Tài liệu tham khảo kinh tế đầu tư: Phân tích vốn đầu tư phát triển toàn xã hội thời kỳ 1996 - 2000 và dự đoán cho những năm gần đây
Trang 1
LỜI MỞ ĐẦU
Nhờ có đường lối đổi mới kinh tế của Đảng và Nhà nước mà trong những nămqua hoạt động đầu tư đă và đang phát triển mạnh mẽ về quy mô, đa dạng về nguồnvốn, ngành nghề và hình thức sở hữu, rộng rãi trên phạm vi cả nước Trong thời gianqua, chúng ta đã có những cơ chế, chính sách và giải pháp tương đối phù hợp nên đãhuy động được các nguồn vốn trong nước cũng như ngoài nước để làm tăng nguồnvốn đầu tư của toàn xã hội Sự phát triển của hoạt động đầu tư là một trong nhữngyếu tố thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao mức sống của nhân dân và giải quyếtnhiều vấn đề xã hội của nước nhà
Các thông tin về hoạt động đầu tư, nhất là thông tin về vốn đầu tư phát triển, đóngvai trò rất quan trọng trong công tác quản lý kinh tế đất nước Cùng với các chỉ tiêutổng hợp quan trọng khác, chỉ tiêu tổng số vốn đầu tư phát triển được các nhà quản lý
sử dụng để tính toán chỉ tiêu GDP trong từng quý hoặc từng năm Chỉ tiêu này cũnggiúp cho các nhà hoạch định chính sách quản lý vĩ mô phù hợp ( về huy động nguồnvốn, về điều chỉnh cơ cấu đầu tư theo vùng, khu vực đầu tư và ngành… ) trong từnggiai đoạn phát triển kinh tế đất nước Hơn thế nữa các thông tin về hoạt động đầu tưcòn được dùng vào các nghiên cứu chuyên đề về kinh tế, tài chính, ngân hàng Cuốicùng là một số chỉ tiêu về đầu tư có thể đáp ứng nhu cầu sử dụng của một số tổ chứcquốc tế cũng như các nhà đầu tư nước ngoài quan tâm đến thị trường Việt Nam
Qua những thực tế đó, và qua thời gian thực tập tại Tổng cục thống kê, em mạnhdạn nghiên cứu vấn đề về vốn đầu tư phát triển toàn xã hội với đề tài nghiên cứu là: “
Phân tích vốn đầu tư phát triển toàn xã hội thời kỳ 1996 – 2000 và dự đoán cho những năm gần đây ”.
Đề tài này gồm 3 chương chính:
Chương I: Cung cấp những khái niệm và thuật ngữ có liên quan đến hoạt động
đầu tư và phát triển toàn xã hội
Trang 2
Chương II: Là một số biện pháp thống kê cần dùng để phân tích việc thực hiện
vốn đầu tư phát triển toàn xã hội
Chương III: Là vận dụng các chỉ tiêu phân tích ở chương II nhằm phân tích tình hình thực hiện vốn đầu tư toàn xã hội và dự đoán cho những năm sau.
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các thầy cô giáo trong khoa thống kê
và các bác, các cô chú làm việc tại vụ Xây dựng, giao thông vận tải và bưu điện củaTổng cục thống kê Đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo Phạm NgọcKiểm Do trình độ và thời gian nghiên cứu còn hạn chế cho nên chuyên đề còn cónhiều thiếu sót và tồn tại Em rất mong được sự góp ý của các thầy cô để bài viết của
em được tốt hơn
Hà Nội 5-2002
Trang 3
CHƯƠNG I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VỐN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TOÀN XÃ HỘI
I MỘT SỐ KHÁI NIỆM CHỦ YẾU
Để có cơ sở phân tích tình hình thực hiện vốn đầu tư phát triển trước hết chúng taphải tìm hiểu một số khái niệm, thuật ngữ sẽ được sử dụng trong đề tài này
1 Đầu tư phát triển, vốn đầu tư phát triển, dự án đầu tư và các thuật ngữ có liên quan
Trước đây, hai thuật ngữ “đầu tư “và “đầu tư xây dựng cơ bản” thường được sử
