1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Lạm phát mục tiêu ở các nước thị trường mới nổi và khả năng áp dụng ở Việt Nam

96 513 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lạm phát mục tiêu ở các nước thị trường mới nổi và khả năng áp dụng ở Việt Nam
Trường học Trường Đại học Kinh Tế TP.HCM
Chuyên ngành Kinh tế học
Thể loại Công trình nghiên cứu khoa học sinh viên
Năm xuất bản 2012
Thành phố TP.HCM
Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 1,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤCMỤC TIÊU NGHIÊN CỨU..................................................................................... 1TÓM TẮT ............................................................................................................... 21.GIỚI THIỆU…………………………………………………………………......... 22.TỔNG QUÁT CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY............................................. 33.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ........................................................................ 53.1.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ MÔ HÌNH SỬ DỤNG ...............................53.2.PHƯƠNG PHÁP THU THẬP SỐ LIỆU .................................................................64.NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ........................................................ 64.1.LẠM PHÁT MỤC TIÊU VÀ CÁC ĐIỀU KIỆN ÁP DỤNG ....................................64.1.1.Khái niệm khuôn khổ LPMT và các tham sô cần thiết trong thiết kế khuônkhổ LPMT ........................................................................................................................6 4.1.1.1. Khái niệm khuôn khổ LPMT.............................................................................6 4.1.1.2. Các tham số cần thiết trong thiết kế khuôn khổ LPMT ...................................7 4.1.1.2.1. Biến mục tiêu ( target variable) ....................................................................7 4.1.1.2.2. Lạm phát cơ bản (core inflation) ..................................................................8 4.1.1.2.3. Điểm mục tiêu ( point target), điểm mục tiêu với khoảng dao động (point target with a band), khoảng mục tiêu (target range) .....................................................9 4.1.1.2.4. Tỷ lệ Lạm phát dài hạn (Long-term inflation rate)....................................10 4.1.1.2.5. The target horizon........................................................................................11 4.1.1.2.6. The policy horizon.......................................................................................124.1.2.Các điều kiện cần thiết ban đầu hỗ trợ khuôn khổ LPMT ...............................12 4.1.2.1. Điều kiện 1: Nhiệm vụ theo đuổi mục tiêu LP và trách nhiệm đạt được mục tiêu đề ra ........................................................................................................................12 4.1.2.1.1. Nhiệm vụ và sự độc lập của các công cụ ...................................................12 4.1.2.1.2. Trách nhiệm và tính minh bạch của CSTT ................................................14 4.1.2.2. Điều kiện 2: Đảm bảo rằng mục tiêu LP không bị ảnh hưởng bởi các mục tiêu khác.........................................................................................................................16 4.1.2.2.1. Không có sự thống trị tài khóa....................................................................16 4.1.2.2.2. Ổn định các yếu tố bên ngoài......................................................................17 4.1.2.2.3. Mức độ LP vào thời điểm thông qua khuôn khổ LPMT ...........................18 4.1.2.3. Điều kiện 3: Hệ thống tài chính ổn định và phát triển để thực hiện khuônkhổ LPMT......................................................................................................................18 4.1.2.3.1. Ổn định hệ thống tài chính ..........................................................................18 4.1.2.3.2. Phát triển hệ thống tài chính .......................................................................19 4.1.2.4. Điều kiện 4: Điều hành chính sách tiền tệ ......................................................20 4.1.2.4.1. Hướng dẫn điều hành chính sách và các công cụ ......................................20 4.1.2.4.2. Sự lan truyền của CSTT ..............................................................................23 4.1.2.4.3. Dự báo lạm phát...........................................................................................24 4.1.2.4.4. Chính sách tỷ giá hối đoái ...........................................................................294.2.KINH NGHIỆM CÁC THỊ TRƯỜNG MỚI NỔI..................................................334.2.1.Kinh nghiệm của Chile và Hungary trong việc đối phó với sự dao động củaTGHĐ .............................................................................................................................334.2.2.Kinh nghiệm xây dựng LPMT ở Brazil .............................................................354.3.KHẢ NĂNG ÁP DỤNG KHUÔN KHỔ LPMT Ở VIỆT NAM ...........................394.3.1.Tình hình Lạm phát Việt Nam giai đoạn 2007-2011........................................394.3.2.Phân tích chính sách tiền tệ của Việt Nam .......................................................43 4.3.2.1. Phân tích các công cụ trực tiếp........................................................................43 4.3.2.1.1. Lãi suất .........................................................................................................43 4.3.2.1.2. Hạn mức tín dụng.........................................................................................44 4.3.2.2. Phân tích công cụ gián tiếp..............................................................................45 4.3.2.2.1. Nghiệp vụ thị trường mở .............................................................................45 4.3.2.2.2. Dự trữ bắt buộc ............................................................................................474.3.3.Phân tích chính sách tài khóa ...........................................................................49 4.3.3.1. Tài khóa của VN phản ứng không phù hợp với trạng thái chu kỳ kinh tế....49 4.3.3.2. Hiệu quả đầu tư từ ngân sách còn quá thấp ....................................................51 4.3.3.3. Tỷ lệ bội chi ngân sách quá cao ......................................................................514.3.4.Phân tích cách Việt Nam đưa ra và thực hiện mục tiêu ..................................534.3.5.Phân tích sự độc lập của NHTW .......................................................................554.3.6.Phân tích hệ thống tài chính Việt Nam .............................................................584.3.7.Phân tích chính sách tỷ giá hối đoái của Việt Nam .........................................604.3.8.Phân tích công tác dự báo lạm phát của Việt Nam ..........................................63 4.3.8.1. Cơ sở hạ tầng ....................................................................................................63 4.3.8.2. Khả năng dự báo ..............................................................................................64 4.3.8.3. Hậu quả của việc dự báo không hiệu quả .......................................................644.4.TRIỂN VỌNG VÀ DỰ BÁO LAM PHÁT CHO VIỆT NAM..............................654.4.1.Tăng trưởng kinh tế ............................................................................................664.4.2.Xuất nhập khẩu ...................................................................................................67 4.4.3.Nền kinh tế thế giới ............................................................................................694.4.4.Áp dụng mô hình cấu trúc cho Việt Nam ............................................................705.KẾT LUẬN ....................................................................................................... 755.1.CHỐT LẠI NGHIÊN CỨU .....................................................................................755.2.ĐỀ XUẤT ................................................................................................................755.2.1.Đề xuất từ mô hình ..............................................................................................755.2.2.Điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt................................................................765.2.3.Phát triển thị trường tài chính ..........................................................................775.2.4.Đảm bảo sự ổn định của hệ thống tài chính thông qua hoàn thiện công tác thanh tra, giám sát ngân hàng .....................................................................................785.2.5.Phối hợp đồng bộ giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa..................805.3.HẠN CHẾ ...............................................................................................................80PHỤ LỤC.............................................................................................................. 81TÀI LIỆU THAM KHẢO...................................................................................... 85 DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂUBảng 1: Cơ quan thông báo mục tiêu LP ở các nước ............................ 12.Bảng 2: Mục tiêu điều hành và công cụ của CSTT ............................... 22.Hộp1: các thay đổi về tổ chức tại NHTW, NHTW thông qua khuôn khổLPMT ..................................................................................................... 25.Bảng 3: Các chỉ số CSTT ở các nước áp dụng khuôn khổ LPMT ......... 28.Bảng 4: Thông tin về sự can thiệp vào thị trường ngoại hối của các nước ápdụng khuôn khổ LPMT. ........................................................................ 31. Bảng 5 : Tỷ lệ dự trữ bắt buộc............................................................... 48. Bảng 6 : Mục tiêu tỉ lệ LP qua các năm và kết quả đạt được................. 54. DANH MỤC HÌNH VẼHình 1: Tỷ lệ lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 2007-2011 .......................... 43. Hình 2: Hoạt động thị trường mở giai đoạn 2008-Q2/2011 ................. 46. Hình 3: Chỉ tiêu lạm phát của Việt Nam năm 2011 qua các lần điều chỉnh............................................................................................................. 53. Hình 4: Cách Việt Nam đưa ra mục tiêu và kết quả đạt được.............. 55. Hình 5: Mức độ độc lập trong điều hành chính sách tiền tệ của NHTW ................................................................................................................ 56.Hình 6: Cán cân thương mại của Việt Nam giai đoạn 1990-2011 ........ 62.Hình 7: Kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá và cán cân thương mại của Việt Nam giai đoạn 2001-2011………………………………………………………..68. DANH MỤC TỪ VIẾT TẮTCP:Chính phủ.CSDL:Cơ sở dữ liệu.CSTK:Chính sách tài khóa. CSTT:Chính sách tiền tệ. LP:Lạm phát.LPMT:Lạm phát mục tiêu.LS:Lãi suất.NHTM : Ngân hàng thương mại. NHTW : Ngân hàng trung ương. TGHĐ : Tỷ giá hối đoái.UBCSTT:Ủy ban chính sách tiền tệ. 7 8 Đề tài: Lạm phát mục tiêu ở các thị trường mới nổi và khả năng áp dụng khuôn khổLPMT ở Việt Nam.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:Từ trước đến nay, Việt Nam đã và đang thực hiện chính sách tiền tệ đa mục tiêu. Chúng ta vừa kỳ vọng đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng, nhanh chóng vươn lên và ra khỏi nhóm nước có thu nhập thấp và giải quyết công ăn việc làm, vừa kỳ vọng kiểm soát giá cả và lạm phát, ổn định tiền tệ, vừa sử dụng chính sách tiền tệ như một công cụ bổ trợ ổn định ngân sách, xóa đói giảm nghèo, đảm bảo an ninh quốc gia. Thực hiện chính sách tiền tệ đa mục tiêu với neo danh nghĩa là Tổng phương tiện thanh toán (M2) chúng ta đã đạt được những thành tựu nhất định trong quá trình đổi mới. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, cơ chế điều hành chính sách tiền tệ này đã bắt đầu bộc lộ những hạn chế của mình. Việc điều hành chính sách tiền tệ có tính “giật cục” từ đầu năm 2008 đến nay chỉ để chống đỡ lạm phát là minh chứng rất rõ cho vấn đề này. Chính phủ đã thực sự có những phản ứng chống lạm phát thông qua các chính sách tiền tệ và tài khóa nhưng thường phản ứng chậm và thụ động trong đa số trường hợp. Một câu hỏi đặt ra là chúng ta cần làm gì khi phải chấp nhận sự thật là chất lượng tăng trưởng thấp trong khi lạm phát lại tăng mạnh? Đứng trước những khó khăn đó, làm sao vừa kiềm chế được lạm phát, vừa tiếp tục tăng trưởng ở mức hợp lý là một bài toán rất khó. Học hỏi kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới, liệu Lạm phát mục tiêu, một khuôn khổ CSTT mà theo đó, NHTW hoặc Chính Phủ thông báo một số mục tiêu trung hạn về lạm phát và NHTW cam kết đạt được những mục tiêu này có là lối thoát cho tình trạng kinh tế Việt Nam.MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Trang 1

