VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI MAI VĂN BIÊN ĐỊNH TỘI DANH TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN TỪ THỰC TIỄN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤ[.]
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
MAI VĂN BIÊN
ĐỊNH TỘI DANH TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN
TỪ THỰC TIỄN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH
PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
HÀ NỘI, năm 2019
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
MAI VĂN BIÊN
ĐỊNH TỘI DANH TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN
TỪ THỰC TIỄN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VÀ PHÁP LUẬT CỦA ĐỊNH TỘI DANHTỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN 6
1.1 Cơ sở lý luận chung của định tội danh tội cướp giật tài sản 6
1.2 Cơ sở pháp lý của định tội danh tội cướp giật tài sản 14
Chương 2: THỰC TIỄN ĐỊNH TỘI DANH TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢNTẠI QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 32
2.1 Tổng quan khái quát tình hình xét xử tội cướp giật tài sản tại quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh (từ năm 2014 đến năm 2018) 32
2.2 Thực tiễn định tội danh tội cướp giật tài sản tại quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh 37
Chương 3: CÁC YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ĐỊNH TỘI DANHĐÚNG TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN 51
3.1 Các yêu cầu của định tội danh đúng tội cướp giật tài sản 51
3.2 Các giải pháp đảm bảo định tội danh đúng tội cướp giật tài sản 57
KẾT LUẬN 66
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 4: Cơ quan Cảnh sát điều tra : Cấu thành tội phạm
: Điều tra viên : Kiểm sát viên : Tòa án nhân dân : Tòa án nhân dân tối cao : Trách nhiệm hình sự : Thẩm phán
: Viện kiểm sát nhân dân : Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU Bảng 2.1 Số liệu phản ánh tình hình khởi tố, truy tố và xét xử tội cướp giật
tài sản trên địa bàn quận Bình Tân, Tp Hồ Chí Minh từ 2014 đến 2018 .33
Bảng 2.2 So sánh số vụ án, bị can bị khởi tố điều tra về tội cướp giật tài sản
trên địa bàn quận Bình Tân so với số vụ án, bị can bị khởi tố về tội cướp giật tài sản trên phạm vi cả Tp Hồ Chí Minh từ năm 2014 đến năm 2018 .34
Bảng 2.3 Số vụ án, bị cáo phạm tội cướp giật tài sản bị Tòa án trả hồ sơ yêu
cầu điều tra bổ sung tại quận Bình Tân, Tp Hồ Chí Minh từ năm 2014 đến năm 2018 .35
Bảng 2.4 Tình hình xét xử tội phạm xâm phạm sở hữu nói chung và tội cướp
giật tài sản nói riêng trên địa bàn quận Bình Tân từ năm 2014 đến năm 2018 38
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đấu tranh phòng, chống tội phạm luôn là vấn đề mà Đảng và Nhà nước tađặc biệt quan tâm để giữ gìn an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội Ngày nay,cùng với sự phát triển kinh tế thị trường, sự mở rộng quan hệ quốc tế thì các loại tộiphạm có tính chất nguy hiểm cao ảnh hưởng đến sự phát triển chung của xã hộiđang là vấn đề quan tâm hàng đầu Trong đó, nổi lên là tội phạm cướp giật tài sảnxảy ra khá phổ biến, xâm phạm nghiêm trọng đến quyền sở hữu về tài sản của côngdân Hiến pháp năm 2013 đã ghi nhận quyền sở hữu tài sản là quyền bất khả xâmphạm và là quyền cơ bản của công dân và được cụ thể hóa thông qua nhiều đạo luật
và văn bản quy phạm pháp luật hình sự, dân sự khác nhau Tội phạm xâm phạmquyền sở hữu nói chung, tội cướp giật tài sản nói riêng luôn là vấn nạn hàng đầu củaquốc gia, nó diễn ra ngày càng tăng với tính chất và thủ đoạn ngày càng tinh vi, lềulĩnh, mang tính nguy hiểm cao và trẻ hóa về độ tuổi gây thiệt hại lớn về tài sản, tínhmạng và sức khỏe của công dân
Qua tổng kết, báo cáo của Bộ Công an trong năm 2018 tội phạm cướp giật tàisản luôn chiếm số lượng lớn và phổ biến tại các địa phương, nhất là tại các thànhphố lớn có dân cư đông đúc, hệ thống giao thông và địa hình phức tạp như tạiThành phố Hồ Chí Minh, đây là điều kiện thuận lợi để các loại tội phạm hoạt động,
ẩn náo và phát triển theo chiều hướng xấu
Quận Bình Tân, Tp Hồ Chí Minh được thành lập ngày 05/11/2003 và phânchia thành 10 phường, vị trí của quận tiếp giáp nhiều quận, huyện như Quận 6, 8,
12, Tân Phú, Bình Chánh, Hóc Môn; quận có nhiều khu công nghiệp trọng điểm cóvốn đầu tư nước ngoài trên 12.000 doanh nghiệp hoạt động, sản xuất kinh doanh thuhút hơn 90.000 lao động từ các tỉnh, thành trong cả nước đến làm việc và sinh sống.Với tốc độ đô thị hóa và tốc độ phát triển kinh tế nhanh đã kéo theo sự gia tăng vềdân số trong những năm gần đây, đến nay có trên 720.000 người (dân số ngoàithành phố chiếm khoảng 64%) Điều này đặt ra nhiều thách thức trong công tác đảmbảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, đó là sự tha hóa về đạo đức, lối sống
Trang 7của một bộ phận thanh thiếu niên muốn hưởng thụ về vật chất nhưng lại lười laođộng dẫn đến việc phạm tội chiếm đoạt tài sản Cùng với sự phát triển kinh tế - xãhội, tình hình tội phạm nói chung và tội cướp giật tài sản nói riêng có chiều hướnggia tăng và diễn biến ngày càng phức tạp ảnh hưởng xấu đến sự ổn định về trật tự xãhội tại địa phương và gây tâm lý bất an cho một bộ phận nhân dân đang sinh sống
và làm việc tại quận Bình Tân, Tp Hồ Chí Minh
Từ thực tiễn công tác điều tra, truy tố, xét xử các vụ án cướp giật tài sản trênđịa bàn quận Bình Tân, Tp Hồ Chí Minh trong những năm qua cho thấy việc địnhtội danh tội cướp giật tài sản khi áp dụng vào thực tiễn còn nhiều bất cập do cónhiều quan điểm trái chiều giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra (CQĐT), Viện kiểm sát(VKS) và Tòa án nhân dân (TAND) trong quá trình giải quyết vụ án dẫn đến thựctrạng trả hồ sơ để điều tra bổ sung giữa 03 cơ quan còn khá phổ biến Thời gian giảiquyết vụ án kéo dài, vi phạm thời hạn trong các giai đoạn tố tụng được quy địnhtrong Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) Vì vậy, tác giả chọn đề tài: “Định tộidanh tội cướp giật tài sản theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn quận BìnhTân, Tp Hồ Chí Minh” làm luận văn thạc sĩ nhằm nghiên cứu, đóng góp phần nhỏvào công tác định tội danh và quá trình đấu tranh phòng, chống tội phạm cướp giậttài sản tại quận Bình Tân nói riêng và trên địa bàn Tp Hồ Chí Minh nói chung trongthời gian tới
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Định tội danh tội cướp giật tài sản là một trong những tội phạm được các nhànghiên cứu khoa học luật hình sự đề cập, nghiên cứu ở nhiều hình thức, mức độ vàkhía cạnh khác nhau, như: Giáo trình luật hình sự Việt Nam của GS.TS Võ KhánhVinh; Giáo trình lý luận chung về định tội danh của Nhà xuất bản Công an nhândân, Hà Nội năm 2003; Giáo trình luật hình sự Việt Nam – phần các tội phạm cụ thểcủa Khoa luật - Đại học quốc gia Hà Nội năm 2005; Lý luận về định tội danh củaGS.TS Võ Khánh Vinh; Giáo trình sau đại học “Lý luận chung về định tội danh”của Nhà xuất bản Khoa học xã hội năm 2013 Trong các bình luận khoa học về luậthình sự, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ của một số tác giả tiêu biểu như: Luận án
Trang 8tiến sĩ của tác giả Nguyễn Ngọc Chí năm 2000 về “Trách nhiệm hình sự đối với cáctội xâm phạm sở hữu”; Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Nông Anh Vượng năm
2016 về “Tội cướp giật tài sản theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnhThái Nguyên”; Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Nguyễn Thị Toàn năm 2015 về
“Tội cướp giật tài sản theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn quận Hà Đông,Thành phố Hà Nội” Do vậy, có thể nhận thấy việc nghiên cứu về tội cướp giật tàisản theo pháp luật hình sự Việt Nam không là vấn đề mới Tuy nhiên, từ thực tếquận Bình Tân, Tp Hồ Chí Minh thì chưa có công trình nghiên cứu về thực trạngđịnh tội danh và áp dụng pháp luật trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử đối vớitội cướp giật tài sản, từ đó chỉ ra được những hạn chế, bất cập khi áp dụng pháp luậtvào thực tiễn của các cơ quan tiến hành tố tụng để có những đề xuất giải pháp hữuhiệu trong thời gian tới
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và pháp luật của hoạt động định tộidanh tội cướp giật tài sản cũng như thực tiễn định tội danh của các cơ quan tiếnhành tố tụng trên tại quận Bình Tân, Tp Hồ Hồ Chí Minh, luận văn đề xuất các giảipháp đảm bảo cho hoạt động định tội danh đúng quy định pháp luật của quận BìnhTân, Tp Hồ Chí Minh nói chung
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhằm đạt được những mục đích nghiên cứu đã nêu, luận văn phải thực hiệncác nhiệm vụ sau đây:
- Phân tích đầy đủ, đúng đắn cơ sở lý luận và pháp luật của định tội danh tội cướp giật tài sản;
- Phân tích, nhận xét, đánh giá thực trạng định tội danh tội cướp giật tài sản trên địa bàn quận Bình Tân, Tp Hồ Chí Minh
- Phân tích đầy đủ các yêu cầu nghiên cứu để đề xuất những giải pháp đảmbảo cho định tội danh đúng tội cướp giật tài sản tại quận Bình Tân nói riêng và tại
Tp Hồ Chí Minh nói chung
Trang 94 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Căn cứ vào các luận điểm của các nhà nghiên cứu khoa học, các quy địnhcủa pháp luật hình sự, thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hình sự trongquá trình định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội phạm cướp giật tài sảntheo pháp luật hình sự Việt Nam trên địa bàn quận Bình Tân, Tp Hồ Chí Minhtrong thời gian qua làm đối tượng nghiên cứu của đề tài
4.2 Phạm vi nguyên cứu
Đề tài được nghiên cứu dưới góc độ pháp lý chuyên ngành Luật hình sự và
Tố tụng hình sự về định tội danh tội cướp giật tài sản, thực tiễn định tội danh, ápdụng pháp luật và quyết định hình phạt đối với tội phạm này trên địa bàn quận BìnhTân, Tp Hồ Chí Minh thời gian từ năm 2014 đến năm 2018
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài lấy những quan điểm cốt lỗi được rút ra từ phương pháp luận về phépduy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lê Nin và nền tảng tưtưởng Hồ Chí Minh về vấn đề tội phạm học hình sự, các quan điểm, chính sách củaĐảng Cộng Sản Việt Nam về chính sách hình sự, tội phạm học, áp dụng hình phạtcũng như các văn bản pháp luật của Nhà nước về công tác đấu tranh, phòng chốngtội phạm trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa làmphương pháp luận cho việc nghiên cứu
Ngoài ra, đề tài còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu tối ưu, mang lạihiệu quả cao như: phân tích, so sánh, thống kê, tổng hợp, lấy ý kiến của chuyên gianghiên cứu trong lĩnh vực hình sự để làm sáng tỏ vấn đề cần nghiên cứu
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần làm sáng tỏ các dấu hiệu pháp
lý đặc trưng cấu thành tội cướp giật tài sản, nâng cao hiệu quả và chất lượng chohoạt động định tội danh đúng tội cướp giật tài sản của các cơ quan tiến hành tố tụngtrong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đạt hiệu quả cao Góp phần trong việc xâydựng và hoàn thiện pháp luật hình sự, tăng cường chất lượng áp dụng pháp luật hình
Trang 10sự trên tinh thần cải cách tư pháp mà Đảng và Nhà nước ta đã đề ra trong tiến trìnhcải cách tư pháp hiện nay.
