Tài liệu tham khảo kinh tế đầu tư: Thực trạng và một số giải pháp tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Trang 1Chính sự quan trọng của vốn quốc tế trong công cuộc phát triển và xâydựng đất nước, đặc biệt khi nước ta đang trong tiến trình thực hiện côngnghiệp hiện đại hoá thì nó càng trở nên cấp thiết Nó có thể rút ngắn thờigian thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá Vì vậy mà thu hút đầu tư
Trang 2trực tiếp và viện trợ phát triển chính thức luôn là một vấn đề được nhiềungười quan tâm Với bản thân mình em cũng thấy đây là một vấn đề thiếtthực, cung cấp và trang bị thêm kiến thức cho sinh viên kinh tế khi ra
trường Cho nên em chọn đề tài” Thực trạng và một số giải pháp tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” để nghiên cứu.
Đề tài gồm:Chương I: Lý luận chung về đầu tư nước ngoài.
Chương II: Thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài và viện trợ phát triển chính thức nước ngoài vào Việt Nam.
Chương III: Một số giải pháp cần tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài và viện trợ phát triển chính thức.
Với sự hiểu biết của bản thân còn hạn chế cho nên trong quá trìnhnghiên cứu chắc chắn còn nhiều sai lầm Vì vậy em rất mong có sự quantâm giúp đỡ của thầy giáo, của các bạn học sinh quan tâm tới đề tài này
để đề tài được hoàn thiện hơn
Cuối cùng em xin chân thành gửi lời cảm ơn tới thầy giáo NguyễnQuang Minh đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành bài viết này
CHƯƠNG I :
LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI
I- TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI.
1.1 Đầu tư và các khía niệm có liên quan.
Đặc điểm điển hình của chủ nghĩa tư bản cạnh tranh tự do hoàn toàn làviệc xuất khẩu hàng hoá sang các nước phát triển hơn nhưng tới cuối thế
kỉ 19 đầu thế kỉ 20, với sự hình thành của tổ chức độc quyền thì trong nềnkinh tế tư bản chủ nghĩa xuất hiện thêm một hình thức xuất khẩu mới –xuất khẩu tư bản Bằng việc xuất khẩu tư bản nhà tư bản tổ chức xuấtkhẩu hàng ra nước ngoài và sản phẩm sản xuất ra ở nước ngoài đó sẽ thay
Trang 3thế một phần cho xuất khẩu hàng hoá Như vậy sự khác biệt giữa xuấtkhẩu tư bản và xuất khẩu hàng hoá là ở chỗ khi xuất khẩu hàng hoá thìnhà tư bản thực hiện giá trị thặng dư ở nước ngoài Cùng với thời gian,xuất khẩu tư bản đã bổ sung cho xuất khẩu hàng hoá và ngày càng pháttriển không ngừng Xuất khẩu tư bản về cơ bản được thực hiện dưới hìnhthức hợp tác đầu tư quốc tế.
Hoạt động đầu tư là một hoạt động vô cùng quan trọng đối với sự pháttriển kinh tế xã hội của một quốc gia Vì vậy nó trở thành một trongnhững vấn đề được nhiều quốc gia quan tâm đến Từ trước tới nay đã cónhiều định nghĩa về đầu tư nhưng chung quy lại nó đề có một nội dung cơbản
Vậy đầu tư là gì?
Đầu tư quốc tế là một quá trình hoạt động kinh tếmà bênnước ngoài hoặc các tổ chức viện trợ quốc tế bỏ vốn vào một nước
để xây dựng, tạo lập cơ sở trong một hoặc nhiều lĩnh vực kinh tế xãhội nhằm mục đích tạo ra sự thu nhập, lợi ích hoặc tạo ra công ănviệc làm trong tương lai
Hợp tác đầu tư quốc tế là một quá trình kinh tế trong đó cácnhà đầu tư nước ngoài ( tổ chức cá nhân ) đưa vốn hoặc bất kì hìnhthức giá trị nào vào nước tiếp nhận đầu tư để thực hiện các hoạtđộng sản xuất và kinh doanh, dịch vụ nhằm thu lợi nhuận và đạtđược các hiệu quả xã hội
Bất kì một quốc gia nào khi quan tâm tới đầu tư quốc tế đều phải quantâm tới nguồn đầu tư trực tiếp( FDI) và nguồn viện trợ phát triển nướcngoài
Nguồn viện trợ chính thức ODA là các khoản việ trợ khônghoàn lại hoặc cho vay với những điều kiện ưu đãi của các cơquan tài chính thuộc các tổ chức quốc tế các nước, các tổ chức
Trang 4phi chính phủ nhằm hỗ trợ cho sự phát triển và thịnh vượng củacác nước khác.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI là một loại hình di chuyểnvốn quốc tế.Trong đó người sở hữu vốn đồng thời là ngườitrực tiếp quản lí và điều hành hoạt động sử dụng vốn
1.2 Các hình thức chủ yếu của đầu tư quốc tế.
Căn cứ vào tính chất sử dụng nguồn vốn thì đầu tư quốc tế thườngđược chia thành 3 hình thức chủ yếu là: đầu tư gián tiếp, tín dụng quốc tế
và đầu tư trực tiếp
1.2.1 Đầu tư gián tiếp.
Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư quốc tế trong đó chủ đầu tư chỉđược góp một số vốn tối đa nào đó dưới hình thức mua cổ phiếu, sao chobên nước ngoài không trực tiếp tham gia điều hành đối tượng mà họ bỏvốn đầu tư Ở đây quyền sở hữu và quyền sử dụng tách rời nhau
*Ưu điểm: Khi có sự cố trong kinh doanh xảy ra với xínghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì các chủ đầu tư ít bị thiệt hại vìvốn đầu tư đưpực phân tán trong só đông những người mua cổphiếu trái phiếu.Mặt khác bên tiếp nhận đầu tư hoàn toàn chủ độngvốn kinh doanh của mình theo ý đồ của mình một cách tập trung
* Nhược điểm: Hạn chế khả năng thu hút vốn kĩ thuật, côngnghệ của chủ đầu tư nước ngoài vì bị khống chế mức độ đóng gópvốn tối đa.Hơn nữa do bên nước ngoài không trực tiếp tham giađiều hành đối tượng mà họ bỏ vốn đầu tư nên hiệu quả sử dụng vốnthường thấp
1.2.2 Tín dụng quốc tế.
Tín dụng quốc tế là hình thức đầu tư dưới dạng cho vay kiếm lờithông qua lãi suất tiền vay:
Ưu điểm:
Trang 5_ Vốn vay chủ yếu dưới dạng tiền tệ, dễ trở thành các phươngtiện đầu tư khác.
