Nghiên cứu chế tạo vật liệu polyme nano composite trên cơ sở một số vinyl monome và nano oxit sắt từ để hấp thu (sorption) dầu, dùng trong xử lý môi trường
Trang 1Giới thiệu luận án
1 Tính cấp thiết của luận án
Sản xuất và chế biến dầu mỏ là một trong những ngành công nghiệp lớn nhất trên thế giới, với sản lượng tiêu thụ lên tới trên 80 triệu thùng dầu mỗi ngày Những rò rỉ của quá trình vận chuyển và chế biến, những sự cố do các vụ đắm tàu chở dầu đã tạo ra những ô nhiễm khủng khiếp với môi trường, những ô nhiễm đó đã tác động rất lớn vào hệ sinh thái đặc biệt là các
hệ sinh thái biển Sự ô nhiễm này có thể gây ra những tác động lâu dài và dẫn đến sự diệt vong của một số loài sinh vật biển
Có rất nhiều phương pháp để xử lý các ô nhiễm sự cố tràn dầu như: phương pháp cơ học, phương pháp hoá học, phương pháp vật lý, phương pháp sinh học, phương pháp hoá lý… Vật liệu hấp thu dầu là các polyme là một lựa chọn ưu tiên, vật liệu này có ưu điểm: hấp thu dầu cao, tỷ trọng nhỏ hơn
so với nước biển nên có thể nổi trên mặt nước dễ thu gom sau khi hấp thụ
Với mong muốn góp phần giải quyết những bức xúc do thực tế đặt ra, làm giảm thiểu ô nhiễm môi trường Đề tài “Nghiờn cứu chế tạo vật liệu polyme nano composite trờn cơ sở một số vinyl monome và nano oxyt sắt từ để hấp thu (sorption) dầu, dựng trong xử lý mụi trường” nhằm nghiên cứu và chế tạo ra vật liệu hấp thụ dầu có nhiều tính chất ưu việt hơn các vật liệu truyền thống
2 Mục đích của luận án
2.1 Nghiên cứu quy trình tổng hợp vật liệu nano Fe3O4, tính chất từ và khả năng hấp thu và giải hấp của vật liệu này
2.2 Nghiên cứu quy trình tổng hợp vật liệu copolyme hấp thụ dầu từ các
vinylmonome, khảo sát các điều kiện ảnh hưởng tới quá trình tổng hợp vật liệu và khả năng hấp thu dầu của vật liệu
2.3 Hoạt hóa bề mặt hạt nano Fe3O4, phân tán vật liệu nano Fe3O4 vào trong vật liệu copolyme, nghiên cứu các ảnh hưởng của tới khả năng hấp thụ dầu của vật liệu Khảo sát khả năng thu hồi vật liệu sau khi hấp thu dầu bằng từ trường
2.4 Nghiên cứu khả năng tái sử dụng vật liệu hấp thụ dầu bằng quá trình hấp
thụ và giải hấp thu dầu, khảo sát sự thay đổi các đặc trưng lý hóa của vật liệu sau quá trình hấp thu và giải hấp thu dầu
3 Những đóng góp mới của luận án
Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu tổng hợp vật liệu hấp thu dầu trên cơ sở các vinyl monome ở Việt Nam
Đã tổng hợp được hạt nano Fe3O4 kích cỡ dưới 20nm, từ độ bão hòa lớn (90 emu/g)
Trang 2Đã tổng hợp được vật liệu hấp thu dầu trên cơ sở các hệ vinyl monome
là laurylmetacrylat và styren với hệ butylacrylat và styren có gắn hạt nano
Fe3O4, vật liệu có khả năng hấp thu lượng dầu lớn, có khả năng thu hồi bằng