Ngoài ra, những ưu điểm của kết quả nghiên cứu của luận văn có thể đượcdùng làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảng dạy hoặc nghiên cứukhoa học pháp lý hình sự
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung củaluận văn được kết cấu thành 03 Chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận chung và pháp luật của định tội danh tội cướp giật
tài sản theo pháp luật hình sự Việt Nam
Chương 2: Thực tiễn định tội danh tội cướp giật tài sản tại quận Bình Tân,
Thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3: Các yêu cầu và giải pháp đảm bảo định tội danh đúng tội cướp
giật tài sản
Trang 11Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VÀ PHÁP LUẬT CỦA ĐỊNH TỘI DANH
TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN 1.1 Cơ sở lý luận chung của định tội danh tội cướp giật tài sản
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm, các giai đoạn và ý nghĩa của định tội danh
1.1.1.1 Khái niệm định tội danh
Trong khoa học luật hình sự, khái niệm định tội danh hiện nay có nhiều cáchhiểu khác nhau, mỗi nhà nghiên cứu khoa học đều có quan điểm và lý luận khácnhau Theo quan điểm của Tiến sĩ luật học Lê Cảm thì: “Định tội danh là một quátrình nhận thức lý luận có tính chất logic, là một trong những dạng của hoạt độngthực tiễn áp dụng pháp luật hình sự, cũng như pháp luật tố tụng hình sự và được tiếnhành trên cơ sở các chứng cứ, tài liệu thu thập được và các tình tiết thực tế của vụ
án hình sự để xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xãhội được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm (CTTP) tương ứng doluật hình sự quy định, nhằm đạt được sự thật khách quan, tức là đưa ra sự đánh giáchính xác tội phạm về mặt pháp lý hình sự, làm tiền đề cho việc cá thể hóa và phânhóa trách nhiệm hình sự (TNHS) một cách công minh, có căn cứ và đúng pháp luật”[2, tr 9] Còn theo Giáo sư, Tiến sĩ Võ Khánh Vinh thì: “Định tội danh là một hoạtđộng nhận thức, hoạt động áp dụng pháp luật hình sự nhằm đi tới chân lý kháchquan trên cơ sở xác định đúng đắn, đầy đủ các tình tiết cụ thể của hành vi phạm tộiđược thực hiện, nhận thức đúng nội dung quy phạm pháp luật hình sự quy địnhCTTP tương ứng và mối liên hệ tương đồng giữa các dấu hiệu của CTTP với cáctình tiết cụ thể của hành vi phạm tội bằng các phương pháp và thông qua các giaiđoạn nhất định” [37, tr 26-27] Do đó có thể khẳng định hoạt động định tội danh cóvai trò rất quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, nó là cơ sở cho việcxác định hành vi phạm tội của tội phạm, là tiền đề để phân hóa TNHS và cá thể hóahình phạt chính xác, toàn diện, khách quan, đảm bảo cho pháp luật được áp dụngđược công minh, công bằng và hợp lý Ngoài ra, định tội danh còn làm cơ sở choviệc áp dụng các biện pháp ngăn chặn, biện pháp tư pháp, xác định thẩm quyền điều
Trang 12tra, truy tố, xét xử, thi hành án của các chủ thể và cơ quan tiến hành tố tụng, gópphần quan trọng vào công tác đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, bảo vệ sựnghiêm minh của pháp luật, pháp chế xã hội chủ nghĩa, quyền và lợi ích của Nhànước, của công dân, tổ chức kinh tế và trật tự an toàn xã hội Việc định tội danh saihoặc không chính xác sẽ dẫn đến hậu quả pháp lý rất lớn, không đảm bảo tính cócăn cứ của quá trình điều tra, truy tố và quyết định hình phạt trong hoạt động xét xửkhông đúng người, không đúng tội, không đúng quy định pháp luật Đây là nguyênnhân và điều kiện dẫn đến việc làm oan người vô tội, bỏ lọt tội phạm hoặc khôngchứng minh được người phạm tội.
Từ những cơ sở lý luận trên, có thể khái niệm về định tội danh tội cướp giậttài sản như sau: Định tội danh tội cướp giật tài sản là việc chủ thể có thẩm quyềnđịnh tội danh xác định, ghi nhận về mặt pháp luật hình sự phù hợp, chính xác giữacác dấu hiệu của hành vi cướp giật tài sản đã xảy ra trên thực tế với các dấu hiệucủa CTTP được quy định tại Điều 136 BLHS năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009(nay là Điều 171 BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017) để áp dụng vào thựctiễn công tác khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự về tội cướp giật tài sảnđúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật
1.1.1.2 Đặc điểm của định tội danh
Từ khái niệm định tội danh như đã nêu trên đây, ta có thể thấy định tội danh
có những đặc điểm cơ bản sau:
Về chủ thể: Định tội danh là hoạt động được tiến hành bởi các cơ quan tiếnhành tố tụng gồm CQĐT, VKS, TA và một số cơ quan được giao nhiệm vụ tiếnhành một số hoạt động điều tra như: Hải quan, Cảnh sát biển, Kiểm lâm, Bộ độibiên phòng… thông qua những người tiến hành tố tụng như Điều tra viên (ĐTV),Kiểm sát viên (KSV), Thẩm phán (TP) thực hiện một số chức năng, nhiệm vụ đượcquy định cụ thể trong Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS)
Về căn cứ: Định tội danh là hoạt động rất phức tạp, nó đòi hỏi các chủ thểtiến hành khi thực hiện định tội danh phải dựa vào những yếu tố CTTP nhằm đảmbáo tính có căn cứ, tính đầy đủ, tính khách quan và tính toàn diện đảm bảo việc
Trang 13đánh giá chính xác bản chất của hành vi phạm tội cụ thể được quy định trong Bộluật hình sự (BLHS) và quyết định tố tụng được ban hành đảm bảo tính hợp pháp vàchính xác.
Về bản chất: Hoạt động định tội danh thực chất là hoạt động áp dụng phápluật hình sự và Tố tụng hình sự (TTHS) vào thực tiễn thông qua các chủ thể tiếnhành tố tụng bằng việc ban hành các văn bản, quyết định tố tụng nhằm mục đíchgiải quyết vụ án hình sự phù hợp với các quy phạm pháp luật hình sự (luật nộidung) và các quy phạm pháp luật TTHS (luật hình thức) Nếu định tội danh khôngdựa vào các căn cứ pháp luật có thể sẽ dẫn đến việc tùy tiện, không chính xác lànguyên nhân dẫn đến việc bỏ lọt tội phạm hoặc làm oan người vô tội
Về mục đích: Mục đích cuối cùng và chủ yếu của định tội danh là xác địnhchính xác người thực hiện hành vi phạm tội, phạm tội gì, thuộc điều khoản nàođược quy định trong BLHS nhằm buộc họ phải chịu TNHS, hình phạt tương xứngvới tính chất, mức độ nguy hiểm và hậu quả của hành vi phạm tội đã gây ra cho xãhội
1.1.1.3 Ý nghĩa của định tội danh
Định tội danh với tính chất và mục đích rất quan trọng trong quá trình ápdụng pháp luật, có ý nghĩa to lớn khi giải quyết vụ án hình sự trên nhiều phươngdiện cụ thể sau:
Một là: Định tội danh đúng là cơ sở và tiền đề quan trọng đảm bảo cho hoạt
động tố tụng hình sự diễn ra thuận lợi, đúng người, đúng tội, đúng quy định phápluật, giúp cho việc phân hóa vai trò, TNHS và cá thể hóa hình phạt phù hợp, côngbằng và khách quan, tránh tình trạng bỏ lọt tội phạm hoặc làm oan người vô tội,đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức được pháp luật bảo
vệ tuyệt đối, bất khả xâm phạm
Hai là: Định tội danh đúng sẽ thể hiện được tính nghiêm minh, công bằng và
tiến bộ của Nhà nước và pháp luật xã hội chủ nghĩa (XHCN) Tôn trọng quyền conngười, nguyên tắc tiến bộ của Nhà nước pháp quyền như: Nguyên tắc pháp chếXHCN; Nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật; Nguyên tắc trách
Trang 14nhiệm cá nhân và cá thể hóa hình phạt;… góp phần xây dựng lòng tin của nhân dânvào sự lãnh đạo của Đảng, pháp luật của Nhà nước cũng như nâng cao uy tín, chấtlượng, hiệu quả của các cơ quan tiến hành tố tụng và cả hệ thống chính trị của nướcta.