_ Nước tiếp nhận đầu tư toàn quyền chủ động sử dụng vốn đầu
tư cho các mục đích riêng lẻ của mình
_ Chủ đầu tư nước ngoài có thu nhập ổn định, thông qua lãi suấtcủa số tiền cho vay không phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinhdoanh
_ Nhiều nước chủ đầu tư thông qua hình thức này đã trói buộcmột số nước vào vòng ảnh hưởng của mình
Nhược điểm:
_ Hiệu quả sử dụng vốn càng thấp do bên nước ngoài khôngtrực tiếp tham gia điều hành đối hành họ bỏ vốn đầu tư Và hậuquả là nhiều nước chậm phát triển lâm vào tình trạng nợ nần,thậm chí có nước mất khả năng chi trả từ đó đưa đến sự phụthuộc vào chủ nợ
Hình tức này phụ thuộc nhiều vào bên đi vay và bên chovay
1.2.3 Đầu tư trực tiếp.
Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư quốc tế mà chủ đầu tư nướcngoài đóng góp một ssố vốn đủ lớn vào lĩnh vực sản xuất hoặc dịch vụ,cho phép họ trực tiếp tham gia điều hành đối tượng họ bỏ vốn đầu tư.Trong trường hợp này quyền sở hữu vốn thống nhất với quyền sử dụngvốn
Trang 6những quyết định có lợi nhất cho việc đầu tư vì vậy mức độ khảthi của dự án khá cao, đặc biệt khi muốn tiếp cận thị trườngquốc tế và mở rộng thị trường xuất khẩu.
_ Do quyền lợi của đầu tư nước ngoài gắn chặt với dự án,cho nên có thể lựa chọn kĩ thuật, công nghệ thích hợp, nâng caodần trình độ quản lí, tay nghề cho công nhân ở nước tiếp nhậnđầu tư
Nhược điểm:
_ Do hoạt động đầu tư trực tiếp diễn ra theo cơ chế thịtrường trong khi người đầu tư nước ngoài có nhiều kinhnghiệm, sành sỏi trong việc kí kết các hợp đồng dẫn đến thuathiệt cho các nước tiếp nhận đầu tư
_ Trong đầu tư trực tiếp phía chủ nhà không chủ động trongviệc bố trí các cơ cấu đầu tư theo ngành cũng như theo vùnglãnh thổ
II TÍNH TẤT YẾU CỦA THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI 2.1 Vai trò của đầu tư nước ngoài.
Kinh tế và chính trị luôn song hành với nhau Kinh tế là tiền đềđiều kiện để giữ vững ổn định cho chính trị Một quốc gia có nền kinh tếphát triển cao sẽ là điều kiện thuận lợi cho việc giữ vững ổn định chínhtrị chính vì vậy phát triển kinh tế là vấn đề sống còn của một quốc gia.Mặt khác đầu tư lại chiếm một phần vô cùng quan trọng trong kinh tế.Đầu tư bao gồm đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài Đối với mộtquốc gia đang phát triển thì đầu tư nước ngoài chiếm một tỉ trọng lớntrong đầu tư và GNP Vì thế mà đầu tư nước ngoài tuy không phải lànhân tố quyết định nhưng lại vô cùng quan trọng trong phát triển kinh tế
xã hội
2.1.1 Vai trò tạo nguồn vốn.
Vốn cho đầu tư phát triển kinh tế bao gồm:
Trang 7+Vốn trong nước.
+ Vốn nước ngoài
Đối với các nước lạc hậu, sản xuất còn ở trình độ thấp, nguồn vốntích luỹ được trong nứơc còn chưa nhiều thì vốn đầu tư nước ngoài có ýnghĩa cực kì quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế Ở các giaiđoạn này có nhiều tiềm năng về phát triển lao động, tài nguyên thiênnhiên nhưng trình độ sản xuất còn thấp kém, cơ sở vật chất kĩ thuật nghèonàn , lạc hậu nên chưa có điều kiện khai thác các tiềm năng ấy Các nướcnày chỉ có thể thoát ra khỏi cái vòng luẩn quân của sự nghèo đói bằngcách tăng cường đầu tư phát triển sản xuất, tạo ra mức tăng trưởng kinh tếcao và ổn định Để thực hiện được điều này đòi hỏi các nước đang pháttriển phải có vốn đầu tư Trong điều kiện hiện nay, khi mà trên thế giớiđang có nhiều nước nắm giữ trong tay một khối lượng vốn khổng lồ và cónhu cầu đầu tư ra nước ngoài thì đó là cơ hội để các nước phát triển cóthể tranh thủ nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào việc phát triển kinh tế
2.1.2 Vai trò trong chuyển giao công nghệ.
Các quốc gia nhận được đầu tư thường là các quốc gia có nền kinh
tế chậm phát triển, khoa học, công nghệ còn cách xa so với các quốc giaphát triển Vì thế các nước nhận đầu tư nước ngoài đều muốn có mộtcông nghệ hiện đại hoặc có thể dễ chấp nhận được với quốc gia mình.Mặtkhác ta cũng thấy khi đầu tư vào một quốc gia nào đó, chủ đầu tư khôngchỉ chuyển vào nước đó vốn bằng tiền mặt mà còn chuyển vốn hiện vậtnhư: máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu (hay còn gọi là công nghệ cứng)
và vốn vô hình như chuyên gia kĩ thuật, công nghệ, tri thức khoa học, bíquyết quản lí, năng lực tiếp cận thị trường (hay còn gọi là công nghệmềm Thông qua hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài, quá trình chuyểngiao công nghệ được thực hiện tuơng đối nhanh chóngvà thuận lợi cho cảbên đầu tư cũng như bên nhận đầu tư
2.1.3 Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Trang 8Tranh thủ vốn và kĩ thuật của nước ngoài, các nước đang phát triểnmuốn sử dụng nó để thực hiện mục tiêu quan trọng hàng đầu là đẩy mạnhtăng trưởng kinh tế Đây cũng là cái mức để các nước đang phát triểnthoát khỏi cái vòng luẩn quẩn của sự nghèo đói Thực tế kinh nghiệm củanhiều nước cho thấy quốc gia nào thực hiện thành công chiến lược mởcửa với bên ngoài, biến nó thành nhân tố bên trong thì quốc gia đó tạo rađược tốc độ tăng trưởng kinh tế cao Mức tăng trưởng kinh tế ở các nướcđang phát triển thường do nhân tố tăng đầu tư là chủ yếu, nhờ đó cácnhân tố khác như tổng số lao động được sử dụng, năng suất lao độngcũng tăng theo Vì vậy có thể thông qua đầu tư nước ngoài để đánh giávai trò của đầu tư nước ngoài với tăng trưởng.
