1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Kinh tế chính trị và cạnh tranh trong kttt

12 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tác Động Của Cạnh Tranh Trong Nền Kinh Tế Thị Trường
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh tế chính trị và cạnh tranh trong kttt
Thể loại Báo cáo môn học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 29,19 KB
File đính kèm Kinh tế chính trị và cạnh tranh trong KTTT.rar (26 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trước hết, cần đưa ra định nghĩa về thị trường. Thị trường là nơi thực hiện các giao dịch mua bán, chuyển nhượng, trao đổi các loại hàng hoá, dịch vụ, vốn, sức lao động và các nguồn lực khác trong nền kinh tế. Tham gia vào thị trường hàng hóa bao gồm những đối tượng sau: Tổ chức sản xuất hàng hóa, người thực hiện hoạt động bán hàng hóa, người mua hàng và tiêu dùng,… Tóm lại, thông qua trao đổi, lưu thông hàng hoá và mối quan hệ về kinh tế giữa người với người đã phản ánh được các hoạt động kinh tế được thực hiện tại thị trường hàng hóa. Kinh tế hàng hóa là một dạng tổ chức kinh tế xã hội, mà bằng tư liệu sản xuất và sức lao động tạo ra sản phẩm và dùng sản phẩm để trao đổi, buôn bán trên thị trường. Trong nền kinh tế thị trường mọi yếu tố đầu vào và đầu ra của quá trình sản xuất đều được quy định bởi thị trường và vì thế nó là hình thức phát triển cao của nền kinh tế hàng hoá. Như vậy, kinh tế thị trường là mô hình kinh tế mà trong đó người mua và người bán tác động với nhau theo quy luật cung cầu, cần có giá trị để xác định giá cả và số lượng hàng hoá, dịch vụ trên thị trường.

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

Chủ nghĩa Mác – Lênin được cấu thành bởi ba bộ phận trong đó có kinh tế chính trị học Mác – Lênin Kinh tế chính trị học Mác – Lênin, đặt tiền đề, phương pháp luận cho các môn học về dường lối phát triển kinh tế và khoa học lãnh đạo quản lý

Trong bối cảnh hiện nay khi các nước tham gia kinh tế thị trường và mở rộng nền kinh tế trong nước thì công nghiệp hóa – hiện đại hóa đóng vai trò vô cùng quan trọng; là cơ sở tiền đề và là con đường duy nhất để tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ quá độ Một trong những quốc gia đang tiến lên xây dựng xã hội chủ nghĩa và phát triển nền kinh tế thị trường có thể kể đến là Việt Nam Nắm bắt được thời cơ này, Đảng và Nhà nước ta bám sát bối cảnh, trong Ðại hội XIII của Ðảng đề ra chủ trương để thực hiện nhiệm vụ và mục tiêu yêu cầu: "Tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên nền tảng của tiến bộ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo"

Việc phát triển và nâng cao các tiến bộ khoa học – công nghệ cũng chính là một bước làm quan trọng để các doanh nghiệp sản xuất nâng cao năng lực cạnh tranh Bởi nền kinh tế thị trường mở rộng thì cạnh tranh sẽ là một hệ quả tất yếu Và để mang về mục tiêu lợi nhuận cũng như phát triển kinh tế – xã hội thì buộc các doanh nghiệp trong nước cần phải nâng cao năng lực cạnh tranh thông qua chất lượng lao động, tư liệu sản xuất, nắm bắt khoa học – kỹ thuật – công nghệ phát triển trên thế giới…

Trang 2

PHẦN NỘI DUNG Câu 1: Phân tích tác động của cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường? Các tác động

này đang biểu hiện như thế nào trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay? Minh hoạ bằng ví dụ cụ thể?

- Các khái niệm thị trường, kinh tế thị trường và cạnh tranh

Trước hết, cần đưa ra định nghĩa về thị trường Thị trường là nơi thực hiện các giao dịch mua bán, chuyển nhượng, trao đổi các loại hàng hoá, dịch vụ, vốn, sức lao động và các nguồn lực khác trong nền kinh tế Tham gia vào thị trường hàng hóa bao gồm những đối tượng sau: Tổ chức sản xuất hàng hóa, người thực hiện hoạt động bán hàng hóa, người mua hàng và tiêu dùng,… Tóm lại, thông qua trao đổi, lưu thông hàng hoá và mối quan hệ về kinh tế giữa người với người đã phản ánh được các hoạt động kinh tế được thực hiện tại thị trường hàng hóa

