1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và một số giải pháp tăng cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

46 1K 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng và một số giải pháp tăng cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Tác giả Nguyễn Duy Linh
Người hướng dẫn PGS.TS Phan Tố Uyên
Trường học Đại học
Chuyên ngành Kinh tế thương mại
Thể loại đề án
Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 340 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tài liệu tham khảo kinh tế đầu tư: Thực trạng và một số giải pháp tăng cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Là một quốc gia có nền king tế nông nghiệp lạc hậu.Việt Nam lại vừa trải qua

2 cuộc chiến tranh tàn khốc kéo dài.Cộng với đó là một chế độ kế hoạch hoá tậptrung không phù hợp trong thời kì trong thời bình Đã đưa nền kinh tế nước ta rơivào tình trạng khủng hoảng trầm trọng Đời sống của nhân dân rất khó khăn,cácđiều kiện về y tế,giáo dục,xã hội,….không được đảm bảo.Trước bối cảnh đó Đảng

và Nhà nước ta đã thực hiện mợt cuộc cải cách lớn:chuyển dich nền kinh tế nền kinh tế “đóng cửa”sang nền kinh tế hàng hoá-nền kinh tế “mở cửa”.Suất phát

KHTT-từ chíng sách đổi mới nền kinh tế mở cửa và hội nhập(1986) ngày 19-12-1987 nhànước ta đã ban hành và thực thi luật đầu tư nước ngoài tại VN.Cho phép các tổchức cá nhân là người nước ngoài được đầu tư vào VN.Nước ta đang trong quátrình CNH-HDH nên việc đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư nước ngoài là một giảipháp quan trọng đưa nền kinh tế VN khó khăn.Khai thác và sử dụng vốn đầu tưtrực tiếp nước ngoài(FDI)sẽ góp phần tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ,tạo công ănviệc làm cho người lao động,tạo ra lượng hàng hoá để suất khẩu,tăng thu ngoại tệ

và cân bằng cán cân thương mai…

Chính sự quan trọng của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tròn công cuộc pháttriển đất nước Đặc biệt trong bối cảnh nước ta đang trong tiến trình thực hiệnCNH-HDH thì nó càng trở nên cấp thiết.Nó góp phần rút ngắn thời gian CNH-HDH đất nước.Vì vậy mà vấn đề thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đang làmột vấn đề được nhiều người quan tâm.Cũng như bao sinh viên khác,là một sinhviên kinh tế em nhận thấy đây la một vấn đề rất thích thực, nó cung cấp cho em rấtnhiều kiến thức hiểu biết trước khi ra trường.Vì vậy em chọn đề tài”Thực trạng vàmột số giải pháp tăng cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Namtrong giai đoạn hiện nay” để nghiên cứu

Trang 2

Với sự hiểu biết của bản thân còn hạn chế, cho nên trong quá trình nghiên cứu

sẽ không tránh khỏi nhũng sai sót mắc phải.Vì vậy em rất mong có sự đóng góp ýkiến của các thầy cô giáo,các sing viên quan tâm đến đề tài này để đề tì được hoànthiện hơn

Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn tới:PGS.TS Phan Tố Uyên đã tận tìnhgiúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu đề tài này

Trang 3

PHẦN I NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI

I.Tổng quan về đầu tư trực tiếp nước ngoài:

1.1 Đầu tư trực tiếp và các khái niệm có liên quan:

Trong xu thế toàn cầu hoá, quan hệ kinh tế đối ngoại càng phát triển rộng rãi

và có hiệu quả bao nhiêu thì sự nghiệp CNH-HĐH càng được tiến hành thuận lợi

và nhanh chóng bấy nhiêu.Thực chất của việc mở rộng kinh tế đối ngoại là việc thuhút vốn bên ngoài, là việc tiếp thu nhiều kĩ thuật và công nghệ hiện đại, là việc mởrộng thị trường cho sự nghiệp CNH-HĐH được thuận lợi Hay nói cách khác việc

mở rộng kinh tế đối ngoại đã và đang tạo ra mối liên hệ và sự phụ thuộc lẫn nhaugiữa các nền kinh tế của các quốc gia Mối liên hệ và sụ phụ thuộc lẫn nhau giữacác nền kinh tế đó được cụ thể hoá bằng các hoạt động đầu tư Có thể nói hoạtđộng đầu tư là hoạt dộng vô cùng quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hộicủa mỗi quốc gia Vì vậy mà nó trở thành vấn đề mà mọi quốc gia trên thế giới đềuquan tâm Từ trước tới nay đã có rất nhiều định nghĩa về đầu tư và đầu tư trực tiếpnước ngoài nhưng chung quy lại nó đều chứa đựng một nội dung cơ bản

Theo giáo trình hiệu quả quản lý dự án nhà nước thì :

 Đầu tư là hoạt động kinh tế gắn với việc sử dụng vốn dài hạn nhằm mụcđích sinh lợi

 Một cách định nghĩa khác cho đầu tư là một quá trình hoạt động bỏ vôn vàoxây dựng, tạo lập cơ sở trong một hoặc nhiều lĩnh vực kinh tế- xã hội nhằmmục đích tạo ra thu nhập, lợi ích hoặc tạo ra công ăn việc làm(dịch vụ) trongtương lai

 Đầu tư quốc tế là một quá trìng hoạt động mà bên nước ngoại hoặc các tổchức viện trợ quốc tế bỏ vốn vào một nước để xây dựng, tạo lập cơ sở trong

Trang 4

một hoặc nhiều lĩnh vực kinh tế xã hội nhằm mục đích tạo ra sự thu nhập, lợiích hoặc tạo ra công ăn việc làm ( dịch vụ) trong tương lai

Bất kỳ một quốc gia nào khi xem xét đầu tư quốc tế đều phải xem xét tớinguồn đầu tư trực tiếp(FDI) và nguồn viện trợ phát triển nước ngoài(ODA) Tuynhiên trong đề án này chúng ta chỉ tìm hiểu và nghiên cứu tới nguồn đầu tư trựctiếp nước ngoài(FDI) Vậy đầu tư trực tiếp nước ngoài là gì? Để trả lời câu hỏi này

từ trước tới nay cũng có rất nhiều quan điểm nhưng nhìn chung nó đều thống nhất

cả về nội dung và hình thức Dưới đây là một trong những cách định nghĩa mangtính chuẩn xác hơn cả

 Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một loại hình di chuyển vốn quốc tế,trong đó người chủ sở hữu vốn đồng thời là người trực tiếp quản lý và điềuhành hoạt động sử dụng vốn

1.2 Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài(Đầu tư của tư nhân)

Đầu tư của tư nhân được thực hiện dưới ba hình thức là : đầu tư trực tiếp, đầu

tư gián tiếp và tín dụng thương mại bằng nguồn vốn của tư nhân nước ngoài

1.2.1 Đầu tư trực tiếp:

Đây là hình thức chính sách đầu tư trực tiếp nước ngoài chủ yếu mà chủ đầu

tư nước ngoài đầu tư toàn bộ hay phần đủ lớn vốn đầu tư của các dự án nhằm dànhquyền điều hành hoặc tham gia điều hành các doanh nghiệp sản xuất hoặc kinhdoanh dịch vụ, thương mại Loại hình này có các đặc điểm sau :

+ Đây là một hình thức đầu tư bằng vốn của tư nhân do các chủ đầu tư quyết định đầu tư, quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về lỗ lãi Hình thức này mang tính khả thi và hiệu quả kinh tế cao, không có những ràng buộc về trính trị, không để lại gánh nặng nợ nần cho nền kinh tế

+ Chủ đầu tư nước ngoài điều hành toàn bộ mọi hoạt động đầu tư nếu là

doanh nghiệp 100% vón nước ngoài hoặc tham gia điều hành doanh nghiệp liên doanh tuỳ theo tỷ lệ vốn mà mình góp Tuy nhiên luật đầu tư nước ngoài của Việt

Trang 5

Nam cũng quy định bên nước ngoài phải góp tối thiểu 30% vốn pháp định của dự án.

+ Thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài, nước chủ nhà có thể tiếp cận được công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý…Là những mục tiêu

mà các hình thức đầu tư khác không giải quyết được

+ Đặc điểm nguồn vốn đầu tư này không chỉ bao gồm vốn đầu tư ban đầu của chủ đầu tư dưới hình thức vốn pháp định và trong quá trình hoạt động, nó bao gồm

cả vốn vay của doanh nghiệp đê khai triển hoặc mở rộng dư án cũng như vốn đầu

tư từ nước ngoài, nguồn lợi nhuận thu được

1.2.2 Đầu tư gián tiếp

Đây là hình thức đầu tư quốc tế quan trọng, trong đó chủ đầu tư nước ngoài đầu tư bằng hình thức thu mua cổ phiếu của các công ty ở nước sở tại (ở mức khống chế nhất định ) để thu lợi nhuận mà không tham gia điều hành trực tiếp đối tượng mà họ bỏ vốn đầu tư

Nguồn vốn đầu tư gián tiếp rất đa dạng về chủ thể và hình thức Trong đầu tưgián tiếp, chủ đầu tư thực chất là tìm đường thoái cho tư bản dư thừa, phân tán đầu

tư nhằm giảm bớt rủi ro Đối với nướn được đầu tư thực chất là lợi dụng vốn củathế giới để thúc đẩy nền kinh tế của nước mình Chủ thể đầu tư gián tiếp có thể làchính phủ, các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ, với các hình thức như:viện trợ có hoàn lại (cho vay), viện trợ không hoàn lại, cho vay ưu đãi hoặc không

ưu đãi, mua cổ phiếu và các chứng khoán theo mức quy định của từng nước

Sự khác nhau rõ rang nhất giữa đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp là người đầu tư trực tiếp có quyền khống chế xí nghiệp đầu tư, còn người gián tiếp không có quyền khống chế xí nghiệp đầu tư mà chỉ có thể thu lợi tức trái phiếu, cổ phiếu và tiền lãi

Trang 6

1.2.3 Tín dụng thương mại :

Đây là hình thức đầu tư dưới dạng cho vay và thu lợi nhuận qua lãi suất tiềnvay

II Tính tất yếu của thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

2.1 Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài

Đối với mỗi quốc gia kinh tế và chính trị luôn đi song hành với nhau Kinh tế

là điều kiện tiền đề để giữ vững ổn định chính trị khi quốc gia có nền kinh tế pháttriển cao sẽ tạo điều kiện thuận lợi trong giữ vững ổn định chính trị chính vì vậyphát triển kinh tế là điều kiện sống còn của mỗi quốc gia Trong khi đó, đầu tư lạichiếm giữ một vai trò vô cùng quan trọng trong nền kinh tế Đầu tư bao gồm đầu

tư trong nước và đầu tư nước ngoài Đối với các quốc gia đang phát triển thì đầu

tư trực tiếp nước ngoài chiếm một tỉ trọng lớn trong đầu tư và GNP Vì thế mà đầu

tư trực tiếp nước ngoài tuy không phải là nhân tố quyết định nhưng nó lại vô cùngquan trọng trong phát triển kinh tế xã hội

2.1.1 Vai trò tạo nguồn vốn

Noi đến vốn đầu tư cho phát triển kinh tế là nói đến vốn trong nước và vốnngoài nước Đối với các nước lạc hậu, chậm phát triển, sản xuất còn ở trình độthấp, nguồn vốn tích luỹ trong nước còn hạn hẹp thì vốn đàu tư trực tiếp nướcngoài có ý nghĩa vô cùng quan trọng đói với quá trình phát triển kinh tế Ở cácnước này có nhiều tiềm năng về lao động, tài nguyên thiên nhiên, nhưng do trình

độ sản xuất còn thấp kém, cơ sở vật chất kỹ thuật nghèo nàn, lạc hậu nên chưa cođiền kiện để khai thác các tiêm năng đó Các nước nay muốn nền kinh tế phát triểncần tăng cường đầu tư phát triển sản xuất, tạo ra mức tăng trưởng kinh tế cao va

ổn định Để thực hiện được điều này đòi hỏi các nước đang phát triển phải cónhiều vốn đầu tư trong bối cảnh hiện nay, khi mà trên thế giới có nhiều nướcđang nắm giữ trong tay một khối lượng vốn khổng lồ và đang có nhu cầu đầu tư ra

Trang 7

nước ngoài thì đó là cơ hội để các nước đang phát triển có thể tranh thủ nguồn vốnđầu tư trực tiếp nước ngoài vào việc phát triển kinh tế

2.1.2.Vai trò trong chuyển giao công nghệ.

