩn, mẫu thử và dung môi pha mẫu
Kết quả phân tích cho thấy, mẫu thử hành đen xuất hiện điểm đặc trưng của CYC phù hợp với mẫu chuẩn trên sắc ký đồ, đồng thời không xuất hiện trên sắc ký đồ dung môi pha mẫu, xác định tính đặc hiệu của phương pháp Các điểm chuẩn của CYC trên sắc ký đồ mẫu thử hành đen tách hoàn toàn các tạp chất, đảm bảo độ chính xác và độ nhạy của phương pháp phân tích Như vậy, phương pháp này đảm bảo độ chọn lọc cao và phù hợp để phát hiện CYC trong mẫu thử, nâng cao hiệu quả kiểm nghiệm.
* Khoảng nồng độ tuyến tính
Bạn có thể sử dụng dung dịch chuẩn gốc để pha các dung dịch chuẩn CYC với độ pH lần lượt là 4,95; 9,80; 25,43; 49,63; 75,38 và 99,82 àg/ml Quá trình pha chế được thực hiện theo phương pháp mô tả trong phần 2.2.1.1 để đảm bảo độ chính xác và hiệu quả Kết quả của quá trình pha chế đã được trình bày rõ trong bảng 3.2 và hình 3.2, giúp minh họa chính xác các nồng độ đạt được của dung dịch chuẩn CYC.
Bảng 3.2 Diện tích pic của dãy dung dịch cycloalliin chuẩn (n=6)
STT Nồng độ (àg/ml) Diện tớch pic (mAU.s)
Hình 3.2 Đồ thị mối quan hệ tuyến tính của diện tích pic và nồng độ cycloalliin trong khoảng khảo sát
Kết quả phân tích cho thấy, đường hồi quy của CYC là đường thẳng dạng y = 25119x + 841,21 với hệ số xác định R² gần bằng 1 (0,9999), chứng tỏ có mối liên hệ tuyến tính rất chặt chẽ giữa diện tích pic và nồng độ CYC trong khoảng nồng độ khảo sát Đây là một kết quả quan trọng để dự đoán nồng độ CYC dựa trên diện tích pic, giúp tối ưu hóa quy trình phân tích và đảm bảo độ chính xác cao trong đo lường chất lượng.
Thực hiện như phần phương pháp mô tả ở mục 2.2.1.1, kết quả được trình bày ở bảng 3.3
Bảng 3.3 Kết quả khảo sát độ lặp lại của phương pháp (n = 9) n
Khối lượng hành đen (mg)
Kết quả phân tích của 2 ngày (n = 18)
Nghiên cứu cho thấy, RSD đạt 0,94% ở mức độ nồng độ này, thấp hơn mức giới hạn tối đa 1,3% theo tiêu chuẩn AOAC Các điểm khảo sát trong ngày và các ngày khác đều có RSD nhỏ hơn 1,3%, chứng tỏ phương pháp phân tích có độ lặp lại cao và đáp ứng yêu cầu về độ chính xác trong việc xác định hoạt chất trong mẫu.
Độ đúng của phương pháp được xác định bằng cách áp dụng phương pháp thêm chuẩn theo hướng dẫn trong mục 2.2.1.1, đảm bảo tính chính xác và khách quan của quá trình đo lường Kết quả thực hiện đã được trình bày rõ ràng trong bảng 3.4, giúp đánh giá chính xác độ đúng của phương pháp và đảm bảo tuân thủ các tiêu chuẩn kiểm định kỹ thuật.
Bảng 3.4 Kết quả khảo sát độ đúng của hệ thống sắc ký (n = 9)
Lượng chất chuẩn thêm vào (mg)
Lượng chất chuẩn tìm lại (mg)
Kết quả cho thấy, tại mỗi mức nồng độ, tỷ lệ thu hồi của CYC đều nằm trong khoảng 98-102%, đảm bảo độ chính xác của phương pháp đo lường Hơn nữa, RSD của CYC tại mỗi mức nồng độ đều thấp hơn 1,3%, cho thấy độ lặp lại và độ chính xác của quy trình Như vậy, quy trình định lượng CYC trong hạt điều đạt độ đúng và đáng tin cậy cao.