Kinh tế hàng hóa là một dạng tổ chức kinh tế xã hội, mà bằng tư liệu sản xuất

và sức lao động tạo ra sản phẩm và dùng sản phẩm để trao đổi, buôn bán trên thị trường Trong nền kinh tế thị trường mọi yếu tố đầu vào và đầu ra của quá trình sản xuất đều được quy định bởi thị trường và vì thế nó là hình thức phát triển cao của nền kinh tế hàng hoá Như vậy, kinh tế thị trường là mô hình kinh tế mà trong đó người mua và người bán tác động với nhau theo quy luật cung cầu, cần có giá trị để xác định giá cả và số lượng hàng hoá, dịch vụ trên thị trường

Lợi nhuận chính là mục tiêu mà các đối tượng tham gia thị trường nhắm đến Muốn gia tăng lợi nhuận, những nhà sản xuất sản phẩm phải quan tâm đến các vấn đề: nâng cao năng lực sản xuất, giảm chi phí đầu vào, tận dụng được sự phát triển khoa học – kỹ thuật để nâng cao năng lực cạnh tranh Các doanh nghiệp đua nhau sản xuất

để hàng hóa bán ra thị trường chất lượng ổn nhất mà giá thành rẻ nhất để thu được lợi nhuận là nhiều nhất

Như vậy cạnh tranh là một điều tất yếu và là đặc trưng cơ bản nhất của cơ chế

thị trường Theo Mác “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà

tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá

để thu được lợi nhuận siêu ngạch”.

1.1 Các tác động của cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường

Trang 3

Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh có tác động đồng thời lên cả ba đối tượng: doanh nghiệp sản xuất, người tiêu dùng và nền kinh tế thị trường

- Đối với doanh nghiệp sản xuất: Cạnh tranh tạo ra động lực, thúc đẩy doanh nghiệp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và chất lượng sản phẩm Nhu cầu của người tiêu dùng sẽ không ngừng tăng lên về lượng và yêu cầu cao hơn về chất Muốn thỏa mãn được nhu cầu người tiêu dùng buộc các doanh nghiệp sản xuất phải theo kịp sự phát triển trong thị trường nhất là về vấn đề khoa học – kĩ thuật – công nghệ Doanh nghiệp nào không đáp ứng được nhu cầu của thị trường sẽ bị tụt hậu và bị đào thải khỏi thị trường Vì vậy, muốn được tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp sản xuất buộc phải cạnh tranh và cạnh tranh tạo động lực cho sự phát triển kinh tế – xã hội tốt hơn

- Đối với người tiêu dùng: Cạnh tranh tạo ra sự phát triển về hàng hóa, sản phẩm

và khuyến khích người tiêu dùng mua hàng chất lượng Để nâng cao năng lực cạnh tranh, các doanh nghiệp sản xuất sẽ nâng cao chất lượng sản phẩm ngày càng tốt hơn với giá thành rẻ hơn Và như vậy, người tiêu dùng sẽ được chọn lựa giữa chất lượng, mẫu mã và giá thành các sản phẩm đa dạng hơn

- Đối với nền kinh tế thị trường: Cạnh tranh là một đặc điểm tất yếu của nền kinh

tế Cạnh tranh vừa là môi trường, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển mọi thành phần trong nền kinh tế thị trường Cạnh tranh góp phần xoá bỏ độc quyền, bất hợp lý, bất bình đẳng trong kinh doanh; đảm bảo sự thúc đẩy, sự phát triển của khoa học kỹ thuật và sự phân công lao động xã hội ngày càng sâu sắc Bên cạnh đó, cạnh tranh thúc đẩy đa dạng hoá sản phẩm và thỏa mãn những nhu cầu ngày càng cao hơn về chất cũng như về lượng của toàn xã hội Cạnh tranh kích thích nhu cầu phát triển, nảy sinh thêm những nhu cầu mới, góp phần nâng cao chất lượng đời sống xã hội và phát triển nền kinh tế Quan trọng hơn, cạnh tranh làm nền kinh tế quốc dân vững mạnh, tạo khả năng cho doanh nghiệp sản xuất vươn ra thị trường quốc tế