dụng và chúng thường được đi cùng với nhau để tạo thành một khái niệm “đầu tư xâydựng cơ bản “ Trong những năm gần đây ở nước ta mới là “đầu tư phát triển” vàcũng tương tự như vậy đối với khái niệm “vốn đầu tư phát triển” Các thuật ngữ nàyngày càng thường xuyên xuất hiện trong các tài liệu, sách báo và trong một số trườnghợp chúng được dùng thay thế cho thuật ngữ đầu tư và đầu tư XDCB
Thực tế cho thấy rằng, có một mối quan hệ rất gần gũi giữa sự phát triển của nềnkinh tế ( thể hiện ở mức tăng trưởng ) và vốn đầu tư Để đạt được tốc độ tăng trưởngcao cần một nguồn vốn đầu tư lớn và ngược lại một tốc độ đầu tư cao chỉ có thể duytrì được trong một thời kì dài nhờ vào tốc độ tăng trưởng cao và ổn định Có thể đây
là một trong những lý do chủ yếu để hai thuật ngữ “vốn đầu tư” và “phát triển” đượcghép lại với nhau để hình thành một thuật ngữ mới là “vốn đầu tư phát triển” và “vốnđầu tư phát triển toàn xã hội”
1.1 Đầu tư
Đi vào nội dung của thuật ngữ mới này, để thuận tiện, trước tiên hãy xem xét thếnào là “đầu tư” và “vốn đầu tư”? Hai học giả người Mỹ Paul A.Samuelson vàWilliam D.Nordhaus đã định nghĩa về Đầu tư gồm 2 khái niệm hoàn toàn khác nhaunhư sau:
Trang 4
(1) Đầu tư là một hoạt động kinh tế để dành hoặc tiết kiệm tiêu dùng hiện tạinhằm tăng thêm nhiều sản lượng trong tương lai Nó bao gồm các khoản vốn, tư liệusản xuất hữu hình (công trình xây dựng, vật kiến trúc, máy móc và hàng tồn kho) vàcác khoản vốn đầu tư vô hình (giáo dục hoặc “vốn đầu tư con người”, nghiên cứu vàphát triển, sức khoẻ)
(2) Theo thuật ngữ tài chính, đầu tư có một nghĩa hoàn toàn khác là bao hàmmột khoản chi phí về chứng khoán, chẳng hạn như cổ phần hoặc cổ phiếu
Hai ông cho rằng cần phân biệt rõ hai khái niệm đầu tư trên Đối với các nhà kinh
tế học, đầu tư là việc sản suất ra các tư liệu sản xuất lâu bền Nhưng trong đời sốngthì đầu tư lại thường bao hàm tiền để mua cổ phiếu hoặc mở một tài khoản tiết kiệm.Nếu một người dùng 5 triệu đồng tiền gửi tiết kiệm được để mua trái phiếu của chínhphủ hoặc mua trái phiếu của ngân hàng, theo thuật ngữ kinh tế, sẽ không có hoạt độngđầu tư nào xảy ra Tất cả chẳng qua chỉ chuyển đổi một hình thái tài sản tài chính từdạng này sang dạng khác Chỉ khi một tư liệu sản xuất vật chất được tạo ra là lúc màcác nhà kinh tế gọi là đầu tư
Trong qui chế đầu tư và xây dựng ban hành kèm theo nghị định số
52/1999/NĐ-CP ngày 08/7/1999 của chính phủ cũng như trong các văn bản có liên quan của cácchức năng, tuy thuật ngữ đầu tư và đầu phát triển có được sử dụng, nhưng không cómột định nghĩa hoặc sự giải thích cụ thể nào về hai khái niệm này, mà chỉ đưa ra một
số thuật ngữ liên quan về đầu tư và xây dựng như sau:
(1) “Dự án đầu tư” là một tập hợp những đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn đểtạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm đạt được sự tăngtrưởng về số lượng, hoặc duy trì, cải tiến nâng cao chất lượng của sản phẩm hoặc dịch
vụ trong khoảng thời gian xác định (chỉ bao gồm hoạt động đầu tư trực tiếp)
Trong thực tế quá trình thực hiện hầu hết các dự án đầu tư đều thường phải thôngqua hoạt động xây dựng cơ bản, nhưng về mặt lý thuyết thì thực hiện một dự án đầu
tư không nhất thiết phải bao gồm hoạt động xây dựng cơ bản
Trang 51 2 Đầu tư phát triển toàn xã hội.