2.1.4 Vai trò giải quyết việc làm.
Tốc độ tăng lên của đầu tư nước ngoài kéo theo sự tăng lên củahoạt động sản xuất Việc tăng quy mô và số dự án sẽ tạo ra nhiều chỗ làmviệc mới hơn, thu hút được một số người lao động đáng kể vào việc giảmbớt nạn thất nghiệp.Đặc biệt đối với nhiều nước đang phát triển, nơi cólực lượng lao động rất phong phú nhưng chưa có điều kiện khai thác và
sử dụng thì đầu tư nước ngoài đựoc xem là chìa khoá quan trọng để giảiquyết việc làm, vì đầu tư nước ngoài tạo ra các điều kiện về vốn và kĩthuật cho phép khai thác và sử dụng các tiềm năng kinh tế trong đó cótiềm năng về lao động Ở Việt Nam hiện có khoảng 100.000 người đanglàm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Cùng với sựtăng lên của số việc làm cho người lao động thì chất lượng lao động cũngđược nâng cao
2.1.5 Vai trò thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế không chỉ là yêu cầu, đòi hỏi của bảnthân sự phát triển nội tại nền kinh tế mà còn là đòi hỏi của xu hướng quốc
tế hoá đời sông kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ như hiện nay Sự dịchchuyển cơ cấu kinh tế của mỗi quốc gia phù hợp với trình độ phát triển
Trang 9chung trên thế giới sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư nướcngoài Ngược lại chính đầu tư nước ngoài mà chủ yếu là FDI lại góp phầnchủ yếu nhanh chóng quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Mặc dù nguồnODA góp phần trực tiếp vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế không lớnnhưng nó lại góp phần gián tiếp vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế Vì thôngqua đầu tư trực tiếp nước ngoài đã làm xuất hiện những lĩnh vực và ngànhkinh tế mới ở nước nhận đầu tư Đồng thời nó cũng tạo ra sự phát triểnnhanh chóng trình độ kĩ thuật công nghệ ỏ nhiều ngành kinh tế, góp phầnthúc đẩy tăng năng suất lao động ở các ngành này và làm tăng tỉ phần của
nó trong nền kinh tế Bên cạnh một số ngành được kích thích phát triểnbởi đầu tư nước ngoài thì cũng có một số ngành bị mai một đi rồi tiến tới
bị xoá sổ Nói chung sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế mang tính tiến bộchung của xu thế chung thế giới
2.1.6 Vai trò đối với thu ngân sách nhà nước.
Đầu tư nước ngoài góp phần đang kể vào thu ngân sách nhà nướcthông qua việc thu thuế đối với các đơn vị đầu tư nước ngoài Đây là mộtkhoản thu tương đối lớn cho ngân sách nhà nước Nó bao gồm thu: thuếnhà đất, thuế sản xuất, thuế xuất khẩu vì các đơn vị đầu tư nước ngoàichủ yếu tập trung vào sản xuất các hàng hoá xuất khẩu Nhưng dể tạo rahàng hoá đòi hỏi phải có địa điểm sản xuất và sử dụng các cơ sở hạ tầngcủa nước nhận đầu tư Do vậy đầu tư nước ngoài đóng góp nguồn thuquan trọng cho ngân sách nhà nước
2.2 Tính tất yếu của đầu tư nước ngoài.
Như đã biết trong cơ cấu GDP thì đầu tư luôn góp một giá trị rấtlớn Bất kì một quốc gia nào muốn phát triển được thì phải có mức đầu tưrất lớn Đầu tư của các nước chủ yếu là đầu tư nước ngoài Một quốc giakhông có đầu tư nước ngoài thì đồng nghĩa với việc đóng cửa và thụt lùi
về kinh tế.Nước ta phải trải qua một thời kì dài như vậy và cho tới tận đạihội 6 ( tháng 8 năm 1986) sau khi mô hình kinh tế của một số nước bị sụp
Trang 10đổ do đóng cửa hoặc hé mở củă thì nước ta mới thực sự thực hiện nềnkinh tế mở cửa Mãi tới năm 1987 luật đầu tư nước ngoài mới ra đời.Chính sự đóng cửa kinh tế đã đưa đến một thời kì dài thiếu vốn đầu tư,không thể đáp ứng được nhu cầu về vốn trong nước dẫn tới các nhu cầukhác cũng không thể đáp ứng được Tuy nhiên việc chấp nhận đầu tưkhông phải đi liền với việc chủ đầu tư đi làm không công còn bên nhậnđầu tư hoàn toàn có lợi và không hề bị ràng buộc gì cả Điều đó là khôngthể xảy ra ở bất kì một quốc gia nào Có thể thấy một điều rằng việc đầu
tư chỉ được thực hiện khi nó được yêu cầu từ hai phía: phía nhận đầu tư
và phái đi đầu tư
2.2.1.Quan điểm từ phái chủ đầu tư.