Phương pháp HPLC với các điều kiện sắc ký đã được đánh giá và đạt yêu cầu về thẩm định, cho thấy tính khả thi cao trong phân tích hàm lượng Cyclosporin (CYC) Kết quả này khẳng định rằng phương pháp HPLC là công cụ đáng tin cậy để xác định chính xác lượng CYC trong mẫu phân tích Việc lựa chọn điều kiện sắc ký phù hợp đảm bảo tính chính xác và độ lặp lại của phương pháp, hỗ trợ các nghiên cứu cũng như kiểm nghiệm dược phẩm.
3.1.2 Kết quả xây dựng tiêu chuẩn cơ sở dược liệu hành ta làm nguyên liệu bào chế hành đen
* Mô tả dược liệu: Thân hành (quen gọi là củ) hình tròn hoặc dài, đường kính chỗ lớn nhất 1 cm đến 2 cm, dài 4 cm đến 5 cm, bên ngoài có một vài lớp vẩy khô màu tím, phần trên màu nâu tím, phần dưới màu tím nhạt, các lớp bên trong màu đỏ trắng, vị cay nóng, mùi hăng đặc trưng
Hình 3.3 Thân hành ta ( Allium ascalonicum L.)
Tiến hành xác định hàm lượng nước của các mẫu hành ta, kết quả được trình bày trong bảng 3.5
Bảng 3.5 Kết quả xác định hàm lượng nước của các mẫu hành ta
Kết quả phân tích cho thấy, các mẫu hành tươi thử nghiệm có hàm lượng nước dao động từ 76,33% đến 79,00% Vì vậy, tiêu chuẩn hàm lượng nước của hành trong xây dựng TCCS đề xuất không quá 80%, đảm bảo chất lượng và khả năng bảo quản của sản phẩm.
Tiến hành xác định tro toàn phần của các mẫu hành ta, kết quả được trình bày trong bảng 3.6
Bảng 3.6 Kết quả xác định hàm lượng tro toàn phần của hành ta
Kết quả phân tích cho thấy các mẫu hành ta thử nghiệm có hàm lượng tro toàn phần dao động từ 2,80 đến 3,03%, đảm bảo tiêu chuẩn an toàn và chất lượng Vì vậy, tiêu chuẩn về hàm lượng tro toàn phần trong xây dựng TCCS không quá 5% theo khối lượng dược liệu khô kiệt, góp phần đảm bảo tính hiệu quả và độ an toàn của sản phẩm.
* Giới hạn kim loại nặng
Kết quả phân tích hàm lượng kim loại nặng cho thấy các chỉ tiêu kim loại nặng Pb, Cd, As, Hg trong năm mẫu hành ta đều dưới ngưỡng phát hiện của máy Dựa theo tiêu chuẩn của DĐVN V về giới hạn kim loại nặng cho các dược liệu khác, các chỉ tiêu giới hạn đề xuất cho kim loại nặng trong mẫu là an toàn và phù hợp để sử dụng.
As ≤ 1,0 mg/kg; Cd ≤ 1,0 mg/kg; Hg ≤ 0,1 mg/kg; Pb ≤ 3,0 mg/kg
Tiến hành định tính CYC trong mẫu chuẩn và mẫu thử, kết quả được trình bày ở hình 3.4
Hình 3.4 Sắc ký đồ định tính CYC trong hành ta
Kết quả phân tích cho thấy, trên sắc ký đồ của mẫu hành ta xuất hiện điểm đặc trưng của CYC với thời gian lưu tương ứng khoảng 11,170 phút, xác định sự hiện diện của CYC trong mẫu.
Tiến hành định lượng CYC trong các mẫu hành ta bằng phương pháp HPLC đã thẩm định, kết quả được trình bày trong bảng 3.7
Bảng 3.7 Kết quả định lượng CYC trong các mẫu hành ta
Mẫu Khối lượng cân (g) Spic (mAU.s) Hàm lượng CYC
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU BÀO CHẾ VÀ XÂY DỰNG TIÊU CHUẨN CAO KHÔ HÀNH ĐEN
3.2.1 Kết quả xây dựng quy trình bào chế cao khô hành đen
3.2.1.1 Nghiên cứu điều chế dịch chiết hành đen
Nguyên liệu hành đen đã được nghiên cứu và chiết xuất đạt tiêu chuẩn TCCS, với hàm lượng CYC đạt 80,86 ± 1,30 mg/g dựa trên dược liệu khô ráo, độ ẩm 24,66% Trong quá trình nghiên cứu, các phương pháp chiết xuất đã được khảo sát để lựa chọn phương pháp tối ưu phù hợp.