VIỆT NAM

THUỘC NHÓM NGÀNH: KINH TẾ KINH TẾ HỌC

Trang 3

TÓM TẮT 2

1 GIỚI THIỆU……… 2

2 TỔNG QUÁT CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 3

3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5

3.1 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ MÔ HÌNH SỬ DỤNG 5

3.2 PHƯƠNG PHÁP THU THẬP SỐ LIỆU 6

4 NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 6

4.1 LẠM PHÁT MỤC TIÊU VÀ CÁC ĐIỀU KIỆN ÁP DỤNG 6

4.1.1 Khái niệm khuôn khổ LPMT và các tham sô cần thiết trong thiết kế khuôn khổ LPMT 6

4.1.1.1 Khái niệm khuôn khổ LPMT 6

4.1.1.2 Các tham số cần thiết trong thiết kế khuôn khổ LPMT 7

4.1.1.2.1 Biến mục tiêu ( target variable) 7

4.1.1.2.2 Lạm phát cơ bản (core inflation) 8

4.1.1.2.3 Điểm mục tiêu ( point target), điểm mục tiêu với khoảng dao động (point target with a band), khoảng mục tiêu (target range) 9

4.1.1.2.4 Tỷ lệ Lạm phát dài hạn (Long-term inflation rate) 10

4.1.1.2.5 The target horizon 11

4.1.1.2.6 The policy horizon 12

4.1.2 Các điều kiện cần thiết ban đầu hỗ trợ khuôn khổ LPMT 12

4.1.2.1 Điều kiện 1: Nhiệm vụ theo đuổi mục tiêu LP và trách nhiệm đạt được mục tiêu đề ra 12

4.1.2.1.1 Nhiệm vụ và sự độc lập của các công cụ 12

4.1.2.1.2 Trách nhiệm và tính minh bạch của CSTT 14

4.1.2.2 Điều kiện 2: Đảm bảo rằng mục tiêu LP không bị ảnh hưởng bởi các mục tiêu khác 16

4.1.2.2.1 Không có sự thống trị tài khóa 16

4.1.2.2.2 Ổn định các yếu tố bên ngoài 17

4.1.2.2.3 Mức độ LP vào thời điểm thông qua khuôn khổ LPMT 18

Trang 4

4.1.2.3.2 Phát triển hệ thống tài chính 19

4.1.2.4 Điều kiện 4: Điều hành chính sách tiền tệ 20

4.1.2.4.1 Hướng dẫn điều hành chính sách và các công cụ 20

4.1.2.4.2 Sự lan truyền của CSTT 23

4.1.2.4.3 Dự báo lạm phát 24

4.1.2.4.4 Chính sách tỷ giá hối đoái 29

4.2 KINH NGHIỆM CÁC THỊ TRƯỜNG MỚI NỔI 33

4.2.1 Kinh nghiệm của Chile và Hungary trong việc đối phó với sự dao động của TGHĐ 33

4.2.2 Kinh nghiệm xây dựng LPMT ở Brazil 35

4.3 KHẢ NĂNG ÁP DỤNG KHUÔN KHỔ LPMT Ở VIỆT NAM 39

4.3.1 Tình hình Lạm phát Việt Nam giai đoạn 2007-2011 39

4.3.2 Phân tích chính sách tiền tệ của Việt Nam 43

4.3.2.1 Phân tích các công cụ trực tiếp 43

4.3.2.1.1 Lãi suất 43

4.3.2.1.2 Hạn mức tín dụng 44

4.3.2.2 Phân tích công cụ gián tiếp 45

4.3.2.2.1 Nghiệp vụ thị trường mở 45

4.3.2.2.2 Dự trữ bắt buộc 47

4.3.3 Phân tích chính sách tài khóa 49

4.3.3.1 Tài khóa của VN phản ứng không phù hợp với trạng thái chu kỳ kinh tế 49

4.3.3.2 Hiệu quả đầu tư từ ngân sách còn quá thấp 51

4.3.3.3 Tỷ lệ bội chi ngân sách quá cao 51

4.3.4 Phân tích cách Việt Nam đưa ra và thực hiện mục tiêu 53

4.3.5 Phân tích sự độc lập của NHTW 55

4.3.6 Phân tích hệ thống tài chính Việt Nam 58

4.3.7 Phân tích chính sách tỷ giá hối đoái của Việt Nam 60

4.3.8 Phân tích công tác dự báo lạm phát của Việt Nam 63

4.3.8.1 Cơ sở hạ tầng 63

4.3.8.2 Khả năng dự báo 64

4.3.8.3 Hậu quả của việc dự báo không hiệu quả 64

4.4 TRIỂN VỌNG VÀ DỰ BÁO LAM PHÁT CHO VIỆT NAM 65

4.4.1 Tăng trưởng kinh tế 66

4.4.2 Xuất nhập khẩu 67

Trang 5

5.1 CHỐT LẠI NGHIÊN CỨU 75

5.2 ĐỀ XUẤT 75

5.2.1 Đề xuất từ mô hình 75

5.2.2 Điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt 76

5.2.3 Phát triển thị trường tài chính 77

5.2.4 Đảm bảo sự ổn định của hệ thống tài chính thông qua hoàn thiện công tác thanh tra, giám sát ngân hàng 78

5.2.5 Phối hợp đồng bộ giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa 80

5.3 HẠN CHẾ 80

PHỤ LỤC 81

TÀI LIỆU THAM KHẢO 85

Trang 6

Bảng 2: Mục tiêu điều hành và công cụ của CSTT 22.

Hộp1: các thay đổi về tổ chức tại NHTW, NHTW thông qua khuôn khổ LPMT 25.

Trang 7

Hình 2: Hoạt động thị trường mở giai đoạn 2008-Q2/2011 46 Hình 3: Chỉ tiêu lạm phát của Việt Nam năm 2011 qua các lần điều chỉnh 53 Hình 4: Cách Việt Nam đưa ra mục tiêu và kết quả đạt được 55 Hình 5: Mức độ độc lập trong điều hành chính sách tiền tệ của NHTW 56 Hình 6: Cán cân thương mại của Việt Nam giai đoạn 1990-2011 62.

Hình 7: Kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá và cán cân thương mại của Việt

Nam giai đoạn 2001-2011……… 68.

Trang 8

TGHĐ : Tỷ giá hối đoái.

UBCSTT : Ủy ban chính sách tiền tệ.

Trang 11

Đề tài: Lạm phát mục tiêu ở các thị trường mới nổi và khả năng áp dụng khuôn khổ LPMT ở Việt Nam.

tệ này đã bắt đầu bộc lộ những hạn chế của mình Việc điều hành chính sách tiền tệ

có tính “giật cục” từ đầu năm 2008 đến nay chỉ để chống đỡ lạm phát là minh chứngrất rõ cho vấn đề này Chính phủ đã thực sự có những phản ứng chống lạm phátthông qua các chính sách tiền tệ và tài khóa nhưng thường phản ứng chậm và thụđộng trong đa số trường hợp Một câu hỏi đặt ra là chúng ta cần làm gì khi phảichấp nhận sự thật là chất lượng tăng trưởng thấp trong khi lạm phát lại tăng mạnh?Đứng trước những khó khăn đó, làm sao vừa kiềm chế được lạm phát, vừa tiếp tụctăng trưởng ở mức hợp lý là một bài toán rất khó Học hỏi kinh nghiệm của cácquốc gia trên thế giới, liệu Lạm phát mục tiêu, một khuôn khổ CSTT mà theo đó,NHTW hoặc Chính Phủ thông báo một số mục tiêu trung hạn về lạm phát vàNHTW cam kết đạt được những mục tiêu này có là lối thoát cho tình trạng kinh tếViệt Nam

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là đi vào giải quyết các câu hỏi:

 Những điểu kiện nào để có thể áp dụng khuôn khổ LPMT?

Trang 12

 Liệu Việt Nam hiện nay đã có đủ điều kiện áp dụng khuôn khổ chính sáchtiền tệ lạm phát mục tiêu hay chưa?

 Để có thể áp dụng khuôn khổ LPMT Việt Nam cần thay đổi như thế nào?

TÓM TẮT

Đề tài trình bày các yếu tố trong việc thiết kế khuôn khổ LPMT ở một quốcgia bao gồm: định nghĩa về biến mục tiêu; thước đo lạm phát; ưu nhược điểm củacác loại mục tiêu( point targets, point targets with a band, and range targets)… Tiếp theo đó đề tài đi tìm hiểu các điều kiện ban đầu hỗ trợ cho khuôn khổ Lạmphát mục tiêu (LPMT) Những điều kiện này được chia làm bốn nhóm: nhiệm vụ hỗtrợ khuôn khổ LPMT và trách nhiệm đạt được mục tiêu; ổn định kinh tế vĩ mô; ổnđịnh và phát triển hệ thống tài chính; các công cụ điều hành chính sách hiệu quả.Tiếp theo đề tài sẽ Đề tài cũng trình bày kinh nghiệm xây dựng lạm phát ở 2 thịtrường mới nổi tiêu biểu là Chile và Brazil Sau đó đề tài sẽ đi vào xem xét tìnhhình Việt Nam cũng như khả năng Việt Nam áp dụng được khuôn khổ LPMT nhưmột cái neo danh nghĩa mới được không

1 GIỚI THIỆU

Ngày càng nhiều các nước áp dụng khuôn khổ LPMT, khuôn khổ này được mởrộng từ các nước công nghiệp cho các nước có thị trường mới nổi như Brazil, Chile,Colombia, Cộng hòa Séc, Hungary, Israel, Hàn Quốc, Mexico, Ba Lan, Nam Phi, vàThái Lan… Những thách thức mà các nước công nghiệp phải đối mặt trong việc ápdụng LPMT là không nhiều và tương đối rõ ràng, do kinh nghiệm tương đối lâu dàitrong lĩnh vực này Các nước công nghiệp cũng được hưởng lợi từ phát triển thịtrường tài chính và kinh nghiệm trong việc sử dụng các công cụ gián tiếp, dựa vàothị trường để thực hiện CSTT Ngược lại, những thách thức đối mặt với các nước thịtrường mới nổi đang tìm cách thông qua khuôn khổ LPMT chưa được hiểu rõ Bài

Trang 13

viết này đề cập đến điều kiện ban đầu mà các nước thị trường mới nổi có thể thiếtlập để hỗ trợ cho khuôn khổ LPMT Trong khuôn khổ như vậy, LPMT chiếm ưu thế

ở bất kỳ mục tiêu chính sách khác Việc chuyển đổi từ một công bố đơn giản về lạmphát sang LPMT một cách chính thức có thể mất vài năm Vì vậy, bài viết này đưa

ra các bước quan trọng trong quá trình chuyển đổi

Độ tin cậy của một khuôn khổ LPMT đòi hỏi CSTT không nên nhắm mụcđích ở các cấp độ mục tiêu của tỷ giá hối đoái danh nghĩa hoặc thực Tuy nhiên,CSTT của các thị trường mới nổi phải quan tâm đến vấn đề TGHĐ bởi vì TGHĐ cótác động quan trọng đến lạm phát do tính chất mở của nền kinh tế

Các điều kiện cần thiết để hỗ trợ khuôn khổ LPMT có thể được chia làm bốnnhóm đó là:

 Nhiệm vụ theo đuổi mục tiêu lạm phát và trách nhiệm đạt được mụctiêu này

 Đảm bảo rằng mục tiêu lạm phát không bị ảnh hưởng bởi các mụctiêu khác

 Hệ thống tài chính phát triển và ổn định để thực hiện khuôn khổLPMT

 Các công cụ cần thiết để hỗ trợ CSTT thực hiện khuôn khổ LPMT.Những điều kiện này sẽ được trình bày ở mục 4.1 Mục 4.2 sẽ cung cấp kinhnghiệm của các thị trường mới nổi trong việc thực hiện khuôn khổ LPMT Sau đóchúng ta sẽ xem xét khả năng Việt Nam áp dụng khuôn khổ LPMT này ở mục 4.3,

và dự báo triển vọng LP Việt Nam ở mục 4.4 Cuối cùng bài viết sẽ đưa ra các đềxuất cho Việt Nam

2 TỔNG QUÁT CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY

Federic S Miskin, “Can inflation targeting work in emerging market countries” :

khuôn khổ LPMT ở các nước mới nổi thì rất phức tạp, nó không phải là một liều thuốc

Trang 14

hữu hiệu cho tất cả các căn bệnh của quốc gia đó Tuy nhiên khuôn khổ LPMT là mộtcông cụ hữu hiệu giúp các nước này tăng cường tính ổn định của nền kinh tế.

