Hình thành và phát triển kĩ năng tự học toán cho học sinh trung học cơ sở (Thông qua dạy học các tập hợp số)
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM
VÕ THÀNH PHƯỚC
HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG
TỰ HỌC TOÁN CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ
(Thông qua dạy học các tập hợp số)
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Toán
Mã số: 62 14 10 01
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ GIÁO DỤC HỌC
Hà Nội - 2009
Trang 2CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI
VIỆN KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học:
1 PGS TS Tôn Thân, Viện Khoa học giáo dục Việt Nam
2 TS Phạm Đức Quang, Viện Khoa học giáo dục Việt Nam
Phản biện 1: GS.TSKH Nguyễn Bá Kim, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Phản biện 2: GS TS Đào Tam, Trường Đại học Vinh
Phản biện 3: PGS TS Phan Huy Khải, Viện Toán học
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Nhà nước họp tại Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam
Vào hồi….giờ….ngày….tháng… năm………
Có thể tìm hiểu luận án tại:
1 Thư viện Quốc gia
2 Thư viện Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam
Trang 3NHỮNG CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
Một số bài báo đã đăng:
1 Võ Thành Phước: Quan niệm về tự học môn Toán của HS THCS Tạp chí Khoa học Giáo dục, số 32, 2008
2 Võ Thành Phước: Các yếu tố ảnh hưởng đến việc tự học của HS THCS
5 Võ Thành Phước: Hình thành một số kĩ năng tự học môn Toán cho HS
THCS (Phần thực nghiệm) Tạp chí khoa học Trường Đại học sư phạm TP Hồ Chí Minh, số 14 (48), tháng 7/2008
Trang 4MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
- Định hướng đổi mới phương pháp giáo dục phổ thông là phát huy tính tích cực sáng tạo của HS và đặc biệt cần cung cấp các KN cần thiết để học cao hơn hoặc đi vào cuộc sống lao động một cách năng động Để thực hiện theo định hướng trên, nhà trường cần giúp cho HS biết TH, đây là nhiệm vụ vô cùng to lớn mà Đảng và Nhà nước đã đặt ra cho ngành giáo dục đào tạo nước nhà (Đã được đề cập trong Nghị quyết Trung ương IV khoá VII, Nghị quyết Trung ương II khoá VIII, Nghị quyết Trung ương khoá IX và luật giáo dục)
- Trong lịch sử giáo dục thế giới, những tư tưởng của nhiều nhà giáo dục nổi tiếng đã hướng người học vào TH và cách dạy để người học TH, có thể kể đến:
Khổng Tử (551 - 479 TCN); Xô-cơ- rát (469-390 TCN); (Khoảng những năm 420 TCN), Xanh-xi-liêng giáo sư dạy hùng biện ở Rôma; Mạnh Tử (372-289 TCN); Trương Tải (97-27 TCN); Môn-tê-nhơ (1533- 1592) mà người ta gọi là “Ông tổ sư phạm” ở Châu Âu; Thô-ma-Mo-rơ (1476- 1535), người Anh là người đầu tiên đề xuất việc giáo dục lao động ở HS; Cô-men-x-ki (1592-1670), người Tiệp Khắc, nhà giáo dục học vĩ đại của thế giới; Hen-ve- chi- uyt (1755 – 1771), triết gia nổi tiếng người Pháp; Ta- lay- răng, người Pháp năm 1791; Di-xtec-vec (1790 - 1866) nhà sư phạm người Đức; Krúp-xcai-a (1869-1939) nhà giáo dục lớn của Liên Xô; Ma-ca-ren-cô (1888-1939) nhà Giáo dục đồng thời là nhà cách mạng; C-Rogers nhà giáo dục Mỹ những năm cuối thế kỷ XX…