từ trường sau khi hấp thu dầu
Đã nghiên cứu khả năng giải hấp thu dầu của vật liệu sau khi hấp thu dầu, khả năng tái sử dụng vật liệu cũng đã được nghiên cứu
4 Cấu trúc của luận án
Luận án gồm 153 trang được chia thành các phần:
• 146 tài liệu thao khảo, 22 bảng, 53 hình vẽ
Nội dung chính của luận án
Chương 1: Tổng quan 1.1 Sự cố tràn dầu và các phương pháp xử lý dầu tràn
1.2 Lý thuyết của phản ứng đồng trùng hợp
1.3 Vật liệu nano ôxit sắt từ chế tạo và ứng dụng
1.4 Vật liệu nanocomposite
Chương 2: Thực nghiệm 2.1 Hoá chất và dụng cụ
- Đồng trùng hợp BA-St, LMA-St trong dung dịch
- Đồng trùng hợp BA-St, LMA-St có mặt chất tạo lưới DVB bằng phương pháp đồng trùng hợp huyền phù
2.4 Các phương pháp phân tích
Sử dụng các phương pháp phân tích để xác định sự hình thành vật liệu: Xác định độ chuyển hoá bằng phương pháp chuẩn độ nối đôi, phân tích nguyên tố, phân tích hồng ngoại, phân tích nhiệt (TGA), kính hiển vi điện tử quét (SEM), phổ phân tán năng lượng tia X (EDX), xác định hàm lượng phần
Trang 3gel, xác định mức độ hấp thu dầu, xác định kích thước trung bình của hạt sản
phẩm, xác định tỷ trọng của vật liệu
2.5 Chế tạo vật liệu nano composite hấp thu dầu
Vật liệu được nghiên cứu chế tạo bằng cách phân tán hạt nano Fe3O4
đã được hoạt hóa vào trong monome, tiến hành đồng trùng hợp huyền phù
các monome đó thu được vật liệu để xác định các ảnh hưởng
Chương 3 Kết quả và thảo luận 3.1 Tổng hợp hạt nano oxit sắt từ
Hạt nano oxit sắt từ được nghiên cứu tổng hợp theo ba phương pháp:
Hạt hình thành Không Hạt đen Hạt đen Hạt nâu Hạt nâu
Hạt nano Fe3O4 không được hình thành ở nhiệt độ 80oC, khi tăng nhiệt
độ phản ứng nhận thấy sự thay đổi màu sắc của hệ hạt, hạt chuyển từ dạng
màu đen sang dạng hạt màu nâu, điều này theo chúng tôi đó là ở nhiệt độ
cao Với các mẫu hạt chế tạo ở các nhiệt độ 90oC, 120oC hạt có dạng màu
đen cho nên có thể sơ bộ kết luận hạt có thành phần của mahetit
Cấu trúc của vật liệu nano oxit sắt từ
Các mẫu chế tạo bằng phương pháp thuỷ phân cưỡng chế ở nhiệt độ
trên 120oC đều cho dạng hạt màu nâu của Fe2O3, giản đồ nhiễu xạ tia X cũng
cho thấy chỉ có pic của hạt Fe2O3, đỉnh pic nhọn chứng tỏ cấu trúc tinh thể
của hạt tương đối hoàn chỉnh, đơn pha (Hình 3.1)
Hình 3.1 Giản đồ nhiễu xạ tia X
của mẫu hạt chế tạo bằng phương
pháp thuỷ phân cưỡng chế ở 120 o C
Hình 3.3 Giản đồ nhiễu xạ tia X của mẫu hạt chế tạo bằng phương pháp thuỷ phân cưỡng chế ở 90 o C, sản phẩm sấy chân không ở 50 oCMẫu chế tạo ở nhiệt độ 90oC cho thấy, hạt nano Fe3O4 hình thành, tuy
nhiên trong thành phần của hạt có lẫn Fe2O3,