Các quốc gia nhận đầu tư thường là những quốc gia có nền kinh tế chậm pháttriển, khoa học, công nghệ còn lạc hậu so vói các nước đang phát triẻn.Chính vìvậy, các nước nhận đầu tư trực tiếp nước ngoài có một công nghệ hiện đại hoặcphù hợp với quốc gia mình Mặt khác, khi đầu tư vào một quốc gia nào đó churđầu tư không chỉ chuyển vào đó máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu ( hay còngọi là công nghệ cứng ) ma họ còn chuyển giao vào đó vốn vô hình như : chuyêngia kỹ thuật, công nghệ, tri thức khoa học, bí quyết quản lí, năng lực tiếp cận thịtrường ( hay còn gọi la công nghệ mềm ) Thông qua hoạt động đầu tư trực tiếpnước ngoài quá trình chuển giao công nghệ được thực hiện nhanh chóng hơn,thuạn tiện hơn cho cả bên đầu tư và bên nhận đầu tư

2.1.3.Vai trò thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Tranh thủ vốn và kỹ thuật của nước ngoài, các nước đang phát triển đẻ sửdụng nó thực hiện mục tiêu quan trọng hang đầu là đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế.Đây cũng là cái mức để các nước đang phát triển thoát khỏi cái vòng luẩn quẩn của

sự đói nghèo Thực tế kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy quốc gia nào thựchiện chiến lược kinh tế mở cửa với bên ngoài, biêns nó thành nhân tố bên trong thìquốc gia đó tạo gia được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao Mức tăng trưởng kinh tế ởcác nước đang phát triển thường do nhân tố tăng đàu tư là chủ yếu, nhơ đó cácnhân tố khác như tổng số lao động được sử dụng, năng xuất lao động cũng tănglên theo Vì vậy có thể thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài để đánh giá vai tròđầu tư trực tiếp nước ngoài với tăng trưởng

2.1.4.Vai trò giải quyết việc làm.

Tốc độ tăng lên của đầu tư trực tiếp nước ngoài kéo theo sư tăng lên của hoạt động sản xuất Việc tăng quy mô va số dự án đầu tư sẽ tạo ra nhiều chỗ làm mới

Trang 8

hơn, thu hút được một khối lượng đáng kể người lao động ở nước nhận đầu tư vàolàm việc trong các đơn vị của đầu tư nước ngoài Điều này góp phần đáng kể vào việc làm giảm bớt nạn thất nghiệp Đặc biệt đối với nhiều nước đang phát triển, nơi có lực lượng lao động rất phong phú nhưng chư có điều kiện khai thác và sử dụng thì đầu tư nước ngoài được coi la chiếc chìa khoá quan trọng để giải quyết vấn đề việc làm Vì đâu tư nước ngoài tạo ra các điều kiện về vốn và kĩ thuật cho phép khai thác và sử dụng các tiêm năng kinh tế trong đó có tiêm năng về lao động Hiên nay, cùng với tăng lên số việc làm cho người lao động thì chất lượng lao động cũng được nâng cao Đặc biệt là lao động trong những nghành đòi hỏi có hàm lương khoa học kỹ thuật cao.

2.1.5.Vai trò thúc đẩy quá trình dịch chuyển cơ cấu kinh tế

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế không chỉ là yêu cầu đòi hỏi của bản thân sư pháttriển nội tại nền kinh tế, ma nó còn là đòi hỏi của xu hướng quốc tế hoá đời sốngkinh tế đang diễn ra mạnh mẽ hiện nay Sư dịch chuyển cơ cấu kinh tế của mỗiquốc gia phù vơi trình độ phát triển chung trên thế giới sẽ tạo điều kiện thuận lợicho hoạt động đầu tư nước ngoài Chính đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần chủyếu thúc đẩy nhanh chóng quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Vì thông qua đầu

tư trực tiếp nước ngoài đã làm xuất hiện nhiều lĩnh vực và nghành kinh tế mới ởnước nhận đầu tư Đông thơi nó cũng tạo ra sự phát triển nhanh chóng trình độ kỹthuật công nghệ ở nhiều nghành kinh tế, góp phần thúc đẩy tăng trưởng năng xuấtlao động ở các nghành này và làm tăng tỉ phần của nó trong nền kinh tế Bên cạnhmột số nghành được kích thích phát triển bởi đầu tư nước ngoài thì cũng có một sốnghành bị mai một đi rồi dẫn tới bị xoá sổ Nói chung sự chuyển dịch cơ cấu làmang tính tiến bộ theo xu thế chung thế giới

2.1.6.Vai trò đối với thu ngân sách nhà nước.

Đầu tư nước ngoài góp phần đáng kể vào thu ngân sách nhà nước thông quaviệc thu thuế đối với các đơn vị đầu tư nước ngoài Đây là một khoản thu tương

Trang 9

đối lớn cho ngân sách nhà nước Nó bao gồm thu : thuế nhà đất, thuế sản xuất,thuế xuất khẩu vì các đơn vị đầu tư nước ngoài chủ yếu tập trung vào sản xuấtcác hàng hoá xuất khẩu Nhưng để tạo ra hàng hoá, đòi hỏi phải có địa điểm sảnxuất va sử dụng các cơ sở ha tầng của nước nhận đầu tư Do vạy đầu tư nướcngoài đóng góp nguồn thu quan trọng cho ngân sách nhà nước

2.2 Tính tất yếu của đầu tư nước ngoài

Trong cơ cấu của GDP thì đầu tư luôn góp một lượng giá trị rất lớn Bất cứmột quốc qia nào muốn phát triển được thì phải đạt được mức đầu tư đủ lớn Đầu

tư của các nước chủ yếu là đầu tư nước ngoài Một quốc qia không có đầu tư nướcngoài thì đồng nghĩa với việc “đóng cửa “ và chịu sự thụt lùi về kinh tế Nước ta