Đặc biệt, để thực hiện được theo quan điểm của UNESCO về bốn trụ cột giáo dục thế
kĩ XXI, việc TH của người học mang một ý nghĩa quyết định
- Ở nước ta, đã có nhiều công trình nghiên cứu có liên quan đến vấn đề TH điển hình có: Tác giả Nguyễn Cảnh Toàn đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu và phát triển TH”; Các tác giả Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Kỳ, Vũ Văn Tảo, Bùi Tường, đã nghiên cứu rất
hệ thống các vấn đề có liên quan đến TH; Tác giả Nguyễn Bá Kim đã khẳng định: PPDH hiện nay cần hướng vào việc tổ chức cho người học học tập trong HĐ và bằng HĐ Ngoài
ra, còn có thể kể thêm một số tác giá khác cũng rất quan tâm đến vấn đề này như: Nguyễn
Kỳ, Lê Khánh Bằng, Vũ Văn Tảo, Trần Kiều…
Thực trạng nước ta, phương pháp dạy và học chậm được cải tiến, HS học tập một
cách thụ động Đa số GV vẫn dạy theo kiểu thầy truyền đạt, trò tiếp nhận và ghi nhớ, dạy
học Toán ít chú ý hướng dẫn HS TH Cho nên việc tổ chức hình thành KN tự học môn Toán cho HS THCS là cần thiết
Qua phần trình bày trên, có thể thấy vấn đề có liên quan đến TH đã được các nhà giáo dục, các nhà khoa học trên thế giới và trong nước nghiên cứu rất nhiều Mỗi công trình chứa đựng những khía cạnh khác nhau về TH như: nghiên cứu tổng quan về TH, nghiên cứu tổng hợp về phát triển TH ở người vừa học, vừa làm; ở sinh viên đại học; ở trường trung học phổ thông Gần đây, có các công trình của tác giả Phạm Đình Khương nghiên cứu về phát triển năng lực TH của HS THPT, tác giả Trần Thị Minh Hằng nghiên
Trang 5cứu các yếu tố tâm lí cơ bản trong TH của sinh viên (SV) Cao đẳng sư phạm (CĐSP), tác giả Lê Trọng Dương nghiên cứu về năng lực TH của SV Toán CĐSP…Tuy nhiên, việc nghiên cứu về hình thành và phát triển KN tự học môn Toán cho HS, đặc biệt cấp THCS, còn chưa được đề cập với những giải pháp cụ thể
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Trên cơ sở hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn, đề xuất các biện pháp sư phạm nhằm hình thành và phát triển KN tự học môn Toán cho HS THCS thông qua dạy học các tập hợp số
3 KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
a Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học ở trường THCS
b Đối tượng nghiên cứu
Việc dạy HS THCS tự học môn Toán
4 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu đề xuất và vận dụng được các biện pháp sư phạm trong quá trình dạy học toán theo chương trình và sách giáo khoa hiện nay, thì sẽ có thể hình thành và phát triển KN tự học toán cho HS THCS
5 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
a Làm sáng tỏ các thuật ngữ, quan niệm về: Tự học, TH Toán ở THCS; KN, KN
TH Toán ở THCS
b Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc hình thành KN TH cho HS THCS
c Đề xuất các biện pháp nhằm hình thành và phát triển KN TH môn Toán cho HS THCS
d Thực nghiệm sư phạm nhằm bước đầu kiểm nghiệm tính khả thi và tính hiệu quả của một số biện pháp đề xuất
6 GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Mặc dù xét TH trong mối quan hệ tổng thể với dạy học, giáo dục, tâm lý nhưng luận án này tập trung nghiên cứu để đề xuất các biện pháp sư phạm nhằm thiết kế một tiến trình dạy học theo định hướng hình thành và phát triển KN TH môn Toán THCS (thông qua dạy học các tập hợp số cho HS các lớp 6, 7)