“Đầu tư phát triển” là quá trình bỏ vốn để tạo ra hoặc duy trì một tài sản vật chất
và phi vật chất với hi vọng nhận được lợi ích trong tương lai Nói cách khác, đầu tưphát triển là một hoạt động kinh tế để dành (tiết kiệm) tiêu dùng hiện tại nhằm tăngthêm nhiều sản phẩm trong tương lai Nó bao gồm các khoản vốn, tư liệu sản xuấthữu hình ( công trình xây dựng, vật kiến trúc, máy móc và hàng tồn kho) và cáckhoản vốn đầu tư vô hình (giáo dục, nghiên cứu và phát triển, sức khoẻ) Đầu tư pháttriển không bao hàm các hoạt động mua bán chứng khoán, gửi tiền tiết kiệm
Như vậy vốn đầu tư phát triển sẽ có nội dung rộng hơn vốn đầu tư xây dựng cơbản Vốn đầu tư xây dựng cơ bản là những chi phí bằng tiền dùng cho việc xây dựngmới, mở rộng, xây dựng lại và khôi phục tài sản trong nền kinh tế, về thực chất chỉgồm những chi phí trực tiếp làm tăng tài sản cố định Trong khi đó, vốn đầu tư pháttriển ngoài vai trò làm tăng tài sản cố định còn làm tăng tài sản lưu động, tài sản trítuệ và nguồn nhân lực, nâng cao mức sống dân cư và mặt bằng dân trí, bảo vệ môitrường sinh thái, hỗ trợ các chương trình mục tiêu quốc gia, hỗ trợ các hoạt động đầu
tư ngắn hạn, trung hạn và dài hạn khác mà những chi phí này không thuộc vốn đầu tưxây dựng cơ bản Tuy nhiên, trong cấu thành vốn đầu tư phát triển thì vốn đầu tưXDCB vẫn là một bộ phận quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn nhất
Trang 6
Ta có thể chia vốn đầu tư phát triển làm hai phần như sau:
-Vốn đầu tư phát triển muốn phát huy tác dụng trước hết phải thông qua hoạtđộng xây dựng (bao gồm cả hoạt động xây dựng, lắp đặt thiết bị và mua sắm thiết bị).Như vậy, các dự án phải tiến hành hoạt động xây dựng thì vốn đầu tư của dự án sẽthuộc nhóm này (gọi là dự án đầu tư xây dựng )
- Vốn đầu tư phát triển muốn phát huy hết tác dụng không phải thông qua hoạtđộng xây dựng Như vậy, các dự án không có hoạt động xây dựng thì vốn đầu tư của
dự án sẽ thuộc nhóm này (các dự án đầu tư không thuộc xây dựng)
Ở đây, chúng ta cần chú ý phân biệt tài nguyên thiên nhiên như đất đai, hầmmỏ không được liệt vào phạm trù vốn đầu tư phát triển vì nó không được tạo ra từcác hoạt động đầu tư Còn các khoản hoạt động đầu tư dưới dạng thiết bị máy móc,nhà xưởng, vật kiến trúc hay một số vật liệu khác cần cho quá trình khai thác nguồntài nguyên thiên nhiên thì lại được xếp vào vốn đầu tư phát triển sản xuất
Các tài sản vật chất trong quá trình sử dụng hao mòn theo thời gian và do nhucầu sử dụng các tài sản vật chất ngày càng tăng cho nên cần phải tiến hành thườngxuyên việc bù đắp hao mòn và tăng thêm khối lượng các tài sản vật chất mới Quátrình này được thực hiện bởi hoạt động đầu tư nhờ vào vốn đầu tư phát triển
“Đầu tư phát triển toàn xã hội” là những chi phí bỏ ra gắn liền với việc làm tăngthêm tài sản cho toàn xã hội
1 3 Tổng mức vốn đầu tư
“Tổng mức vốn đầu tư” là giới hạn chi phí tối đa mà người có thẩm quyền quyếtđịnh đầu tư cho phép chủ đầu tư lựa chọn các phương án thực hiện dự án đầu tư.Tổng mức vốn đầu tư bao gồm những chi phí cho việc chuẩn bị đầu tư (điều tra khảosát, lập và thẩm định dự án), chi phí chuẩn bị thực hiện đầu tư, chi phí thực hiện đầu
tư và xây dựng, chi phí chuẩn bị sản xuất, nghiệm thu, lãi vay ngân hàng của chủ đầu
tư trong thời gian thực hiện dự án, vốn lưu động ban đầu cho sản xuất (đối với dự ánsản xuất), chi phí bảo hiểm công trình, chi phí quản lý dự án, các khoản thuế theo quiđịnh, chi phí cho thẩm định phê duyệt quyết toán và chi phí dự phòng