Frederic S Mishkin, “ Does inflation targeting make a difference?”: Khuôn khổ

LPMT giúp các nước có tỷ lệ lạm phát thấp hơn trong dài hạn; tỷ lệ lạm phát cũng ít bịảnh hưởng bởi các cú sốc giá dầu, tỷ giá hối đoái; tăng cường tính độc lập của CSTT;nâng cao hiệu quả CSTT Khuôn khổ LPMT không những giúp quốc gia giảm lạm phát

mà còn giữ cho tỷ lệ lạm phát ổn định

Joel Bo gdanski, Alexandre Antonio Tombini và Sérgio Ribeiro C Werlang,

“Implementing IT in Brazil”, tháng 7/2000: khuôn khổ LPMT giúp cải thiện tính

minh bạch của CSTT bằng việc tăng cường trao đổi với công chúng (việc thôngbáo, trao đổi với công chúng, những người tham gia thị trường tài chính là rất quantrọng), tăng trách nhiệm của NHTW trong việc đạt được mục tiêu Khuôn khổLPMT cũng giúp cho nhân viên của ngân hàng hiểu rõ hơn cơ chế truyền tải củaCSTT, và có hiểu biết để quyết định kênh nào là phù hợp để đạt được mục tiêu lạmphát

Guy Debelle, “IT in practice” : “ Áp dụng khuôn khổ LPMT đã giúp các

quốc gia trong việc giảm lạm phát một cách đáng kể và giữ nó ở một mức thấp và ổn định Thật khó để chỉ ra rằng chỉ có khuôn khổ LPMT có thể giúp giảm lạm phát, vì có nhiều nước không áp dụng khuôn khổ này mà tỷ lệ lạm phát của họ vẫn giảm Tuy nhiên có thể khẳng định rằng: khuôn khổ LPMT có thể giúp các quốc gia áp dụng nó vượt qua những nỗi lo về độ tín nhiệm thấp của chính sách tiền tệ”.

Corrinne Ho and Robert N McCauley, “Living with flexible exchange rates: issues and recent experience in inflation targeting emerging market economies “,BIS

Working Papers No 130 : “Trong ngắn hạn, khu vực tư nhân và nhà làm chính sách củacác quốc gia mới nổi có thể rất nhạy cảm với sự biến động của tỷ giá hối đoái, nhưng

Trang 15

trong dài hạn với kết quả khuôn khổ LPMT đem lại, tỷ lệ lạm phát được cải thiện theochiều hướng tích cực, sự tín nhiệm đối với chính sách được nâng cao cùng sự phát triểncủa kinh tế có thể giúp làm giảm đi các nhược điểm của thị trường mới nổi Dướikhuôn khổ LPMT vấn đề TGHĐ vẫn đóng một vai trò quan trọng và đặt ra khá nhiềuthách thức cho các thị trường mới nổi Để đối phó một cách linh hoạt với những tháchthức không những chỉ sử dụng CSTT mà còn có khi sử dụng đồng thời nhiều công cụchính sách Tuy không có bằng chứng về mâu thuẫn giữa sự can thiệp vào TGHĐ vớicông bộ mục tiêu lạm phát , nhưng những người làm chính sách phải giải thích chocông chúng hiều sự khác nhau Cuối cùng thì tác giả cũng nêu rằng sự tác động củaTGHĐ đến đời sống không chỉ quan trọng ở các quốc gia mới nổi mà nó còn quantrọng với các nước công nghiệp dù áp dụng khuôn khổ LPMT hay không.

Tóm lại, khuôn khổ LPMT ở các nước thị trường mới có thể giúp các nước nàygiảm lạm phát xuống một mức thấp và ổn định, thêm vào đó khuôn khổ LPMT còngiúp các quốc gia nâng cao độ tín nhiệm của công chúng đối với chính sách tiền tệ củaNHTW

3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Phương pháp nghiên cứu và mô hình sử dụng

Để xem xét khả năng Việt Nam có thể áp dụng khuôn khổ LPMT hay không,

đề tài đi vào nghiên cứu các ví dụ điển hình về việc xây dựng khuôn khổ LPMT ởBrazil, Chile để tìm ra các điều kiện cần thiết để áp dụng khuôn khổ LPMT, và đivào xem xét các điều kiện Việt Nam liệu có thể đáp ứng các điều kiện trên haykhông

Đề tài nghiên cứu theo phương pháp thu thập số liệu lịch sử được công bố từcác phương tiện thông tin đại chúng, các nguồn số liệu được công bố từ chính phủkết hợp với các phương pháp thống kê, so sánh, phân tích, hồi quy, ước lượng và

Trang 16

dùng đồ thị minh hoạ để đưa ra mô hình tính toán dự báo thích hợp cho tỷ lệ lạmphát của Việt Nam trong ngắn hạn.

Bài nghiên cứu sử dụng mô hình cấu trúc để mô hình cơ chế truyền tải CSTT,thông qua cả hai kênh trực tiếp ( qua lãi suất) hay gián tiếp (qua TGHĐ ), mô hình nàyđược giới thiệu bởi Svensson(2000) cho nền kinh tế nhỏ mở cửa, và được sử dụng

trong bài nghiên cứu Monetary policy transmission, interest rate rules and inflation targeting in three transition countries, Roberto Golinelli, 07/12/2001, áp dụng cho 3

quốc gia: Phần Lan, Hungary, cộng hòa Séc

3.2 Phương pháp thu thập số liệu

Để dự báo tỷ lệ LP của Việt Nam trong ngắn hạn, và đưa ra đề xuất cho CSTT, đề tài xem xét đối tượng nghiên cứu là tỷ lệ LP Việt Nam tính theo quý trong giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2011, số liệu được thu thập từ tổng

cục thống kê, Ngân hàng trung ương Việt Nam, Bộ tài chính, Website của ngân hàng phát triển châu Á ADB, cùng các số liệu nước ngoài lấy từ OECD, trang web tradingeconomy.

4 NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1 Lạm phát mục tiêu và các điều kiện áp dụng

4.1.1. Khái niệm khuôn khổ LPMT và các tham sô cần thiết trong thiết

kế khuôn khổ LPMT

4.1.1.1 Khái niệm khuôn khổ LPMT

Bernanke cho rằng “ LPMT là một khuôn khổ của CSTT được biểu thị bằngcách công bố rộng rãi con số mục tiêu của tỷ lệ LP hay một khung mục tiêu dựa trênmột hoặc nhiều dự báo”

Mishkin(2000): chiến lược LPMT là chiến lược gồm 5 yếu tố chính: công bốmục tiêu; cam kết ổn định giá cả; có chiến lược thông tin bao gồm; sự minh bạchcủa chính sách; trách nhiệm của NHTW trong việc đạt được mục tiêu đã đặt ra

Trang 17

Bằng cách tăng tính minh bạch và trách nhiệm, khuôn khổ LPMT sẽ giúp thúc đẩy sựđộc lập của NHTW, trách nhiệm đối với công chúng cũng như trách nhiệm đối vớichính phủ Khuôn khổ LPMT phù hợp với nguyên tắc dân chủ Theo Mishkin: Khuônkhổ LPMT không phải là một khuôn khổ cứng nhắc; mục tiêu lạm phát trên mức khôngkhông hề làm giảm mức tín nhiệm của công chúng đối với CSTT, NHTW; khuôn khổLPMT không bỏ qua các mục tiêu ổn định truyền thống; khi mức lạm phát ban đầu củamột quốc gia ở mức cao thì quốc giá đó có thể phải phase sau khi giảm lạm phát; giácủa tài sản mục tiêu ví dụ như TGHĐ có thể làm ảnh hưởng xấu đến khuôn khổ LPMT.Svensson thì cho rằng “LPMT là một chiến lược CSTT mà đặc trưng là đượccông bố một con số LPMT, thực hiện CSTT nhắm chủ yếu vào dự báo LP và đượcgọi là dự báo mục tiêu, với một độ minh bạch và trách nhiệm cao”.

John Green: LPMT là một khuôn khổ để điều hành CSTT, trong khuôn khổnày các quyết định được hướng dẫn bởi các kì vọng về lạm phát tương lai trong mốiquan hệ với mục tiêu đã công bố Nếu nói theo quan điểm về điều hành thì khuônkhổ LPMT được xem như một tiến trình gồm 2 bước Bước thứ nhất cơ quan tiền tệnhà nước phải dự báo được lạm phát để đánh giá xem dưới khuôn khổ CSTT hiệntại thì lạm phát có thể giữ trong mức công bố hay không Bước thứ hai cần thựchiện đó là: khi lạm phát dự báo nằm ngoài khoảng mục tiêu thì có luật phản hồi, sựphản hồi liên kết mối quan hệ giữa các hành động của chính sách với lạm phát dựkiến để quyết định con đường đưa lạm phát về khoảng mục tiêu ban đầu

Có rất nhiều khái niệm được đưa ra về LPMT, nhưng tựu chung các nghiêncứu đều nhất trí rằng: lạm phát mục tiêu là một khung cơ bản cho CSTT mà trong

đó NHTW tính toán và công khai công bố một chỉ số lạm phát mục tiêu, và sẽ cốgắng duy trì mục tiêu này để nhằm đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế ổn định và

tỷ lệ thất nghiệp thấp

4.1.1.2 Các tham số cần thiết trong thiết kế khuôn khổ LPMT

4.1.1.2.1 Biến mục tiêu ( target variable)

Trang 18

Các lựa chọn có sẵn đó là chỉ số CPI (hoặc là với các biến thể), chỉ số giảmphát GDP Chỉ số CPI thì khá phổ biến, nó đo lường giá cả của hàng hóa và dịch vụmột gia đình trung bình ở thành thị tiêu dùng, điều đó có nghĩa là CPI là thước đomục tiêu cho công chúng và cũng xây dựng khả năng mà NHTW truyền đi cácthông điệp của mình Chỉ số CPI thường có hướng thiên vị lên, từ 0.5 đến 1% ở cácnước phát triển Sự thiên vị trong CPI chính là nguyên nhân tại sao NHTW chọnmục tiêu LP lớn hơn 0 Theo Roger và Stone (2005) đã tìm ra rằng tất cả các quốcgia áp dung LPMT đều sử dụng CPI hay các biến thể của nó như mục tiêu của chínhsách.