- Việc điều tra thực trạng về KN TH và việc dạy cách TH môn Toán được thực hiện tại một số trường THCS thuộc các tỉnh: Bến Tre, Tiền Giang, Long An, Trà Vinh, Vĩnh Long và Thành phố Cần Thơ
- Địa bàn thực nghiệm thuộc tỉnh Bến Tre
7 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
7.1 Nghiên cứu lý luận
- Nghiên cứu các văn kiện của Đảng và Nhà nước về giáo dục
- Nghiên cứu các công trình có liên quan đến đề tài
Trang 6- Nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến việc hình thành và phát triển KN tự học cho HS THCS, làm cơ sở đề xuất các biện pháp sư phạm
7.2 Tổng kết kinh nghiệm
- Tổng kết những kinh nghiệm thực tiễn về các vấn đề có liên quan đến đề tài nghiên cứu, như: đổi mới PPDH, nâng cao chất lượng học tập cho học sinh THCS, phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động trong hoạt động học tập ở các trường THCS,…Làm cơ
sở đề xuất biện pháp cũng như kiểm nghiệm các biện pháp hình thành KN tự học toán cho
HS THCS
7.3 Quan sát, điều tra
- Dự giờ, thăm lớp, quan sát khách quan nhằm tìm hiểu việc vận dụng của GV, việc học của HS THCS theo hướng TH
- Điều tra bằng phiếu hỏi, phỏng vấn trực tiếp các chuyên viên chỉ đạo thuộc một số Phòng GD và ĐT, Sở GD và ĐT cũng như thầy, trò trường THCS và giảng viên Trường
sư phạm, nhằm tìm hiểu sâu về tình hình dạy theo hướng TH cũng như tình hình TH của
8.1 Quan niệm về TH toán của HS THCS
8.2 KN cơ bản trong TH toán của HS THCS
8.3 Các biện pháp sư phạm và việc vận dụng chúng khi thiết kế cũng như khi dạy các tập
hợp số cho HS ở khối 6, 7 nói riêng, trong dạy học toán THCS nói chung theo hướng TH
9 ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
Đã chỉ ra được những KN cơ bản về TH toán của HS THCS
Đã đề xuất được các biện pháp nhằm hình thành và phát triển KN tự học Toán của
HS THCS
Đưa ra được qui trình dạy HS theo hướng hình thành KN tự học cho HS THCS Các ví dụ và tài liệu thực nghiệm là các phương án rèn luyện các KN tự học cho
HS qua nội dung bài dạy
Hình thành được các KN tự học cho HS THCS (bậc học mà hầu như chưa có KN nào về TH), sẽ tạo tiền đề cho HS có thể TH tốt ở các bậc cao hơn, tiến tới biết học suốt đời
Chương I:
Trang 7Cơ sở lý luận và thực tiễn
Trong chương I, chúng tôi trình bày và làm sáng tỏ các vấn đề sau:quan niệm về TH môn Toán và kĩ năng TH Toán của HS THCS
1.1 Một số vấn đề về tự học
1.1.1 Tự học
Có thể hiểu: Tự học của HS THCS là một bộ phận của hoạt động học Nó cũng được tạo thành bởi những thao tác, cử chỉ, ngôn ngữ, hành động của người học trong hệ thống tương tác của hoạt động dạy học Đó là quá trình tự người học hoạt động để chiếm lĩnh kiến thức và rèn luyện KN thực hành, bằng cách tự đọc tài liệu SGK, sách tham khảo và bằng các nguồn thông tin khác mà người học có thể sưu tầm có hoặc không có sự hướng dẫn trực tiếp của GV Người học phải biết cách thu nhận các thông tin cần thiết như: biết ghi chép, biết viết tóm tắt, biết lập sơ đồ nội dung môn học và biết tham khảo SGK, sách tham khảo, mạng thông tin v.v, Từ đó, tự làm các bài tập, tham gia các công việc trong các tổ học tập TH phản ánh rõ nhất nhu cầu bức xúc về học tập của người học, phản ánh tính tự giác và sự nỗ lực của người học Do đó, người học phải có tính độc lập, tính tự giác