đã trải qua một thời kì rất dài trong bối cảnh nền kinh tế đóng cửa Phải đến tânĐai hội 6 ( tháng 8 năm 1986 ) sau khi mô hình kinh tế của một số nước bị sụt đổ

do “đóng cửa” hoặc hé mở cử thì ta mới thực hiện kinh tế mở cửa Song mãi tớinăm 1987 luật đầu tư nước ngoài mới ra đời Chính sự “đóng cửa kinh tế “đã đưađến một thời kì dài thiếu vốn đầu tư, không thể đáp ứng nhu cầu về vốn trongnước dẫn tới các nhu cầu khác cũng không thể đáp ứng được Tuy nhiên việc chấpnhận đầu tư không phải đi liền với việc chủ đầu tư đi làm” không công “ còn bênnhận đầu tư lại hoàn toàn có lợi và không hề bị dàng buộc gì cả Điều đó là khôngthể xảy ra ở bất kì một quốc qia nào Mà chỉ được thực hiện khi nó được yêu cầu:Phía nhận đầu tư và phía đi đầu tư

2.2.1 Quan điểm từ phía nhà đầu tư

Đầu tư “là đánh bạc với tương lai” Đây là một hoạt động kinh tế mang tínhrủi ro cao Xong không phải vì thế mà các quốc gia muốn đạt lợi nhuận cao sẽ đemvốn từ quốc gia mình đi đầu tư vào các quốc gia khác một cách ồ ạt không suytính Thực tế cho chúng ta thấy các nước này đều tính toán một cách kỹ càng trướckhi đầu tư để xác định xem sẽ thu được cái gì? Lợi nhuận là bao nhiêu? Và sẽ lấyđược cái gì? Xuất phát từ tính hình kinh tế trong các nước đầu tư Các nước đi đầu

Trang 10

tư thường là các nước có nền kinh tế phát triển Do lợi nhuận thu được từ đầu tưtrong nước ngày càng giảm đi Điều này cũng dễ giải thích vì số lượng các nhà đầu

tư ngày càng tăng, mức độ cạnh tranh ngày càng phát triển Mặt khác một số nhàđầu tư mới khi tham gia vào trị trường đầu tư trong nước sẽ gặp phải khó khăntrong tìm kiếm thị trường, đáp ứng nhu cầu thị trường, đối mặt với các nhà đầu tưlớn, có kinh nghiệm Cộng thêm với nó là nhu cầu trị trường trong nước về kỹthuật công nghệ cao, giá rẻ, chất lượng cao và nguồn nguyên liệu đầu vào như giánhân công cao là điều hiển nhiên Chính vì thế mà đầu tư ngay trong nước mình sẽ

là không có lợi Xuất phát từ đây mà các nhà đầu tư sẽ đem vốn sang đầu tư ở cácnước khác, ở đây thường là các quốc gia đang phát triển Nhà đầu tư thấy đượcnhững thuận lợi có được từ đầu tư ra nước ngoài là ở đó thường có thị trường rộnglớn, yêu cầu thị trường về kỹ thuật, công nghệ, chất lượng sản phẩm không gắt gaonhư thị trường nội địa Cùng với nó là đội ngũ nhân công dồi dào, giá nhân công

rẻ Như vậy đầu tư ra nước ngoài đạt được nhiều lợi thế hơn hẳn so với đầu tưtrong nước Tuy nhiên không phải tất cả các nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài đềunhằm tối đa hóa lợi nhuận Ví dụ một số những dự án viện trợ phát triển chính thức(ODA) thì mục tiêu hàng đầu là ích lợi Các tổ chức này cho các nước vay với mứclãi xuất thấp, thậm chí viện trợ không hoàn lại để phát triển một số lĩnh vực,thường là cơ sở hạ tầng như giáo dục, y tế, giao thông

2.2.2 Quan điểm từ phía nước nhận đầu tư.

Cũng xuất phát từ quan điểm và lợi ích, các nước nhận đầu tư đều muốn tăngcường phát triển kinh tế để có thể đuổi kịp với các nước phát triển Các nước nhậnđầu tư thường có xuất phát điểm thấp: Thể hiện mức thu nhập trên đầu người thấp,GDP thấp, cơ sở vật chất còn nghèo nàn, lạc hậu, tiềm năng về vốn hạn hẹp Do đónhu cầu về vốn đầu tư của nước ngoài là tất yếu Tuy nhiên không phải lúc nàocũng vậy, một số quốc gia có nền kinh tế phát triển rất cao nhưng vẫn tăng cườngthu hút vốn nước ngoài Vì họ thấy rằng đầu tư trong nước không đáp ứng nổi;

Trang 11

ngoài ra do một số lĩnh vực còn quá mới đối với nước nhận đầu tư, cho nên đầu tư

từ nước ngoài vẫn đem lại lợi ích cáo hơn so với đầu tư trong nước Vậy nước nhậnđầu tư sẽ có được những lợi ích gì? Khi có đầu tư nước ngoài vào sẽ giải quyếtđược vấn đề công ăn việc làm, nâng cao trình độ lao động; tăng GDP; tăng thu chongân sách nhà nước từ đánh thuế và có thể kéo theo một số ngành nghề kinh tếkhác phát triển, cân đối cơ cấu kinh tế, tăng thu nhập cho đầu người góp phần từngbước cải thiện đời sống cho người lao động Tất nhiên các nước nhận đầu tư nênnhớ một điều là “Không có gì cho không” vì vậy phải cân nhắc thận trọng khi đưa

ra quyết định và phải lập ra kế hoạch hợp lý cho việc thu nhận và sử dụng vốn đầu

tư nước ngoài một cách có hiệu quả Nói chung giữa chúng có mối quan hệ qua lại.Lợi ích của nước đi đầu tư và nước nhận đầu tư là hoàn toàn phù hợp với nhau.Chừng nào những mâu thuẫn này còn tồn tại thì việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài

sẽ còn gặp khó khăn

III Những yếu tố tác động tới thu hút vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài.