4.1.1.2.2 Lạm phát cơ bản (core inflation)

Có rất nhiều sự khác nhau giữa NHTW các nước trong việc quyết định là sửdụng total CPI hay CPI cơ bản (core CPI)

Quan điểm ủng hộ sử dụng chỉ số lạm phát cơ bản: đó là do sự biến động trongtotal CPI và sự mong muốn của NHTW trong việc giảm nhẹ sự biến động ngắn hạncác nhân tố cấu thành total CPI Ví dụ: giá cả thực phẩm, năng lượng, hay nhữngthay đổi làm thay đổi mức giá tổng thể, như là VAT, hay thay đổi giá năng lượngtrong dài hạn, thước đo cơ bản giúp cho NHTW nắm bắt xu hướng phát triển của LP

và giảm nhẹ những biến động tạm thời của thước đo lạm phát

Theo Roger và Stone (2005): phần lớn các nước đều sử dụng total CPI Một số

ít nước sử dụng core CPI Bởi vì rất khó cho NHTW giải thích cho công chúng hiểutại sao lại tập trung vào thước đo core CPI, cái mà loại ra một thành phần quantrọng như giá thực phẩm, một thứ chiếm tỷ trọng lớn trong ngân sách của gia đình.Điều này đặc biệt quan trọng ở các quốc gia mới nổi, nơi mà thực phẩm chiếm một

tỷ trọng lớn trong CPI, hơn là các nước đã phát triển

Có rất nhiều loại core inflation khác nhau, chủ yếu khác nhau ở yếu tố đượcloại ra khỏi CPI, Ví dụ như thực phẩm, năng lượng, hay có khi là thuế gián

Trang 19

thu…không có công thức chính xác cho việc loại bỏ yếu tố nào, chủ yếu dựa vàokinh nghiệm.

Thông thường các NHTW thường dùng core inflation như hướng dẫn chochính sách, nhưng họ cũng thường xuyên kiểm tra lại các thước đo khác của coreinflation để đảm bảo rằng tất cả đều tập trung vào thước đo thích hợp, không tạo ramột kịch bản sai lầm về sự phát triển của LP

4.1.1.2.3 Điểm mục tiêu ( point target), điểm mục tiêu với khoảng dao động (point target with a band), khoảng mục tiêu (target range)

Có nhiều thuật ngữ khác nhau, để thuận tiện chúng ta định nghĩa:

Điểm mục tiêu (point target without a band) : là một giá trị xác định Ví dụ:2%

Điểm mục tiêu có khoảng dao động (point target with a band) : lấy điểm mụctiêu cộng trừ một giá trị Ví dụ: 2% cộng trừ 1%

Khoảng mục tiêu (range target) : là một giá trị khoảng ví dụ: khoảng từ 1%đến 3%

Việc chọn “a band” hay “a range” không quan trọng, quan trọng là sự lựachọn được giải thích như thế nào Thứ nhất: trong hầu hết các trường hợp, CSTTđối phó với sự thay đổi của LP trên hay dưới điểm mục tiêu một cách đối xứng(ngoại trừ trường hợp: trong giai đoạn đầu của IT, khi LP< điểm mục tiêu thì không

đối xứng, xu hướng đi xuống asymmetric in the downward direction để tạo độ tin

cậy của các chế độ CSTT mới, hay là khi tỷ lệ LP gần như bằng không và có mốiquan tâm về hạn chế chính sách lãi suất thấp hơn thì có xu hướng không đối xứng đi

lên asymmetry in the upper direction) Thứ hai: khi NHTW đã chọn “a band” hay “a

range” thì trung bình LP mong đợi sẽ nằm trong phạm vi thời gian đó, chứ khôngphải là mọi lúc Thứ ba: “a band” hay “a range” thì không nên cứng nhắc Khi có

sự thay đổi trong LP thì không nên đòi hỏi một phản ứng của lãi suất mạnh mẽ khácthường

Trang 20

Thuận lợi của “a band”,”a range” đó là nó giúp nhấn mạnh tính đối xứng củaphản ứng, tuy nhiên nó tỏ ra ít hiêu quả hơn point target Nếu NHTW thông qua mộttarget band or target range, thì nó nên rõ ràng rằng khoảng đó (band và range) làkhoảng của sự không chắc chắn, không phải khoảng của sự trung lập Do đó, ví dụvới khoảng 1% tới 3% thì NHTW nên làm rõ rằng hộ muốn LP mức gần 2% và họcảm thấy không thỏa mãn khi LP tiến lên 3% hay xuống 1% Nếu NHTW xemrange như một khoảng thời gian của sự không chắc chắn hơn là khoảng của sự chịuđựng, nhưng công chúng và thị trường không thể hiểu rằng NHTW không thỏa mãnvới tất cả các point trong range thì NHTW nên chọn điểm mục tiêu (với band hoặckhông) hơn là chọn target range.

Ngược lại với quan điểm này, NHTW Nam Phi khá thoải mái trong việc công

bố LP có thể rơi vào bất kì tỉ lệ nào trong khoảng từ 3% đến 6% Họ sẽ không cócác hành động phản ứng lại nếu LP vẫn nằm trong khoảng này

Một số NHTW như NHTW của Anh, Thổ Nhĩ Kì sử dụng điểm mục tiêu cộngthêm một yêu cầu LP có thể di chuyển một khoảng cách quy định từ điểm mục tiêu.Cái này giống như point target with band trong việc tập trung vào mục tiêu chính(central target), và nó cũng đưa ra một chỉ dẫn của khoảng thời gian mà LP đượcmong đợi giảm một tỷ lệ đáng kể

Theo Roger và Stone (2005), 1/2 NHTW các nước áp dụng khuôn khổ LPMT

sử dụng “point with a band”, 1/3 sử dụng khoảng mục tiêu , 20% sử dụng “pointwithout a band” Độ rộng của “band” hay “range” thường là +- 1%, có khi hẹp hơnhay rộng hơn, nhưng tối đa là +- 2.5% thường thì “band” hay “range” ở các nướccông nghiệp thường nhỏ, còn các thị trường mới nổi thì lớn hơn

4.1.1.2.4 Tỷ lệ Lạm phát dài hạn (Long-term inflation rate)

Hầu hết NHTW các nước công nghiệp áp dụng khuôn khổ LPMT đều đặt mộtmục tiêu 2% ( có hay không một band +-1%) hay một khoảng range từ 1% đến 3%như một trạng thái cân bằng trong dài hạn Việc lựa chọn một tỷ lệ LP positive hơn

Trang 21

là zero vì: thứ nhất: có một sự thiên vị trong chỉ số CPI ở các nước công nghiệp từ0.5% đến 1%; thứ hai: có một số tranh luận về nhược điểm của việc lựa chọn tỷ lệ

LP quá thấp như là làm yếu đi khả năng NHTW hấp thụ các cú sốc negative khi lạmphát ở mức thấp, và chi phí nhận thức cao của việc giảm LP Bằng việc lựa chọnmột mục tiêu LP dương nó có thể giảm những hiệu ứng có hại có thể của các

nguyên nhân trên

Các quốc gia mới nổi thường chọn tỷ lệ LP cao hơn các nước công nghiệp vìcác khó khăn trong thu thập số liệu xác định CPI, và sự không chắc chắn về tínhlinh hoạt của nền kinh tế trong trường hợp thay đổi cấu trúc nhanh Nếu các quốcgia mới nổi định có một LP hàng hóa thương mại giống như các nước phát triển thìCPI mục tiêu của họ nên cao hơn các nước công nghiệp bởi vì sự tăng trưởng năngsuất tương đối trong hàng hóa thương mại của họ cao hơn

4.1.1.2.5 The target horizon

The target horizon là giai đoạn mà NHTW hay CHÍNH PHủ định rõ conđường mục tiêu cho lạm phát Nó khác nhau một cách đáng kể ở các quốc gia khácnhau, những nước nào đã ở trạng thái cân bằng thị có horizon dài hơn các nướcđang trên con đường giảm lạm phát Thực vậy, ở các nước đang trong trạng thái cânbằng dài hạn thì nó có thể quyết định có target horizon dài vô thời hạn

Trên con đường giảm lạm phát từ một mức độ LP vừa phải, thì thật quantrọng, NHTW nên có một target horizon trong nhiều năm hơn là một horizon ngắn (

ví dụ ít nhất là 3 năm) Tầm quan trọng của một horizon trong nhiều năm đó làchính quyền cam kết theo đuổi chính sách giảm lạm phát cho đến cuối cùng khi mànền kinh tế đối mặt với các cú sốc nguồn cung, cái mà có thể tạo ra các phiên bảnliên tục và đáng kể trong việc dự báo lạm phát và sự chậm trễ trong khoảng thờigian tỷ lệ lạm phát được mong đợi sẽ chạm mục tiêu dài hạn

Theo kinh nghiệm nếu horizon qua ngắn thì nó sẽ phản tác dụng và làm giảm

độ tín nhiệm nếu nó không cung cấp đủ thời gian để chính sách kịp tác động lên tỷ

Trang 22

lệ LP, thời gian cho độ trễ của chính sách Theo Roger and Stone (2005) có rấtnhiều sự lựa chọn target horizon Trong khi, thông thường các nước đang giảm lạmphát nên có một target horizon hữu hạn, thì nó lại có khuynh hướng kéo dài ra cókhi là vô hạn, còn các nước ổn định thì lại có một giá trị horizon dại hạn tối ưu.

4.1.1.2.6 The policy horizon.

Policy horizon: là thời gian để thực hiện các phản ứng của CSTT đưa LP đếnđúng tỷ lệ đã công bố sau các cú sốc Policy horizon nên dài ở những nước đanggiảm tỷ lệ LP, nơi mà độ tín nhiệm thấp, hơn là những nơi đã thành công trong việcneo LP kỳ vọng dài hạn vào mục tiêu dài hạn Nó cũng có thể dài hơn sau những cúsốc cung và cầu

4.1.2 Các điều kiện cần thiết ban đầu hỗ trợ khuôn khổ LPMT

4.1.2.1 Điều kiện 1: Nhiệm vụ theo đuổi mục tiêu LP và trách nhiệm đạt được mục tiêu đề ra

4.1.2.1.1 Nhiệm vụ và sự độc lập của các công cụ

NHTW cần phải có một nhiệm vụ thực tế để theo đuổi mục tiêu LP, và có đủquyền hạn, tự chủ để thiết lập các công cụ CSTT cho phù hợp

Mục tiêu lạm phát có thể được thiết lập bởi Chính phủ, NHTW, hoặc do cả hai.Hầu hết các nước áp dụng chính thức khuôn khổ LPMT thì Chính phủ đều có liênquan tới việc thiết lập mục tiêu lạm phát

Bảng 1: Cơ quan thông báo mục tiêu LP ở các nước.