Ba là: Định tội danh đúngsẽ đảm bảo cho việc áp dụng pháp luật hình sự,
TTHS trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử được thuận lợi và hiệu quả, đảm bảomọi quyền con người, quyền công dân, quyền bào chữa của bị can, bị cáo, người bịtạm giữ, tạm giam theo đúng tinh thần Hiến định và tiến bộ chung của thế giới vềquyền con người
Bốn là: Định tội danh sai sẽ dẫn đến hậu quả pháp lý nặng nề đối với người
phạm tội hoặc làm oan người vô tội, đối với chủ thể tiến hành định tội danh và cảcác cơ quan tiến hành tố tụng Không đảm bảo tính công bằng, văn minh và tiến bộcủa hệ thống pháp luật hình sự nước nhà, làm giảm uy tín của các cơ quan tư pháp,ảnh hưởng đến hiệu quả của công cuộc cải cách tư pháp, đấu tranh phòng, chống tộiphạm của nền pháp chế XHCN
1.1.2 Các giai đoạn của định tội danh
Định tội danh với tính chất là một dạng hoạt động pháp luật và là dạng củahoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự được tiến hành theo một quá trìnhbao gồm các giai đoạn sau:
Bước 1: Xác định, xem xét và đánh giá toàn diện, khách quan các tình tiếtcủa vụ án đã xảy ra trên thực tế Giai đoạn này, đòi hỏi chủ thể tiến hành định tộidanh phải có kiến thức sâu rộng và kinh nghiệm thực tiễn với thái độ thực sự kháchquan, vô tư, không định kiến và không suy diễn, tôn trọng sự thật khách quan của
vụ án, trên cơ sở hệ thống chứng cứ đã thu thập được để định tội theo trình tự, thủtục do BLTTHS quy định Trong cùng một vụ án, thường có nhiều tình tiết khácnhau và các tình tiết này lại liên quan mật thiết với nhau tạo thành một chuổi chứng
cứ, phù hợp về không gian và thời gian từ lúc bắt đầu cho đến khi kết thúc hành viphạm tội Từ đó, xác định hành vi đó có phạm tội hay không, nếu có thì phạm tội gì,mức độ nguy hiểm ra sao
Trang 15Bước 2: Nhận thức một cách thống nhất và chính xác các quy định của phápluật hình sự quy định CTTP đã xác định ở bước 1 để áp dụng pháp luật cho phù hợpvới tội danh và hành vi phạm tội được quy định trong BLHS Tuy nhiên, các dấuhiệu trong BLHS thường được quy định một cách chung chung, mang tính khái quát
để điều chỉnh hiện tượng thực tế chung nhất nên quá trình này đòi hỏi chủ thể tiếnhành định tội danh phải tư duy để nhận thức sâu rộng, đúng đắn những nội dungtrong CTTP nếu không sẽ dễ nhầm lẫn giữa tội phạm này với tội phạm khác, ví dụnhư: tội cướp giật tài sản với tội cướp tài sản hoặc tội cướp tài sản với tội cưỡngđoạt tài sản …
Bước 3: So sánh, đối chiếu và kiểm tra các tình tiết, dấu hiệu của hành viphạm tội với các yêu tố của CTTP như đã nêu ở bước 1 và bước 2 để có được kếtquả của quá trình định tội danh
Bước 4: Tiến hành ra văn bản áp dụng pháp luật như các lệnh, quyết định tốtụng, quyết định truy tố (cáo trạng), bản án đối với người phạm tội, đảm bảo tínhchính xác, phù hợp và được thi hành nghiêm chỉnh trên thực tế
1.1.3 Các trường hợp định tội danh
1.1.3.1.Định tội danh theo cấu thành tội phạm cơ bản
CTTP là tổng hợp những dấu hiệu chung có tính chất đặc trưng cho loại tộiphạm cụ thể được quy định trong luật hình sự Với nội dung này, CTTP được coi làkhái niệm pháp lý của loại tội phạm cụ thể, là sự mô tả khái quát một loại tội phạmnhất định trong luật hình sự
CTTP cơ bản là CTTP chỉ có dấu hiệu định tội Đó là CTTP bao gồm nhữngdấu hiệu mô tả tội phạm và là cơ sở pháp lý cho việc định tội danh và phân biệt tộiphạm này với tội phạm khác Đây là các CTTP được thể hiện ở khoản 1 của đa sốcác tội phạm như: tội trộm cắp tài sản (khoản 1 Điều 138 BLHS năm 1999 nay làkhoản 1 Điều 173 BLHS năm 2015), tội vi phạm quy định về điều khiển phươngtiện giao thông đường bộ (khoản 1 Điều 202 BLHS năm 1999) nay là tội vi phạmquy định về tham gia giao thông đường bộ gây hậu quả nghiêm trọng (khoản 1 Điều
Trang 16260 BLHS năm 2015), tội cướp giật tài sản (khoản 1 Điều 136 BLHS năm 1999 nay
là khoản 1 Điều 171 BLHS năm 2015)
1.1.3.2 Định tội danh theo cấu thành tội phạm tăng nặng
CTTP tăng nặng là CTTP được hình thành dựa trên các dấu hiệu của CTTP
cơ bản cùng với những yếu tố khác khiến cho tội phạm tăng tính nguy hiểm cho xãhội Để xây dựng CTTP giảm nhẹ hay CTTP phạm tăng nặng, nhà làm luật cần thiếtphải dựa vào CTTP cơ bản, đồng thời căn cứ yêu cầu đấu tranh phòng, chống tộiphạm cũng như tình hình phạm tội trong những điều kiện lịch sử cụ thể Những dấuhiệu có trong CTTP giảm nhẹ hoặc tăng nặng được gọi là dấu hiệu định khung vìkhi thoả mãn được các yếu tố đó sẽ cho phép chuyển khung hình phạt
Định tội danh theo CTTP tăng nặng là định tội danh theo các dấu hiệu địnhkhung tăng nặng hay nói cách khác đó là các tình tiết định khung tăng nặng TNHSđược quy định tại các khoản 2, 3, 4 Điều 136 BLHS năm 1999 nay là các khoản 2,3,4 Điều 171 BLHS năm 2015 Theo đó,
Khung 2: quy định hình phạt tù từ 03 năm đến 10 năm áp dụng đối vớitrường hợp phạm tội có tình tiết định khung tăng nặng quy định tại khoản 2
Khung 3: quy định hình phạt tù từ 07 năm đến 15 năm áp dụng đối vớitrường hợp phạm tội có một trong các tình tiết tăng nặng định khung được quy địnhtại khoản 3
Khung 4: quy định hình phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân ápdụng đối với trường hợp phạm tội có một trong các tình tiết tăng nặng định khungđược quy định tại khoản 4
Hình phạt bổ sung: người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000đồng đến 100.000.000 đồng
1.1.3.3 Định tội danh trong các trường hợp đặc biệt
+ Định tội danh trong trường hợp phạm tội chưa hoàn thành
Luật hình sự Việt Nam không chỉ xem hành vi thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệucủa CTTP cơ bản là tội phạm, mà còn xem cả hành vi chuẩn bị cho việc thực hiệntội phạm cố ý cũng như hành vi chưa thỏa mãn hết các dấu hiệu của CTTP của một
Trang 17tội cố ý vì nguyên nhân khách quan là tội phạm Và để có cơ sở cho việc truy cứuTNHS, thì hành vi chuẩn bị phạm tội cũng như hành vi phạm tội chưa hoàn thànhcũng có những đặc điểm cấu thành riêng biệt: đó là CTTP của chuẩn bị phạm tội vàCTTP của phạm tội chưa hoàn thành (phạm tội chưa đạt).
Khi định tội danh đối với hành vi phạm tội chưa hoàn thành, việc xác địnhđúng giai đoạn thực hiện tội phạm là một việc làm rất quan trọng, bởi vì với mỗi tộidanh, nhà làm luật quy định thời điểm hoàn thành tội phạm không giống nhau Ví
dụ như trong tội cướp tài sản (Điều 168 BLHS năm 2015) thì tội phạm hoàn thành
từ thời điểm người phạm tội có hành vi tấn công (dùng vũ lực, đe dọa dùng ngay tứckhắc vũ lực hoặc các hành vi khác…) dù người phạm tội có chiếm đoạt được tài sảnhay chưa, nhưng đối với một số tội phạm khác thì thời điểm tội phạm hoàn thành làthời điểm người phạm tội lấy được tài sản khỏi nơi cất giữ, ví dụ như tội “Côngnhiên chiếm đoạt tài sản” được quy định tại Điều 172 BLHS năm 2015 hoặc tội
“Cướp giật tài sản” được quy định tại Điều 171 BLHS năm 2015…Ngoài ra, nhữngquy định về chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt chỉ được thể hiện ở một số tộiphạm nhất định
+ Định tội danh trong trường hợp đồng phạm
Đồng phạm là hình thức phạm tội đặc biệt của trường hợp phạm tội cố ý, cónhiều người tham gia Như vậy, để có đồng phạm đòi hỏi phải có nhiều người thamgia và phải thỏa mãn những điều kiện nhất định Với sự tham gia của nhiều ngườithì không thể chỉ có người thực hiện tội phạm mà có thể có người cùng thực hiện tộiphạm hoặc có người giúp sức thực hiện tội phạm hoặc có người xúi giục thực hiệntội phạm hoặc có người tổ chức thực hiện tội phạm Khác với CTTP cơ bản củatừng tội, CTTP đồng phạm không được quy định trực tiếp cho từng tội danh Dấuhiệu của các hành vi tổ chức, xúi giục, giúp sức thực hiện tội phạm được quy địnhtrong các quy phạm phần chung của BLHS, Điều 17 BLHS năm 2015 quy định:
“Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.”.