3.1 Môi trường pháp lý cho sự vận động của vốn nước ngoài.

Muốn tăng vốn đầu tư nước ngoài đòi hỏi các quốc gia nhận đầu tư phải tạo ramột môi trường pháp lý thích hợp, hấp dẫn các nhà đầu tư, tuy nhiên cần nhấnmạnh hai điểm trọng yếu sau:

- Thứ nhất: Nước nhận đầu tư phải bảo đảm về pháp lý đối với quyền sở hữutài sản tư nhân và môi trường cạnh tranh lành mạnh Thái độ của nhà nước đối vớivấn đề quốc hữu hóa tài sản, vốn liếng của người nước ngoài đc thể hiện rõ bằngcác đạo luật cũng là yếu tố quan trọng của môi trường tổng quan này Việc tuyên

bố không quốc hóa hay quy định rõ chuyển giao quyền sở hữu và công trình đượcxây dựng từ vốn nước ngoài sao cho người đầu tư thu được phần lợi nhuận thíchđáng tạo nên sức hấp dẫn đặc biệt đối với nhà đầu tư và cho vay quốc tế

- Thứ hai: Quy chế pháp lý của việc phân chia lợi nhuận đối với các hình thứcvận độngcụ thể của vốn nước ngoài tại nước sở tại Về nguyên tắc, quy chế này

Trang 12

nhằm tạo ra sự ưu đãi về phần lợi nhuận mà nhà đầu tư nước ngoài được hưởng vàmôi trường thuận lợi cho sự vận động của lợi nhuận đó Đồng thời sự thuận lợi đónếu được bảo đảm còn khuyến khích việc bắt đầu tự lợi nhuận tại chỗ do nhà đầu

tư cảm thấy yên tâm và có lợi trong một môi trường như vậy

Có thể nói nếu hai điểm mấu chốt này của môi trường pháp lý là thuận lợi và

an toàn cho sự vận động vốn nước ngoài thì khả năng thu hút vốn càng cao Tuynhiên, cũng cần lưu ý đến những quy định pháp lý cụ thể có liên quan đến việc làmthuận lợi hóa môi trường vận động của vốn Các đạo luật về quyền sở hữu đất đai,quyền chuyển nhượng và thuê mướn đất, quy chế về trọng tài kinh tế…Nếu không

rõ ràng có thể gây cản trở đáng kể trong việc thu hút và sử dụng có hiệu quả vốnnước ngoài

3.2 Sự ổn định của nền kinh tế vĩ mô.

Nói chung, sự ổn định của môi trường vĩ mô luôn luôn là điều kiện tiên quyếtcủa mọi ý định và hành vi đầu tư Đối với nguồn vốn nước ngoài điều này càng có

ý nghĩa hơn Trong môi trường vĩ mô, phải tính trứớc hết đến sự ổn định về chínhtrị - xã hội cao Chẳng hạn như một số nước Châu Phi, Nam Á vài năm gần đây,tuy có thể thu hút được một lượng viện trợ nhân đạo nào đó song mức độ là khôngđáng kể Trong bối cảnh đó, chỉ rất ít, thậm chí không hề có vốn đầu tư hay chovay từ nước ngoài nhằm đầu tư phát triển đầu vào Tuy nhiên, điều muốn đượcnhấn mạnh ở đây là mức độ ổn định kinh tế vĩ mô với tư cách là điều kiện quantrọng để thu hút vốn nước ngoài

Không xét đến những tiêu chuẩn tối thiểu bảo đảm sự ổn định kinh tế vĩ mô,chẳng hạn như an toàn lương thực, khả năng duy trì sự cân bằng cung cầu cân đốimột số mặt hàng tiêu dùng tối thiểu, tính ổn định ở đây được xét theo nghĩa làmsao nó thỏa mãn được cả hai yêu cầu:

- Thứ nhất: Ổn định vững chắc không phải là sự ổn định bất động (Tức là sự

ổn định hàm chứa trong đó khả năng trì trệ kéo dài và dẫn tới khủng hoảng) Một

Trang 13

sự ổn định được coi là vững chắc nhưng bất động chỉ là sự ổn định ngắn hạn Xéttrong dài hạn, loại ổn định này tiềm chứa trong đó khả năng gây bất ổn định Bởi vì

sự ổn định về nguyên tắc không thể đồng nhất với sự trì trệ Bản chất của ổn địnhkinh tế gắn liền với năng lực tăng trưởng

- Thứ hai: Ổn định trong tăng trưởng, tức là kiểm soát nhịp độ tăng trưởng saocho quá trình tăng trưởng đặc biệt là các nỗ lực tăng trưởng nhanh, lâu bền, khônggây ra trạng thái quá “nóng” của đầu tư và hậu quả đi liền với nó là lạm phát theomột nghĩa xác định tăng trưởng tức là phá vỡ thể ổn định cũ Nhưng nếu quá trìnhtăng trưởng được kiểm sóat sao cho có thể chủ động tác lập được thể cân bằng mớithì quá trình đó cũng đồng thời là việc tạo ra cơ sở ổn định vững chắc lâu bền

3.3 Tính ổn định của nền kinh tế thế giới

Sự ổn định của nền kinh tế thế giới cũng tác động không nhỏ tới thu hút vốnđầu tư của nước ngoài Thực tế cuộc khủng hoảng kinh tế Đông Nam Á diễn ra vàonăm 1997 và 1998 vừa qua đã cho thấy khi nền kinh tế của khu vực hay thế giớikhông ổn định sẽ dẫn tới việc rút vốn ra không đầu tư nhà nước nữa do tác độngxấu đem lại đến sự phi lợi nhuận từ việc đầu tư vào các quốc gia này Mặt khác sựkhông ổn định kinh tế của nước đầu tư cũng gây ảnh hưởng tới đầu tư sang nướckhác và sự rút vốn về nước sở tại là điều hiển nhiên Các nước trong khu vực ĐôngNam Á như Đài Loan, Singapore… sau khi rơi vào cuộc khủng hoảng tài chínhtrầm trọng, họ đã hạn chế đầu tư vào Việt Nam và dành vốn để đầu tư vào trongnước để cứu vớt tình hình kinh tế nghiêm trọng trong nước Có thể thấy rằng sựphát triển kinh tế vững mạnh của các quốc gia trên thế giới cũng tác động khôngnhỏ tới việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài Do dó các nhà hoạch định phải nắm bắtđược đối tượng, thời điểm để có chính sách thu hút vốn nước ngoài cho phù hợp