Mục tiêu LP được công bố bởi Tên quốc gia

United Kingdom

Mexico, Poland, Spain, Sweden,Thailand

Trang 23

Cả CHÍNH PHủ lẫn NHTW Australia, Canada, Czech

Republic, Hungary, Korea, NewZealand,

South Africa

Nguồn: websites NHTW các nước.

Việc Chính phủ có liên quan đến công bố mục tiêu củng cố độ tin cậy của cáckhuôn khổ LPMT bằng các cam kết gián tiếp của Chính phủ trong chính sách tàikhóa để hỗ trợ các mục tiêu lạm phát Sự tham gia của Chính phủ trong việc thiếtlập mục tiêu lạm phát là đặc biệt có lợi khi NHTW không có một định hướng rõràng theo đuổi một mục tiêu lạm phát là mục tiêu chính của CSTT Tuy nhiên, độtin cậy của sự độc lập sẽ giảm nếu Chính phủ thay đổi thường xuyên Ở các nước

mà mục tiêu ổn định giá cả là một quy định pháp luật thì mục tiêu lạm phát đượccông bố bởi NHTW như một mục tiêu của CSTT Trong trường hợp này, việc công

bố mục tiêu của NHTW là đại diện cho ý kiến của Chính phủ , cơ quan có thẩmquyền để thiết lập các mục tiêu CSTT đến NHTW

Lý tưởng nhất, luật NHTW các nước có tiềm năng áp dụng khuôn khổ LPMTnên sửa đổi, bổ sung và xác định mục tiêu ổn định giá cả là mục tiêu chính củaCSTT, NHTW được cấp những công cụ rõ ràng và độc lập Tuy nhiên, việc giớithiệu một khuôn khổ pháp lý như vậy không phải là một điều kiện tiên quyết choviệc áp dụng LPMT Các thị trường mới nổi nước đã thông qua LPMT thường thíchgiới thiệu một khuôn khổ pháp lý NHTW được cấp những công cụ độc lập trước khigiới thiệu khuôn khổ LPMT với hy vọng rằng chính thức làm nền tảng cho khuônkhổ LPMT sẽ nâng cao độ tín nhiệm của hệ thống Điều này có thể phản ánh lịch

sử của sự can thiệp của Chính phủ trong CSTT, hệ thống tài chính kém phát triển,

dễ bị tổn thương, lạm phát tiền tệ hóa các khoản nợ của Chính phủ, của tỷ giá trướccác cuộc khủng hoảng, và sự tham gia IMF Hầu hết các nước công nghiệp, và cảBrazil, Thái Lan, bắt đầu LPMT trước khi sửa đổi khuôn khổ pháp lý của họ Khi

Trang 24

khuôn khổ pháp luật hỗ trợ LPMT thì sẽ cải thiện độ tin cậy của NHTW NHTW sẽcải thiện độ tín nhiệm nếu "liên tục kết hợp từ lời nói đến hành động" (AlanBlinder- nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Dự trữ Liên bang Mỹ).

4.1.2.1.2 Trách nhiệm và tính minh bạch của CSTT

Những NHTW quyết định thông qua khuôn khổ LPMT nên chịu trách nhiệmcho hành động mà họ thực hiện để theo đuổi các mục tiêu lạm phát Trách nhiệm làđiều cần thiết bởi vì chính sách có độ trễ, điều này tạo ra sự khó khăn cho côngchúng trong việc giám sát hoạt động của chính sách trên một cơ sở liên tục(Debelle, 1997) Điều này thực sự khác với các khuôn khổ các mục tiêu trung gian,như là TGHĐ và các chế độ tiền tệ, những mục tiêu có thể được dễ dàng theo dõimột cách liên tục, trách nhiệm còn giúp bảo vệ CSTT từ các áp lực chính trị bênngoài

Ngoài ra, để công chúng có đủ thông tin để đảm bảo về trách nhiệm củaNHTW thì các khuôn khổ CSTT dưới chế độ LPMT phải được minh bạch Trongthực tế tính minh bạch thể hiện sau những việc như:

 Mục tiêu lạm phát cần phải được thực hiện rõ ràng và công chúng hóa Địnhnghĩa của mục tiêu lạm phát nên bao gồm không chỉ các con số về giá trị mụctiêu, mà còn những chỉ số giá cả và khoảng thời gian hạn định đạt được mụctiêu Một số nước còn có điều kiện được xác định trước ("điều khoản giảithoát") , theo đó độ lệch so với mục tiêu ban đầu có thể bỏ qua

 Công chúng cần phải có một sự hiểu biết rõ ràng về CSTT , và việc điều hànhCSTT, và các chỉ số tốt nhất phản ánh lập trường của CSTT Bất kỳ sự thayđổi nào trong lập trường của CSTT nên được thông báo ngay lập tức chocông chúng Các thông báo về sự thay đổi trong lập trường của CSTT cần đikèm giải thích của các yếu tố đã thúc đẩy sự thay đổi, và những tác động dự

Trang 25

kiến về triển vọng của lạm phát Điều này sẽ giúp công chúng giám sát cáccam kết của NHTW về mục tiêu lạm phát Ở hầu hết các nước áp dụng chế

độ LPMT thì dự báo lạm phát là một nhân tố quan trọng của khuôn khổLPMT, và các nước này nên công bố và cập nhật thường xuyên

 Để tránh những trường hợp mà độ tin cậy của các khuôn khổ LPMT bị suyyếu do vi phạm mục tiêu, các NHTW nên tín hiệu về bất kỳ sự vi phạm tiềmnăng trước thời hạn nào, quan điểm của mình về lý do tại sao hành vi viphạm được dự kiến sẽ xảy ra (ví dụ, gia tăng giá cả hàng hóa bình thườngngoài sự kiểm soát của trung ương ngân hàng), và những hành động (ngoàikhung thời gian) để đưa lạm phát trở lại mục tiêu Công bố trách nhiệm giảitrình cũng đòi hỏi phải có một đánh giá hiệu quả của việc thực hiện CSTT.Việc xây dựng tính minh bạch bằng cách kết hợp các thông tin trên không yêu cầucác phương tiện tinh vi Điều quan trọng là thông tin được kịp thời chuyển tải đúnglúc đúng nơi, được trình bày làm cho người nghe dễ hiểu được đối tượng mục tiêu.Một NHTW cần bố trí đủ nguồn lực và xây dựng chuyên môn trong các mối quan

hệ bên ngoài và nghiên cứu kinh tế để xây dựng tính minh bạch các kỹ thuật phổbiến được sử dụng bởi NHTW các nước áp dụng khuôn khổ LPMT, và ngày càngnhiều các NHTW khác tiến hành CSTT một cách minh bạch:

 Thường xuyên thông cáo báo chí về các cuộc họp của NHTW, về quyết địnhcác của CSTT của NHTW, báo cáo lạm phát thường xuyên có thể được sửdụng để cung cấp các tài khoản chi tiết của kinh tế gần đây và sự phát triểntài chính, và các hiệu ứng của nó đến hành vi lạm phát tương đối để nhắmđến mục tiêu

 Các báo cáo về lạm phát được chia theo cung và cầu khác nhau, các chỉ số vềlạm phát kỳ vọng được cho là có tác động đến lạm phát NHTW nên pháthành thường xuyên các báo cáo lạm phát ( ví dụ theo quý), bao gồm cả triểnvọng về lạm phát Các dự báo về lạm phát có thể bị giới hạn trong các thảo

Trang 26

luận mang tính định tính về dự báo lạm phát trong 12-24 tháng, hoặc là liênquan đến các dự báo lạm phát cho các rủi ro được nêu trong bảng xếp hạng.

4.1.2.2 Điều kiện 2: Đảm bảo rằng mục tiêu LP không bị ảnh hưởng bởi các mục tiêu khác

4.1.2.2.1 Không có sự thống trị tài khóa

Thực hiện CSTT với một mục tiêu lạm phát đòi hỏi rằng CSTT không được bịchi phối bởi mối quan tâm tài khóa Bằng cách tối thiểu hóa việc tài trợ cho cáckhoản thâm hụt ngân sách, sẽ làm gia tăng độ tín nhiệm của khuôn khổ LPMT, điềunày sẽ giảm các chi phí thực để giảm tỷ lệ LP của nền kinh tế xuống (Masson,Savastano, và Sharma, năm 1997, và Mishkin, 2000)

Tầm quan trọng của một vị thế tài chính mạnh phụ thuộc trước hết vào mứclạm phát lịch sử của quốc gia đó, việc Chính phủ sử dụng CSTT để tác động đến cácmục tiêu tài khóa ngắn hạn, khả năng tiếp cận thị trường tài chính để đáp ứng cácyêu cầu tài trợ của Chính phủ Những vị trí bắt đầu khác nhau sẽ giúp đỡ để xácđịnh mức độ sắp xếp tổ chức, chẳng hạn như giới hạn về NHTW tài trợ cho Chínhphủ hay luật tài khóa, một luật rất quan trọng đến xây dựng độ tín nhiệm của khuônkhổ LPMT

Về nguyên tắc, có thể phân biệt thành hai trường hợp:

Đầu tiên liên quan đến các quốc gia có một lịch sử lạm phát cao: thường là kếtquả của việc NHTW tài trợ trực tiếp hoặc gián tiếp cho thâm hụt ngân sách hay khảnăng hạn chế của Chính phủ trong việc tiếp cận thị trường vốn để tài trợ cho thâmhụt ngân sách, một vị trí tài chính vững mạnh là một điều cần thiết, điều kiện tiênquyết cho việc thiết lập độ tin cậy của một khuôn khổ LPMT Với lạm phát cao và

sự yếu kém trong khả năng tiếp cận thị trường tài chính để tài trợ cho thâm hụt ngânsách của Chính phủ, điều này có thể làm công chúng lo lắng rằng khả năng khuônkhổ LPMT bị suy yếu do các ưu tiên tài khóa Trái phiếu của nền kinh tế dễ bị tổn

Trang 27

thương trước những cú sốc cũng đóng vai trò quan trọng trong việc quyêt định liệukhuôn khổ LPMT có bị suy yếu vì các ưu tiên tài khóa hay không.