và kiên trì cao thì mới đạt được kết quả TH là HĐ học có tính chất: Tự giác ( không ai bắt buộc, tự nhận thức được nhiệm vụ học tập của bản thân); Chủ động ( làm chủ trong việc xác định mục đích học, xác định nội dung và cách thức học); Độc lập ( tự mình thực hiện bằng
nỗ lực của chính bản thân không phụ thuộc vào người khác)
1.1.2 Vai trò của tự học
TH với vai trò là nội lực là nhân tố quyết định Chất lượng giáo dục đạt được đỉnh cao khi tác động dạy của thầy (ngoại lực) cộng hưởng với năng lực TH của trò (nội lực) Người thầy giỏi là người dạy cho trò biết TH Người trò giỏi là người biết TH sáng tạo suốt đời Song năng lực TH sẽ khó hình thành và phát triển nếu thiếu sự hướng dẫn của thầy và sự hợp tác của các bạn, ngược lại, tác động của thầy và môi trường xã hội sẽ kém hiệu lực nếu không phát huy được năng lực TH của trò Cho nên phải kết hợp nội lực với ngoại lực, cá nhân hoá với xã hội hoá nhằm tiến tới trình độ cao của chất lượng phát triển,
đó là sự cộng hưởng của ngoại lực (dạy) với nội lực (tự học)
1.1.3 Các điều kiện tự học
TH là một hoạt động đòi hỏi phải có tính độc lập, tự chủ, tự giác và kiên trì cao thì mới đạt được kết quả, do đó TH rất gắn bó với quá trình tự giáo dục để có được những nét tính cách trên
Điều kiện TH của HS THCS: Phải có động cơ, mục đích học tập đúng đắn, và quyết
tâm; phải có lòng tin vào khả năng của mình; phải được trang bị kiến thức chuẩn môn học; Phải được hướng dẫn cách học, kĩ năng TH; GV phải quan tâm đến phương pháp dạy để
HS có thể TH Đảm bảo các điều kiện về trang thiết bị
1.1.4 Các hình thức và cấp độ tự học
Các hình thức tự học
Trang 8Theo các tác giả Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Kỳ… thì có 3 hình thức TH, đó là
Hình thức 1: Học giáp mặt với thầy (GV); Hình thức 2: TH có hướng dẫn, có hỗ trợ Hình
thức 3: TH không có thầy hướng dẫn
Dựa trên tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm về đặc điểm của lứa tuổi HS THCS luận án chỉ đề cập chủ yếu đến hình thức TH 1 và hình thức TH2 nói trên
- Bước đầu làm quen với việc tự tích luỹ kiến thức có sẵn trong SGK theo nhiệm vụ của GV giao cho, biết tự kiểm tra, tự đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ học tập của mình
và tự tìm ra cái mới cho chính bản thân trong quá trình học
Chúng tôi bước đầu đề xuất các mức độ TH môn Toán đối với HS THCS trên cơ sở các yêu cầu:
* Mức 1: Đầu tiên HS học trên lớp với GV (GV cung cấp mẫu trong quá trình truyền đạt kiến thức), tiếp theo được GV hướng dẫn cách TH (trực tiếp trên lớp hoặc có tài liệu hướng dẫn như: các phiếu TH…), cuối cùng tiến hành TH ở nhà Việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập do GV là chính
* Mức 2: Kế đến HS học trên lớp với GV, được giao nhiệm vụ học ở nhà (không được hướng dẫn cách học, cách TH cũng như tài liệu hướng dẫn), sau đó tiến hành TH, vận dụng được kiến thức Việc kiểm tra, đánh giá kiến thức được HS tự kiểm tra, đánh giá theo hướng dẫn của GV