3.4 Hệ thống cơ sở hạ tầng

Hệ thống cơ sở hạ tầng cũng đóng góp vào việc tạo ra những ưu thế riêng chothu hút vốn đầu tư nước ngoài Nó có thể được xem như một điều kiện, yêu cầu mà

Trang 14

quốc gia đi đầu tư luôn xem xét trước khi quyết định đầu tư Hệ thống cơ sở hạ tầngồm: Cơ sở vật chất, đường giao thông, hệ thống ngân hàng, hệ thống phương tiệnthông tin… Những thứ đó không thể thiếu được đối với các nhà đầu tư Bởi lẽ đầu

tư là một hoạt động kiếm lời, muốn kiêm lời được lợi ích đòi hỏi các sản phẩm củanhà đầu tư phải được lưu chuyển thông tin trên thị trường một cách nhanh chóngđây đủ Mặt khácn những nhu cầu về các thông tin mới luôn được đòi hỏi đặt rađối với các nhà đầu tư Chính những phản hồi đó giúp các nhà đầu tư có thể sử lýgiải quyết nhiều vấn đề trong công việc đem lại tính hiệu quả cao trong vấn đề đầu

tư Rõ ràng một quốc gia có điều kiện cơ sở hạ tầng tốt sẽ là một lợi thế cho việcthu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

3.5 Sự cạnh tranh giữa các nước

Một số quy luật kinh tế hiển nhiên của nền kinh tế thị trường là có cầu ắt phải

có cung Khi nhu cầu cao thì dẫn tới cung không đáp ứng nổi và ngược lại Tronglĩnh vực đầu tư cũng vậy, khi nhu cầu đầu tư cao sẽ dẫn tới cung không thể đápứng nổi Do đó các nước nhận đầu tư sẽ đặt ra những điều kiện đầu tư khắt khe Vìvậy để được chấp nhận đầu tư, dòi hỏi bên đầu tư sẽ phải cạnh tranh nhau và nhàđầu tư nào đáp ứng tốt sẽ được chấp nhận xong trường hợp này thường xảy ra rất ít

mà trái lại các nước nhận đầu tư (Thu hút vốn nước ngoài) thì nhiều, còn các nước

đi đầu tư thì lại hạn chế Cho nên để có được nhà đầu tư nước ngoài đòi hỏi cácnước nhận đầu tư phải có được những chính sách thích hợp trong việc thu hút vốnnước ngoài Các nước này sẽ cạnh tranh nhau thông qua các chính sách khuyếnkhích đầu tư nước ngoài Mỗi nước sẽ tìm cho mình một giải pháp tốt nhất để thuhút các nhà đầu tư nước ngoài vào sản xuất kinh doanh nhưng không phải bằng bất

cứ giá nào, mục tiêu đó chính là thu hút được nhiều nhà đầu tư nhất với số vốn caovào nhiều ngành, nhiều lĩnh vực mới quan trọng Qua đó cho thấy sự cạnh tranhgiữa các nước đi đầu tư và nhận đầu tư cũng là yếu tố ảnh hưởng mạnh tới việc thuhút vốn đầu tư nước ngoài

Trang 15

PHẦN II THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI

I Thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam những năm gần đây.

1.1 Nhu cầu về vốn của Việt Nam.

Như chúng chung ta đã biết , nước ta sau khi bước ra khỏi khói lửa chiếntranh nến kinh tế nước nhà đã dơi vào khủng hoảng trầm trọng Sư nghiệp CNH-HDH đất nước đưng trước tính thế vô cùng khó khăn do thiếu vốn đấu tư Trướcbôi cảnh đó Đang và nhà Nứoc đa chủ trương mơ rông quan hệ thu hút vốn đầu tưtrực tiếp nước ngoài Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một trong những nguồnvốn quan trọng cho đầu tư phát triển, có tác dụng thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấukinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH), tạo điều kiện khaithác các lợi thế so sánh, mở ra nhiều ngành nghề, sản phẩm mới, nâng cao năng lựcquản lý và trình độ công nghệ, mở rộng thị trường xuất khẩu, tạo thêm nhiều việclàm và chủ động tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

Như vậy đầu tư nước ngoài là rất cần thiết Việt Nam tiến hành mở cửa nềnkinh tế sẵn sàng làm bạn với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị,miễn là tôn trọng độc lập chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam và tôn trọng chế

độ chính trị của Việt Nam Với quan điểm đó Việt Nam đã thu hút được nhiều đốitác nước ngoài từ các châu lục khác nhau đầu tư vào Việt Nam Trong đó phải kểđến các quốc gia Châu Á có tới 70% lượng vốn đầu tư nước ngoài và 60% kimngạch thương mại của Việt Nam là nhờ vào quan hệ với các quốc gia này Điều đócang trở lên có ý nghĩa khi nhu cầu về vốn đầu tư xây dựng của toàn xã hội vẫntăng qua từng năm, cụ thể:

Trang 16

Năm Vốn đầu tư(Tỷ đồng)

1.2.Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam trong những năm qua

và triển vọng trong những năm tới.