Trường hợp thứ hai bao gồm các quốc gia có lạm phát tương đối thấp và có thểtiếp cận thị trường tài chính để đáp ứng các nhu cầu tài chính của họ Chính phủ cókhả năng tiếp cận thị trường tài chính để bù đắp được các khoản thâm hụt ngân sách

và lịch sử của lạm phát tương đối thấp, độ tin cậy của các khuôn khổ LPMT ít cókhả năng bị suy yếu do tình hình tài chính của Chính phủ và khả năng thu thuế(Huang và Wei, 2001) Trong thực tế, một khuôn khổ LPMT có thể giúp đảm bảorằng các mối quan tâm tài khóa sẽ không phải là một việc phức tạp khi thực hiệnCSTT Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của Canada cho thấy rằng khi có sự không chắcchắn tài khóa, thì NHTW được yêu cầu chấp nhận điều kiện tiền tệ chặt chẽ hơnmong muốn để chứng minh cam kết của mình với mục tiêu lạm phát (Clinton vàZelmer, 1997)

Để đảm bảo không có sự thống trị tài khóa cần có một số quy định rõ ràng về:

sự độc lập của các công cụ, sự giới hạn rõ ràng về việc Chính phủ sử dụng cácnguồn tài trợ từ NHTW Việc giới hạn sử dụng cơ sở vật chất của NHTW, Ví dụnhư đường dây tín dụng, các cân đối thặng dư đảm bảo rằng việc tài trợ của Chínhphủ sẽ không làm tăng lạm phát tiền tệ, hay gây trở ngại cho NHTW trong quá trìnhquản lý tính thanh khoản của thị trường tài chính Việc thiết lập các nhân tố trêntrước khi khuôn khổ LPMT được công bố sẽ xây dựng được lòng tin của côngchúng vào khung chính sách Ở hầu hết các quốc gia mới nổi áp dụng khuôn khổLPMT đều thiết lập các nhân tố trên trong luật pháp NHTW, phản ánh kinh nghiệmcủa lạm phát cao gây ra tiền tệ hóa thâm hụt tài chính, mức độ nợ của Chính phủcác quốc gia mới nổi cao hơn các nước công nghiệp và họ dễ dàng bị tổn thươngtrước các cú sốc

4.1.2.2.2 Ổn định các yếu tố bên ngoài

Trang 28

Các yếu tố bên ngoài của một quốc gia nên đủ ổn định để CSTT tập trung vàoviệc theo đuổi mục tiêu LP theo thời gian mà không bị ảnh hường, thời gian thựchiện không bị kéo dài, để phát triển thị trường ngoại hối (nhưng các yếu tố bênngoài của một quốc gia không phải là một yếu tố trong việc xác định thời gian thíchhợp cho việc áp dụng LPMT (Schaechter, Stone và Zelmer, 2000)) Việc thông quakhuôn khổ LPMT của hầu hết các các nước thị trường mới nổi thường sau nhiềunăm ổn định các yếu tố bên ngoài Một ngoại lệ là Brazil, mà vượt qua áp lực vềtiền tệ của nó với sự hỗ trợ từ quốc tế trước khi giới thiệu LPMT Các nước côngnghiệp châu Âu đã thông qua LP mục tiêu trong thời gian ngắn sau khi thoát khỏi

cơ chế tỷ giá bởi vì họ cần một cái neo danh nghĩa khác, và New Zealand và Canada

đã mở đường cho những thay thế hợp lý

4.1.2.2.3 Mức độ LP vào thời điểm thông qua khuôn khổ LPMT

Tại thời điểm bắt đầu áp dụng khuôn khổ LPMT, lạm phát nên thấp đủ để đảmbảo một độ hợp lý của kiểm soát tiền tệ Hầu hết các nước công nghiệp đã thôngqua khuôn khổ LPMT khi LP đang có xu hướng giảm Các nước đã bắt đầu với tỷ lệ

LP cao hơn và chế độ con rắn tiền tệ (crawling exchange rate) đã phải giảm LP quamột thời gian dài để hạn chế sự gián đoạn nền kinh tế thực Chile, Israel, và Ba Lan

từ từ chuyển từ một chế độ độ con rắn tiền tệ sang khuôn khổ LPMT Sự thành côngcủa các nỗ lực giảm LP của Chile và Israel là điển hình Tỷ lệ LP ban đầu của họtới mức trung bình dưới 25% Hơn nữa, việc giảm lạm phát đã được thực hiện dễdàng hơn bằng sự cải thiện trong cơ cấu và chính sách tài khóa

4.1.2.3 Điều kiện 3: Hệ thống tài chính ổn định và phát triển để thực hiện khuôn khổ LPMT

4.1.2.3.1 Ổn định hệ thống tài chính

Sự ổn định tài chính cho phép CSTT theo đuổi các mục tiêu LP mà không bịảnh hưởng bởi các mối lo ngại khác về sức khỏe của khu vực tài chính Thị trườngtài chính ổn định được định nghĩa như là một nơi mà lỗ hổng dẫn đến khủng hoảng

Trang 29

được xem là tối thiểu, ví dụ như phần bù rủi ro thấp Ổn định hệ thống tài chínhchứa đựng sự tín nhiệm đối với CSTT, do đó có thể đưa LP dự kiến tới gần với mụctiêu hơn Sự ổn định tài chính thì đáng quan tâm hơn ở các quốc gia mới nổi khi họbắt đầu áp dụng khuôn khổ LPMT, vì nền kinh tế của họ dễ bị tổn thương trước cáckhủng hoảng tài chính.

Sau khủng hoảng tài chính thị trường mới nổi phải chờ đợi lâu hơn các nướccông nghiệp để đảm bảo rằng khuôn khổ LPMT sẽ không bị đe dọa bởi sự bất ổnđịnh hệ thống tài chính (Schaechter, Stone, và Zelmer, 2000) Nếu chế độ neoTGHĐ (exchange rate peg) bị bỏ thì các biện pháp có thể là cần thiết để giảm thiểutính dễ tổn thương của khu vực tài chính đối với việc đồng tiền mất giá Nhiều thịtrường mới nổi đã thực hiện các biện pháp để cải thiện sự ổn định hệ thống tài chínhtrước khi áp dụng LPMT Tăng cường tính đúng đắn của hệ thống tài chính có thểbao gồm giải quyết các tổ chức tài chính mất khả năng thanh toán, và thông quathực hiện giám sát

4.1.2.3.2 Phát triển hệ thống tài chính

Thị trường tài chính phát triển cho phép CSTT được thực hiện bằng cách sửdụng các công cụ dựa vào thị trường, và để đảm bảo rằng việc thực thi CSTT khôngphức tạp bởi sự yếu kém cơ sở hạ tầng thị trường tài chính

Thị trường tài chính hoạt động tốt tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựngCSTT theo khuôn khổ LPMT Thị trường tài chính phát triển theo bề sâu và thanhkhoản tốt đảm bảo rằng những biến động về giá tài sản truyền thông tin cho NHTWtrên nền tảng kỳ vọng và hành động của tiền tệ trong tương lai Hơn nữa, thị trườngphát triển theo bề sâu và thanh khoản tốt giúp hấp thụ những cú sốc, do đó cho phépNHTW tập trung hơn vào mục tiêu LP, trong khi giảm thiểu tác động của những cúsốc ngắn hạn, hoặc hành động để bảo vệ sự ổn định tài chính

Hoạt động thị trường tài chính tốt cũng góp phần vào việc thực hiện có hiệuquả của hoạt động điều hành tiền tệ và thị trường ngoại hối Các NHTW cần thực

Trang 30

hiện các giao dịch lớn mà không bóp méo giá cả thị trường hiện hành Để thực hiệnCSTT hiệu quả, NHTW cần quản lý bảng cân đối (balance sheets) và dự trữ ngoạihối của đất nước và khi cần thiết, cung cấp tín dụng cho các tổ chức tài chính trongvai trò của họ như là người cho vay cuối cùng Điều này đặc biệt đúng đối với cácNHTW các nước áp dụng khuôn khổ LPMT, nước mà cần sự điều hành thị trườngmột cách minh bạch để có thể tối thiểu sự không chắc chắn Hơn nữa, CSTT có hiệuquả hơn khi thị trường tài chính phát triển đủ để không bị đôla hóa vì sự đôla hóa sẽlàm giảm tác động của CSTT Các nhà làm chính sách của quốc gia thông quakhuôn khổ LPMT cần thúc đẩy sự phát triển của thị trường tài chính.

Ví dụ: một số nước tìm cách để tăng tính thanh khoản của thị trường họ tạo ravấn đề tiêu chuẩn, đôi khi thông qua luân chuyển trái phiêu, trái phiếu hợp nhất(Brazil, Iceland, Mexico, New Zealand, Nam Phi, Thụy Điển), bằng cách thiết lậpcác trung tâm giao dịch trái phiếu chính thức (Nam Phi), và bằng cách giới thiệu hệthống đại lý chính thức (Hungary, Mexico, Nam Phi)

4.1.2.4. Điều kiện 4: Điều hành chính sách tiền tệ

Một NHTW hoạt động với một mục tiêu lạm phát phải lựa chọn công cụ tiền tệthích hợp và các hướng dẫn điều hành để theo đuổi mục tiêu lạm phát Như với bất

kỳ khuôn khổhoạt động nào, các công cụ phải được kiểm soát bởi các NHTW, và sựthay đổi trong hướng dẫn điều hành, cuối cùng là lạm phát nên đáng tin cậy nhất cóthể Không có quy tắc cứng nhắc và nhanh chóng cho việc lựa chọn các công cụ vàhướng dẫn hoạt động vì chúng phụ thuộc vào cấu trúc của hệ thống tài chính củamột quốc gia

4.1.2.4.1 Hướng dẫn điều hành chính sách và các công cụ

Các NHTW có thể chọn lãi suất ngắn hạn hay cung tiền để tác động tính thanhkhoản của hệ thống tài chính Các hướng dẫn điều hành có thể là lãi suất ngắn hạnhay các chỉ số thanh khoản cái mà nắm bắt ý định của chính quyền tốt nhất NHTWcủa một quốc gia với một hệ thống tài chính đủ phức tạp để sử dụng một mục tiêu

Trang 31

lạm phát sẽ có thể ảnh hưởng đến điều kiện trong thị trường tiền tệ thông qua kiểmsoát dự trữ ngân hàng và bảng cân đối tại NHTW Điều kiện trong thị trường tiền tệthường được truyền tác động qua đường cong lãi suất tới thị trường tín dụng.

Tất cả các quốc gia áp dụng chính thức khuôn khổ LPMT (ngoại trừ Mexico)đều dùng lãi suất ngắn hạn như hướng dẫn điều hành, tùy từng trường hợp thay đổi

từ lãi suất qua đêm đến lãi suất 3 tháng Sự ngày càng phổ biến của lãi suất (nhưmục tiêu điều hành) là một phần của xu hướng lớn khác với xu hướng định lượngtrái phiếu (Borio, năm 1997; và Van't dack, 1999) New Zealand chuyển từ một mụctiêu điều hành định lượng sang mục tiêu điều hành lãi suất mục tiêu trong năm

1999, bởi vì việc điều hành định lượng đã dẫn đến biến động quá mức lãi suất vànhững thông tin phức tạp về quan điểm điều hành chính sách (Sherwin, 2000) Việcngày càng phổ biến của việc sử dụng lãi suất ngắn hạn như hướng dẫn điều hànhngụ ý rằng NHTW đã lựa chọn sự biến động thích hợp một cách rộng rãi trong cầu

dự trữ của ngân hàng và số dư thanh toán

Các công cụ trực tiếp như tăng trưởng tín dụng, tính thanh khoản của các tàisản yêu cầu hiếm khi được NHTW sử dụng vì họ chỉ có thể điều chỉnh một cáchkhông thường xuyên NHTW nên từng bước chuyển sang các công cụ gián tiếp dựavào thị trường trước khi thông qua khuôn khổ LPMT Các bước đó là tự do hóa cáclãi suất quan trọng, và các biến khác từ NHTW hay sự điều khiển của Chính phủ.Tất cả NHTW các nước áp dụng khuôn khổ LPMT đều sử dụng các công cụđiều hành gián tiếp của CSTT Các công cụ gián tiếp thì tốt hơn trong việc điềuhành tính thanh khoản để đáp lại những cú sốc lạm phát, truyền đi những tín hiệu về

xu hướng điều hành chính sách của NHTW tối thiểu hóa rủi ro tín dụng và pháttriển thị trường tài chính (Alexander và những tác giả khác, 1995)

Các NHTW sử dụng nghiệp vụ thị trường mở như : hoặc mua bán trái phiếu(securities) Chính phủ, NHTW hoặc liên quan đến việc giao dịch các chứng khoánnội địa và nước ngoài

Trang 32

Bảng 2: Mục tiêu điều hành và công cụ của CSTT.