Chúng tôi cho rằng mức độ 2 là mức cần phấn đấu đạt được trong dạy học môn
Toán ở trường THCS (diện đại trà)
Một điều cần lưu ý, kiến thức Toán ở trường phổ thông được xây dựng kế tiếp nhau, nội dung sau dựa trên nội dung trước Muốn hiểu được nội dung sau người học cần nắm vững được nội dung trước làm nền, làm cơ sở cho việc tiếp thu, vận dụng, suy luận ở giai đoạn sau
Nhưng trong cách dạy học hiện nay ở trường phổ thông nước ta, do nhiều nguyên nhân, như khung cảnh và thời lượng hạn chế của tiết học, nên trên lớp GV thường chỉ có thể giúp HS có được hiểu biết ban đầu về lĩnh vực được đề cập, HS mới tiếp cận mà chưa
có nhiều điều kiện để củng cố luyện tập, khắc sâu kiến thức Từ đó, về cơ bản sau 1 tiết học (45phút), thông thường HS mới dừng ở mức biết, trong một số trường hợp được luyện tập củng cố thông qua VD Nhưng đến bài học sau, hay buổi sau thì để tiếp thu được bài mới, yêu cầu HS phải nắm được kiến thức ở mức vận dụng Từ đó, có sự chênh lệch về
Trang 9mức độ nhận thức giữa hai thời điểm “chấm dứt lần trước và bắt đầu lần sau” HS chỉ có thể vượt qua được sự chênh lệch đó nếu biết TH Qua TH và nhờ TH mà HS có thể chuyển kiến thức, KN, hiểu biết của mình từ mức thấp đến mức cao Như thế, TH có nguồn gốc từ dạy học trên lớp, nhưng hiệu quả về cơ bản lại tập trung ở giai đoạn không giáp mặt GV
Do đó, về bản chất việc học của HS nói chung, của HS trường THCS nói riêng là quá trình các em tự lực, độc lập,…nhằm tự nâng mức độ nhận thức Do đó, trong dạy học
GV cần lưu ý đặc điểm này để hướng dẫn HS tự học Ta có thể hình dung từ kiến thức mới học, ở mức thấp, đến yêu cầu của bài học hôm sau, ở mức cao hơn, giống như việc đi từ tầng thấp lên tầng trên của một căn nhà cao tầng Nếu không có sự phân bậc một cách hợp
lí thì khó có thể đi, tự đi từ tầng thấp đến tầng cao
Vì vậy, để giúp HS tự học được tốt GV cần hình dung trước, xác định đúng yêu cầu
về mức độ, kiến thức, KN thuộc nội dung dạy học của từng buổi, đặc biệt là của buổi trước
và buổi sau, để thiết kế hệ thống câu hỏi, bài tập cho HS tự luyện, mà qua việc hoàn thành
nó HS có thể đáp ứng được yêu cầu đặt ra
Chẳng hạn: Theo mức độ và yêu cầu kiến thức đặt ra sau khi giảng trên lớp (Chương trình THCS các môn Toán Tin học, Ban hành theo quyết định số 03/2002/QĐ-
BGD&ĐT).Về số học lớp 6, chương trình THCS yêu cầu HS cần:
- Trình bày được các phép cộng, trừ, nhân các số nguyên
- Biết tìm ƯCLN và BCNN của 2 số và nói chung nhiều số nhưng không quá 3 số và các số không vượt quá 1000
- Thực hiện được các phép tính về phân số
Do đó, đối với chương trình lớp 6, sau khi dạy xong bài “Bội chung nhỏ nhất”
(chương I) yêu cầu biết tìm BCNN của hai hoặc ba số Tương tự, các bài cộng trừ hai số nguyên (chương II) mức độ yêu cầu khi rời lớp cần biết các qui tắc để áp dụng cho đúng Nhưng khi sang chương III, học bài “Qui đồng mẫu của nhiều phân số” hoặc bài “Cộng phân số” Rõ ràng để tiếp thu tốt, HS phải vận dụng thành thạo kiến thức: Cộng trừ số nguyên; cách tìm BCNN của nhiều số
Từ đây thấy rằng, nếu không TH để nâng mức độ nhận thức của bản thân thì HS khó