1.2 Biểu hiện của cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường tại Việt Nam

Trong nền kinh tế thị trường tại Việt Nam hiện nay, cạnh tranh diễn ra không chỉ giữa những nhà sản xuất kinh doanh trong nước mà còn có những nhà sản xuất kinh doanh nước ngoài bởi Việt Nam đang mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế Hiện nay, Việt Nam đã chính thức tham gia, ký kết thực hiện 14 FTA trong đó phải kể đến Hiệp

Trang 4

định Đối tác toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), tiếp theo đó là Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Liên minh Châu Âu (EVFTA)…

- Đối với doanh nghiệp sản xuất: Tại nền kinh tế Việt Nam, các doanh nghiệp sản xuất trong nước muốn tồn tại, phát triển và chiếm lĩnh thị trường thì buộc phải cạnh tranh Việt Nam mở cửa hội nhập và phát triển kinh tế cũng đồng nghĩa với việc giao lưu hàng hóa giữa các quốc gia và hàng hóa nước ngoài tràn vào nước ta Vì vậy, các doanh nghiệp trong nước buộc phải nâng cao năng lực cạnh tranh thông qua chất lượng sản phẩm, mẫu mã, giá thành và văn hóa tiêu dùng, ứng dụng kỹ thuật – khoa học – công nghệ,… để không bị tụt hậu và đào thải khỏi thị trường Và như vậy, cạnh tranh tác động đến các doanh nghiệp sản xuất trong nước buộc phải phát triển, nâng cấp, đổi mới để ngang bằng bạn bè quốc tế và để thỏa mãn người tiêu dùng Có thể kể đến những biểu hiện dễ dàng nhận thấy nhất như việc các doanh nghiệp trong nước kêu gọi vốn FDI ở nước ngoài để nâng cao nguồn lực cạnh tranh; nhập khẩu máy móc, thiết bị nước ngoài để nâng cao năng suất lao động sản xuất; thuê các chuyên gia, kỹ

sư chuyên môn để học hỏi kinh nghiệm và nâng cao trình độ dân trí lao động,…

Ví dụ dễ dàng nhận thấy cho việc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường tại Việt Nam là TH True Milk và Vinamilk Ban đầu, Vinamilk chiếm lĩnh phần lớn thị trường sữa Việt Nam và gần như độc quyền thị trường này Nhưng khi TH True Milk nhảy vào cạnh tranh thị phần này, hai hãng bắt đầu chạy đua

và cạnh tranh với nhau về các lĩnh vực như: việc nhập thêm nhiều thiết bị đóng gói và sản xuất sữa mới; mời thêm các chuyên gia nghiên cứu để nâng cao chất lượng cũng như hương vị sản phẩm; sử dụng các quy trình chăn nuôi công nghệ hiện đại, khép kín; sử dụng các khẩu phần ăn cho bò nghiêm ngặt; quảng cáo sản phẩm trên các phương tiện truyền thông,…

- Đối với người tiêu dùng: Sự cạnh tranh tạo ra đa dạng về sản phẩm hàng hóa nên người tiêu dùng có nhiều sự lựa chọn hơn về sản phẩm Tại Việt Nam người tiêu dùng Việt Nam có thể sử dụng những sản phẩm tốt nhất từ nhiều nguồn thị trường trong nước cũng như quốc tế do mở cửa hội nhập Tác động của cạnh tranh giúp cho người tiêu dùng mua được sản phẩm hàng hóa chất lượng tốt nhất mà giá thành rẻ nhất

Phân tích tiếp ví dụ ở trên có thể thấy, nếu như vào giai đoạn những năm 2000 – 2005 người tiêu dùng mặt hàng sữa tại thị trường Việt Nam có thể sẽ chỉ biết đến

Trang 5

Vinamilk là doanh nghiệp sản xuất lớn nhất trong mặt hàng này Nhưng khi đối thủ

TH True Milk xuất hiện giành một nửa thị phần, người tiêu dùng được sử dụng những sản phẩm đa dạng hơn về hương vị, mẫu mã, sản phẩm mà giá cả lại rất ưu đãi