Emerging Market Countries

Brazil Lãi suất liên ngân hàng qua

đêm.

Điều hành thị trường mở sử dụng trái phiếu chính phủ hoặc trái phiếu phát hành bởi NHTW.

Chile Lãi suất thực qua đêm liên

ngân hàng gắn với CPI với độ trễ 20 ngày.

Điều hành thị trường mở thông qua bảo lãnh giấy tờ có giá và hoạt động giao dịch kì hạn repo của NHTW.

Colombia Lãi suất qua đêm repo Điều hành thị trường mở với hoạt

động repo và chứng khoán của chính phủ Czech

Israel Lãi suất cho vay ngắn hạn và

lãi suất tiền gửi.

Đấu giá hàng ngày và cố định cho các khoản tiền gửi, chiết khấu các khoản vay qua đêm và trái phiếu chính phủ Hungary Lãi suất liên ngân hàng ngắn

hạn.

Đấu giá hàng tuần cho khoản tiền gửi 2 tuần của NHTW, và trái phiếu 3 tháng của NHTW.

Korea Lãi suất liên ngân hàng qua

Các nước công nghiệp

Australia Lãi suất liên ngân hàng qua

Trang 33

Thị trường mở với tiền gửi lãi suất

cố định và khoản vay thế chấp lãi suất cố định.

Spain Lãi suất liên ngân hàng qua

đêm

Thị trường mở với chứng khoán của chính phủ và giấy tờ có giá của NHTW.

Sweden Lãi suất liên ngân hàng kì hạn

Thị trường mở với hoạt động kì hạn

Nguồn: Website Ngân hàng trung ương các nước

4.1.2.4.2 Sự lan truyền của CSTT

Để khuôn khổ LPMT thật sự hoạt động thì NHTW cần phải thiết lập các công

cụ để hưỡng dẫn lạm phát tiến tới mục tiêu Cơ chế lan truyền của CSTT là sự liênkết giữa sự thay đổi trong lập trường tiền tệ và tác động của nó lên mục tiêu điềuhành, và cuối cùng là lên tỷ lệ lạm phát Các liên kết truyền dẫn càng mạnh, nó càng

dễ hiểu, và sự thay đổi các công cụ tiền tệ để đạt được mục tiêu lạm phát càng hiệuquả Việc truyền dẫn CSTT từ một hướng dẫn điều hành lãi suất đến điều hành lạmphát thông qua một số kênh Sự gia tăng lãi suất điều hành trong một nền kinh tế

mở được dự kiến sẽ giảm lạm phát bằng cách:

• Đánh giá cao nội tệ, qua đó nhanh chóng giảm giá hàng hoá nhập khẩu tínhbằng nội tệ;

Trang 34

• Nâng cao chi phí của vay qua ngân hàng và tổ chức phi ngân hàng, do đó làmgiảm đầu tư và hàng tiêu dùng lâu bền, và gia tăng output gap;

• Làm giảm sự giàu có từ một tỷ lệ chiết khấu cao hơn, do đó làm giảm tiêuthụ;

• Giảm giá trị tài sản của công ty, do đó ngân hàng cắt giảm cho vay;

• Giảm đầu tư và tiêu dùng lâu bền;

• Tăng phá sản của các công ty có đòn bẩy cao, do đó làm giảm đi mong đợi vềhoạt động kinh tế

Sự không chắc chắn vốn có trong việc truyền dẫn CSTT là một thách thức màNHTW các thị trường mới nổi phải đối mặt

Các NHTW có các công cụ chính sách để tăng cường hoặc ít nhất là cải thiện

sự hiểu biết của họ về các kênh truyền dẫn của CSTT Cải cách tài chính để cảithiện hoạt động của thị trường tiền tệ và thắt chặt mối liên kết giữa thị trường tiền tệ

và các thị trường tài chính sẽ tăng cường các kênh truyền dẫn Từ việc phân bổ lạinguồn lực nội bộ của NHTW đến việc phân tích nền kinh tế có thể giúp tăng cường

sự hiểu biết về các kênh truyền dẫn của CSTT, từ đó cải thiện việc xây dựng chínhsách Việc thường xuyên liên lạc giữa các thành phần tham gia thị trường tiền tệ vàthị trường tài chính có thể hỗ trợ NHTW trong việc dự đoán những tác động của cácthay đổi chính sách lên tỷ lệ lạm phát

4.1.2.4.3 Dự báo lạm phát

Dự báo lạm phát đóng một vai trò quan trọng trong khuôn khổ LPMT Trongkhuôn khổ này lập trường của chính sách sẽ được điều chỉnh bất cứ khi nào có cácbằng chứng thể hiện về lạm phát trong tương lai khác với con đường mục tiêu Nếulạm phát được dự báo trên horizon thì có dấu hiệu lạm phát sẽ ở trên hoặc dướimức mục tiêu một cách hệ thống, và lập trường của chính sách lúc này có thể làphải thắt chặt hay nới lỏng Thật vậy,dự báo lạm phát có thể được coi như mục tiêuchính sách trung gian

Trang 35

Dự báo lạm phát của NHTW nên sử dụng tất cả các thông tin có sẵn về triểnvọng lạm phát Dự báo lạm phát của NHTW nên làm cho việc sử dụng của tất cảcác thông tin có sẵn trên triển vọng lạm phát Không giống như một chế độ TGHĐ

cố định, hay quy luật cung tiền đơn giản, NHTW không bị giới hạn bởi một biếnnhư là một chỉ thị hay một dự báo về sự phát triển của lạm phát Do đó, các mụctiêu gia về lạm phát tương lai nên được tự tin rằng họ có thể có được đầy đủ thôngtin đáng tin cậy về triển vọng lạm phát để cho phép họ trình bày dự báo lạm phát sẽđược coi là đáng tin cậy trong con mắt của các thành phần tham gia thị trường tàichính và công chúng

Vấn đề chính của dự báo lạm phát rong việc điều hành chính sách có thể là đạidiện cho một thách thức lớn mà các quốc gia đang tìm cách áp dụng khuôn khổLPMT gặp phải Nhiều quốc gia thành công khi chuyển sang khuôn khổ LPMT đãphải chuyển từ môi trường hoạt động bị ảnh hưởng nhiều bởi sự điều khiển sang tậptrung nhiều hơn vào xây dựng chính sách Hơn nữa trong những quốc gia này có rấtnhiều quốc gia đã trải qua việc xây xựng mô hình kinh tế, mà thiếu kinh nghiệmthực tế về mô hình lạm phát, cộng thêm những điều kiện định lượng của nền kinh

tế, chính sách phản ứng lại trong khuôn khổ LPMT Các NHTW tìm cách áp dụngkhuôn khổ LPMT nên bổ sung thông tin có được từ tổng cung tiền tệ và tín dụng…với cái đạt được từ các chỉ số dẫn đầu về LP khác Một số thay đổi về tổ chức đượcNHTW thực hiện để hỗ trợ cho LPMT được miêu tả trong

Hộp1: Các thay đổi về tổ chức tại NHTW, NHTW thông qua khuôn khổ LPMT

Việc xây dựng mối quan hệ mới với các quan chức từ các thành phần kinh tếtrọng điểm cũng có thể tăng cường việc thực hiện các CSTT theo LPMT Không chỉcác nước áp dụng khuôn khổ LPMT, NHTW các nước nên xây dựng mối quan hệvới các quan chức từ các tổ chức, bao gồm cả công ty, hiệp hội ngành công nghiệp,

Trang 36

công đoàn, và các trường đại học Thêm vào đó, để thúc đẩy một sự hiểu biết tốthơn các mục tiêu CSTT và lý do làm cơ sở cho lập trường CSTT, các mối liên hệnhư vậy có thể được sử dụng để bổ sung những lời khuyên được cung cấp bởi môhình kinh tế với thông tin có chất lượng về điều kiện kinh tế trong nước.

Di chuyển về hướng LPMT đã thường được đi kèm với các cuộc cải cách lớnđối với cơ cấu tổ chức và chú trọng vào gia tăng thẩm quyền Mặc dù không trựctiếp liên quan đến việc giới thiệu LPMT, có một sự tiến hóa văn hóa lớn trong

NHTW Chile, đó là chuyển từ một môi trường chỉ tập trung vào điều khiển và giámsát hệ thống tài chính sang một môi trường tập trung vào giám sát ngân hàng và xâydựng chính sách (website của NHTW Chile) Yếu tố này, được kết hợp với nhữngtiến bộ lớn trong công nghệ và lý thuyết quản lý, làm cho các NHTW thông qua mộtcấu trúc tổ chức linh hoạt hơn đó là cấu trúc ít thứ bậc chức vụ, mà tập trung vàophân quyền quyết định Tương tự như vậy, Ngân hàng Israel note rằng việc rời khỏikhuôn khổ CSTT tập trung vào tín dụng trực tiếp, các khoản vay nhà nước, cáckiểm soát trao đổi nước ngoài, đã dẫn nó để trải qua một chuyển dịch cơ cấu lớntrong giữa những năm 1980 (website của Ngân hàng của Israel )

Việc áp dụng LPMT của các nước thị trường mới nổi thường được đi kèm vớimột sự thay đổi trong phân tích kinh tế NHTW và yêu cầu nhân viên Việc giớithiệu các mục tiêu lạm phát không xuất hiện để có ý nghĩa lớn đối với các yêu cầu

về nguồn lực NHTW ở các nước công nghiệp, vì các NHTW này đã có nguồn lựcphân tích chuyên dụng để thúc đẩy sự hiểu biết của NHTW về nền kinh tế và cơ chếlan truyền tiền tệ Ngược lại, một số nước thị trường mới nổi NHTW đã phải tăngcường năng lực phân tích của họ định hướng lại phân tích kinh tế của họ và hoạtđộng quản lý dữ liệu đối với việc thu thập dữ liệu, xây dựng các mô hình cần thiết