Đầu tư là “đánh bạc với tương lai” đây là một hoạt động kinh tếmang tính rủi ro cao Song không phải vì thế mà các quốc gia muốn đạtlợi nhuận cao sẽ đem vốn từ nước mình đi đầu tư ở một nước khác mộtcách ồ ạt mà không hề suy tính Thực tế cho chúng ta thấy các nước nàyđều tính toán một cách kĩ càng trước khi đầu tư để xác định xem sẽ thuđược cái gì? sẽ thu lợi nhuận là bao nhiêu? sẽ mất cái gì? xuất phát từtình hình kinh tế các nước đầu tư Các nước đầu tư thường là các nước cónền kinh tế phát triển Do lợi nhuận thu được từ trong nước ngày cànggiảm đi vì số lượng nhà đầu tư ngày càng tăng, mức độ cạnh tranh ngàycàng khốc liệt Mặt khác các nhà đầu tư mới tham gia thị truờng trongnước sẽ gặp phải khó khăn khi tìm kiếm thị trường, đáp ứng nhu cầu thịtrường, đối mặt với các nhà đầu tư lớn có nhiều kinh nghiệm Cộng thêmvới nó là nhu cầu trong nước về kĩ thuật, công nghệ cao, giá rẻ, chấtlượng cao và nguồn nguyên liệu đầu vào như giá nhân công là điều hiểnnhiên Chính vì thế mà đầu tư trong nước mình sẽ không có lợi Xuất phát
từ đây các nhà đầu tư đem vốn sang đầu tư ở các nước khác, các nướckhác ở đây thường là các quốc gia đang phát triển
Vậy chủ đầu tư được gì?
Trang 11Thứ nhất, phần lớn các nước này là những nước công nghiệp pháttriển mà tỉ suất lợi nhuận ngày càng có xu hướng giảm và kèm theo làhiện tượng thừa tương đối tư bản ở trong nước Cho nên, bằng hình thứcđầu tư trực tiếp quốc tế, các nước này đã sử dụng những lợi thế của nơitiếp nhận sản phẩm, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cũng như tỉ suất lợinhuận của vốn đầu tư.
Thứ hai, đầu tư quốc tế khắc phục được tình trạng lão hoá sảnphẩm tức là thông qua đầu tư quốc tế( thường gọi là đầu tư trực tiếp) cácnước tư bản đã di chuyển một bộ phận sản xuất công nghiệp, phần lớn làmáy móc ở giai đoạn lão hoá sang các nước kém phát triển để tiếp tục sửdụng, kéo dài hơn chu kì sống của sản phẩm Vào những năm 70 khi cuộckhủng hoảng cơ cấu nổ ra trong chiến lược tái triển khai công nghiệp lúc
đó, các nước tư bản đã phát triển đã di chuyển một bộ phận công nghiệp
có kĩ thuật đơn giản dùng nhiều lao động mà gây ô nhiễm môi trường baogồm các ngành như quần áo, giày dép, đồ chơi, hàng điện tử đơn giản,công nghiệp khai khoáng và sơ chế quặng sang các nước chậm phát triển.Ngày nay họ đã chuyển sang vòng mới với sự tập trung đầu tư cao hơn đểphát triển các ngành như ôtô, máy móc dùng điện, công cụ tự động
Thứ ba, đầu tư quốc tế giúp các nước này xây dựng được thị trườngcung cấp nguyên liệu ổn định với giá phải chăng Nhiều nước nhận đầu tư
có tài nguyên dồi dào nhưng do hạn chế về tiền vốn, kĩ thuật công nghệcho nên nhữg tài nguyên đó chưa được khai thác, sử dụng một cách cóhiệu quả
Thông qua việc khai thác vào những nguồn tài nguyên, các nướcchủ đầu tư đã tận dụng được nguồn nguyên liệu đó, nhập khẩu để phục vụngành sản xuất ở nước mình
Thứ tư, đầu tư quốc tế giúp các nước chủ đầu tư bành trướng sứcmạnh về kinh tế nâng cao uy tín trên thị trường quốc tế: thông qua xâydựng nhà máy sản xuất và thị trường tiêu thụ ở nước ngoài mà các nước
Trang 12xuất khẩu vốn mở rộng được thị trường tiêu thụ, tránh được hàng rào bảo
hộ mậu dịch ở các nước, ngoài ra nhiều nước thông qua hình thức việntrợ và cho vay vốn với quy mô lớn, lãi suất hạ mà ra điều kiện về kinh tếchính trị buộc các nước đang phát triển vào quỹ đạo điều khiển của họ
Như vậy đầu tư ra nước ngoài đạt đựơc nhiều lợi thế hơn hẳn sovới đầu tư trong nước Tuy nhiên không phải tất cả các nguồn vốn đầu tư
từ nước ngoài đều nhằm tối đa hoá lợi nhuận, một số dự án là các dự án
do nguồn việ trợ phát triển chính thức ODA tài trợ thì mục tiêu hàng đầu
là ích lợi Các tổ chức này cho các nước vay mượn với lãi suất thấp, thậmchí viện trợ không hoàn lại để phát triển một số lĩnh vực, thường là cơ sở
hạ tầng như giáo dục, y tế, giao thông
2.2.2 quan điểm từ phía các nước nhận đầu tư.
Cũng xuất phát từ quan điểm và lợi ích, các nước nhận đầu tư đềumuốn tăng trưởng kinh tế để có thể đuổi kịp các nước phát triển Cácnước nhận đầu tư thường có xuất phát điểm thấp, thể hiện: mức thu nhậptrên đầu người thấp, GDP thấp, cơ sở vật chất còn nghèo nàn, lạc hậu,tiềm năng về vốn bị hạn hẹp Do đó nhu cầu về vốn đầu tư của nướcngoài là tất yếu,song không phải luôn luôn như vậy Một số quốc gia cónên kinh tế phát triển rất cao nhưng vẫn tăng cường thu hút vốn đầu tưnước ngoài vì họ thấy rằng đầu tư trong nước không đáp ứng nổi, ngoài
ra còn do một số lĩnh vực quá mới đối với các nước nhận đầu tư cho nênđầu tư từ nước ngoài vẫn đem lại lợi ích cao hơn từ đầu tư trong nước.Vậy nước nhận đầu tư sẽ được hưởng những ích lợi gì?
Trứơc hết đối với những nước phát triển như Mỹ và Tây âu thì:
+ Thứ nhất, giúp Mỹ giải quyết những vấn đề khó khăntrong nước như thất nghiệp, lạm phát
+ Thứ hai, cứu nguy cho một số xí nghiệp trên bờ vực phásản thông qua việc các chủ đầu tư Nhật mua lại các xí nghiệp đó
Trang 13+ Thứ ba, tăng thu ngân sách dưới hình thức các loại thuế đểgiải quyết tình hình bội chi ngân sách của Mỹ.