Trang 4So sánh các mẫu được chế tạo bằng phương pháp thuỷ phân cưỡng chế (Hình 3.4) ta nhận thấy khi tăng nhiệt độ thuỷ phân kích thước trung bình của hạt giảm Nhiệt độ cao cũng làm cho các hạt được hình thành thường ở dạng hạt Fe2O3 chỉ khi nhiệt độ thấp hơn 120oC mới hình thành dạng hạt có
Hình 3.6 Đường cong từ hoá của hạt nano
Với từ độ bão hoà tăng lên rất nhiều tới hơn 80 emu/g (Hình 3.6) nếu
so sánh với từ độ bão hoà chuẩn của vật liệu Fe3O4 là khoảng 95 emu/g đã chứng tỏ vật liệu có thành phần chủ yếu là hạt nano Fe3O4
ảnh hiển vi điện tử của hạt nano Fe 3 O 4 chế tạo bằng phương pháp thủy phân cưỡng chế:
Tiến hành phân tán mẫu trong hệ dung môi axit oleic/n-hexan, chụp
ảnh hiển vi điện tử truyền qua với mẫu chế tạo bằng phương pháp thủy phân cưỡng chế ở nhiệt độ 90oC cho ta thấy kích thước hạt trung bình của mẫu hạt
Fe3O4 chế tạo bằng phương pháp thuỷ phân cưỡng chế ở nhiệt độ 90oC (Hình 3.7) khoảng dưới 20nm khá phù hợp với kết quả tính kích cỡ hạt trung bình theo các phương pháp khác
Trang 5Giản đồ nhiễu xạ tia X cũng cho thấy các hạt này chủ yếu là Fe3O4 có lẫn hạt Fe2O3 (Hình 3.4), kích thước hạt trung bình dựa trên độ bán mở rộng vạch nhiễu xạ khoảng trên 24 nm với tác nhân NaOH, với tác nhân là dung dịch NH3 kích thước hạt trung bình vào khoảng 15,9nm
Hình 3.8 Giản đồ nhiễu xạ tia X của mẫu
hạt chế tạo bằng phương pháp đồng kết
tủa với tác nhân dung dịch NH 3
Hình 3.9 Giản đồ nhiễu xạ tia X của mẫu hạt chế tạo bằng phương pháp đồng kết tủa với tác nhân và nhiệt độ sấy mẫu khác nhau (DUM7: tác nhân NH 3 , DUM5, DUM5’ tác nhân NaOH ở 50 o C và 100 o C)
Đo đường cong từ hóa của mẫu hạt chế tạo bằng phương pháp đồng kết tủa với tác nhân là dung dịch NH3, sấy mẫu thu được ở 50oC Do sự khác nhau không lớn của các mẫu vật liệu chế tạo bằng phương pháp đồng kết tủa nên chúng tôi chỉ tiến hành đo một mẫu đường cong từ hóa của vật liệu
Đường cong từ hóa của vật liệu nano Fe3O4 chế tạo bằng phương pháp đồng kết tủa cũng cho thấy dạng đường cong từ hóa của vật liệu siêu thuận từ, từ
độ bão hoà của vật liệu chế tạo bằng phương pháp này khoảng 75 emu/g
ảnh hiển vi điện tử của hạt nano Fe 3 O 4 chế tạo bằng phương pháp
đồng kết tủa với tác nhân NH 3 , sấy ở nhiệt độ 50 o Cvà 100 o C:
Lựa chọn 2 mẫu vật liệu chế tạo bằng phương pháp đồng kết tủa ở nhiệt độ 70oC, tác nhân là dung dịch NH3 (các mẫu cho kết quả tốt nhất sau khi đo giản đồ nhiễu xạ tia X và đường cong từ hóa vật liệu) Phân tán các mẫu trong hệ dung môi axit oleic/n-hexan, tiến hành chụp ảnh hiển vi điện tử truyền qua của vật liệu Kết quả thu được như sau:
Hình 3.11: ảnh hiển vi điện tử truyền qua
Hình 3.12: ảnh hiển vi điện tử truyền qua