Trang 7
Tổng số vốn đầu tư phát triển để tích luỹ còn được gọi là tài sản quốc gia Vềphương diện vật chất, tài sản quốc gia như là một kết quả của quá trình đầu tư baogồm các loại: công xưởng, nhà máy, các trụ sở cơ quan, trang thiết bị văn phòng, máymóc thiết bị, phương tiện vận tải, các cơ sở hạ tầng, hàng hoá tồn kho các loại, cáccông trình công cộng và nhà ở
Thành phần chi tiết của tổng mức vốn đầu tư của các dự án đầu tư có xây dựng
cơ bản bao gồm:
* Vốn chuẩn bị đầu tư gồm các khoản chi phí:
- Điều tra, khảo sát, nghiên cứu phục vụ cho lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi,báo cáo nghiên cứu khả thi
- Lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, báo cáo nghiên cứu khả thi (kể cả tư vấn)hoặc lập báo cáo đầu tư
- Phí thẩm định dự án
* Vốn chuẩn bị thực hiện dự án đầu tư gồm các khoản chi phí:
- Dàn xếp về vốn (trong trường hợp vay vốn nước ngoài được ngân hàng Nhànước chấp nhận)
- Đấu thầu thực hiện dự án và xét thầu
- Các dịch vụ tư vấn kĩ thuật, tư vấn hỗ trợ quản lý, giám sát, tư vấn xây dựng
- Chuyển giao công nghệ, hỗ trợ kĩ thuật ban đầu
- Khảo sát thiết kế xây dựng
Trang 8+ Lập phương án phòng chống cháy, nổ theo qui định về phòng cháy, chữa cháy.
* Chi phí chuẩn bị sản xuất: chi phí nguyên, nhiên vật liệu, nhân công để chạy
thử không tải và có tải trừ đi giá sản phẩm thu hồi được
* Các khoản thuế theo quy định
Thẩm định phê duyệt quyết toán
2 Phân loại vốn đầu tư phát triển toàn xã hội
Để dễ dàng cho việc nghiên cứu người ta phân loại vốn đầu tư phát triển toàn xãhội theo nhiều tiêu thức khác nhau
2.1.Phân loại vốn đầu tư phát triển toàn xã hội theo thành phần kinh tế.
Theo quyết định số 147-TCTK-PPCĐ ngày 27/12/1993 của Tổng cục trưởngtổng cục thống kê, chia các khu vực và thành phần kinh tế ở Việt Nam như sau:
A- Khu vực kinh tế trong nước
Trang 9
B – Khu vực có vốn đầu tư nước noài
1 100% vốn nước ngoài
2 Liên doanh với thành phần kinh tế Nhà nước
3 Liên doanh với thành phần kinh tế tập thể
4 Liên doanh với thành phần kinh tếtư nhân
5 Liên doanh với thành phần kinh tế cá thể
6 Liên doanh với thành phần kinh tế hỗn hợp
C – Khu vực kinh tế đầu tư ra nước ngoài
Đề tài này chỉ nghiên cứu đối với hai khu vực kinh tế đầu tiên, do khu vực kinh
tế thứ ba ở nước ta hiện nay chưa phát triển là bao, nếu không muốn nói là hầu nhưkhông có
Thành phần kinh tế Nhà nước
Thành phần kinh tế Nhà nước là các đơn vị, tổ chức trực tiếp sản xuất kinhdoanh hoặc phục vụ sản xuất, kinh doanh mà toàn bộ nguồn lực thuộc sở hữu Nhànước hoặc phần của Nhà nước chiếm tỉ lệ khống chế
Kinh tế Nhà nước bao gồm các doanh nghiệp Nhà nước (kinh tế quốc doanh),các tài sản thuộc sở hữu Nhà nước (đất đai, tài nguyên, ngân hàng, tài chính, dự trữquốc gia…)
Như vậy, các doanh nghiệp Nhà nước chỉ là một bộ phận chủ yếu nhất của kinh
Trang 10
- Quốc hữu hoá các doanh nghiệp tư bản tư nhân
- Góp cổ phần khống chế đối với các doanh nghiệp tư nhân
Ngoài ra, với bản chất Nhà nước XHCN, Nhà nước xác định đất đai, tài nguyênthiên nhiên, tài chính, ngân hàng… do Nhà nước nắm giữ, chi phối để điều tiết, địnhhướng sự phát triển kinh tế – xã hội
Kinh tế Nhà nước sản xuất kinh doanh theo nguyên tắc hạch toán kinh tế, thựchiện phân phối theo lao động và hiệu quả sản xuất kinh doanh Theo chủ trương củaĐảng ta, kinh tế Nhà nước cần tập trung vào các ngành, lĩnh vực trọng yếu như kếtcấu hạ tầng kinh tế – xã hội, hệ thống tài chính, ngân hàng, những cơ sở sản xuất kinhdoanh, thương mại, dịch vụ quan trọng, những cơ sở kinh tế phục vụ an ninh quốcphòng và vấn đề xã hội, để đảm bảo những cân đối lớn, chủ yếu của nền kinh tế vàthực hiện vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường
Thành phần kinh tế tập thể
Thành phần kinh tế tập thể bao gồm các tổ chức kinh tế (thường được gọi là hợptác xã) được hình thành phải trên cơ sở tự nguyện, hoạt động theo nguyên tắc dânchủ, bình đẳng và cùng có lợi Mô hình của hợp tác xã phải phù hợp với quy mô sảnxuất kinh doanh, trình độ trang bị kỹ thuật, lao động, vốn và khả năng quản lý Hiện ởnước ta có các loại hình hợp tác xã sau đây: Hợp tác xã nông nghiệp, hợp tác xã ngưnghiệp, hợp tác xã tín dụng, hợp tác xã mua bán, hợp tác xã vận tải, hợp tác xã xâydựng, hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp, hợp tác xã dịch vụ tổng hợp
Thành phần kinh tế tư nhân
Thành phần kinh tế tư nhân gồm các doanh nghiệp được thành lập và hoạt độngtheo Luật Doanh nghiệp tư nhân Doanh nghiệp tư nhân là do một cá nhân làm chủ và
tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanhnghiệp Chủ doanh nghiệp tư nhân có thể trực tiếp hoặc thuê người khác quản lý, điềuhành hoạt động kinh doanh
Thành phần kinh tế cá thể
Trang 11
Thành phần kinh tế cá thể bao gồm các hộ sản xuất kinh doanh nhỏ trực tiếptham gia nhưng chưa đủ điều kiện thành lập công ty tư nhân Nhóm này hoạt độngchủ yếu trong các lĩnh vực nông nghiệp xây dựng, vận tải, thương mại, dịch vụ,ngành nghề tiểu thủ công nghiệp Chủ hộ chịu trách nhiệm về vốn và kết quả hoạtđộng kinh doanh của mình
Chú ý rằng liên quan đến đầu tư phát triển, hàng năm các hộ dân cư (bao gồm cảcác hộ kinh doanh cá thể ) còn bỏ ra một lượng rất lớn vốn đầu tư xây dựng vào cáccông trình phục vụ sinh hoạt cho họ, nhất là đầu tư vào nhà ở Như vậy trong đề tàinày vốn đầu tư của dân sẽ được bao gồm trong vốn đầu tư phát triển của thành phầnkinh tế cá thể
Thành phần kinh tế hỗn hợp
Thành phần kinh tế hỗn hợp bao gồm các đơn vị kinh tế được thành lập trên cơ
sở liên doanh của các đơn vị kinh tế thuộc các thành phần kinh tế khác nhau và dẫnđến việc thành lập các doanh nghiệp theo Luật công ty Thuộc thành phần kinh tế hỗnhợp gồm có công ty trách nhiệm hữu hạn (TNNH), công ty cổ phần (CP) và công tyhợp danh (HD), gọi chung là công ty
Công ty là dạng doanh nghiệp có tư cách pháp nhân trong đó các thành viêncùng góp vốn, cùng chia nhau lợi nhuận, cùng chịu lỗ tương ứng và chịu trách nhiệm
về các khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn góp của mình Công ty đượcquyền tự do lựa chọn loại hình kinh doanh, mặt hàng kinh doanh
2.2 Phân loại vốn đầu tư phát triển toàn xã hội theo nguồn vốn đầu tư.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế nước nhà, vốn đầu tư toàn xã hội ngàynay rất đa dạng, được hình thành từ nhiều nguồn vốn, có thể được phân loại chi tiếtnhư sau:
* Vốn ngân sách Nhà nước: (bao gồm ngân sách trung ương và địa phương).Vốn
ngân sách được hình thành từ tích luỹ của nền kinh tế dùng để đầu tư theo kế hoạchNhà nước, đối với những cơ sở hạ tầng kinh tế, các dự án trồng rừng đầu nguồn, rừngphòng hộ, vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, các dự án xây dựng công trình
Trang 12
phúc lợi công cộng, quản lý Nhà nước, công trình khoa học kĩ thuật an ninh quốcphòng và các dự án trọng điểm của Nhà nước do Chính phủ quyết định và không cókhả năng trực tiếp thu hồi vốn
* Vốn tín dụng ưu đãi thuộc ngân sách Nhà nước.