để tạo ra các dự báo lạm phát thường xuyên, và xác định các kênh truyền dẫn chính

từ lãi suất ngắn hạn đến lạm phát Ví dụ, Ngân hàng Dự trữ Nam Phi tích cực tìmkiếm để tuyển dụng và đào tạo nhân viên mới có thể giúp nó cải thiện giám sát kinh

Trang 37

tế và khả năng xây dựng mô hình để nó có thể phát triển một khuôn khổ cho dự báo

LP và xác định, thiết lập chính sách phù hợp Trong trường hợp của Brazil, thôngqua việc nhắm mục tiêu lạm phát đã được kèm theo một quyết định để thu hút độingũ cán bộ kỹ năng mạnh mẽ về kinh tế và mô hình hóa các kỹ thuật - một quyếtđịnh đã giúp tập trung phân tích kinh tế và hoạt động nghiên cứu trong các NHTW,chuyên dụng để xây dựng các mô hình cần thiết để dự báo lạm phát và nâng caoNHTW của sự hiểu biết về cơ chế lan truyền tiền tệ (Leone, 1999) Nhu cầu tương

tự cũng đã được được xác định cho các nước thị trường mới nổi đang nghĩ đến việcthông qua khuôn khổ LPMT trong tương lai

LPMT dường như cũng đã thay đổi vai trò của nhân viên liên quan đến việcgiám sát tài chính thị trường Trước khi thông qua khuôn khổ LPMT, những ngườitham gia vào các hoạt động thị trường tài chính, đặc biệt là ở NHTW với cơ chế lãisuất cố định, đóng một vai trò tích cực trong thị trường giám sát trên cơ sở liên tục,

và thực hiện các giao dịch để đảm bảo rằng tỷ lệ lãi suất và các mục tiêu TGHĐ đãđạt được Với sự ra đời của khuôn khổ LPMT ,dường như có một sự thay đổi trongvai trò nhân viên như vậy Trong mục tiêu LP, trọng tâm của CSTT là thẳng vàotrung hạn chứ không phải là phát triển tại các thị trường tài chính ngắn hạn Kếtquả là, những người tham gia trong việc theo dõi thị trường hiện nay dành nhiềuthời gian giải nén những thông tin kỳ vọng của thị trường về LP trong tương lai vàlập trường CSTT, và giảm đi việc theo dõi dòng chảy liên tục của các giao dịchthông qua các thị trường

Nguồn: Tham khảo bài nghiên cứu “Establishing Initial Conditions in

Support of Inflation Targeting” của tác giả :Alina Carare, Andrea Schaechter, Mark Stone, và Mark Zelmer

Một bước cơ bản trong mở rộng thông tin, mà dựa vào thông tin đó các quyếtđịnh tiền tệ được đưa ra là xây dựng cơ sở dữ liệu Các biến số kinh tế được sử dụng

để tạo ra một cái nhìn về triển vọng lạm phát là: các chỉ số lạm phát đơn giản được

Trang 38

các cơ quan hay khu vực tư nhân thu thập và phân tích; các chỉ số dẫn dắt có thểthay đổi LP được xây dựng bởi NHTW.

Các chỉ số này có thể liên quan đến các biến cung cầu tổng thể; lãi suất; biệnpháp tỷ giá; lạm phát; giá cả; và các biện pháp kỳ vọng Các khảo sát ý kiến về LP

kì vọng, chênh lệch lãi suất trên trái phiếu Chính phủ là một số chỉ số hữu ích nếuchúng được sử dụng rộng rãi Các chỉ số tín dụng và tiền tệ cũng có thể là mộtnguồn thông tin phong phú về lạm phát kỳ vọng ở các thị trường mới nổi và đangphát triển

Sản lượng, nguồn lao động,các chỉ số về công ăn việclàm, tỷ lệ thất nghiệp Sựtăng trưởng tiền công, lợinhuận, sản xuất, ý kiến, kìvọng về các chỉ số ở trên.Các chỉ số khu vực tài

Tỷ giá hối đoái

Chỉ số về điều kiện của thịtrường

Lãi suất đi vay với lãi suấtthị trường

Cấu trúc của lãi suất

Thông tin về lãi suất kìvọng của forwards,

Trang 39

Thông tin kì vọng TGHĐ

từ các chỉ số nợ, forwards,futures, options, và các yếu

Nguồn: Website NHTW các nước.

Sử dụng các mối quan hệ thống kê cho các mục đích dự báo và cuối cùng làxây dựng các mô hình dự báo là một bước tiếp theo cần được thực hiện theo thờigian NHTW các nước áp dụng khuôn khổ LPMT có lợi từ kinh nghiệm của nhữngngười tiền nhiệm bằng cách sử dụng mô hình và các chỉ số đã được phát triển bởicác mục tiêu gia, và áp dụng nó tùy theo hoàn cản của quốc gia mình Có một lý dotại sao Brazil đã có thể để thông qua khuôn khổ LPMT khá nhanh đó là nó đã cóthể tận dụng lợi thế của mô hình dự báo LP và các khuôn khổ phân tích chính sáchphát triển NHTW ở các nước đã đi trước nó trên con đường LPMT

4.1.2.4.4 Chính sách tỷ giá hối đoái

Mục tiêu lạm phát phải được ưu tiên hơn một mục tiêu TGHĐ NHTW ápdụng khuôn khổ LPMT không nên chú ý đến cả 2 mục tiêu TGHĐ danh nghĩa và tỷ

lệ lạm phát, hãy cố gắng và tác động đến TGHĐ thực ngay cả khi có những lo lắng

về năng cạnh tranh và áp lực cán cân tài khoản vãng lai Vì trong trung và dài hạnCSTT tác động đến TGHĐ danh nghĩa chứ không phải TGHĐ thực Vì vậy việc sửa

Trang 40

chữa vị thế bên ngoài của một quốc gia là cách giải quyết tốt nhất thông qua chínhsách tài chính hoặc chính sách cấu trúc.

Tuy nhiên, các quốc gia có nền kinh tế nhỏ mở cửa, đặc biệt là với các quốcgia có thị trường ngoại hối nhỏ, cần can thiệp hoặc điều chỉnh lãi suất để hạn chếảnh hưởng của những tác động tạm thời của các cú sốc tỷ giá lên LP và sự ổn địnhtài chính (Mishkin và Schmidt-Hebbel, 2001) Thỉnh thoảng, áp lực trên thị trườngngoại hối có thể gây ra TGHĐ để di chuyển quá xa hoặc quá nhanh Trong thực tế,tất cả NHTW các quốc gia áp dụng khuôn khổ LPMT cho phép can thiệp vào thịtrường ngoại hối, mặc dù các nước công nghiệp hiếm khi làm điều này trong nhữngnăm gần đây Can thiệp ngoại hối xuất hiện được phần nào thường xuyên cho cácnước thị trường mới nổi, thường có giao dịch tiền tệ nhỏ và dễ bị rối loạn phát ra từthị trường ngoại hối

NHTW các nước áp dụng khuôn khổ LPMT nên làm cho rõ ràng rằng cácchính sách ảnh hưởng đến TGHĐ là nhằm mục đích làm dịu đi ảnh hưởng củanhững cú sốc tạm thời và để đạt được mục tiêu lạm phát Chính sách ảnh hưởng đếnTGHĐ bao gồm can thiệp thị trường và những thay đổi trong lãi suất Sự minhbạch giúp trấn an thị trường rằng các chính sách nhằm ảnh hưởng đến TGHĐ đượcdùng với mục đích để hạn chế duy nhất tác động đến lạm phát và duy trì sự ổn địnhtài chính, khác với việc theo đuổi một mục tiêu TGHĐ

Những kinh nghiệm của Chile và Israel cũng có thể cung cấp một số bài họcthực tế Khi họ lần đầu tiên bắt đầu quá trình chuyển đổi của họ sang khuôn khổLPMT, họ cũng đã điều hành tỷ giá với những bands TGHĐ có thể được xem như

là độc lập vào vào mục tiêu chức năng của các nhà hoạch định chính sách do tầmquan trọng của nó đối với khu vực thực tế và TGHĐ ổn định trong các nền kinh tế

mở Cả hai nước đều đã sử dụng can thiệp ngoại hối để giữ TGHĐ trong phạm vi

mà họ đã công bố trước đó, cái mà giúp CSTT đạt được mục tiêu LP Theo thờigian, phạm vi đã được mở rộng cho đến khi nó không còn là một ràng buộc về

Ngày đăng: 03/04/2014, 22:34

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Cơ quan thông báo mục tiêu LP ở các nước. - Lạm phát mục tiêu ở các nước thị trường mới nổi và khả năng áp dụng ở Việt Nam
Bảng 1 Cơ quan thông báo mục tiêu LP ở các nước (Trang 22)
Bảng 2: Mục tiêu điều hành và công cụ của CSTT. - Lạm phát mục tiêu ở các nước thị trường mới nổi và khả năng áp dụng ở Việt Nam
Bảng 2 Mục tiêu điều hành và công cụ của CSTT (Trang 32)
Bảng 4: Thông tin về sự can thiệp vào thị trường ngoại hối của các nước áp dụng  khuôn khổ LPMT. - Lạm phát mục tiêu ở các nước thị trường mới nổi và khả năng áp dụng ở Việt Nam
Bảng 4 Thông tin về sự can thiệp vào thị trường ngoại hối của các nước áp dụng khuôn khổ LPMT (Trang 41)
Bảng 5: Tỷ lệ dự trữ bắt buộc - Lạm phát mục tiêu ở các nước thị trường mới nổi và khả năng áp dụng ở Việt Nam
Bảng 5 Tỷ lệ dự trữ bắt buộc (Trang 58)
Bảng 6: Mục tiêu tỉ lệ LP qua các năm và kết quả đạt được. - Lạm phát mục tiêu ở các nước thị trường mới nổi và khả năng áp dụng ở Việt Nam
Bảng 6 Mục tiêu tỉ lệ LP qua các năm và kết quả đạt được (Trang 64)
Bảng 6: Mục tiêu tỉ lệ LP qua các năm và kết quả đạt được. - Lạm phát mục tiêu ở các nước thị trường mới nổi và khả năng áp dụng ở Việt Nam
Bảng 6 Mục tiêu tỉ lệ LP qua các năm và kết quả đạt được (Trang 64)
Hình 4: Cách Việt Nam đưa ra mục tiêu và kết quả đạt được - Lạm phát mục tiêu ở các nước thị trường mới nổi và khả năng áp dụng ở Việt Nam
Hình 4 Cách Việt Nam đưa ra mục tiêu và kết quả đạt được (Trang 65)
Hình 5: Mức độ độc lập trong điều hành chính sách  tiền tệ của NHNN - Lạm phát mục tiêu ở các nước thị trường mới nổi và khả năng áp dụng ở Việt Nam
Hình 5 Mức độ độc lập trong điều hành chính sách tiền tệ của NHNN (Trang 66)
Hình 7: Kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá và cán cân thương mại của Việt Nam giai đoạn 2001-2011 - Lạm phát mục tiêu ở các nước thị trường mới nổi và khả năng áp dụng ở Việt Nam
Hình 7 Kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá và cán cân thương mại của Việt Nam giai đoạn 2001-2011 (Trang 78)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w