có thể đáp ứng được kiến thức toán một cách trọn vẹn và có chiều sâu
Ví dụ: Trong bài “Phép cộng phân số” (SGK Toán 6, tập 2) Để thực hiện được [?3] cộng hai phân số: 11 9
− HS cần đạt được hai yêu cầu (mức độ vận dụng thành thạo) về cộng, trừ hai số nguyên và tìm BCNN của 2 số Có được các yêu cầu trên chỉ có thể thông qua luyện tập trong lớp và dành nhiều thời gian thực hành ở nhà:
Trang 10Những thành phần bên trong của thái độ TH gồm: Nhu cầu TH; Động cơ TH;
Hứng thú TH; Ý chí khắc phục khó khăn trong TH; Tính tự giác TH
Những thành phần bên ngoài của thái độ TH gồm: Đảm bảo chuyên cần; Thực
hiện đầy đủ các bài tập trong SGK, SBT, hoàn thành nhiệm vụ học tập; Tích cực tham gia
ý kiến trong giờ học; Tranh thủ thảo luận với các bạn về nội dung bài học; Nghiêm túc trong làm bài kiểm tra và thi
1.2 Kĩ năng tự học toán của HS THCS
1.2.1 Kĩ năng
Có nhiều quan niệm về KN, nhưng có thể thấy có 2 cách tiếp cận là: Hướng thứ nhất, xem KN về mặt khả năng thực hiện của con người; Hướng thứ hai, xem KN về mặt
kĩ thuật thao tác của hành động
Trong luận án này, chúng tôi kết hợp cả hai hướng trên, xem xét KN cả mặt kĩ thuật
và cả về mặt khả năng thực hiện, tức là phương thức thực hiện có kết quả các hành động.Ở trường phổ thông, KN vừa là mục đích dạy học vừa là kĩ thuật, thao tác Để HS có KN,
GV cần hướng dẫn qua các thao tác hành động từ đơn giản đến phức tạp Một khi HS có
KN thì cũng tức là mục tiêu KN trong mục tiêu bài học đã đạt được
1.2.2 Kĩ năng tự học
Qua nghiên cứu KN chúng tôi cho rằng:
- KN học tập được hiểu là khả năng thực hiện có kết quả các hành động học tập trên
cơ sở vận dụng những tri thức, kĩ xảo đã có để giải quyết những nhiệm vụ học tập mà quá trình dạy học đề ra trong những điều kiện học tập nhất định
- KN tự học là một nhánh của KN học tập KN tự học đặc trưng bởi tính “tự”, tức là tính chủ động, tính tích cực và độc lập của mỗi cá nhân VD: KN tự xây dựng kế hoạch học tập, KN tự kiểm tra đánh giá kết quả học tập, KN nghe hiểu, KN đọc hiểu, KN đặt câu hỏi…
1.2.3 Hình thành kĩ năng tự học
Qua nghiên cứu, chúng tôi xin đưa ra qui trình hình thành một KN:
- Nhận thức đầy đủ về mục đích, cách thức, điều kiện hành động
- GV trình bày mẫu, HS tập dượt hành động theo mẫu đã tạo thông qua các bài tập (nhiệm vụ) tương tự được nâng dần mức độ
- Lặp lại hành động nhiều lần với một thời lượng cần thiết và theo các tình huống
5 lần thực hành mức độ thành thục khoảng 52,26%
10 lần thực hành mức độ thành thục khoảng 65,439%
Trang 1115 lần thực hành mức độ thành thục khoảng 72,670%
20 lần thực hành mức độ thành thục khoảng 77,521%
24 lần thực hành mức độ thành thục khoảng 80%
Trong thực hành HS cần phải thay đổi và định hình những gì mình đã học được
1.2.5 Đặc điểm của lứa tuổi HS THCS
Dựa theo các tài liệu về tâm lí học lứa tuổi, chúng tôi thấy rằng lứa tuổi HS THCS
có một số đặc điểm sau:
- HS THCS bước đầu có động cơ học tập rất phong phú, đa dạng thấy được tầm quan trọng và sự cần thiết của học tập; xuất hiện ý thức độc lập trong việc học, và xem việc học như là hoạt động hướng vào thoả mãn nhu cầu nhận thức của bản thân