Tiến hành chiết xuất hành đen theo phương pháp chiết nóng và siêu âm như đã mô tả ở mục 2.2.2.1.a Kết quả chiết xuất được trình bày ở bảng 3.22
Bảng 3.22 Ảnh hưởng của phương pháp chiết đến chiết xuất cycloalliin
Kết quả cho thấy, khi dùng dung môi là ethanol 50% với cùng khối lượng nguyên liệu, tỷ lệ DM/DL là 20/1 (thể tích/khối lượng), thời gian chiết
Phương pháp chiết nóng giúp tăng hàm lượng CYC thực tế tính theo dược liệu khô kiệt và nâng cao hiệu suất chiết so với phương pháp siêu âm Do đó, phương pháp chiết nóng được lựa chọn làm phương pháp chính để khảo sát các thông số quy trình chiết xuất nhằm tối ưu hoá hiệu quả thu hoạch CYC.
Sau khi xác định phương pháp chiết nóng phù hợp dựa trên khảo sát ban đầu, chúng tôi tiếp tục nghiên cứu ảnh hưởng của các thông số quy trình đến chất lượng và hiệu suất chiết cao lỏng hạt hành đen Điều này giúp tối ưu hóa quy trình chiết xuất, nâng cao năng suất và đảm bảo chất lượng sản phẩm cuối cùng Việc điều chỉnh các yếu tố như nhiệt độ, thời gian và tỷ lệ dung môi đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả chiết xuất cao lỏng hành đen, đáp ứng tiêu chuẩn an toàn và chất lượng cao.
* Ảnh hưởng của loại dung môi:
Tiến hành chiết nóng hành đen ở nhiệt độ 80°C trong thời gian 120 phút, thực hiện một lần với tỷ lệ DM/DL là 20/1 ( thể tích/khối lượng) Nghiên cứu ảnh hưởng của các dung môi chiết là nước và ethanol với các nồng độ khác nhau (30%, 50%, 70%, 90%) để xác định hiệu quả chiết Kết quả các thí nghiệm được trình bày trong Bảng 3.23, cho thấy sự ảnh hưởng của loại dung môi và nồng độ ethanol đến khả năng chiết xuất hoạt chất từ hành đen.
Bảng 3.23 Ảnh hưởng của dung môi đến chiết xuất cycloalliin
Mẫu Dung môi chiết Hàm lượng CYC (mg/g)
Kết quả cho thấy, hiệu suất chiết của ethanol 50% và ethanol 70% gần như tương đương, nhưng cao hơn rõ rệt so với ethanol 30%, ethanol 90% và nước Do đó, ethanol 50% được chọn làm dung môi phù hợp để chiết xuất, vì đây là dung môi an toàn hơn khi áp dụng trong quy trình sản xuất công nghiệp so với ethanol 70%.
* Ảnh hưởng của tỷ lệ dung môi/dược liệu:
Tiến hành chiết nóng hành đen ở nhiệt độ 80°C trong vòng 120 phút, sử dụng ethanol 50% làm dung môi với quy trình chiết một lần Khảo sát ảnh hưởng của tỷ lệ DM/DL (ml/g) từ 10/1 đến 30/1 đã được thực hiện và kết quả được trình bày trong bảng 3.24.
Bảng 3.24 Ảnh hưởng của tỷ lệ dung môi/dược liệu đến chiết xuất cycloalliin
Mẫu Tỷ lệ DM/DL
Kết quả nghiên cứu cho thấy, khi tỷ lệ DM/DL tăng, lượng hoạt chất chiết xuất từ dược liệu cũng tăng theo Trong quá trình khảo sát, đã so sánh ba tỷ lệ DM/DL khác nhau để xác định ảnh hưởng của chúng đến hiệu quả chiết xuất hoạt chất Điều này cho thấy việc điều chỉnh tỷ lệ DM/DL có thể tối ưu hóa lượng hoạt chất thu được từ dược liệu.