+ Thứ tư, tạo ra môi trường cạnh tranh để thúc đẩy sự pháttriển kinh tế và thương mại
+ Thứ năm, giúp các nhà doanh nghiệp Mỹ học hỏi kinhnghiệm quản lí tiên tiến của Nhật
Đối với các nước chậm phát triển đầu tư quốc tế có vai trò quantrọng như sau:
+ Thứ nhất, đầu tư quốc tế giải quyết vấn đề thiếu vốn chocác nước này, trong giai đoạn đầu các nước này đều gặp phải vấn
đề nan giải là,thiếu vốn đầu tư do tích luỹ nội bộ thấp hoặc không
có tích luỹ Điều đó hạn chế đến quy mô đầu tư và đổi mới kĩ thuậtgây ra tình trạng mất cân đối trong xuất nhập khẩu, cán cân thanhtoán thường xuyên bị thiếu hụt, đất nước thiếu ngoại tệ.Việc thuhút vốn nước ngoài có thể giải quyết khó khăn về tích luỹ vốn và
bù đắp các khoản thiếu hụt ngoại tệ trong cán cân thanh toán
+ Thứ hai, đầu tư quốc tế giải quyết một phần tình trạng thấtnghiệp ở các nước này Thông qua việc tạo ra các xí nghiệp mớihoặc làm tăng quy mô các đơn vị kinh tế Đầu tư quốc tế đã tạo racông ăn việc làm cho một số lượng khá lớn người lao động đứngtrước tình hình đó, những tỉ lệ 54,46%; 23%;21% số người làmviệc cho các xí nghiệp có vốn nước ngoài so với tổng số người cóviệc làm của các nước Singapore, Braxin, Mexico là có ý nghĩa rấtlớn
+ Thứ ba, đầu tư quốc tế giúp các nước chậm phát triển vàđang phát triển tiếp thu được công nghệ tiên tiến học hỏi được kinhnghiệm quản lý của các nhà đầu tư nước ngoài, ở các nước nàycông nghệ trong nước thường là công nghệ cổ truyền, lạc hậu, năngsuất thấp Do trình độ phát triển y tế, giáo dục, khoa học trong
Trang 14nước kém, cá nước đang phát triển có rất ít có khả năng phát triểncông nghệ mới, hiện đậi và tiên tiến Mặt khác khả năng tự nhậpkhẩu của các nước này cũng rất hạn chế thường dưới 1% so vớiGDP dưới điều kiện đó phần lớn công nghệ hiện đại là do đượcđưa vào từ nước ngoài qua các kênh viện trợ, trao đổi khoa học,công nghệ và đặc biệt là qua việc hợp tác đầu tư quốc tế.
+ Thứ tư, đầu tư quốc tế góp phần cải tiến cơ cấu kinh tếtheo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá, đưa nền kinh tế tham giaphân công lao động quốc tế một cách mạnh mẽ Đầu tư nước ngoàigiữ một vai trò hết sức quan trọng trong việc cải tiến cơ cấu kinh
tế, mặc dù tỉ trọng đầu tư trực tiếp trong tổng số vốn đầu tư củamột số nước không cao nhưng thường chiếm tỉ trong lớn trong đầu
tư tài sản cố định trong một số ngành quan trọng của nền kinh tế Tất nhiên các nước nhận đầu tư nên nhớ một điều là không có gìcho không vì vậy phải cân nhắc thận trọng khi đưa ra quyết định và phảilập ra kế hoạch hợp lý cho việc thu nhận và sử dụng vốn đầu tư nướcngoài một cách có hiệu quả
* Nói chung đầu tư và đi đầu tư có quan hệ hữu cơ Lợi ích của những nước đi đầu tư và nước nhận đầu tư là hoàn toàn phù hợp với nhau.
III NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TỚI THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI.
3.1 Sự ổn định của nền kinh tế vĩ mô.
Nói chung sự ổn định của môi trường vĩ mô luôn là điều kiện tiênquyết cho mọi ý định và hành vi đầu tư Đối với những nguồn vốn nướcngoài, điều này lại càng có ý nghĩa hơn Trong môi trường vĩ mô phảitính trước hết đến sự ổn định chính trị, xã hội Lịch sử thế giới cho thấyrằng quốc gia nào mất ổn định về chính trị, xã hội như một số nước ChâuPhi, Nam Á gần đây tuy có thể thu hút được một số viện trợ nào đó songmức độ là không đáng kể Trong bối cảnh đó, rất ít, hoặc thậm chí không
Trang 15có vốn đầu tư hoặc cho vay từ nước ngoài nhằm mục tiêu phát triển đổvào Tuy nhiên ở đây, điều muốn được nhấn mạnh hơn là mức độ ổn địnhkinh tế vĩ mô với tư cách là điều kiện quan trọng để thu hút vốn nướcngoài.
Không xét đến những tiêu chuẩn tối thiểu bảo đảm mức độ ổn định kinh
tế vĩ mô, chẳng hạn như lương thực, khả năng duy trì cung cầu đối vớimột số mặt hàng tiêu dùng tối thiểu, tính ổn định ở đây được xét theonghĩa là làm sao cho nó thoả mãn được hai yêu cầu:
+ Thứ nhất, sự ổn định vững chắc không phải và không thể
là sự ổn định bất động( tức là sự ổn định hàm chứa trong đó khảnăng trì trệ kéo dài và dẫn tới khủng hoảng) Một sự ổn định vữngchắc nhưng bất động chỉ được coi là sự ổn định ngắn hạn Xéttrong dài hạn, sự ổn định này tiềm chứa trong đó khả năng gây bất
ổn định Bởi vì rằng sự ổn định về nguyên tắc không thể đồng nhấtvới sự trì trệ Bản chất của ổn định kinh tế gắn liền với năng lựctăng trưởng
+ Thứ hai, ổn định trong tăng trưởng, tức là kiểm soát nhịp
độ tăng trưởng sao cho quá trình tăng trưởng, dặc biệt là các nỗ lựctăng trưởng nhanh lâu bền, không gây ra trạng thái quá nóng vềđầu tư và hậu quả đi liền với nó là lạm phát Theo một nghĩa xácđịnh tăng trưởng có nghĩa là phá vỡ thế ổn định cũ Nhưng nếu quátrình tăng trưởng được kiểm soát sao cho có thể chủ động xác lậpđược thế cân bằng mới thì quá trình đó cũng đồng thời là việc tạo