- HS THCS đã xuất hiện lòng tự trọng có mong muốn tự khẳng định mình và phương pháp nêu gương có cơ sở để có thể vận dụng tốt
- Trong hoạt động giao tiếp những quan hệ với các bạn cùng lớp phức tạp, đa dạng
là một nhu cầu của HS Chúng muốn hoạt động chung với nhau, có nguyện vọng được trao đổi thông tin và có những bạn bè thân thiết Do đó, PPDH hợp tác theo nhóm nhỏ hoàn toàn hợp lí đối với lứa tuổi này
- Lứa tuổi này có thể xây dựng được các KN lập và thực hiện kế hoạch học tập
- Ngoài ra trong tư duy, họ đã đạt cấp độ 2, 3, tức là: Cấp độ 2: Rút ra tính chất bằng con đường thực nghiệm; Cấp độ 3: Sắp xếp lôgíc cục bộ
1.2.6 Kĩ năng tự học Toán của HS THCS
Hành động TH Toán
Dựa theo cấu trúc hoạt động của A N Lêônchiép, để có hành động TH Toán thì đầu tiên HS phải hiểu rõ mục đích của hành động TH Toán, tức là chiếm lĩnh một loại kiến thức, KN nào đó của môn Toán Sau đó, nhờ huy động các kiến thức, kinh nghiệm, KN tự học (phương tiện) để đạt được mục đích TH Toán Tiếp theo, là xây dựng được cách thức thực hiện hành động TH, trình tự các thao tác TH chiếm lĩnh nội dung đó (mục đích bộ phận) và nó trở thành phương tiện cho sự thực hiện mục đích bộ phận tiếp theo đó
Có thể nói, cách thức thực hiện hành động TH Toán bao gồm một hệ thống KN tự học Toán tương ứng (mỗi hệ thống cho từng loại nội dung)
Chẳng hạn:
- Hệ thống các KN tự chiếm lĩnh khái niệm Toán gồm: KN tự tiếp cận khái niệm, KN
tự hình thành khái niệm, KN tự củng cố khái niệm, KN vận dụng khái niệm để giải bài tập
KN tự học Toán
Qua nghiên cứu, chúng tôi quan niệm rằng:
KN tự học Toán là khả năng thực hiện có kết quả hành động TH môn Toán, theo mục đích là chiếm lĩnh một loại nội dung kiến thức, KN môn Toán Bằng cách lựa chọn các KN tự học phù hợp đối với loại nội dung toán cụ thể nào đó
Các nhóm KN tự học
Theo kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học có:
Trang 12• Nhóm KN tự định hướng mục đích và động cơ học tập
• Nhóm KN tổ chức các hoạt động học tập
• Nhóm KN tự học nội dung học vấn
• Nhóm KN giúp HS thực hiện TH
• Nhóm KN cơ bản cho việc tự học suốt đời
Các nhóm KN trên là điểm tựa để chúng tôi xác định các KN tự học cơ bản với HS THCS
KN tự học Toán của HS THCS
TH nhìn chung là lĩnh vực rộng, do đó KN để việc TH được tốt khá phong phú Trong luận án này, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu vấn đề hình thành và phát triển một
số KN tự học thường gặp trong quá trình học tập môn Toán cấp THCS sau:
- KN nghe hiểu - nghe ghi
- KN đọc hiểu
- KN đặt câu hỏi
- KN thảo luận nhóm
- KN hệ thống hoá kiến thức
- KN “Xào bài” – Truy bài
- KN tự kiểm tra, đánh giá của HS
- KN tự chiếm lĩnh kiến thức trong các tình huống dạy học điển hình môn Toán (khái niệm, định lí, vận dụng giải bài tập)
- KN tự tổ chức việc học
1.2.7 Các yếu tố ảnh hưởng tới việc hình thành và phát triển KN tự học của HS THCS
Những yếu tố khách quan:
Nhóm yếu tố thuộc về yêu cầu xã hội, người thân và gia đình ;
Nhóm yếu tố thuộc về giáo viên và tập thể lớp học ;
Nhóm yếu tố thuộc về bản thân môn học, điều kiện, phương tiện tự học ;