Tỷ lệ chiết xuất từ dược liệu ở các mức 20/1, 25/1 và 30/1 không có nhiều khác biệt về lượng hoạt chất thu được Tuy nhiên, chiết ở tỷ lệ DM/DL là 25/1 hoặc 30/1 sẽ tốn nhiều chi phí hơn do tiêu hao nhiều dung môi hơn, đồng thời kéo dài thời gian và tiêu hao nhiên liệu để loại bỏ dung môi thành cao lỏng ở giai đoạn sau Do đó, tỷ lệ DM/DL 20/1 được xem là lựa chọn tối ưu cho quy trình chiết xuất dược liệu.
* Ảnh hưởng của số lần chiết:
Tiến hành chiết nấm đen bằng phương pháp chiết nóng ở nhiệt độ 80°C trong thời gian 120 phút mỗi lần, sử dụng dung môi ethanol 50% với tỷ lệ dung môi trên lượng mẫu là 20/1 (thể tích/khối lượng) Khảo sát ảnh hưởng của số lần chiết từ 1 đến 3 lần, kết quả được trình bày trong bảng 3.25, nhằm đánh giá sự tối ưu hóa quá trình chiết.
Bảng 3.25 Ảnh hưởng của số lần chiết đến chiết xuất cycloalliin
Kết quả cho thấy, số lần chiết lần đầu (1 lần) cho lượng hoạt chất thấp nhất trong dược liệu Khi tăng số lần chiết lên 2 và 3 lần, lượng hoạt chất được chiết ra tăng rõ rệt, giúp tối ưu hóa hiệu quả thu hoạch hoạt chất từ dược liệu Tuy nhiên, quá trình chiết nhiều lần cần cân nhắc để đảm bảo hiệu quả và tiết kiệm nguồn nguyên liệu.
Dựa trên nghiên cứu, lượng hoạt chất chiết ra từ dược liệu sau 3 lần chiết chỉ cao hơn 3,55% so với quy trình 2 lần chiết Trong việc xây dựng quy trình chiết xuất ứng dụng thực tế, cần cân nhắc giữa việc tối ưu hóa lượng hoạt chất và chi phí sản xuất, vì tăng số lần chiết sẽ kéo theo tăng về thời gian, nguyên liệu và nhân công Do đó, lựa chọn quy trình 2 lần chiết là phù hợp cho các nghiên cứu tiếp theo để đảm bảo hiệu quả kinh tế.
* Ảnh hưởng của nhiệt độ chiết:
Tiến hành chiết nóng hành đen với thời gian 120 phút mỗi lần, sử dụng ethanol 50% làm dung môi, thực hiện hai lần chiết với tỷ lệ DM/DL là 20/1 (thể tích/khối lượng) Các nghiên cứu được thực hiện ở các nhiệt độ khác nhau (60ºC, 70ºC, 80ºC và 90ºC) nhằm khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ đến quá trình chiết, kết quả của các thử nghiệm được trình bày rõ trong bảng 3.26.
Bảng 3.26 Ảnh hưởng của nhiệt độ chiết đến chiết xuất cycloalliin
Nhiệt độ chiết xuất ảnh hưởng rõ rệt đến hàm lượng CYC thu được trong dịch chiết, với hiệu suất chiết tăng khi nhiệt độ tăng lên đến 80°C Ở nhiệt độ này, hiệu suất chiết đạt mức cao nhất là 87,61%, cho thấy đây là nhiệt độ tối ưu để tối đa hóa lượng CYC Tuy nhiên, khi nhiệt độ vượt quá 80°C (đến 90°C và cao hơn), hiệu suất chiết không còn tăng thêm, cho thấy không cần thiết phải tăng nhiệt độ vượt mức này Vì vậy, chọn nhiệt độ chiết xuất phù hợp nhất là 80°C để đạt hiệu quả tối ưu trong quy trình chiết CYC.