Trang 6ảnh TEM của các mẫu đồng kết tủa cho thấy hạt Fe3O4 tạo được là ở dạng hạt nano (hình 3.11, 3.12), có kích cỡ hạt trung bình khoảng trên 20nm Với mẫu đồng kết tủa sấy ở nhiệt độ thấp hơn (50oC) có xuất hiện các hạt hình que, khi sấy ở nhiệt độ cao hơn (100oC) các hạt hình que gần như biến mất hết Sở dĩ có sự hình thành dạng que trong cấu trúc của vật liệu là do phản ứng được thực hiện ở nhiệt độ thấp (30oC) Nhiệt độ <60oC có sự hình thành α-FeOOH dạng hình gậy có màu vàng hoặc γ- FeOOH dạng hẹp dài màu vàng cam, to >60oC kết tủa chủ yếu là Fe3O4 dạng hạt và màu đen
Tiến hành đo đường cong từ hóa của vật liệu ở nhiệt độ phòng để xác
định từ tính của hạt tạo được bằng phương pháp vi nhũ, kết quả thu được ở hình 3.14 Đường cong từ hóa của vật liệu Fe3O4 chế tạo bằng phương pháp
vi nhũ cho thấy vật liệu ở dạng hạt nhỏ do tính siêu thuận từ của hệ hạt, từ độ bão hòa của hạt vào khoảng 65emu/g là tương đối lớn, tuy nhiên theo tính toán hệ lẫn nhiều hạt Fe2O3 Dựa vào từ độ bão hòa của hạt, có thể tính toán sơ bộ kích thước trung bình của hệ hạt là vào khoảng 28,7nm
Phân tán hệ hạt Fe3O4 chế tạo bằng phương pháp vi nhũ trong hệ dung môi axit oleic/n-hexan, tiến hành chụp ảnh hiển vi điện tử truyền qua của vật liệu Kết quả thu được như sau:
-60 -40 -20 0 20 40 60
Trang 7ảnh hiển vi điện tử truyền qua của vật liệu cho thấy (hình 3.15), hệ hạt tạo được bằng phương pháp vi nhũ có kích thước nano, tồn tại rất nhiều hạt
có dạng hình que, kích thước trung bình của hạt khoảng 20 nm
3.2 Đồng trùng hợp BA-St và LMA-St trong dung dịch
3.2.1 ảnh hưởng của nhiệt độ và thời gian phản ứng
Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ và thời gian đến quá trình đồng trùng hợp BA-St và LMA-St, phản ứng được tiến hành ở điều kiện nhiệt độ
700C, 800C, 90oC và 1000C Khi nhiệt độ tăng lên từ dưới 90°C thì tốc độ chuyển hoá tăng nhanh, khoảng 4 giờ thì monome chuyển hoá gần như hoàn toàn Tuy nhiên khi nhiệt độ lớn hơn 90°C thì tốc độ chuyển hoá ban đầu tăng đột ngột, quá trình kiểm soát động học khó khăn hơn Chọn nhiệt độ
90oC và thời gian phản ứng 240 phút
3.2.2 ảnh hưởng của nồng độ chất khơi mào và thời gian phản ứng
Nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ chất khơi mào đến quá trình đồng trùng hợp BA-St và LMA-St, phản ứng được tiến hành ở điều kiện: nhiệt độ
900C; thời gian phản ứng 240 phút; tỷ lệ khối lượng BA:St hoặc LMA:St là 60:40; nồng độ monome trong toluen 0,5M, nồng độ chất khơi mào BPO: 0,5; 1,0; 1,3; 1,5; 1,7 và 2,0% (theo khối lượng monome) Kết quả được thể hiện ở hình 3.19 và hình 3.20
Hình 3.19 ảnh hưởng của nồng độ chất
khơi mào và thời gian phản ứng đến mức
Hình 3.20 ảnh hưởng của nồng độ chất khơi mào và thời gian phản ứng đến mức
Hình 3.15: ảnh hiển vi điện tử truyền qua (TEM)
của hệ hạt nano Fe 3 O 4 chế tạo bằng phương pháp vi nhũ