ra cơ sở vững chắc và lâu bền
3.2 Môi trường pháp lý cho sự vận động của vốn nước ngoài.
Muốn tăng vốn đầu tư nước ngoài đòi hỏi các quốc gia phải tạo ramột môi trường pháp lý thích hợp, hấp dẫn các nhà đầu tư Xét một cáchkhái quát cần xét đến hai điểm trọng yếu:
Trang 16 Thứ nhất, nước nhận đầu tư phải đảm bảo về mặt pháp lý đối vớiquyền sở hữu tài sản tư nhân và môi trường cạnh tranh lành mạnh.Thái độ của nhà nước đối với vấn đề quốc hữu hoá tài sản, vốnliếng của người nước ngoài được thể hiện rõ bằng các đạo luật cũng
là yếu tố quan trọng của môi trường tổng quát này việc tuyên bốkhông quốc hữu hoá hay quy định rõ thời gian chuyển giao quyền
sở hữu và sử dụng công trình được xây dựng bằng vốn nước ngoàisao cho người đầu tư thu được phần lợi nhuận thích đáng tạo nênsức hấp dẫn đặc biệt đối với nhà đầu tư và cho vay quốc tế
Thứ hai, quy chế pháp lý của việc phân chia lợi nhuận đối với cáchình thức vận động cụ thể của nước ngoài tại nước sở tại Vềnguyên tắc, quy chế này nhằm tạo ra sự ưu đãi về phần lợi nhuận
mà nhà đầu tư nước ngoài được hưởng và môi trường thuận lợi cho
sự vận động đó Đồng thời sự thuận lợi đó nếu được đảm bảo cònkhuyến khích việc bắt đầu từ lợi nhuận tại lãnh thổ do nhà đầu tưcảm thấy yên tâm và có lợi trong một môi trường như vậy
Để thấy rằng hai điểm mấu chốt này của môi trường pháp lý làthuận lợi hơn, an toàn hơn cho sự vận động của vốn nước ngoài thì khảnăng thu hút vốn càng cao Tuy nhiên, cũng cần lưu ý tới những quyđịnh pháp lý cụ thể có liên quan đến việc làm thuận lợi hoá môi trườngvận động của vốn Các đạo luật về quyền sở hữu đất đai, quyền chuyểnnhượng và thuê mướn đất, quy chế về trọng tài kinh tế nếu không rõràng, lại có thể gây trở ngại đáng kể trong việc thu hút và sử dụng cóhiệu quả vốn đầu tư nước ngoài
3.3 Tính ổn định của nền kinh tế thế giới
Sự ổn định của nền kinh tế thế giới cũng tác động không nhỏ tớithu hút vốn đầu tư của các nước Thực tế cuộc khủng hoảng kinh tếĐông Nam Á diễn ra vào năm 1997 – 1998 vừa qua đã cho thấy khinền kinh tế khu vực hay thế giới không ổn định sẽ dẫn tới việc rút vốn
Trang 17ra không đầu tư nhà nước nữa do tác động xấu đem đến sự phi lợinhuận từ việc đầu tư vào các quốc gia này Mặt khác sự không ổn địnhkinh tế của cả nước đầu tư cũng ảnh hưởng tới đầu tư sang nước khác
và sự rút vốn về nước ở tại là điều hiển nhiên Các nước ở khu vựcĐông Nam á như Đài Loan, Singapo, Tháilan sau khi rơi vào khủnghoảng tài chính trầm trọng, họ đã thôi không đầu tư vào Việt Nam vàdành vốn để đầu tư trong nước nhằm cứu vớt tình hình kinh tế trongnước Có thể thấy rằng sự phát triển kinh tế vững mạnh của các quốcgia trên thế giới cũng tác động không nhỏ tới thu hút vốn đầu tư nướcngoài Do đó các nhà hoạch định phải nắm bắt được đối tượng, thờiđiểm để có chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài cho phù hợp
3.4 Hệ thống cơ sở hạ tầng.
Hệ thống cơ sở hạ tầng cũng đóng góp vào việc tạo ra những ưuthế cho việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài Nó có thể được xem nhưmột điều kiện, yêu cầu mà quốc gia đi đầu tư luôn xem xét trước khiquyết định đầu tư Hệ thống cơ sở hạ tầng bao gồm: Cơ sở vật chất,đuờng giao thông, hệ thống ngân hàng, hệ thống thông tin những thứ
đó không thể thiếu được với các nhà đầu tư, bởi lẽ đầu tư là một hoạtđộng kiếm lời, muốn kiếm lời đòi hỏi sản phẩm của các nhà đầu tưphải đựơc lưu chuyển thông tin trên thị trường một cách nhanh chóngđầy đủ Mặt khác những nhu cầu về các thông tin mới luôn được đặt ravới các nhà đầu tư Chính những phản hồi đó đã giúp cho các nhà đầu
tư có thể xử lý, giải quyết nhiều vấn đề trong công việc, đem lại tínhhiệu quả cao trong hoạt động đầu tư Rõ ràng là một quốc gia có điềukiện cơ sở hạ tầng tốt sẽ là một lợi thế tốt cho thu hút đầu tư nướcngoài
3.5 Sự cạnh tranh giữa các nước.
Một số quy luật kinh tế hiển nhiên của nền kinh tế thị trường là cócầu ắt phải có cung Khi cầu cao thì dẫn tới cung không đáp ứng nổi và
Trang 18ngược lại trong lĩnh vực đầu tư cũng vậy, khi nhu cầu đầu tư cao sẽdẫn tới cung không đáp ứng nổi Do đó các nước đầu tư sẽ đặt ra cácđiều kiện khắt khe, vì vậy để chấp nhận được đầu tư đòi hỏi các bênđầu tư phải cạnh tranh nhau và nhà đầu tư nào đáp ứng tốt sẽ đượcchấp nhận Song trường hợp này xảy ra rất ít mà trái lại các nước nhậnđầu tư thì nhiều còn các nước đi đầu tư thì lại rất ít Cho nên để có cácnhà đầu tư nước ngoài đòi hỏi các ước nhận đầu tư phải có nhữngchính sách thích hợp trong việc thu hút đầu tư nước ngoài mỗi nước sẽtìm cho mình một giải pháp tốt nhất để thu hút các nhà đầu tư nướcngoài vào sản xuất kinh doanh nhưng không phải bằng bất kì hình thứcnào, mục đích chính là thu hút được nhiều nhà đầu tư nhất với số vốncao vào nhiều ngành, trong nhiều lĩnh vực mới, quan trọng.