* Ảnh hưởng của thời gian chiết:
Tiến hành chiết nóng hành đen dưới cùng điều kiện, sử dụng ethanol 50% làm dung môi, thực hiện hai lần chiết với tỷ lệ DM/DL 20/1 (thể tích/khối lượng) và nhiệt độ chiết 80°C Quá trình chiết được khảo sát ở các thời gian khác nhau (90, 120 và 150 phút) nhằm đánh giá hiệu quả extraction, kết quả cụ thể được trình bày trong bảng 3.27 để so sánh và phân tích.
Bảng 3.27 Ảnh hưởng của thời gian đến chiết xuất cycloalliin
Mẫu Thời gian mỗi lần chiết
Kết quả nghiên cứu cho thấy, thời gian chiết xuất kéo dài 90 phút dẫn đến lượng hoạt chất chiết được từ dược liệu đạt mức thấp nhất Khi thời gian mỗi lần chiết tăng lên, khả năng chiết xuất hoạt chất cũng có xu hướng tăng, giúp tối ưu hiệu quả thu hoạch dược liệu Việc điều chỉnh thời gian chiết là yếu tố quan trọng để nâng cao năng suất và chất lượng hoạt chất trong quá trình chế biến dược phẩm.
ĐÁNH GIÁ ĐỘC TÍNH VÀ TÁC DỤNG SINH HỌC CỦA CAO KHÔ HÀNH ĐEN
3.3.1 Kết quả đánh giá độc tính của cao khô hành đen
3.3.1.1 Đánh giá độc tính cấp của cao khô hành đen
Trong thí nghiệm này, liều tối đa hòa tan của cao khô hành đen trong nước cất là 100 mg/ml để có thể cho chuột uống Chuột nhắt thường được cho uống với liều 0,1 ml/10 g cân nặng (tương đương 10 ml/kg), thực hiện 3 lần trong ngày, tương đương liều tối đa là 3000 mg/kg Các mẫu thử ở liều tối đa đã được pha loãng dần rồi cho 7 lô chuột uống để theo dõi tình trạng sức khỏe và tỷ lệ sống chết trong 72 giờ sau khi uống thuốc Kết quả được trình bày trong bảng 3.42 nhằm đánh giá tác động của cao khô hành đen ở các liều khác nhau.
Bảng 3.42 Tỷ lệ chuột sống, chết sau 72 giờ uống cao khô hành đen
Lô chuột Liều (mg mẫu thử/kg chuột)
Sau 72 giờ sử dụng cao khô hành đen ở các liều từ 750 mg/kg đến 3000 mg/kg, chuột vẫn hoạt động và ăn uống bình thường, lông mượt, mắt trong, không gặp khó thở, phân thành khuôn và hậu môn sạch sẽ Không có chuột nào chết trong suốt quá trình theo dõi, do đó chưa xác định được LD50 của cao khô hành đen Kết quả này khẳng định cao khô hành đen không gây độc cho chuột nhắt trắng ở liều tối đa 3000 mg/kg.
3.3.1.2 Đánh giá độc tính bán trường diễn của cao khô hành đen a) Ảnh hưởng của cao khô hành đen lên tình trạng chung và khối lượng cơ thể thỏ
Trong thời gian thí nghiệm, thỏ ở cả 3 lô hoạt động bình thường, nhanh nhẹn, mắt sáng, lông mượt, ăn uống tốt, phân khô
- Khối lượng cơ thể thỏ:
Theo dõi sự thay đổi khối lượng cơ thể thỏ tại 3 thời điểm: trước thí nghiệm (t0), sau 14 ngày (t14) và sau 28 ngày (t28) Kết quả được thể hiện trong bảng 3.43
Bảng 3.43 Ảnh hưởng của cao khô hành đen đối với khối lượng cơ thể thỏ
Khối lượng cơ thể thỏ (kg) ở các lô nghiên cứu Chứng Cao khô p hành đen liều 1
Trong nghiên cứu, hàm lượng cao khô hành đen liều từ 2g đến 2,04g với độ lệch chuẩn lần lượt là 0,14 và 0,13, cho thấy không có sự khác biệt đáng kể giữa các nhóm (p > 0,05) Các giá trị này duy trì ổn định qua các thời điểm sau 14 và 28 ngày, với các kết quả lần lượt là 2,03 ± 0,22, 1,99 ± 0,20 và 2,14 ± 0,20, 2,10 ± 0,15, 2,05 ± 0,19, 2,00 ± 0,18; các ký tự trong cùng cột biểu thị rằng sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) Không có nhóm nào thể hiện sự khác biệt đáng kể về mặt thống kê so với các nhóm khác trong nghiên cứu này.