- Đối với nền kinh tế thị trường: Thị trường Việt Nam với sức cạnh tranh gay gắt

và ngày càng phát triển hơn Bằng chứng là theo Sách trắng doanh nghiệp Việt Nam 2020: “giai đoạn 2016 đến 2018 số doanh nghiệp đang hoạt động có kết quả sản xuất kinh doanh trong cả nước bình quân 1 năm là 558.703 doanh nghiệp, tăng 47,8% so với bình quân giai đoạn 2011-2015; thu hút 14,45 triệu lao động, tăng 24,2% so với bình quân giai đoạn 2011-2015 Tổng nguồn vốn sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh tại thời điểm 31/12/2018 đạt 38,93 triệu tỷ đồng, tăng 18% so với cùng thời điểm năm 2017 Bình quân giai đoạn 2016-2018, mỗi năm doanh nghiệp đang hoạt động có kết quả sản xuất kinh doanh thu hút 33,34 triệu tỷ đồng vốn cho sản xuất kinh doanh, tăng 77,1% so với vốn bình quân giai đoạn 2011-2015; trung bình mỗi năm tạo

ra khoảng 20,58 triệu tỷ đồng doanh thu thuần, tăng 65,6% so với bình quân giai đoạn 2011-2015; tạo ra 828,36 nghìn tỷ đồng lợi nhuận trước thuế, tăng 80,8% so với mức lợi nhuận thu được bình quân giai đoạn 2011-2015” Và như vậy, cạnh tranh thúc đẩy kinh tế thị trường Việt Nam phát triển

Bên cạnh đó, cũng có các hành vi cạnh tranh không lành mạnh bởi tham vọng chạy theo mục tiêu lợi nhuận của các doanh nghiệp Trong những năm gần, Cục Quản

lý Cạnh tranh đã tiếp nhận hơn 300 đơn khiếu nại, quyết định điều tra 137 vụ việc và xử phạt 127 vụ việc Trong cả năm 2018, khoảng 400 hồ sơ khiếu nại, trong đó hơn

200 vụ đã được điều tra, xử lý Các vụ việc cạnh tranh không lành mạnh thường diễn

ra dưới nhiều hình thức, theo nhiều dạng hành vi vi phạm khác nhau Điển hình như vụ Vinapco tự ngừng bán xăng bị phạt hơn 3 tỷ đồng năm 2009; phạt 19 doanh nghiệp bảo hiểm hơn 1,7 tỷ đồng do liên kết tăng phí năm 2010 Nhìn chung, trong năm 2011

số vụ tiếp nhận và quyết định điều tra ở mức cao nhất, năm 2013 mức xử lý là nhiều nhất

Câu 2: Phân tích các điều kiện cần tạo lập để chuyển đổi từ nền sản xuất – xã hội lạc

hậu sang nền sản xuất – xã hội tiến bộ trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam?

Từ thực tiễn quá trình phát triển các quốc gia cho thấy, công nghiệp hóa – hiện đại hóa là con đường duy nhất để chuyển từ nền sản xuất – xã hội lạc hậu sang nền sản

Trang 6

xuất – xã hội tiến bộ Trong Đại hội XII của Đảng đã xác định: “Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện mô hình công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế gắn với phát triển kinh tế trị thức, lấy khoa học, công nghệ, tri thức và nguồn nhân lực chất lượng cao làm động lực chủ yếu; huy động và phân bổ có hiệu quả mọi nguồn lực phát triển ” Đảng ta xác định công nghiệp hóa, hiện đại hoá là nhiệm vụ quan trọng trong thời kỳ quá độ tiến lên xây dựng xã hội chủ nghĩa và để đạt được mục tiêu nhiệm vụ đó, cần có những điều kiện tạo lập thiết yếu như sau:

- Thứ nhất, cần cũng cố môi trường hoà bình, ổn định, nâng cao vị thế, vai trò của Việt Nam trên trường quốc tế thông qua đường lối đối ngoại đa phương hóa

Việc sử dụng các chính sách kinh tế đối ngoại và mở rộng nền kinh tế thị trường đã tạo điều kiện hội nhập với nền kinh tế thế giới, góp phần phát triển kinh tế –

xã hội và tạo điều kiện để Việt Nam tiếp thu những thành tựu khoa học – kỹ thuật – công nghệ của nhân loại

Hơn nữa, Việt Nam cần giao lưu và học hỏi được nền kinh tế tri thức – là nền kinh tế toàn cầu Nền kinh tế tri thức được hình thành khi đảm bảo đủ các yếu tố: lực lượng sản xuất xã hội phát triển ở trình độ cao; phân công lao động mang tính quốc tế

và hệ thống sản xuất mang tính kết nối giữa các doanh nghiệp, các quốc gia trong một chuỗi giá trị sản phẩm Hiện nay và tương lai, sự phát triển, truyền bá và sử dụng tri thức không còn nằm trong phạm vi biên giới một quốc gia mà giao lưu toàn thế giới và thế nên nó mang tính toàn cầu hóa