Nhóm yếu tố về vốn tri thức môn học, tri thức về phương pháp, đặc biệt là phương pháp học tập của mỗi cá nhân HS
Những yếu tố chủ quan:
Mỗi cá nhân người học có một vốn tri thức, một năng lực tư duy riêng, chỉ có TH mới học được tất cả những điều cần học, vì chỉ có bản thân người học mới biết rõ mình còn thiếu gì, cần phải học gì và học như thế nào để đạt kết quả cao Những yếu tố chủ quan của TH ở HS gồm những yếu tố về tâm lý và thể chất của các em
1 3 Cơ sở thực tiễn
Khảo sát thực trạng về TH Toán của HS, về cách dạy TH Toán của GV tại một số trường THCS Với mục đích tìm hiểu thực trạng vấn đề TH Toán của học sinh THCS và
Trang 13việc dạy HS THCS tự học môn Toán, qua một số trường ở địa bàn các tỉnh, thành: Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Long An, Hậu Giang và Cần Thơ bằng phiếu điều tra thăm dò Bằng số liệu thống kê cho thấy, các hoạt động có liên quan đến TH của HS còn mờ nhạt, việc dạy học chú trọng đến hướng dẫn TH cho HS còn nhiều hạn chế; có những quan niệm, nhận thức chưa thật đúng về TH; việc trang bị những kiến thức, KN cần thiết cho việc TH của HS chưa được GV quan tâm đúng mức
Vì thế, việc tìm ra các giải pháp để hình thành và phát triển KN tự học cho HS THCS là vô cùng cần thiết
Kết luận chương 1
Qua phần trình bày trên, chúng tôi xin nêu một số kết luận sau:
- Có thể khẳng định rằng, học cốt lõi là TH, HS chính là chủ thể tự thể hiện và tự làm phong phú kiến thức của chính bản thân mình
- Theo quan điểm hoạt động trong dạy học, khi HS chính mình tham gia vào các hành động thực tiễn (tự lực chiếm lĩnh tri thức) và tự mình phát hiện vấn đề thì tỉ lệ lưu trữ thông tin sẽ cao hơn và xu hướng nhớ kiến thức lâu hơn
- Đặc trưng cơ bản của hoạt động TH đã cho thấy hoạt động học diễn ra trong môi trường xã hội, lớp học, không thể gọi là hoạt động cá nhân thuần tuý mà là hoạt động hợp tác Từ đó, khẳng định vai trò vô cùng to lớn của thầy: là người hướng dẫn HS tìm ra kiến thức bằng hành động của chính mình; là người đảm nhận trách nhiệm chuẩn bị cho HS thật nhiều tình huống học phong phú để HS tự lực xử lý; là người kích thích, hướng dẫn, giúp đỡ HS tìm ra chân lý; là người khởi xướng, tổ chức, trọng tài các mối liên hệ ngang trò – trò
- KN tự học là khả năng đảm bảo cho con người thực hiện hành động TH có hiệu quả
- Qua điều tra thực trạng cho thấy, đến nay việc dạy học Toán ở trường THCS theo hướng giúp HS tự học còn nhiều bất cập, có nhiều nguyên nhân, trong đó có việc GV chưa xác định được các KN tự học cơ bản cần trang bị cho HS trong và sau giờ lên lớp, chưa có các biện pháp thích hợp để đổi mới PPDH theo hướng giúp HS tự học
Chương II: Một số biện pháp hình thành và phát triển kĩ năng tự học Toán cho học sinh THCS
2.1 Các nguyên tắc đề xuất các biện pháp
Nhằm thực hiện có hiệu quả các biện pháp sư phạm, chúng tôi thấy việc đề xuất cần
tuân thủ các nguyên tắc:
Nguyên tắc 1: Nên xem xét việc TH của HS trong mối quan hệ tổng thể
Nguyên tắc 2: Cần tuân thủ con đường nhận thức phù hợp với đối tượng HS THCS
Nguyên tắc 3: Phải căn cứ vào đặc điểm và chương trình môn Toán THCS
Nguyên tắc 4: Phải phù hợp với định hướng đổi mới PPDH
Nguyên tắc 5: Phải đảm bảo tính khả thi