Do vậy, khi định tội đối với trường hợp đồng phạm, cần xem xét và kiểm tra cácdấu hiệu sau đây:
Trang 18Thứ nhất, hành vi phạm tội đồng phạm phải xâm hại cùng khách thể Theo
đó, để xác định những người trong đồng phạm có cố ý cùng thực hiện một tội phạmhay không, cần phải xác định xem hành vi nguy hiểm mà những người đồng phạmthực hiện có xâm hại đến cùng một quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ haykhông Nếu họ cùng cố ý thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội và cùng biết làhành vi của họ cùng xâm hại vào một khách thể, thì đó là đồng phạm
Thứ hai, mặt khách quan của đồng phạm phải thỏa mãn hai dấu hiệu là: có từ
hai người trở lên và những người này có đủ điều kiện là chủ thể của tội phạm, đồngthời những người này phải cùng thực hiện tội phạm với lỗi cố ý Dựa trên tính chất,
hình thức thể hiện hành vi của từng người trong đồng phạm, tại khoản 2 Điều 17của BLHS năm 2015 đã chia thành bốn loại người trong đồng phạm, gồm: ngườithực hành; người tổ chức; người xúi giục và người giúp sức Trong đó, người thựchành là người trực tiếp thực hiện tội phạm Nếu tội phạm được thực hiện dưới hìnhthức đồng phạm có sự tham gia của nhiều dạng người thì quy tắc chung khi định tộiđối với những hành vi của những người trong đồng phạm sẽ vận dụng Điều 17BLHS năm 2015 để xác định vai trò của từng người trong đồng phạm và đồng thờiđịnh tội theo điều luật thuộc phần các tội phạm của BLHS đối với người thực hiện.Bởi vì trong một vụ án có đồng phạm thì người thực hành đóng một vai trò rất quantrọng, hành vi phạm tội của người thực hành là căn cứ để định tội: người thực hànhthực hiện tội phạm đến giai đoạn nào thì những người đồng phạm khác sẽ phải chịuTNHS đến giai đoạn đó
Thứ ba, trong vụ đồng phạm phải có ít nhất hai chủ thể phạm tội Từ quyđịnh này, một vấn đề đặt ra là có phải chỉ cần trong một vụ án có từ hai người trởlên tham gia thì tất cả những người đó đều trở thành chủ thể của tội phạm haykhông? Hai hay nhiều người này phải có năng lực TNHS (không mắc bệnh tâm thầnhoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc mất khả năng điều khiển hành vi
và đủ tuổi chịu TNHS theo Điều 12 BLHS năm 2015)
Thứ tư, để có đồng phạm, khi thực hiện tội phạm, những người trong đồng
phạm phải có lỗi cố ý nên những người tham gia trong đồng phạm bao giờ cũng
Trang 19thực hiện tội phạm với lỗi cố ý Lỗi cố ý này thể hiện ở chỗ những người trong đồngphạm khi tham gia vào việc thực hiện hành vi phạm tội, họ đều nhận thức được mức
độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi do mình thực hiện và biết người đồng phạmkhác cũng có hành vi nguy hiểm như thế; thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hộicủa hành vi do mình gây ra cũng như hậu quả chung của tội phạm mà họ tham giathực hiện và họ cũng mong muốn hậu quả chung xảy ra hoặc có ý thức để mặc chohậu quả phát sinh trong thực tế
+ Định tội danh trong trường hợp phạm nhiều tội
Trường hợp “phạm nhiều luật” hay nói cách khác là phạm nhiều tội khi hành
vi của chủ thể thỏa mãn nhiều CTTP khác nhau được quy định trong BLHS, thuộc một hoặc trong các trường hợp sau đây:
Thứ nhất, trường hợp chủ thể có nhiều hành vi và các hành vi này có quan hệ
với nhau Trong đó, hành vi xảy ra trước được xem là điều kiện cần thiết cho hành
vi sau có thể xảy ra hoặc hành vi sau là diễn biến tất yếu của hành vi trước
Thứ hai, trường hợp chủ thể chỉ bị coi là phạm một tội mặc dù các hành vi
của chủ thể thỏa mãn nhiều CTTP khác nhau là trường hợp hành vi trước đã thu húttính nguy hiểm của hành vi sau do các hành vi có cùng đối tượng tác động và cùng
khách thể xâm phạm
Thứ ba, trường hợp “phạm nhiều tội” khi hành vi của chủ thể thỏa mãn nhiều
CTTP về hình thức, nhưng không áp dụng tất cả các điều luật quy định các CTTP
đó mà chỉ được phép chọn một trong số đó để áp dụng khi định tội danh
1.2 Cơ sở pháp lý của định tội danh tội cướp giật tài sản
1.2.1 Các quy định thuộc phần chung của Bộ luật hình sự
Khái niệm tội cướp giật tài sản: Theo quy định tại Điều 136 của BLHS năm
1999 và Điều 171 của BLHS năm 2015 các nhà lập pháp chỉ quy định chung về tộicướp giật tài sản như sau: “Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bịphạt….” từ đó, ta thấy các nhà lập pháp không quy định cụ thể những dấu hiệu đặctrưng của tội cướp giật tài sản mà chỉ nêu tội danh Từ khái niệm này ta có thể hiểurằng tội cướp giật tài sản là một trong những tội xâm phạm quyền sở hữu nhằm thực
Trang 20hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác một cố ý và công khai Người thựchiện hành vi cướp giật tài sản phải nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản từ trước vàthực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của chủ sở hữu bằng cách nhanh chóng giậthoặc giành lấy tài sản và sau đó sẽ nhanh chóng tẩu thoát.
Theo lý luận và thực tiễn của công tác định tội danh tội cướp giật tài sản thìhành vi cướp giật tài sản là hành vi công khai dùng tay giật lấy tài sản của chủ sởhữu hoặc trong sự quản lý của người khác rồi nhanh chóng tẩu thoát mà không dùng
vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác để uy hiếp tinh thần của họ mànhanh chóng giật lấy tài sản rồi chạy thoát làm chủ sở hữu không kịp phản ứng vàđược quy định tại Điều 171 BLHS năm 2015 đã kế thừa quy định tại Điều 136BLHS năm 1999 Theo đó điều luật không quy định cụ thể những dấu hiệu đặctrưng của tội cướp giật tài sản mà chỉ nêu tội danh
Qua nghiên cứu, phân tích về hành vi cướp giật tài sản có thể khái niệm tộicướp giật tài sản là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, dongười có năng lực TNHS thực hiện với lỗi cố ý bằng cách công khai, bất ngờ giậtlấy tài sản của người khác rồi nhanh chóng tẩu thoát Để nhận thức và hiểu rõ bảnchất, đặc điểm của tội cướp giật tài sản ta cần nghiên cứu đầy đủ, toàn diện các dấuhiệu pháp lý cơ bản, đặc trưng của nó nhằm phân biệt giữa tội cướp giật tài sản vớicác tội phạm khác có cấu thành cơ bản tương tự nhau giúp cho công tác định tộidanh được chính xác, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật hình sự
1.2.2 Các dấu hiệu pháp lý (cấu thành tội phạm cơ bản) của tội cướp giật tài sản (theo Điều 171 Bộ luật hình sựnăm 2015)
+ Khách thể của tội cướp giật tài sản
Khách thể của tội phạm là những quan hệ xã hội được Nhà nước quy định vàbảo vệ bị tội phạm xâm hại và bị xử lý theo các quy phạm pháp luật hình sự đượcnêu cụ thể tại khoản 1 Điều 8 BLHS năm 2015 Không có hành vi xâm hại đến quan
hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ thì không có tội phạm xảy ra
Như đã phân tích nêu trên, về bản chất của các tội có tính chất chiếm đoạtđược quy định trong chương các tội phạm xâm phạm sở hữu, chúng có cùng đặc
Trang 21điểm chung là nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản của người khác Tuy nhiên, xét vềbản chất của tội cướp giật tài sản là được thực hiện một cách công khai, nhanhchóng tẩu thoát để tránh sự phản kháng, truy bắt của chủ sở hữu và của người kháccho nên tội cướp giật tài sản trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu của người khác đốivới tài sản của họ Như vậy, khách thể của tội cướp giật tài sản chính là quan hệ sởhữu về tài sản được Nhà nước và pháp luật hình sự bảo vệ tuyệt đối, khách thể củatội cướp giật tài sản có thể là trường hợp công khai chiếm đoạt tài sản một cáchnhanh chóng để tránh sự phản kháng của chủ tài sản, tội cướp giật tài sản xâm hạiquyền sở hữu con người đối với tài sản Khi phân biệt giữa tội cướp giật tài sản vớicác tội phạm xâm phạm sở hữu khác ta không chỉ dựa vào yếu tố khách thể mà cònphải căn cứ vào các dấu hiệu khách quan và chủ quan khác trong cùng một vụ án,trong đó các dấu hiệu khách quan giữ vai trò quan trọng Khách thể của tội cướpgiật tài sản cũng tương tự khách thể của tội cướp tài sản, cưỡng đoạt tài sản hoặc bắtcóc nhằm chiếm đoạt tài sản ở chỗ cùng một lúc xâm phạm đến hai khách thể làquan hệ sở hữu và quan hệ nhân thân (tính mạng, sức khỏe) nhưng chủ yếu là quan
hệ sở hữu về tài sản
Chủ thể thực hiện tội cướp giật tài sản luôn luôn nhằm vào tài sản nhất địnhcủa chủ thể nhất định, không phân biệt chúng là hình thức sở hữu nào nên tài sản đóthuộc bộ phận của khách thể cụ thể, nó chính là quan hệ sở hữu và là đối tượng tácđộng của tội cướp giật tài sản Do đặc thù của tội cướp giật tài sản là chiếm đoạt tàisản của chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản một cách nhanh chóng để tẩu thoátnên tài sản là đối tượng chiếm đoạt của tội cướp giật tài sản có những đặc điểm cơbản khác với tài sản tác động của các loại tội phạm khác Theo quy định tại Điều
163 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và
các quyền tài sản” cho nên có thể khẳng định tài sản là đối tượng của tội cướp giật
tài sản thường có thuộc tính chung là được thể hiện dưới dạng vật chất như: tiền, vật
có giá trị (gọn, nhẹ), giấy tờ có giá hoặc phi vật chất (quyền tài sản) có giá trị hoặcgiá trị sử dụng để thỏa mãn một nhu cầu nhất định và đang nằm trong sự chiếm hữu,quản lý và sử dụng của chủ sở hữu Sau khi chiếm đoạt được tài sản thì người phạm
Trang 22tội dễ dàng cất, giấu, dịch chuyển mới có thể nhanh chóng chiếm đoạt và tẩu thoátcũng như mang đi tiêu thụ tránh bị người khác phát hiện.