Trang 8độ chuyển hoá của BA và St độ chuyển hoá của LMA và St
Trên hình 3.19 và hình 3.20 biểu diễn mối quan hệ ảnh hưởng của
nồng độ chất khơi mào và thời gian phản ứng đến mức độ chuyển hoá Khi
hàm lượng chất khơi mào tăng dẫn đến số mạch đang phát triển tăng, tốc độ
chuyển mạch tăng dẫn đến độ chuyển hoá tăng, bên cạnh đó kéo theo chiều
dài mạch giảm, khối lượng phân tử của copolyme giảm Do vậy khi có mặt
chất tạo lưới có thể ảnh hưởng nhiều đến khoảng cách giữa hai liên kết
ngang, nên cần phải xem xét thêm khi nghiên cứu phản ứng đồng trùng hợp
có mặt chất tạo lưới để chế tạo vật liệu hấp thu dầu Nồng độ chất khơi mào
chiếm 1,5% khối lượng so với monome cho mức độ chuyển hoá cao khi thời
gian phản ứng 240 phút
Bên cạnh đó cũng thấy khi nồng độ chất khơi mào không đủ thì thời
gian phản ứng cần kéo dài thêm, như vậy sẽ mất nhiều thời gian
Chọn nồng độ chất khởi đầu là 1,5% (theo khối lượng monome) và
thời gian 240 phút là điều kiện cho các nghiên cứu tiếp theo
νC-H
no (cm-1)
νCH3(cm-1)
νC=O este (cm-1)
νC-Oeste (cm-1)
νC=Cvinyl (cm-1)
Bảng 3.3 và các hình 3.21, 3.22 cho thấy, các pic đặc trưng của các
dao động biến dạng của các nhóm C=C của gốc vinyl, C-H, C=C trong vòng
benzen, C-H trong mạch C, nhóm C=O, C-O-C đặc trưng của nhóm este có
xuất hiện trong phổ đồ của mỗi monome đặc trưng
Các pic đặc trưng cho dao động hóa trị của nhóm vinyl C=C đã không
xuất hiện trong phổ đồ của copolyme điều đó chứng tỏ quá trình copolyme
hóa đã xảy ra Trong phổ đồ của các copolyme các pic đặc trưng C-H, C=C
trong vòng benzen, C-H trong mạch C, nhóm C=O, C-O-C đặc trưng của
nhóm este vẫn xuất hiện điều đó chứng tỏ trong vật liệu copolyme có sự
tham gia của các monome liên kết với nhau sau quá trình đồng trùng hợp
3.2.4 Xác định hằng số đồng trùng hợp r 1 và r 2
Để xác định các hằng số đồng trùng hợp r1 và r2 trong các phản ứng
đồng trùng hợp BA-St và LMA-St, phản ứng được tiến hành ở nhiệt độ 900C;
tỷ lệ khối lượng BA:St hoặc LMA:St là 70/30; 60/40; 50/50; 40/60 và 30/70;
nồng độ monome trong toluen 0,5M, nồng độ chất khơi mào BPO: 1,5%
(theo khối lượng monome); thời gian phản ứng 240 phút
Trang 9Bảng 3.3 Thành phần copolyme thu được từ quá trình đồng trùng
hợp LMA-St ở các tỷ lệ nạp liệu khác nhau
Bảng 3.4 Thành phần copolyme thu được từ quá trình đồng trùng
hợp BA-St ở các tỷ lệ nạp liệu khác nhau
Tỷ lệ KL
(St/BA )
O, % Kl (copolyme)
St/BA , phần mol (monome), F
St/BA , phần mol (copolyme), f 30/70
40/60
50/50
14,54 13,04 11,62
0,5274 0,8204 1,2206
0,882 1,125 1,414
2
=
f
f F
= Phương trình đường thẳng
St/LMA
30/70 40/60 50/50
0,949 1,701 2,865
0,140 0,584 1,270
0,315 0,598 1,071
- 0,070 0,091 0,360
r2 = 0,315.r1 + 0,070