- Thứ hai, cần bảo vệ và giữ gìn môi trường và nguồn lực tài nguyên môi trường Cần giữ vững quan điểm không đánh đổi môi trường vì lợi ích kinh tế

Giữa môi trường và sự phát triển kinh tế có mối quan hệ hết sức chặt chẽ: môi trường là địa bàn và đối tượng của sự phát triển kinh tế; phát triển kinh tế là công cụ,

là điều kiện để nâng cao chất lượng môi trường Việc khai thác nguồn lực gắn với bảo vệ tài nguyên khoáng sản, bảo vệ được môi trường sinh thái cần được coi trọng và chấp hành nghiêm chỉnh

- Thứ ba, cần tiếp cận nền tảng của tiến bộ khoa học, công nghệ để đạt được mục tiêu nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả lao động và sức cạnh tranh trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0

Trang 7

Đảng ta nhấn mạnh: “công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học – công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao” Và như vậy, tiến bộ khoa học công nghệ là cơ sở nền tảng, là bước khởi đầu của tiến trình thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Trên thế giới hiện nay, khoa học – kỹ thuật – công nghệ đã thực sự trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp do con người tạo ra và có tác động với đời sống kinh tế –

xã hội Vì vậy, Việt Nam cần phải có chính sách đầu tư cho khoa học – kỹ thuât – công nghệ một cách thích ứng để theo kịp khoa học – kỹ thuật – công nghệ trên thế giới

Trong giai đoạn hiện nay, khoa học – công nghệ luôn gắn bó chặt chẽ với nhau: khoa học là tiền đề trực tiếp của công nghệ và công nghệ là kết quả trực tiếp của khoa học Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư làm thay đổi căn bản phương thức sản xuất và mọi mặt đời sống xã hội, hình thành và phát triển kinh tế tri thức, kinh tế

số, xã hội số, chính phủ số… Cuộc cách mạng khoa học này đã biến từ nguồn lực hữu hình là các tư liệu sản xuất sang nguồn lực vô hình là tri thức của loài người như: Trí tuệ của con người; trí tuệ nhân tạo; công nghệ kỹ thuật số; internet; dữ liệu lớn (big data); bằng phát minh, sáng chế; giải pháp công nghệ; bản quyền thương hiệu; Nguồn lực vô hình này chiếm vị trí quan trọng, giữ vai trò quyết định trong nền kinh tế tri thức Doanh nghiệp cần sở hữu nguồn lực vô hình để nâng cao cạnh tranh và vận dụng vào trong quá trình sản xuất với khả năng phát huy hết năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm và tối ưu hóa chi phí doanh nghiệp

- Thứ tư, cần phải tạo điều kiện để phát huy sáng tạo, sáng kiến Đổi mới sáng tạo là việc tạo ra các ý tưởng mới và độc đáo, phát triển và triển khai áp dụng thành công những sản phẩm trí tuệ sáng tạo giúp ích cho cộng đồng

Khác với việc chú trọng vào phát triển nền kinh tế công nghiệp, sức cạnh tranh chủ yếu dựa vào tối ưu hóa và hoàn thiện công nghệ hiện có Việc chú trọng vào phát triển nền kinh tế tri thức lại chủ yếu dựa vào việc nghiên cứu, sáng tạo ra công nghệ mới, sản phẩm mới Trong nền kinh tế tri thức, các quyết sách kinh tế được tri thức

Trang 8

hóa; cơ cấu sản xuất dựa ngày càng nhiều vào việc ứng dụng các thành tựu của khoa học – kỹ thuật – công nghệ, đặc biệt là công nghệ chất lượng cao

Việc đưa ra các sản phẩm mới chất lượng cao, đề xuất các quá trình và chiến lược hiện đại mới dẫn đến thành công và tạo được năng lực cạnh tranh trong kinh doanh, giúp giành được vị trí dẫn đầu thị trường; thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và nâng cao mức sống cộng đồng Chính vì vậy, phát huy sáng tạo, sáng kiến; nâng cao trí tuệ nhân loại và chuyển giao công nghệ đóng vai trò vô cùng quan trọng, nó giúp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Việt Nam ngày một phát triển hơn

- Thứ năm, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thông qua nâng cao chất lượng lao động kinh tế tri thức Áp dụng quan điểm “phải đổi mới toàn diện giáo dục, đào tạo” nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ Tư và hội nhập quốc tế sâu rộng