Tuy nhiên, một số vật tuy nhỏ, gọn và dễ dịch chuyển nhưng do tính chấtnguy hiểm và công dụng đặc biệt của nó được Nhà nước quy định phải chịu sự quản
lý đặc biệt của Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thì không được xem là đối tượngtác động của tội cướp giật tài sản, ví dụ như: súng quân dụng, vật liệu nổ, chấtphóng xạ, chất ma túy… nếu bị chiếm đoạt thì người phạm tội phải chịu TNHS vềmột tội phạm khác được quy định trong BLHS và đương nhiên không được xem làtội cướp gật tài sản
Từ đó có thể khẳng định khách thể của tội cướp giật tài sản là quan hệ sở hữu
và quan hệ nhân thân Khẳng định này không chỉ đúng về lý luận mà còn phù hợpvới thực tiễn công tác định tội danh tội cướp giật tài sản của các cơ quan tiến hành
tố tụng trong thời gian qua
+ Mặt khách quan của tội cướp giật tài sản
Mặt khách quan của tội cướp giật tài sản được hiểu là mặt bên trong của tộiphạm, là sự tổng hợp các dấu hiệu pháp lý do BLHS quy định và các dấu hiệu phảnánh hành vi ra bên ngoài (công cụ, phương tiện, cách thức, thủ đoạn, thời gian, địađiểm…) của hành vi xâm hại quan hệ sở hữu gây nguy hiểm đáng kể cho xã hội vàxâm hại đến khách thể được quy định tại Điều 171 BLHS năm 2015 Bất cứ tộiphạm nào xảy ra đều gây nguy hiểm cho xã hội và có mối quan hệ nhân quả vớinhau tạo nên hậu quả trên thực tế mà người phạm tội phải gánh chịu trách nhiệmpháp lý tương ứng Mặt khách quan của tội cướp giật tài sản được thể hiện ở hành vicông khai và nhanh chóng chiếm đoạt tài sản của người khác Hành vi chiếm đoạt ởtội cướp giật tài sản có 2 dấu hiệu để phân biệt với những hành vi chiếm đoạt ở cáctội phạm khác đó là “công khai” và “nhanh chóng” Công khai: về mặt khách quan,hành vi chiếm đoạt ở tội này cho phép chủ tài sản biết ngay khi hành vi này xảy ra
Về ý thức chủ quan của người phạm tội, người phạm tội khi thực hiện hành vichiếm đoạt biết hành vi chiếm đoạt của mình có tính chất công khai và hoàn toànkhông có ý định che giấu hành vi đó Nhanh chóng: là dấu hiệu phản ánh thủ đoạn
Trang 23của người phạm tội, đó là thủ đoạn lợi dụng sự sơ hở của chủ tài sản (sơ hở này cóthể có sẵn hoặc do người phạm tội chủ động tạo ra), nhanh chóng tiếp cận, nhanhchóng chiếm đoạt và nhanh chóng lẫn tránh Thủ đoạn nhanh chóng này được thểhiện ở nhiều hình thức khác nhau phụ thuộc vào đặc điểm của tài sản, cách thức giữtài sản…, thông thường đây là những tài sản gọn nhẹ, dễ lấy, dễ mang đi Cũngđược xem là hành vi cướp giật tài sản trong trường hợp người phạm tội có tác độngnhẹ đến người chiếm giữ tài sản, song không làm cho họ lâm vào tình trạng mất khảnăng chống cự (ví dụ như xô ngã, giật ví rồi tẩu thoát…) Tội phạm hoàn thành khingười phạm tội giật được tài sản từ người khác, kể cả trường hợp người phạm tội bỏlại tài sản đã cướp giật được để tẩu thoát Người phạm tội thực hiện hành vi mộtcách nhanh chóng với mong muốn chủ tài sản không kịp phản ứng và ngăn cản việcchiếm đoạt, và do vậy họ không có khả năng bảo vệ tài sản.
Khi xác định khách thể của tội phạm cướp giật tài sản cần xem xét các dấuhiệu sau đây:
Về hành vi phạm tội: hành vi phạm tội cướp giật tài sản xét về bản chất làcách xử sự trái pháp luật và nguy hiểm cho xã hội, đây là dấu hiệu khách quan bắtbuộc phải có của tất cả các CTTP và là dấu hiệu cơ bản nhất được diễn ra bên ngoàithế giới khách quan dưới những hình thức nhất định dưới sự chi phối của ý thức chủquan người phạm tội và gây ra thiệt hại đáng kể cho các quan hệ xã hội được phápluật hình sự bảo vệ
Trong các tội xâm phạm sở hữu được quy định tại chương XVI của BLHSnăm 2015 thì mỗi tội phạm đều có các CTTP khác nhau thông qua các dấu hiệu tộiphạm được thể hiện trong những mặt khách quan khác nhau Hành vi cướp giật tàisản là hành vi của chủ thể nhất định với ý thức và mục đích chiếm đoạt tài sản củangười khác, đây là dấu hiệu bắt buộc dù tài sản đó đã bị chiếm đoạt hoàn toàn haychưa Nghĩa là với hành vi chiếm đoạt của người phạm tội có thể là chưa chiếm hữuđược tài sản hoặc đã chiếm hữu được tài sản thì họ vẫn phải chịu TNHS về hành vi
do mình đã gây ra Hành vi phạm tội cướp giật tài sản có hai dấu hiệu đặc trưng cơbản đó là công khai và nhanh chóng
Trang 24Dấu hiệu công khai: Đây là đặc trưng cơ bản của hành vi cướp giật tài sản vàcăn cứ để phân biệt với một số tội phạm khác, nó thường thể hiện dưới dạng dùngtay giật, giằng lấy tài sản một cách nhanh chóng và ngay tức khắc mà không hề chegiấu hành vi của mình với chủ sở hữu và mọi người xung quanh Chính vì thế, dấuhiệu công khai là mặc nhiên không thể thiếu khi nghiên cứu mặt khách quan của tộicướp giật tài sản, là cơ sở pháp lý quan trọng trong hoạt động định tội danh tội cướpgiật tài sản Dấu hiệu công khai của tội cướp giật tài sản thể hiện ở việc người thựchiện hành vi cướp giật tài sản khi phạm tội phải công khai đối với người đang sởhữu, quản lý tài sản và những người xung quanh mà không hề lo sợ sẽ bị phát hiện.Nghĩa là khi sự việc phạm tội xảy ra thì mọi người xung quanh, chủ sở hữu có khảnăng nhận biết và phản ứng ngay nhưng do hành vi cướp giật tài sản diễn ra rấtnhanh và bất ngờ nên không có khả năng can thiệp hoặc ngăn cản hành vi phạm tộixảy ra để bảo vệ tài sản của mình đang chiếm hữu hoặc quản lý Do vậy, để phânbiệt giữa tội cướp giật tài sản và các tội xâm phạm sở hữu khác như lừa đảo chiếmđoạt tài sản, công nhiên chiếm đoạt tài sản, trộm cắp tài sản… thì ý thức, khả năngnhận biết, thái độ của người bị hại có ý nghĩa rất quan trọng và mang tính quyếtđịnh.
Nếu hành vi cướp giật tài sản của người phạm tội chỉ công khai với mọingười xung quanh nhưng không công khai với người bị hại thì không thể là hành vicông khai về mặt khách quan của tội cướp giật tài sản được Tuy nhiên, trong thựctiễn có thể xảy ra trường hợp hành vi của người phạm tội xảy ra lén lút với chủ sởhữu và người xung quanh để chiếm đoạt tài sản như tội trộm cắp tài sản nhưng khiđược chủ sở hữu và người xung quan phát hiện vây bắt thì người phạm tội vẫn cố ýchiếm đoạt tài sản đến cùng bằng cách giằng, giật lấy tài sản một cách công khai rồinhanh chóng tẩu thoát thì hành vi đó đã chuyển hóa từ tội trộm cắp tài sản sang tộicướp giật tài sản
Nếu người phạm tội thực hiện hành vi công khai chiếm đoạt tài sản vào banđêm hay có những thủ đoạt làm cho người bị hại không nhận thấy mặt như: đeo mặt
nạ, hóa trang, mang khẩu trang… thì hành vi vẫn cấu thành tội cướp giật tài sản
Trang 25Ngoài ra, người phạm tội có thể lợi dụng việc người bị hại không chú ý, sơ hở, đang
bị vướng mắc không có khả năng truy đuổi hoặc giằng giật lại tài sản hoặc đangđiều khiển phương tiện giao thông đường bộ rồi bất ngờ giật lấy tài sản Đây cũng làdấu hiệu đặt trưng để phân biệt giữa tội cướp giật tài sản với một số tội phạm tương
tự khác
Dấu hiệu nhanh chóng: Đây là dấu hiệu đặc trưng nhất và bắt buộc phải cótrong mặt khách quan của tội cướp giật tài sản giúp cho chủ thể định tội danh tộicướp giật tài sản được chính xác và phân biệt với CTTP của các loại tội phạm khác
có cùng khách thể bị xâm hại Nó phản ánh phương thức thực hiện hành vi chiếmđoạt tài sản một cách khẩn trương, nhanh chóng của người phạm tội Hành vi cướpgiật tài sản một cách nhanh chóng thông thường là lợi dụng sự sơ hở của người bịhại (sự sơ hở này có thể là do bản thân người bị hại tạo ra hoặc do bản thân ngườiphạm tội chủ động tạo ra) rồi tạo ra yếu tố bất ngờ làm cho họ không có khả nănghoặc không kịp giữ lại được tài sản của mình đang sở hữu, quản lý hoặc sử dụng.Sau khi tiếp cận được người bị hại thì người phạm tội sẽ nhanh chóng chiếm đoạttài sản và nhanh chóng tẩu thoát
Dấu hiệu này nó hiện hữu trong suốt quá trình diễn ra tội phạm từ lúc bắt đầucho đến khi kết thúc hành vi phạm tội Tuy nhiên, khi định tội danh chúng ta cầnđánh giá được thế nào là nhanh chóng nhờ vào đặc điểm tài sản bị chiếm đoạt cógọn, nhẹ, dễ giật và dễ dịch chuyển ngay tức khắc hay không? Vị trí, cách thứcchiếm giữ, tài sản đó đang ở vị trí nào và được quản lý ra sao như: đang đeo dâychuyền, mang túi xách, đang sử dụng điện thoại hoặc tài sản tư trang khác… Ngoài
ra, hoàn cảnh khách quan khác như yếu tố địa hình, địa vật, mật độ phương tiện lưuthông và người qua lại cũng ảnh hưởng rất lớn đến hành vi của người phạm tội xem
có nhanh chóng hay không Do vậy, nhờ thủ đoạn nhanh chóng chiếm đoạt màngười phạm tội làm cho chủ sở hữu không đủ điều kiện để kịp phản ứng và ngăncản còn dấu hiệu nhanh chóng tiếp cận và nhanh chóng tẩu thoát là phụ trợ cho việcnhanh chóng chiếm đoạt nhưng không bắt buộc phải có của tội phạm cướp giật tàisản
Trang 26Hành vi cướp giật tài sản được thực hiện dễ dàng và thuận lợi nó còn nhờvào yếu tố quan trọng khác đó chính là sự sơ hở của người bị hại Nếu người bị hạicảnh giác hoặc kịp thời phản ứng căn cản được thì người phạm tội dù có ý địnhnhanh chóng chiếm đoạt tài sản thì hành vi chiếm đoạt vẫn không thể được.