Đây là hình thức đầu tư có vai trò quan trọng trong sự phát triển của nền kinh

tế Đầu tư trực tiếp nước ngoài mặc dù vẫn chịu sự chi phối của các chính phủnhưng có phần ít lệ thuộc vào mối quan hệ chính trị của hai bên Theo hình thứcnày bên nước ngoài trực tiếp tham gia quản lý sản xuất kinh doanh nên mức độ khảthi của dự án khá cao Lợi ích của nhà đầu tư gắn chặt với các dự án đó, các nhàđầu tư rất quan tâm đến hiệu quả kinh tế của dự án và tiến hành quản lý kinh doanhrất chặt chẽ

1.2.1.Đặc điểm của FDI trên thế giời

Để xem xét thực trạng của FDI tại Việt Nam trước hết ta cần điểm qua tìnhhình FDI trên thế giới trong thời gian qua

Trang 17

Kết quả nghiên cứu về đầu tư trực tiếp trên toàn thế giới cho thấy lượng FDItăng mạnh trong hai thập ký gần đây, cụ thể: Trước năm 1970 vốn đầu tư trực tiếptrên toàn thế giới bình quân hàng năm là: 25 tỷ USD Nhưng đến đầu năm 1980con số này là 50 tỷ USD và cuối thập kỷ 80 là 133 tỷ USD Đến năm 2007 con số

đó là trên 1000 ty USD

Vào cuối những năm 90 mặc dù tăng trưởng thương mại thế giới là giảm từ9,4% năm 1997 xuống 3,7% năm 98 Song đầu tư trên toàn thế giới vẫn gia tăng

và đạt mức kỷ lục cao nhất từ trước tới nay bất chấp cả suy thoái kinh tế thế giới

Theo đánh giá của các tổ chức thương mại và phát triển của Liên Hợp Quốcđầu tư nước ngoài trên toàn thế giới đạt: 4000tỷ USD năm 1998, tăng 10% so vớinăm 1997 Trong đó FDI đạt 440 tỷ USD tăng 10% so với năm 1997 Năm 1999FDI đạt gần 800 tỷ USD tăng 25% so với năm 1998

Xu hướng vận động FDI trên thế giới Thường thì các nước có nền kinh tếphát triển sẽ nhận được nhiều vốn FDI hơn

- Liên minh EU tiếp nhận FDI nhiều nhất Năm 1998 EU nhận 23 tỷ USD,năm 1999 là 286 tỷ USD

- Hoa kỳ tiếp nhận 1/3 tổng FDI toàn thế giới đạt: 193 tỷ USD năm 1999

1998 Năm 1998 các nước đang phát triển vốn FDI đang có xu hướng giảm cụ thể,năm 1998 các nước đang phát triển nhận 166 tỷ USD Trong đó các nước ĐôngNam Á chiếm 86 tỷ USD năm 1998 Nhưng sang năm 1999 chỉ nhận được 78 tỷUSD

1.2.2 FDI của Việt Nam trong những năm qua.

Sau khi Mỹ xóa bỏ cấm vận, Mỹ, cùng với chính sách mở cửa, Việt Nam đãthu hút được nhiều dự án đầu tư nước ngoài góp phần đáng kể vào tổng nguồn vốnđầu tư của toàn xã hội Đầu tư trực tiếp FDI trở thành một bộ phận quan trọng của

Trang 18

nền kinh tế và mang lại cho chúng ta nhiều lợi thế Tính riêng năm 1998 các dự án

có vốn đầu tư nước ngoài đã xuất khẩu nhiều loại hàng hóa, thu 1,79 tỷ USD chiếm19% tổng kim ngạch xuất khẩu Với gần 2000 dự án hoạt động, có tổng số vốnđăng ký 3,3 tỷ USD chiếm 3% tổng số vốn đầu tư của toàn xã hội FDI thực sự lànguồn vốn đáng kể để bù đắp cho sự khó khăn về mặt tài chính của nước ta

Theo báo cảo của bộ Kế Hoạch và Đầu Tư tính đến ngày 20/01/1999 ViệtNam có tất cả 2827 dự án đầu tư nước ngoài của 55 nước và lãnh thổ với tổng sốvốn 32.247,934 triệu USD trong đó có 2158 dự án đã được cấp giấy phép với24215,25 triệu USD 3,326 dự án bị thu hồi với 2394,776 triệu USD, 25 dự án hoànthành với 428,46 triệu USD

Không dừng lại ở đó , tính đến ngày 22\9\2007 Việt Nam có tât cả 8058 dự ánđầu tư trực tiếp nước ngoài còn hiệu lực của 81 nước và vùng lãnh thổ với tổng sồvồn lên tới 72,859,018,728 triệu USD Trong đó tổng số vốn điều lệ là31,520,417,166 và tổng số vốn thực hiện là 30,960,427,253 triệu USD

Dưới đây là bảng danh sách 10 nhà đầu tư đứng đầu vào Việt Nam(Tính đếntháng 9 năm 2007)

Trang 20

1.2.3.Việc phõn bố FDI trong cỏc ngành

Mặc dự , tổng sồ dự ỏn cũng như tổng số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam liờn tục tăng qua cỏc năm Tuy nhiờn , việc phõn bổ vốn đầu tư nước ngoai (FDI) cho cỏc nghành

là khụng đều Điều đú được thể hiện qua bảng sau.

Số dự

II

Nông, lâm nghiệp 903 4,246,675,825 1,979,672,763 2,081,771,352 Nông-Lâm nghiệp 778 3,875,557,666 1,804,338,882 1,913,735,851 Thủy sản 125 371,118,159 175,333,881 168,035,501

III

Dịch vụ 1,807 23,827,975,362 10,429,567,303 7,628,592,930 Dịch vụ 896 2,114,197,936 916,675,100 444,916,320 GTVT-Bu điện 203 4,274,047,923 2,743,987,098 737,698,632 Khách sạn-Du lịch 213 5,544,752,832 2,313,006,024 2,509,336,180 Tài chính-Ngân hàng 64 840,150,000 777,395,000 762,870,077 Văn hóa-Ytế-Giáo dục 264 1,192,733,662 532,797,694 403,261,809

XD Khu đô thị mới 8 3,227,764,672 894,920,500 282,984,598

XD Văn phòng-Căn hộ 134 5,483,303,791 1,822,841,290 1,907,957,984

XD hạ tầng KCX-KCN 25 1,151,024,546 427,944,597 579,567,330 Tổng số 8,058 72,859,018,728 31,520,417,166 30,960,427,253

(Tớnh tới ngày 22/9/2007 – chỉ tớnh cỏc dự ỏn cũn hiệu lực )