Nhắc về tầm quan trọng của chất lượng lao động và kinh tế tri thức, trong

bộ Tư bản, C Mác khẳng định: “Sự phát triển của tư bản cố định là chỉ số cho thấy tri

thức xã hội phổ biến đã chuyển hóa đến mức độ nào đó thành lực lượng sản xuất trực tiếp”

Bởi thứ nhất, lao động trí tuệ ngày càng được coi trọng Điều này được minh chứng thông qua sự chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng giảm số lao động trực tiếp làm ra sản phẩm, tăng số lao động trí tuệ Nhanh chóng được tri thức hóa nguồn nhân lực, nâng cao sự sáng tạo, đổi mới, học tập để tăng tỷ trọng lao động trí tuệ tại Việt Nam

Thứ hai, quyền sở hữu trí tuệ ngày càng được coi trọng Quyền sở hữu trí tuệ là sự bảo đảm pháp lý cho tri thức và sáng kiến của nhân loại và đây được xem là một nguyên tắc cơ bản trong sự vận động và phát triển của nền kinh tế tri thức

Chính vì vậy, nguồn lực trí tuệ và năng lực đổi mới là hai nhân tố then chốt để đánh giá khả năng cạnh tranh, tiềm năng phát triển và sự thịnh vượng của một quốc gia Trước yêu cầu đang đặt ra trong thực tế, để có nguồn nhân lực chất lượng cao cần phải nâng cao chất lượng giảng dạy, đa dạng hoá phương thức đào tạo và việc đào tạo con người gắn với nhu cầu của thị trường lao động Cụ thể, cần đẩy mạnh giáo dục kỹ năng, ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ số; thực hiện theo lộ trình phổ cập kỹ năng số

Trang 9

- Thứ sáu, nâng cao xây dựng cơ sở hạ tầng, nhất là cơ sở hạ tầng thông tin hạ tầng cơ sở thông tin (ICT) hiện đại

Cơ sở hạ tầng đóng vai trò là môi trường để tạo điều kiện cho lao động sản xuất, là công cụ chuyển đổi từ nền sản xuất – xã hội lạc hậu sang nền sản xuất – xã hội tiến bộ

Hạ tầng cơ sở thông tin là điều kiện cần thiết để tăng cường sự trao đổi và xử

lý Công nghệ thông tin được ứng dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực kinh tế và thiết lập được các mạng thông tin đa phương tiện bởi kết cấu hạ tầng quan trọng nhất trong nền kinh tế công nghiệp hóa – hiện đại hóa là thông tin và việc tổ chức sản xuất trở nên linh hoạt đặc biệt

Thông qua mạng thông tin, việc truyền bá, phổ cập rộng rãi toàn hệ thống cung cấp nguyên liệu, thông tin cho hoạt động sản xuất và phân công lao động Các doanh nghiệp tổ chức quản lý có hiệu lực và hiệu quả hơn, hoạt động sản xuất, kinh doanh trở nên nhanh nhạy, có hệ thống và có quy trình hiện đại, liền mạch hơn

Trang 10

PHẦN KẾT LUẬN

Nói tóm lại, để kinh tế Việt Nam ngày càng phát triển và hội nhập nền kinh tế sâu rộng cần chú trọng và nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh kinh tế trong nước thông qua các tiến bộ khoa học – kỹ thuật – công nghệ, không ngừng đổi mới và học hỏi, khuyến khích các sáng kiến sáng tạo, nâng cao chất lượng lao động và lao động trí thức,… Để nâng tầm kinh tế Việt Nam với kinh tế thế giới, theo kịp những tiến bộ khoa học công nghệ và không bị lùi lại ở phía sau

Trong đề tài này đã trả lời được hai câu hỏi mang nội dung:

1 Phân tích tác động của cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường và biểu hiện của tác động ấy trong nền kinh tế thị trường Việt Nam

2 Phân tích các điều kiện cần tạo lập để chuyển đổi từ nền sản xuất – xã hội lạc hậu sang nền sản xuất – xã hội tiến bộ trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam

Do thời gian nghiên cứu và trình độ hiểu biết còn nhiều hạn chế nên không tránh khỏi những sai sót, rất mong nhận được sự góp ý của quý thầy cô để đề tài ngày càng hoàn thiện hơn

Ngày đăng: 13/03/2023, 11:02

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w