r2 = 0,598.r1 - 0,091
r2 = 1,071.r1 - 0,360
Từ kết quả thu trên bảng 3.5, xác định được hằng số đồng trùng hợp của hai monome tham gia trong phản ứng đồng trùng hợp bằng phương pháp tương giao các đường thẳng vừa tìm được Kết quả thu được r1 ≅ 0,59 (St), r2
≅ 0,42 (LMA) và r1 = 0,57 (St), r2= 0,25 (BA)
• Xác định hằng số đồng trùng hợp bằng phương pháp Kelen - Tudos
Theo phương pháp Kelen – Tudos, các hằng số r1 và r2 được xác định theo hệ thức sau:
η = r1 ξ - αr2 (1 - ξ)Các hệ số η, ξ và α được tính và thể hiện trong bảng 3.6
Tỷ lệ KL
(St/LMA )
O, % Kl (copolyme)
St/LMA , phần mol (monomer), F
St/LMA , phần mol (copolyme), f 30/70
40/60
50/50
8,54 7,68 6,79
1,0469 1,6285 2,4428
1,155 1,559 2,083
Trang 10Bảng 3.6 Các hệ số tính theo phương pháp Kelen - Tudos
LMA/St
70/30 60/40 50/50
1,65
0,365 0,508 0,635
0,054 0,174 0,281 BA/St
70/30 60/40 50/50
0,58
0,352 0,508 0,649
- 0,078 0,077 0,218
Từ các hệ số được tính trong bảng 3.6 và giải bài toán mối quan hệ trong hệ thức Kelen – Tudos ta tính được đối với cặp LMA-St có r1 ≅ 0,586 (St); r2 ≅ 0,415 (LMA) và đối với cặp BA-St là r1 ≅ 0,57, (St); r2 ≅ 0,25 (BA)
So sánh kết quả tính giữa hai phương pháp tương giao đường thẳng và Kelen - Tudos, ta thấy các giá trị tương đối trùng lặp giá trị và phù hợp
Như vậy, đối với cặp monome St và LMA, ta có:
Với r1 = 0,59 < 1 và r2= 0,42 < 1, gốc M1• dề phản ứng với M2 còn gốc
M2• dễ phản ứng với M1, copolyme trước điểm uốn giàu M2 hơn, còn sau
điểm uốn nghèo M2 hơn hỗn hợp ban đầu
ở đây M1: C6H5-CH=CH2
M2 : CH2=C(CH3)C(O)O-CH2-(CH2)10-CH3
Đối với cặp monome St và LMA, ta có:
Với r1 = 0,57 và r2= 0,25 gốc M1• dễ phản ứng với M2 còn gốc M2• dễ phản ứng với M1, copolyme trước điểm uốn giàu M2 hơn, còn sau điểm uốn nghèo M2 hơn hỗn hợp ban đầu
ở đây M1: C6H5-CH=CH2
M2: CH2=CHC(O)O-CH2CH2CH2-CH3
Từ kết quả hằng số đồng trùng hợp xác định được có thể khẳng định sự sắp xếp luân phiên tương đối đều đặn trong đại phân tử copolyme thu được
3.2.5 Đồng trùng hợp BA-St và LMA-St có mặt chất tạo lưới DVB bằng phương pháp đồng trùng hợp huyền phù
ảnh hưởng của nhiệt độ và thời gian phản ứng
Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ và thời gian đến quá trình đồng trùng hợp BA-St và LMA-St, phản ứng được tiến hành ở điều kiện: nhiệt độ
700C, 800C và 900C; thời gian ở 60, 90, 120, 150, 180, 240 phút; nồng độ chất khởi mào BPO 1,5%; nồng độ chất tạo lưới DVB 0,27%, tốc độ khuấy
240 vòng/phút, tỷ lệ monome/H2O: 1/7, nồng độ chất ổn định huyền phù 0,33% Kết quả thu được thể hiện ở bảng 3.7 và bảng 3.8
Bảng 3.7 ả nh hưởng của nhiệt độ và thời gian phản ứng đến quá
trình đồng trùng hợp BA và St
Trang 11Nhiệt độ
(oC)
Thời gian (phút)
Tỷ lệ BA/St
Đặc điểm sản phẩm