Trong mặt khách quan của tội cướp giật tài sản tùy từng trường hợp cụ thể nócòn xuất hiện dấu hiệu dùng vũ lực của người phạm tội để nhằm mục đích đe dọahoặc tác động đến thân thể, sự an toàn của người bị hại để tẩu thoát sau khi đã thựchiện xong hành vi chiếm đoạt nếu người bị hại hoặc khi có ai đó truy đuổi, ngăn cản
và bắt giữ Dấu hiệu này ít xảy ra nhưng hoàn toàn có thể xảy ra nên không thể xemnhẹ chúng khi tiến hành định tội danh Thực tiễn điều tra, truy tố và xét xử chúng tahay nhầm lẫn nó với tội cướp tài sản hoặc cưỡng đoạt tài sản, hành vi dùng vũ lựchoặc đe dọa dùng vũ lực trong tội cướp tài sản là nhằm khống chế làm tê liệt ý chíkháng cự của bị hại, làm cho họ rơi vào tình trạng bị động rồi chiếm đoạt tài sảnnhưng đối với hành vi dùng vũ lực (nếu có phát sinh) trong tội cướp giật tài sản thìngược lại, nó không phải để làm tê liệt ý chí của người bị hại và không nhằm đe dọagây nguy hại cho tính mạng, sức khỏe của người bị hại hoặc người khác truy đuổi
mà chỉ là những hành động nhằm mục đích tẩu thoát sau khi đã thực hiện hành vichiếm đoạt tài sản Như vậy, hành vi dùng vũ lực trong tội cướp giật tài sản là biệnpháp hỗ trợ, tạo điều kiện cho việc thực hiện hành vi chiếm đoạt được nhanh chóngnên không có sự chuyển hóa từ tội cướp giật tài sản sang tội cướp tài sản Việc dùng
vũ lực trong hoàn cảnh này chỉ được coi là tình tết định khung tăng nặng “Hànhhung để tẩu thoát” của tội cướp giật tài sản tùy thuộc vào thời điểm và mục đích củahành vi dùng vũ lực
Ngoài ra, nếu hành vi dùng vũ lực nhằm mục đích tẩu thoát khi đang bịngười bị hại hoặc người khác vây bắt mà gây thương tích đáng kể cho những ngườinày thì họ phải chịu TNHS theo cấu thành định khung tăng nặng tương ứng vớithương tích của người này được quy định cụ thể trong các khoản 2, 3, 4 Điều 171BLHS năm 2015
Trang 27Nói tóm lại, tội cướp giật tài sản là tội phạm có cấu thành hình thức, nghĩa làtội phạm đã hoàn thành ngay khi bản thân người phạm tội đã thực hiện hành vi cướpgiật tài sản mà không cần đến việc có hậu quả xảy ra hay không và mối quan hệnhân - quả trong quá trình định tội danh.
+ Chủ thể của tội cướp giật tài sản
Chủ thể của tội phạm là yếu tố bắt buộc phải có của tội phạm khi nghiên cứu
về một tội phạm cụ thể Pháp luật hình sự Việt Nam quy định “Chủ thể của tộiphạm là con người cụ thể đã cố ý hoặc vô ý thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hộiđược luật hình sự quy định trong tình trạng có năng lực TNHS và đạt độ tuổi nhấtđịnh do pháp luật quy định và trong một số trường hợp khác có dấu hiệu đặc biệtđược chỉ ra trong điều luật tương ứng” [20, tr.180] và nó được thể hiện trong các
điều luật của BLHS đã sử dụng các khái niệm: “người phạm tội”, “người nào phạm
tội”, “người bị kết án”… Do vậy, có thể khẳng định chủ thể của tội phạm theo pháp
luật hình sự hiện hành (BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017) chỉ có thể làcon người cụ thể nhưng không phải ai cũng có thể trở thành chủ thể của tội phạmkhi thực hiện một trong các hành vi được BLHS quy định Chủ thể của tội phạm làngười có lỗi khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội và bị pháp luật cấm, họ cónăng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS theo quy định Pháp luật hình sự nước takhông quy định cụ thể thế nào là người có năng lực TNHS nhưng cơ sở pháp lý đểxác định chủ thể của tội cướp giật tài sản căn cứ vào quy định tại các Điều 12, Điều
171 BLHS năm 2015, cụ thể như sau:
“1 Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này quy định khác.
2 Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 134, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, … của Bộ luật này”
Như vậy, người phạm tội từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi không phải chịu TNHS về tội cướp giật tài sản thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 171
Trang 28BLHS năm 2015, bỡi vì khoản 1 Điều 171 quy định về tội phạm nghiêm trọng (cómức cao nhất khung hình phạt đến 5 năm tù).
Theo quy định tại khoản 1 Điều 13 BLHS năm 2015 quy định người có nănglực TNHS là người không mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khảnăng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi Người có hành vi cướp giật tàisản chỉ trở thành chủ thể của tội cướp giật tài sản khi họ có khả năng nhận thứcđược tính nguy hiểm cho xã hội và tính trái pháp luật hình sự về hành vi của mìnhthực hiện hoặc có khả năng điều khiển hành vi của mình
Trong chương các tội xâm phạm về sở hữu nói chung, tội cướp giật tài sảnnói riêng thì chủ thể của tội phạm phải thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý Điềunày thể hiện thái độ tâm lý của chủ thể phạm tội đối với hành vi của mình và đối vớihậu quả pháp lý xảy ra Người thực hện hành vi cướp giật tài sản phải có ý địnhchiếm đoạt tài sản từ trước (cố ý với hành vi), chính ý thức đó họ mới điều khiểnhành vi cướp giật tài sản của mình và mong muốn hậu quả xảy ra (cố ý với hậu quả)
và chính yếu tố này là điều kiện cần và đủ trong hoạt động định tội danh tội cướpgiật tài sản được thuận lợi, đúng luật định
Nói cách khác, chủ thể của tội cướp giật tài sản là bất kỳ người nào có nănglực TNHS và từ đủ 16 tuổi (khoản 1) hoặc từ đủ 14 tuổi trở lên (khoản 2, 3 và 4BLHS năm 2015)
Trên cơ sở quy định tại Điều 9 BLHS năm 2015 thì Điều 171 BLHS năm
2015 quy định có bốn khung (khoản) hình phạt gồm: tội phạm nghiêm trọng (khoản1), rất nghiêm trọng (khoản 2 và 3), đặc biệt nghiêm trọng (khoản 4) Do người thựchiện tội phạm cướp giật tài sản với lỗi cố ý, khi đối chiếu với Điều 12 BLHS năm
2015 thì chủ thể của tội cướp giật tài sản là một cá nhân cụ thể có năng lực TNHS,
từ đủ 16 tuổi trở lên (đối với khoản 1 Điều 171) hoặc từ đủ 14 tuổi trở lên (đối vớikhoản 2,3 và 4 Điều 171) Vì vậy, các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tốtụng trong các giao đoạn điều tra, truy tố, xét xử đối với tội cướp giật tài sản cần hếtsức chú ý xác định chính xác độ tuổi của người phạm tội và các tình tiết định khunghình phạt để xác định chính xác tội danh cũng như tính chất, mức độ nguy hiểm cho
Trang 29xã hội làm cơ sở để xử lý vụ án được chính xác, đúng quy định của pháp luật, tránhtình trạng xử lý sai người phạm tội hoặc làm oan người vô tội.