Qua đó cho thấy sự cạnh tranh giứa các nước đi đầu tư và nhận đầu
tư cũng là yếu tố ảnh hưởng mạnh tới thu hút vốn đầu tư nước ngoài
1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI.
1.1 Tình hình đầu tư nước ngoài trong những năm qua.
Trang 19FDI là hình thức đầu tư có vai trò quan trọng trong sự phát triển củanền kinh tế Đầu tư trực tiếp nước ngoài mặc dù vẫn chịu sự chi phối trựctiếp của các chính phủ nhưng có điều ít lệ thuộc vào mối quan hệ giữa haibên Theo hình thức này bên nước ngoài trực tiếp tham gia điều hànhquản lý kinh doanh nên mức độ khả thi của dự án là khá cao Lợi ích củanhà đầu tư gắn chặt với các dự án đó, các nhà đầu tư rất quan tâm đếnhiệu quả kinh tế của các dự án và tiến hành quản lý kinh doanh rất chặtchẽ.
Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt nam được ban hành năm 1987 là mộttrong những mốc quan trọng, đánh dấu quá trình mở cửa nền kinh tế, đadạng hoá, đa phương hoá các quan hệ kinh tế đối ngoại Sau khi banhành, đã có hai lần bổ sung vào các năm 1990, 1992 và ban hành LuậtĐầu tư nước ngoài sửa đổi năm 1996 Nói chung, Luật đầu tư nước ngoàicủa ta được đánh giá là đạo Luật thông thoáng, cởi mở, bảo đảm cho nhàđầu tư nước ngoài an toàn về đầu tư và quyền tự chủ kinh doanh; đồngthời bảo đảm nguyên tắc tôn trọng chủ quyền, tuân thủ pháp luật của ViệtNam và bình đẳng, cùng có lợi; do vậy Luật đầu tư nước ngoài vừa phùhợp với tình hình nước ta, vừa thích ứng với thông lệ quốc tế nên đã cósức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư, chính vì vậy, nguồn vốn ĐTNN đãliên tục tăng lên trong những năm 1991 - 1996
Trong quá trình thực hiện, Chính phủ đã ban hành nhiều Nghị định,Chỉ thị; các Bộ đã ban hành nhiều Thông tư hướng dẫn nhằm cải thiệnmôi trường đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp nhưqui định những lĩnh vực khuyến khích đầu tư, có chính sách ưu đãi đặcbiệt đối với những dự án thuộc diện đặc biệt khuyến khích, vấn đề chuyểngiao công nghệ, bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, giảm giá tiền thuê đất,tăng mức ưu đãi về thuế, điều chỉnh tỷ lệ tiêu thụ sản phẩm nội địa, tăngthời hạn hoạt động, xử lý linh hoạt hơn việc chuyển doanh nghiệp liêndoanh sang hình thức đầu tư 100% vốn nước ngoài
Trang 20Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã có vai trò tích cực trong việc phát triểnkinh tế- xã hội của đất nước, đặc biệt là bổ sung nguồn vốn quan trọngcho đầu tư phát triển Tính đến hết năm 1999 đã có 2821 dự án được cấpGiấy phép đầu tư với tổng vốn đăng kí đạt 36.932 triệu USD; nếu tính cảvốn bổ sung mở rộng dự án thì tổng vốn đăng kí đạt 41.549 triệu USD.Trừ các dự án hết hạn, giải thể, hiện còn 2.355 dự án có hiệu lực với tổngvốn đăng kí là 35.788 triệu USD Nguồn vốn đã được thực hiện chiếmkhoảng 36,8% tổng số vốn đăng ký, là tỷ lệ trung bình so với các nướctrong khu vực Khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ngàycàng phát triển, đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tÕvà thành côngcủa công cuộc đổi mới.
Cơ cấu vốn FDI ngày càng thay đổi phù hợp hơn với yêu cầu dịchchuyển cơ cấu kinh tếcủa đất nước
a Phân theo ngành:
Những năm đầu, vốn FDI tập trung phần lớn vào thăm dò, khai thácdầu khí (32,2%) và khách sạn du lịch, căn hộ cho thuê (20,6%) Nhưngnhững năm gần đây, đầu tư vào khu vực sản xuất vật chất của nền kinhtế(nhất là lĩnh vực công nghiệp) ngày càng gia tăng hiện chiếm 2/3 tổngnguồn vốn đầu tư chung Trong đó, trên 60% số dự án là đầu tư khai thác
và nâng cấp các cơ sở kinh tế hiện có Cơ cấu ngành nghề được điềuchỉnh theo hướng ngày càng hợp lý, tập trung vào các lĩnh vực sản xuấthàng xuất khẩu, xây dựng kết cấu hạ tầng và các cơ sở sản xuất côngnghiệp, chế biến nông, lâm, thuỷ sản và sử dụng hiệu quả tài nguyênthiên nhiên, sử dụng nhiều lao động; ứng dụng công nghệ cao, kỹ thuậthiện đại Sự xuất hiện của nhiều công trình lớn như các nhà máy ximăng Tràng Kênh, Nghi Sơn, Sao Mai, Văn Xá, Phúc Sơn, Hải Long, các
Trang 21nhà máy cán thép ở Hải Phòng, Thái Nguyên, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng
Tàu, các nhà máy sản xuất, lắp ráp ô tô, xe máy, các dự án liên lạc viễn
thông, điện tử, các nhà máy đường ở Ninh Bình, Thanh Hoá, Long An,
Tây Ninh và các dự án chế biến nông, lâm, sản đã góp phần tăng nhanh
năng lực sản xuất của các ngành, các địa phương, và từng bước hiện đại