Như vậy cú thể thấy rằng cụng nghiệp là lĩnh vực hấp dẫn với FDI hơn cả.Nguyen nghành cụng nghiệp và xõy dựng đó cú 5348 dự ỏn với tổng số vốn lờnđến 44,784,367,541 triệu USD Nụng nghiệp là một tiềm năng lớn của nước ta.Nờn nước ta nờn hướng FDI và phỏt triển nụng nghiệp nhiều hơn nữa nhất là cỏcvựng nụng thụn và miền nỳi xa Cú như vậy mới đạt được phỏt triển bền vững.-Từ khi Mỹ bỏ cấm vận Việt Nam số lượng cỏc dự ỏn FDI cũng tăng lờnnhanh chúng, quy mụ trung bỡnh một dự ỏn cũng được tăng lờn đỏng kể Nếu nhu

Trang 21

giai đoạn 1988-1990 vốn bình quân là 3,5 triệu USD/ 1 dự án thì đến giai đoạn1995-1996 đã lên tới 16 triệu USD/ 1 dự án Tính đến hết tháng 12/1999 nhà nước

ta đã cấp giấy phép cho 2766 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài với tổng số vốnđăng ký là 37055,66 triệu USD Tính đến ngày 22/9/2007 nhà nước

Ta đã cấp giấy phép mới thêm cho 1045 dự án với tổng số vốn đăng ký là8,290,847,320 triệu USD Bình quân mỗi năm chúng ta cấp cho 627 dự án với11286,97 triệu USD vốn đăng ký

Số dư án đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp giấy phép qua các năm thể hiện qua các năm thể hiện ở bảng sau.

USD)

Quy mô(TriệuUSD/1 dự án)

Trang 22

Bảng trên cho thấy nhịp độ thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của ta có

xu hướng tăng nhanh, từ năm 1988-1990 cả về số dự án và lượng vốn đăng ký Từ1995-1996 FDI vào nước ta khá cao, cao nhất trong suốt thời kỳ từ năm 1988 tớinay Năm 1995 có 370 dự án với số vốn là 6530,8 triệu USD, năm 1998 con số này

là 8497,3 triệu USD Tuy nhiên từ năm 1997 FDI có biểu hiện giảm rõ rệt hơn ởhai năm 1998-1999 so với năm 1997 Số dự án được duyệt năm 1998 chỉ bằng79,71% năm 1999 chỉ bằng 80,58% Số liệu tương ứng của vốn đăng ký là 83,83%

và 33,01% Quy mô dự án cũng thay đổi nên thời kỳ 1988-1999 bình quân một dự

án có quy mô là 13,4 triệu USD thì năm 1999 quy mô chỉ bằng 41,19% Con sốnày tiếp tục giảm , đến năm 2004 bình quân một dự án chỉ đạt khoảng 3,74 triệuUSD \1 dự án Tuy nhiên đên năm 2005, 2006, 2007 đã tăng lên đáng kể lần lượt la5,05 ; 9,5 ; 12,38 triệu USD/1 dự án

1.2.4.Về đối tác đầu tư

Tính đến hết năm 1999 nước ta có hơn 700 công ty thuộc 66 nước và vùnglãnh thổ có dự án đầu tư trực tiếp vào Việt Nam Trong đó có 13 nước mỗi nước cótổng số vốn đăng ký hơn 1 tỷ USD chiếm 85,65% tổng số vốn FDI Đến ngày22/9/2007 nước ta đã có 81 nước va vùng lãnh thổ có dự án đàu tư trực tiếp vàoViệt Nam với tổng số vốn đang kí lên đến 72,859,018,728 triệu USD Có thể thấyđây la một con số vô cùng lớn , điều đó cho thấy những thanh tịu mà nước ta đađạt được trong việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là rát lờn

Trang 23

1.2.5.Về địa bàn đầu tư:

FDI chủ yếu tập trung vào địa bàn có điều kiện thuận lợi về kết cấu hạ tầng vàmôi trường kinh tế xã hội, điều đó được phản ảnh qua những con số dưới đây

Lượng vốn FDI chủ yếu tập trung tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh Nóchiếm hơn một nửa (50,3%) tổng số FDI

tư 100% vốn nươc ngoai đã chiếm ưu thế hoàn toàn Tính đên ngày 22/8/2007 cảnước có 8058 dư án đầu tư trực tiếp nước ngoài , trong đó số dự án 100% vốn nướcngoài đã chiếm 6233 dự án chiếm 77% Còn hình thức liên doanh chỉ chiếm 1570

dự án chiếm 19%.Hình thức này có xu hướng tăng là do bên nước ngoài đã hiểu rõ

về các điều kiện kinh tế xã hội, luật pháp, văn hóa… của Việt Nam và họ yên tâmthực hiện theo luật kinh doanh

Hình thức hợp đồng, hợp tác đến nay chỉ chiểm 2,69% số dự án Chủ yêu chocác hình thức dầu khí, thăm dò, viễn thông,… Năm 1993 Việt Nam bắt đầu ápdụng hình thức “Hợp đồng xây dựng kinh doanh chuyển giao” ( BOT và cho đếnnay đã có 217 dự án đầu tư nước ngoài thực hiện theo hình thức này với số vốn là4,494,300,995 triệu USD

1.2.7.Về tình hình thực hiện vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong những năm qua.

Sau một thời gian triển khai Luật đầu tư nước ngoài được ban hành (1988).Đến ngày 31/12/1999 trên lãnh thổ Việt Nam chỉ còn 2171 dự án đầu tư trực tiếpnước ngoài đang hoạt động với tổng số vốn đăng ký của các dự án còn hiệu lực là

36086 triệu USD Đến năm 1998 đã có 868 dự án đi vào hoạt động sản xuất kinh

Ngày đăng: 20/12/2012, 10:24

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng trên cho thấy nhịp độ thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của ta có  xu hướng tăng nhanh, từ năm 1988-1990 cả về số dự án và lượng vốn đăng ký - Thực trạng và một số giải pháp tăng cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Bảng tr ên cho thấy nhịp độ thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của ta có xu hướng tăng nhanh, từ năm 1988-1990 cả về số dự án và lượng vốn đăng ký (Trang 22)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w