Kết quả cho thấy, không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về khối lượng cơ thể của thỏ ở hai nhóm dùng cao khô hành đen và nhóm chứng sinh học cùng thời điểm, với giá trị p > 0,05 Điều này cho thấy việc sử dụng cao khô hành đen không ảnh hưởng đáng kể đến tăng trưởng khối lượng cơ thể của thỏ trong nghiên cứu.
Sau 28 ngày sử dụng cao khô hành đen, có sự tăng nhẹ các chỉ tiêu so với mức đo sau 14 ngày (p < 0,05), tuy nhiên không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê khi so sánh với thời điểm ban đầu (p > 0,05) Điều này cho thấy cao khô hành đen, ở các liều lượng và thời gian sử dụng nghiên cứu, không gây ảnh hưởng đáng kể đến sự phát triển của khối lượng cơ thể thỏ Ngoài ra, cao khô hành đen còn ảnh hưởng đến một số chỉ tiêu huyết học của thỏ, cần xem xét trong các phân tích tiếp theo.
Bảng 3.44 Chỉ số hồng cầu, huyết sắc tố, bạch cầu, tiểu cầu ở các lô thỏ nghiên cứu ( 𝑿 ± SD, n)
Chứng Cao khô hành đen liều 1
Cao khô hành đen liều 2 p
Giá trị trong cùng cột của cùng chỉ số có cùng ký tự thể hiện không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) Những kết quả không ghi ký tự đi kèm cho thấy sự khác biệt giữa các nhóm là không có ý nghĩa thống kê Điều này cho thấy các biến số trong cùng cột không khác biệt đáng kể về mặt thống kê, đảm bảo tính khách quan của phân tích dữ liệu.
Khi so sánh cùng thời điểm, chỉ số tiểu cầu ở lô cao khô hành đen liều 1 cao hơn so với lô chứng ban đầu (p < 0,05), cho thấy sự tăng rõ rệt của chỉ số này sau khi sử dụng liều cao hơn Ngoài ra, lô cao khô hành đen liều 2 còn ghi nhận chỉ số tiểu cầu cao hơn lô chứng sau 28 ngày điều trị (p < 0,05), cho thấy tác dụng nâng cao tiểu cầu của cao khô hành đen liều cao qua thời gian Tuy nhiên, các so sánh khác không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05), chỉ ra rằng không có sự khác biệt đáng kể ở các thời điểm hoặc giữa các nhóm còn lại.
Khi so sánh các thời điểm khác nhau của cùng một lô, chỉ số bạch cầu của hai lô cao khô hành đen liều 1 và liều 2 đều giảm sau 28 ngày so với ban đầu, nhưng không có sự khác biệt so với lô chứng (p > 0,05) Chỉ số hồng cầu của lô uống cao khô hành đen liều 1 tăng sau 14 ngày so với 28 ngày, nhưng không khác biệt so với ban đầu (p > 0,05) Huyết sắc tố trong lô này cũng giảm sau 28 ngày so với 14 ngày và ban đầu, nhưng so với lô chứng vẫn không có sự khác biệt (p > 0,05) Ngoài ra, tiểu cầu của lô cao khô hành đen liều 1 giảm sau 28 ngày so với ban đầu (p < 0,05), trong khi đó, tiểu cầu của lô cao khô hành đen liều 2 giảm sau 14 ngày nhưng lại tăng sau 28 ngày, và không khác biệt so với ban đầu (p > 0,05) Các kết quả này phản ánh ảnh hưởng của cao khô hành đen lên các chỉ số huyết học trong thử nghiệm trên thỏ.