+ Mặt chủ quan của tội cướp giật tài sản
Mặt chủ quan là một trong bốn yếu tố CTTP, mặt chủ quan của tội phạm làđặc điểm tâm lý bên trong của tội phạm hay nói cách khác là tâm lý bên trong củangười phạm tội được thể hiện dưới dạng cố ý hoặc vô ý Hoạt động tâm lý này diễn
ra liên tục và bao gồm nhiều nội dung khác nhau, những nội dung thuộc mặt chủquan của tội phạm có ý nghĩa quan trọng về mặt hình sự, nó trả lời cho những câu
hỏi: “Động cơ nào thúc đẩy người phạm tội thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã
hội?”; “người phạm tội nhằm mục đích gì?”; “lý trí và ý chí của họ ra sao?”…
Như vậy, mặt chủ quan của tội phạm suy cho cùng chỉ bao gồm các yếu tố về lỗi,động cơ, mục đích của tội phạm Trong đó, yếu tố lỗi được phản ánh trong tất cả cácCTTP còn mục đích và động cơ phạm tội tuy không thể thiếu được trong CTTPnhưng không phải lúc nào nó cũng có ý nghĩa quyết định đến tính chất nguy hiểmcho xã hội [28, tr.133]
Như đã phân tích ở trên, người thực hiện hành vi phạm tội cướp giật tài sản luônnhận thức và điều khiển được hành vi của mình một cách công khai, nhanh chóng vàhoàn toàn không có ý định che giấu hành vi đó nhằm làm cho người bị hại rơi vào thế
bị động, họ không kịp có bất kỳ phản ứng nào để ngăn cản hay đối phó với hành vichiếm hữu tài sản của người khác một cách bất hợp pháp đó Tương tự như các tộicướp tài sản, tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, tội cưỡng đoạt tài sản hay tội trộm cắptài sản,… thì tội cướp giật tài sản cũng được thực hiện với lỗi cố ý nhằm mục đíchchiếm đoạt tài sản của ngươi khác cho nên mục đích chiếm đoạt tài sản cho dù là trựctiếp hay gián tiếp (thông qua đồng phạm khác) là một dấu hiệu bắt buộc để định tộidanh và truy cứu TNHS đối với người phạm tội cướp giật tài sản
Lỗi cố ý được quy định cụ thể tại Điều 10 BLHS năm 2015 như sau:
1 Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra;
Trang 302 Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội,thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn
có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra
Tội cướp giật tài sản được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, bỡi Vì khi pháthiện thấy người bị hại có sở hở khi quản lý tài sản thì họ nảy sinh ý thức chiếm đoạtcho bằng được tài sản đó và để thực hiện mong muốn đó thì người phạm tội phảidùng thủ đoạn công khai và nhanh chóng chiếm đoạt tài sản dù biết rõ hành vi củamình là nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật và sẽ bị xử lý bằng pháp luật hình sựkhi bị phát hiện bắt giữ Những trường hợp lầm tưởng tài sản nào đó là của mìnhhoặc tài sản không có người quản lý hoặc không có mục đích chiếm đoạt tài sản(đùa giỡn) đều không cấu thành tội cướp giật tài sản
Mục đích chiếm đoạt tài sản là dấu hiệu bắt buộc trong mặt chủ quan của tộicướp giật tài sản, mặt dù nó có thể là kết quả trong tương lai mà người phạm tộithấy trước hậu quả đó và mong muốn đạt được Chiếm đoạt tài sản là hành vi cố ýdịch chuyển quyền quản lý, chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản của người khácmột cách trái pháp luật thành tài sản của riêng mình hoặc của một nhóm người và đãđược thực hiện trong thực tế
Tuy nhiên, trong thực tế đôi khi xảy ra trường hợp có sự không phù hợp giữa
ý thức chủ quan của người phạm tội với thực tế khách quan về tính chất đối tượng
bị xâm hại, có nghĩa là hậu quả đã xảy ra trên thực tế do hành vi phạm tội gây ranhưng lại không đúng như suy nghĩ của họ Đây là trường hợp sai lầm về khách thể
và đối tượng bị xâm hại rất khó nhận biết và có hai hướng để giải quyết là:
Nếu ý thức chủ quan của người phạm tội rõ ràng, họ biết rõ tài sản mà mìnhchiếm hữu là gì hoặc mong muốn chiếm đoạt được tài sản gì thì định tội danh theo ýthức chủ quan của họ;
Nếu ý thức chủ quan của người phạm tội không rõ ràng, họ không quan tâmđến tài sản mình chiếm đoạt là gì khi thực hiện hành vi phạm tội thì sẽ định tội danhtheo thực tế khách quan Theo hướng giải quyết này một mặt sẽ thể hiện đầy đủ ýthức chủ quan của người phạm tội, mặt khác thể hiện ý nghĩa bản chất của pháp luật
Trang 31hình sự trong việc bảo vệ các mối quan hệ xã hội Nếu chúng ta chỉ căn cứ vào dấuhiệu khách quan hoặc chủ quan của người phạm tội thì việc định tội danh sẽ khôngchính xác, không toàn diện và thiếu sức thuyết phục.
Như vậy, mặt chủ quan của tội cướp giật tài sản được thể hiện do lỗi cố ýtrực tiếp nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản Người phạm tội biết được hành vi củamình là nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản, đây là dấu hiệu bắt buộc trong mặt chủquan của tội cướp giật tài sản
1.2.3 Phân biệt tội cướp giật tài sản với một số tội phạm khác
Do nhu cầu thực tiễn đòi hỏi chúng ta phải phân biệt tội cướp giật tài sản vớimột số tội phạm khác tương tự, giúp cho quá trình định tội danh tội cướp giật tài sảnđược dẽ dàng và thuận lợi hơn
- Phân biệt tội “Cướp giật tài sản” với tội “Cướp tài sản”: Căn cứ vào các
dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội cướp giật tài sản và tội cướp tài sản, xét về lýluận và thực tiễn áp dụng pháp luật ta có thể phân biệt những điểm giống nhau vàkhác nhau của chúng như sau:
Điểm giống nhau: cả hai tội cướp giật tài sản và cướp tài sản chúng đều là
xâm phạm quyền sở hữu và có tính chất chiếm đoạt tài sản Hay nói cách khácchúng giống nhau về mục đích phạm tội, về khách thể, đối tượng tác động là quyền
sở hữu tài sản và đều do lỗi cố ý của chủ thể
Điểm khác nhau: dựa vào những điểm khác nhau cơ bản giúp chúng ta dễ
dàng phân biệt được tội cướp giật tài sản và cướp tài sản, cụ thể:
Tội cướp giật tài sản Tội cướp tài sản
Về điều Tội cướp giật tài sản được quy Tội cướp tài sản được quy địnhluật quy định tại Điều 171BLHS năm 2015 tại Điều 168 BLHS năm 2015.định
Hành vi Người phạm tội không dùng vũ Người phạm tội sử dụng vũ lực,khách lực, không đe dọa dùng vũ lực đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắcquan hoặc bất kỳ thủ đoạn nào khác để hoặc có thủ đoạn khác làm cho
làm tê liệt ý chí kháng cự của người bị tấn công lâm vào tình
Trang 32người bị hại để chiếm đoạt tài sản
mà chỉ lợi dụng sự sơ hở của bịhại rồi nhanh chóng chiếm đoạt tàisản và tẩu thoát, không có ý thứcđối đầu với người bị hại
trạng không thể chống cự đượcnhằm tác động, tấn công và đèbẹp ý chí kháng cự của họ nhằmchiếm đoạt tài sản
Tuy nhiên trong thực tế có thể xảy ra trường hợp người phạm tội cướp giậttài sản ngay khi bị phát hiện có hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tứckhắc thì ta cần phân biệt rõ ràng hai trường hợp: nếu chưa chiếm đoạt được tài sảnhoặc người bị hại hay người khác giành lại tài sản mà người phạm tội vẫn tiếp tụcdùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc nhằm chiếm đoạt cho bằng được tàisản thì hành vi đó đã chuyển hóa từ tội cướp giật tài sản sang tội cướp tài sản.Nhưng nếu hành vi đó chỉ nhằm để tẩu thoát thì vẫn cấu thành tội cướp giật tài sảnvới tình tiết định khung tăng nặng là hành hung để tẩu thoát
- Phân biệt tội “Cướp giật tài sản” với tội “Công nhiên chiếm đoạt tài sản” Điểm giống nhau: cả hai tội cướp giật tài sản và công nhiên chiếm đoạt tài
sản đều là xâm phạm quyền sở hữu và mang tính chất chiếm đoạt tài sản Hay nóicách khác chúng giống nhau về mục đích phạm tội, về khách thể, đối tượng tácđộng là quyền sở hữu tài sản và đều do lỗi cố ý công khai của chủ thể
Điểm khác nhau: dựa vào những điểm đặt trưng cơ bản của chúng, ta dễ dàng
phân biệt được tội cướp giật tài sản và công nhiên chiếm đoạt tài sản nhờ vào cácđặc điểm cơ bản như sau:
Tội cướp giật tài sản Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản
Về điều Tội cướp giật tài sản được quy Tội công nhiên chiếm đoạt tài sảnluật quy định tại Điều 171 BLHS năm được quy định tại Điều 172 BLHS
Hành vi Người phạm tội không dùng vũ Người phạm tội chỉ lợi dụngkhách quan lực, không đe dọa dùng vũ lực người bị hại không có khả năng
hoặc bất kỳ thủ đoạn nào khác ngăn cản, không có điều kiện để
để làm tê liệt ý chí kháng cự chống trả hay bảo vệ tài sản nhằm
Trang 33của người bị hại để chiếm đoạt công khai chiếm đoạt tài sản củatài sản mà chỉ lợi dụng sự sơ hở họ, người phạm tội không cầncủa bị hại rồi nhanh chóng nhanh chóng chiếm đoạt rồi tẩuchiếm đoạt tài sản và tẩu thoát, thoát, cũng không sợ bị bắt giữ vìkhông có ý thức đối đầu với người bị hại không có khả năngngười bị hại ngăn cản việc chiếm đoạt.