Gel1 (%)
D2TB (μm)
W3O(g/g)
Tỷ lệ LMA/St
Đặc điểm sản phẩm
Trang 12độ và thời gian phản ứng đến quá trình đồng trùng hợp BA-St và LMA-St Kết quả cho thấy ở các nhiệt độ 70 và 80oC sản phẩm tạo thành ở dạng chảy lỏng và khối là chủ yếu, các dạng sản phẩm này không đáp ứng được yêu cầu của một sản phẩm là tạo thành các hạt riêng biệt ở nhiệt độ 90OC sản phẩn của phản ứng đã tạo hạt, sản phẩm đã có độ tạo lưới cao và hàm lượng phần gel thu được từ 87 đến 99,5% Mức độ hấp thu dầu của copolyme BA-St đạt cao nhất là 19,5 (g/g) và LMA-St đạt cao nhất là 24,5 (g/g) khi cùng nhiệt độ phản ứng là 90oC và thời gian phản ứng 240 phút
Chọn nhiệt độ 90oC và thời gian phản ứng 240 phút là các điều kiện phản ứng cho các nghiên cứu tiếp theo
ảnh hưởng của nồng độ chất khơi mào và thời gian phản ứng
Để nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ chất khơi mào đến quá trình
đồng trùng hợp BA-St và LMA-St, phản ứng được tiến hành ở các điều kiện: nhiệt độ 900C; thời gian phản ứng 240 phút; nồng độ chất tạo lưới DVB 0,27%, nồng độ chất khởi mào BPO: 0,5%; 1,0%; 1,3%; 1,5%; 1,7%, 2,0% BPO(theo khối lượng monome); thời gian ở 180 và 240 phút; tốc độ khuấy
240 vòng/phút, tỷ lệ monome/H2O: 1/7, nồng độ chất ổn định huyền phù 0,33% Kết quả thu được thể hiện ở bảng 3.9 và 3.10
Trên bảng 3.9 và bảng 3.10 thể hiện mối quan hệ giữa nồng độ chất khởi đầu và thời gian phản ứng tới khả năng tạo hạt, hàm lượng phần gel trong copolyme, kích thước trung bình của hạt sản phẩm và mức độ hấp thu dầu của sản phẩm
Bảng 3.9 ảnh hưởng của nồng độ chất khơi mào và thời gian phản
Trang 132,0 Tạo hạt 100 - 15,4
1,0 Tạo hạt 97,2 ∼80-110 13,6 1,3 Tạo hạt 98,8 ∼80-110 16,2 1,5 Tạo hạt 100 ∼80-110 19,5 1,7 Tạo hạt 100 ∼80-110 16,4
LMA-St
40:60
τ = 240 phút
2,0 Tạo hạt 100 ∼80-130 15,7 Chọn nồng độ chất khởi đầu là 1,5% (theo khối lượng monome) và thời gian 240 phút là điều kiện cho các nghiên cứu tiếp theo
ảnh hưởng của nồng độ chất tạo lưới
Để nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ chất tạo đến quá trình đồng trùng hợp styren và các alkyl acrylat, phản ứng được tiến hành ở điều kiện: nhiệt độ 900C; thời gian phản ứng 240 phút; nồng độ chất khơi mào 1,5% BPO; nồng độ chất tạo lưới DVB: 0,15%; 0,2%; 0,25%; 0,27%; 0,30% và 0,4% (theo khối lượng monome); tốc độ khuấy 240 vòng/phút, tỷ lệ monome/H2O: 1/7, nồng độ chất ổn định huyền phù 0,33% Kết quả thu
được thể hiện ở bảng 3.11
Trên bảng 3.11 thể hiện mối quan hệ giữa hàm lượng chất tạo lưới
được sử dụng, các ảnh hưởng của nó tới hàm lượng phần gel trong sản phẩm
và khả năng hấp thu dầu Kết quả cho thấy hàm lượng chất tạo lưới có ảnh hưởng rất lớn tới hàm lượng phần gel trong sản phẩm