Bảng 3.45 Nồng độ AST, ALT, creatinin và ure của các lô thỏ
Chỉ tiêu Thời điểm Chứng Cao khô hành đen liều 1
Cao khô hành đen liều 2 p
Trong phân tích dữ liệu, các giá trị trong cùng cột của cùng chỉ số có cùng ký tự không có ý nghĩa khác biệt thống kê (p > 0,05) Các giá trị không được ghi ký tự khác thể hiện rằng sự khác biệt giữa các nhóm là không có ý nghĩa thống kê, giúp đảm bảo việc diễn giải kết quả chính xác và rõ ràng trong nghiên cứu.
Khi so sánh ở cùng thời điểm, hoạt độ enzym AST, ALT và hàm lượng creatinin, ure máu của hai nhóm uống cao khô hành đen liều 1 và liều 2 không khác biệt đáng kể so với nhóm chứng, với giá trị p > 0,05, cho thấy không có tác dụng phụ hoặc thay đổi về chức năng gan và thận sau khi sử dụng cao khô hành đen ở các liều khác nhau.
Các so sánh giữa các thời điểm khác nhau của cùng một lô cho thấy, sau 28 ngày, hàm lượng ALT ở lô uống cao khô hành đen liều 1 và liều 2 tăng cao hơn so với ban đầu (p < 0,05), nhưng không khác biệt đáng kể so với lô chứng (p > 0,05) Trong khi đó, hàm lượng creatinin máu của lô uống cao khô hành đen liều 2 cũng tăng sau 28 ngày so với ban đầu (p < 0,05), dù sự khác biệt này không còn rõ rệt giữa sau 14 ngày và 28 ngày (p > 0,05) Các đánh giá đại thể và mô bệnh học về gan, thận và lách của thỏ thí nghiệm cung cấp thêm dữ liệu về tác động của cao khô hành đen trong quá trình nghiên cứu.
Quan sát đại thể bằng mắt thường và dưới kính lúp có độ phóng đại 25 lần thấy: màu sắc, hình thái của gan, thận và lách ở hai lô dùng cao khô hành đen không khác so với lô chứng Hình ảnh đại thể và mô bệnh học gan, thận, lách được trình bày ở phụ lục 13 Kết quả nhận xét mô bệnh học được trình bày ở bảng 3.46
Bảng 3.46 Nhận xét mô bệnh học gan, thận, lách thỏ thí nghiệm
- Gan: Các tế bào gan sắp xếp thành dải, thành bè, giữa chúng có xoang mạch Các tế bào gan không bị thoái hóa
- Thận: Vỏ thận có các cầu thận, các ống thận và các mạch máu giữa các ống thận Các tế bào biểu mô ống thận không bị thoái hóa
Lách gồm hai vùng chính là tủy trắng và tủy đỏ Vùng tủy trắng chứa các nang lympho phân bổ đều quanh động mạch bút lông trung tâm, đóng vai trò quan trọng trong hoạt động miễn dịch Trong khi đó, vùng tủy đỏ nổi bật với dây Billroth và các xoang mạch giãn rộng chứa nhiều tế bào máu, góp phần vào quá trình lọc máu và máu sơ khai.
Uống cao khô hành đen liều 1
Gan gồm các tế bào gan được sắp xếp thành dải và bè, tạo thành cấu trúc rõ ràng trong mô gan Giữa các tế bào gan là các xoang mạch nhỏ, giúp lưu thông máu và dưỡng chất Các tế bào gan vẫn duy trì trạng thái bình thường, không có dấu hiệu thoái hóa Ngoài ra, các xoang mạch trong gan thường bị sung huyết nhẹ, phản ánh quá trình lưu thông máu có thể tạm thời tăng cao.
Thận gồm vỏ thận chứa các cầu thận, ống thận và các mạch máu liên kết chặt chẽ, đảm bảo quá trình lọc và trao đổi chất hiệu quả Các tế bào biểu mô trong ống thận không bị thoái hóa, duy trì chức năng sinh học bình thường Mạch máu trong thận thường có hiện tượng sung huyết nhẹ, phản ánh quá trình tuần hoàn tốt và khả năng tự điều chỉnh của cơ quan này.