- Phân biệt tội “cướp giật tài sản” với tội “trộm cắp tài sản”
Điểm giống nhau: cả hai tội đều có chung khách thể xâm phạm là quyền sở
hữu tài sản, đều mang tính chất chiếm đoạt và lỗi cố ý
Điểm khác nhau như sau:
Tội cướp giật tài sản Tội trộm cắp tài sản
Về điều luật Tội cướp giật tài sản được quy Tội trộm cắp tài sản được quyquy định định tại Điều 171 BLHS năm định tại Điều 173 BLHS năm
Hành vi Người phạm tội có hành vi công Người phạm tội có hành vi lénkhách quan khai, nhanh chóng chiếm đoạt tài lút, bí mật chiếm đoạt tài sản
sản của bị hại rồi tẩu thoát, không của người bị hại rồi lẫn trốn
có ý thức đối đầu với người bịhại
Về khách Là quan hệ sở hữu tài sản và quan Chỉ là quan hện sở hữu về tàithể hệ nhân thân (gây té ngã, gây sản bị chiếm đoạt
thương tích cho bị hại, người truyđuổi…)
Về tính chất Mang tính chất nguy hiểm cao Tính chất nguy hiểm cho xã hộinguy hiểm nên dấu hiệu hậu quả không được thấp hơn nên hậu quả pháp lý
phản ánh trong cấu thành tội TNHS cũng thấp hơn Thiệt hạiphạm, điều luật không quy định tài sản được quy định là dấumức định lượng tối thiểu giá trị hiệu bắt buộc trong cấu thành tộitài sản bị chiếm đoạt Hậu quả phạm, điều luật quy định mức
Trang 34pháp lý TNHS phải gánh chịu tối thiểu của giá trị tài sản bịnặng nề hơn chiếm đoạt làm cơ sở để truy
cứu TNHS
- Các CTTP tăng nặng (các khoản 2,3,4 Điều 171 BLHS năm 2015)
Khoa học luật hình sự đã chia CTTP ra làm ba loại, đó là: cấu thành cơ bản,cấu thành tăng nặng và cấu thành giảm nhẹ.Cấu thành cơ bản là hệ thống các dấuhiệu đặc trưng và bắt buộc phải có đối với mọi loại tội phạm Nó phản ánh bản chấtcủa tội phạm đó và cho phép chúng ta phân biệt tội phạm này với tội phạm khác;Cấu thành tăng nặng là hệ thống các dấu hiệu định tội và các dấu hiệu làm tăngnặng đáng kể mức độ nguy hiển cho xã hội của hành vi phạm tội Nó bao giờ cũng
có khung và mức hình phạt nặng hơn so với cấu thành cơ bản; Cấu thành giảm nhẹ
là hệ thống các dấu hiệu định tội làm giảm nhẹ đáng kể mức độ nguy hiểm cho xãhội của hành vi phạm tội, cấu thành giảm nhẹ bao giờ cũng có khung hình phạt nhẹhơn so với cấu thành tăng nặng
Điều 171 BLHS năm 2015 quy định về tội cướp giật tài sản có các khunghình phạt sau:
Khung cơ bản (khoản 1) quy định mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm Khung 2 (khoản 2) quy định mức hình phạt tù từ 03 năm đến 10 năm đối vớicác trường hợp sau đây:
a) Có tổ chức; (là trường hợp phạm tội có từ 2 người trở lên có sự bàn bạc,tính toán và phân công từ trước, ở đây thường nói tới các băng, ổ nhóm hoạt động
d) Dùng thủ đoạn nguy hiểm; (là trường hợp người phạm tội thực hiện hành
vi nhanh chóng chiếm đoạt bằng hình thức dễ gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe của người bị tấn công hoặc người phạm tội)
Trang 35đ) Hành hung để tẩu thoát; (là trường hợp người phạm tội có hành vi dùngsức mạnh chống lại việc bắt giữ để tẩu thoát Việc chống trả này không đòi hỏi phải
có gây thương tích đáng kể hay không, mục đích của việc chống trả là nhằm tẩuthoát, nếu nhằm giữ bằng được tài sản vừa cướp giật thì là trường hợp chuyển hóa
từ tội cướp giật tài sản sang tội cướp tài sản)
e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30%;
g) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;
h) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
i) Tái phạm nguy hiểm (là trường hợp đã bị kết án về tội phạm rất nghiêmtrọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiệnhành vi phạm tội cướp giật tài sản hoặc đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lạithực hiện hành vi phạm tội do cố ý)
Khung 3 (khoản 3) phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000đồng;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;
c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh
Khung 4 (khoản 4) phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 500.000.000 đồng trở lên;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổnthương cơ thể 61% trở lên hoặc gây thương tích hoặc gây tởn hại cho sức khỏe của
02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 31% trở lên;
c) Làm chết người;
d) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp
Trang 36Khung 5 (khoản 5) quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.
Tiểu kết chương 1
Trên cơ sở nghiên cứu các văn bản pháp luật, các công trình nghiên cứu khoahọc, các bài viết của nhiều tác giả, trong Chương 1 của Luận văn, tác giả đã đi sâunghiên cứu, phân tích cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý của định tội danh tội cướp giậttài sản về khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa, quy trình và các trường hợp định tội danh.Làm rõ các CTTPcủa tội cướp giật tài sản và các yếu tố tác động đến định tội danhtội cướp giật tài sản… luận văn đã phân biệt được tội cướp giật tài sản với một sốtội phạm xâm phạm sở hữu khác cũng như các tình tiết định khung tăng nặng, giảmnhẹ giúp cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xửthận trọng hơn khi xem xét tất cả các tình tiết liên quan đến vụ án để định tội vàquyết định hình phạt được chính xác, đảm bảo việc xử lý vụ án được toàn diện,khách quan, đúng pháp luật
Do vậy, những vấn đề lý luận và pháp luật của định tội danh tội cướp giật tàisản được nên tại Chương 1 sẽ làm tiền đề cho việc nghiên cứu, đánh giá và phântích làm rõ thực tiễn định tội danh và quyết định hình phạt tội cướp giật tài sản tạiquận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 37Chương 2 THỰC TIỄN ĐỊNH TỘI DANH TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN
TẠI QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
2.1 Tổng quan khái quát tình hình xét xử tội cướp giật tài sản tại quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh (từ năm 2014 đến năm 2018)
Như đã nêu ở phần mở đầu, Quận Bình Tân là một trong những quận vùngven của Thành phố Hồ Chí Minh, được chia tách từ huyện Bình Chánh từ ngày05/11/2003 và phân chia thành 10 phường, hiện có tỷ lệ dân cư đông đúc, thu húthơn 90.000 lao động từ các tỉnh, thành trong cả nước đến làm việc và sinh sống Vớitốc độ đô thị hóa và tốc độ phát triển kinh tế nhanh đã kéo theo sự gia tăng về dân
số trong những năm gần đây nên tình hình tội phạm luôn đứng đầu so với 24 quận,huyện trên toàn thành phố, trong đó tội phạm xâm phạm sở hữu về tài sản luôn diễnbiến rất phức tạp và có chiều hướng gia tăng
Tội cướp giật tài sản trên địa bàn quận Bình Tân, Tp Hồ Chí Minh so vớitổng số tội phạm hình sự được khởi tốlà rất lớn, từ năm 2014 đến năm 2018 CQĐT
đã khởi tố từ nguồn tố giác, tin báo về tội phạm và bắt quả tang với tổng số 2.946vụ/ 2.654 bị can; trong đó có 1.870 vụ/ 1.214 bị can phạm tội xân phạm sở hữu(chiếm tỷ lệ 63,48%) và có 399 vụ/ 507 bị can(chiếm tỷ lệ 21,34%) Nỗi lên là cácđối tượng cướp giậttài sản hình thành băng nhóm ngày càng trẻ hóa về độ tuổi,chúng hoạt động manh động, lều lĩnh, táo bạo và trang bị vũ khí sẵn sàng chống trả,gây thương tích cho người khác khi bị đuổi bắt, gây hoang mang trong nội bộ quầnchúng nhân dân, ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự, chính trị tại địa phương
Do vậy, tình hình xét xử đối với loại tội phạm này thường được các ngành, các cấpquan tâm chỉ đạo thường xuyên, hình phạt áp dụng đối với loại tội phạm này thườngrất nghiêm khắc nhằm để răn đe và phòng ngừa chung
Với hệ thống pháp luật hình sự ngày càng được hoàn thiện thông qua sự rađời của BLHS năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, BLTTHS năm 2015cùng với sự quyết tâm cố gắng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũcán bộ tiến hành tố tụng hình sự (Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán), các
Trang 38vụ án cướp giật tài sản được được phát hiện, bắt giữ và xử lý trên địa bàn quận BìnhTân ngày càng nhiều Theo báo cáo thống kê tội phạm do Viện kiểm sát nhân dânquận Bình Tân qua từng năm công tác, từ năm 2014 đến năm 2018, loại tội phạmcướp giật tài sản diễn ra cụ thể nhau sau:
Bảng 2.1 Số liệu phản ánh tình hình khởi tố, truy tố và xét xử tội cướp giật tài sản trên địa bàn quận Bình Tân, TP Hồ Chí Minh từ 2014 đến 2018.
Vụ Bị can Vụ Bị can Vụ Bị cáo
Nguồn: Bộ phận Thống kê tội phạm VKSND quận Bình Tân
Năm 2014, CQĐT đã khởi tố 64 vụ/ 79 bị can; VKS truy tố 37 vụ/65 bị can;TAND đã xét xử 35 vụ/ 61 bị cáo
Năm 2015, CQĐT đã khởi tố 69 vụ/ 75 bị can; VKS đã truy tố 42 vụ/79 bịcan; TAND đã xét xử44vụ/80 bị cáo
Năm 2016, CQĐT đã khởi tố 86 vụ/ 91 bị can; VKS đã truy tố 53 vụ/ 112 bịcan; TAND đã xét xử 48 vụ/105 bị cáo
Năm 2017, CQĐT đã khởi tố 93 vụ/ 129 bị can; VKS đã truy tố 55 vụ/ 106 bịcan; TAND đã xét xử 57 vụ/ 117 bị cáo
Năm 2018, CQĐT đã khởi tố97 vụ/ 133 bị can; VKS đã truy tố 61 vụ/126 bịcan; TAND đã xét xử 62 vụ/ 121 bị cáo
Như vậy, trong 05 năm công tác (từ năm 2014 đến năm 2018) trên địa bànquận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh, CQĐT đã khởi tố 409vụ/ 507 bị can; VKS
đã truy tố 248 vụ/488 bị can; TAND đã xét xử 246 vụ/ 484 bị cáo Trung bình mỗinăm có khoảng 49 vụ/ 96 bị cáo được TAND đưa ra xét xử sơ thẩm, số lượng bị cáo