hoá một số lĩnh vực của nền kinh tế
Lĩnh vực công nghiệp và xây dựng chiếm tỷ trọng lớn nhất (3.913 dự
án với vốn cấp mới 30,1 tỷ USD) chiếm 67,2% về số dự án và 60,5%
tổng vốn đầu tư đăng ký Tiếp theo là lĩnh vực dịch vụ (1.142 dự án với
vốn cấp mới gần 16 tỷ USD), chiếm 19,6% về số dự án và 32% về vốn
đầu tư đăng ký Số còn lại thuộc lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp (760 dự
án với vốn cấp mới 3,7 tỷ USD), chiếm 13,2% về số dự án và 7,5% về
vốn đầu tư đăng ký
Đầu tư trực tiếp nớc ngoài theo ngành 1988-2005
(tính tới ngày 20/12/2005 - chỉ tính các dự án còn hiệu lực)
STT Chuyên ngành Số dự án TVĐT Vốn pháp định Đầu t thực hiện
CN dầu khí 27 1,891,191,815 1,384,191,815 4,556,250,381
CN nhẹ 1,667 8,334,820,162 3,757,445,407 3,152,121,254
CN nặng 1,717 13,313,466,747 5,267,467,433 6,531,053,276
CN thực phẩm 261 3,135,296,403 1,357,851,161 1,894,416,334Xây dựng 311 3,995,358,919 1,427,350,337 2,320,977,084
Trang 22Khách sạn-Du
lịch 163 2,863,768,774 1,247,338,654 2,335,371,047Tài chính-Ngân
50,534,589,67
26,963,046,66 3
Nguồn: Cục Đầu t nớc ngoài - Bộ Kế hoạch và Đầu t
b Phân theo hình thức đầu tư:
Tham gia hợp tác đầu tư với nước ngoài hiện nay chủ yếu là các doanh
nghiệp quốc doanh Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh hiện mới có 140
dự án liên doanh với nước ngoài (chiếm 7,8% dự án) với số vốn đăng ký
là 562 triệu USD (chiếm 1,8% vốn đăng ký) Hình thức đầu tư chủ yếu
hiện nay vẫn là doanh nghiệp liên doanh, chiếm tới 61% số dự án và 70%
vốn đầu tư Do chính sách của Việt Nam đối xử công bằng giữa doanh
nghiệp 100% vốn nước ngoài và doanh nghiệp liên doanh, do tin tưởng
vào môi trường đầu tư ở Việt Nam nên những năm gần đây, đầu tư theo
hình thức 100% vốn nước ngoài có xu hướng tăng lên, hiện chiếm 30%
số dự án và 20% vốn đầu tư Đầu tư theo 100% vốn của Hàn Quốc, Nhật
Bản, Đài Loan cao hơn các quốc gia khác
Trang 23Trong năm qua hình thức 100% vốn nước ngoài chiếm 74,1% về số dự
đầu tư trực tiếp nớc ngoài theo htđt 1988-2005
(tính tới ngày 20/12/2005 - chỉ tính các dự án còn hiệu lực)
Hình thức đầu tư Số dự án TVĐT Vốn pháp định
100% vốn nớc ngoài 4,404 25,593,808,666 10,938,536,402Liên doanh 1,316 19,184,069,204 7,422,064,856Hợp đồng hợp tác
kinh doanh 183 4,172,824,616 3,591,025,725
Công ty cổ phần 8 199,314,191 82,074,595Công ty quản lý vốn 1 14,448,000 14,448,000
c Phân theo nước:
Hiện đã có hàng ngàn công ty nước ngoài thuộc 62 nước và vùng lãnh
thổ có dự án FDI ở Việt Nam, trong đó ngày càng xuất hiện nhiều tập
đoàn, công ty xuyên quốc gia lớn, có năng lực về tài chính và công nghệ
cao Ngoài ra, chúng ta cũng chú trọng thu hút FDI của các doanh nghiệp
vừa và nhỏ của nước ngoài vì đó là các doanh nghiệp năng động, thích
ứng nhanh với biến động của thương trường, phù hợp với đối tác Việt
Nam về khả năng góp vốn, năng lực tiếp thu công nghệ, kinh nghiệm tổ
chức quản lý, có điều kiện tạo nhiều việc làm mới Khoảng ba phần tư
vốn đầu tư nước ngoài là từ các nước NICs Đông á, ASEAN, Nhật Bản,
Trong năm qua đã có 74 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư
tại Việt Nam, trong đó các nước châu Á chiếm 76,5% về số dự án và
Trang 2470,6% vốn đăng ký; các nước châu Âu chiếm 17,1% về số dự án và21,7% vốn đăng ký; các nước châu Mỹ chiếm 6% về số dự án và 6% vốnđăng ký, riêng Hoa Kỳ chiếm 4,2% số dự án và 2,8% vốn đăng ký; số cònlại thuộc các nước ở khu vực khác.
Năm quốc gia và vùng lãnh thổ châu Á dẫn đầu thu hút ĐTNNtheo thứ tự vốn đăng ký như sau:
1 Đài Loan chiếm 23,9% về số dự án; 17% tổng vốn đăng
ký và 11% tổng vốn thực hiện; quy mô vốn đầu tư bình quân chomột dự án đạt 6,1 triệu USD/dự án
2 Singapore chiếm 6,5% về số dự án; 15,2% tổng vốn đăng
ký và 13,3% tổng vốn thực hiện; quy mô vốn đầu tư bình quân chomột dự án đạt 19,7 triệu USD/dự án
5 Hồng Kông chiếm 6% về số dự án; 7,4% tổng vốn đăng
ký và 7,3% tổng vốn thực hiện; quy mô vốn đầu tư bình quân chomột dự án đạt 10,5 triệu USD/dự án
Riêng 5 nền kinh tế đứng đầu trong đầu tư vào Việt Nam nói trên đãchiếm 63,2% về số dự án, 61,5% tổng vốn đăng ký và 67,3% tổng vốnthực hiện
Việt kiều từ 21 nước khác nhau chủ yếu là từ CHLB Đức, Liênbang Nga và Pháp đã đầu tư 99 dự án với vốn đầu tư đăng ký 300 triệuUSD, chỉ bằng 0,6% tổng vốn đầu tư đăng ký
đầu t trực tiếp nớc ngoài theo nớc 1988-2005