Dùng để đầu tư vào các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế, các cơ sở sản xuấttạo việc làm, các dự án đầu tư của các ngành có khả năng thu hồi vốn được xác địnhtrong cơ cấu kế hoạch của Nhà nước Vốn tín dụng ưu đãi thuộc ngân sách Nhà nướchình thành từ ngân sách Nhà nước, vốn thu hồi nợ từ các năm trước, vốn Chính phủvay nợ nước ngoài theo mục tiêu dự án thoả thuận với nước ngoài Việc bố trí đầu tư
do Chính phủ quyết định cụ thể cho từng đối tượng trong thời kì kế hoạch Vốn vaynày được hưởng lãi suất ưu đãi hoặc không có lãi theo dự án công trình do Chính phủquyết định
* Vốn tín dụng thương mại
Dùng để đầu tư xây dựng mới, cải tạo mở rộng đổi mới kĩ thuật, và công nghệcác dự án sản xuất kinh doanh, dịch vụ có quả, có khả năng thu hồi vốn và có đủ điềukiện vay vốn theo qui định hiện hành Vốn tín dụng thương mại được áp dụng theo cơchế tự vay tự trả và thực hiện đầy đủ các thủ tục vào đầu tư và điều kiện vay trả vốn.Vốn tín dụng thương mại được ngân hàng Nhà nước cho vay trực tiếp các chủ đầu tư,theo hình thức vay ngắn hạn, dài hạn với lãi suất bình thường
* Vốn tự huy động của các doanh nghiệp Nhà nước:
Dùng để đầu tư cho phát triển sản xuất kinh doanh, nâng cao chất lượng và khảnăng cạnh tranh của sản phẩm; doanh nghiệp phải sử dụng theo đúng chế độ quản lívốn đầu tư hiện hành, đảm bảo sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả Vốn này hìnhthành từ lợi nhuận để lại, sau khi đã nộp đủ thuế cho Nhà nước, tiền từ thanh lí tàisản, từ vốn khấu hao được Nhà nước cho để lại, từ vốn cổ phần, vốn liên doanh vớicác doanh nghiệp khác và từ quỹ của doanh nghiệp có thể huy động được, cũng nhưcác khoản tự vay khác mà doanh nghiệp tự có
Trang 13* Vốn đầu tư của các tổ chức kinh tế ngoài quốc doanh
Là vốn của chủ đầu tư vào các đơn vị tổ chức kinh tế thuộc thành phần kinh tếngoài quốc doanh như các hợp tác xã, doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữuhạn, công ty cổ phần dùng vào đầu tư xây dựng cơ bản Vốn này gồm vốn tự có vàvốn vay của các tổ chức nói trên để đầu tư cho các công trình của mình Riêng vốnđầu tư của các hộ cá thể dân cư khi cần Nhà nước sẽ tổ chức điều tra sau (đây làkhoản vốn đầu tư của các hộ cá thể vào các công trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ
và các công trình phục vụ sinh hoạt) (Lưu ý rằng: đối với các dự án đầu tư có nguồnvốn của tư nhân hoặc hộ cá thể thì chủ đầu tư cũng đồng thời là chủ sở hữu vốn đầutư; đối với các dự án đầu tư của các công ty và các hợp tác xã thì chủ đầu tư là ngườiđại diện theo pháp luật của công ty hoặc hợp tác xã đó)
* Vốn góp của nhân dân
Là huy động nhân dân đóng góp bằng tiền, bằng hiện vật hoặc công lao động củacác dự án đầu tư chủ yếu sử dụng vào xây dựng công trình phúc lợi công cộng phục
vụ trực tiếp cho người đóng góp vốn theo các điều kiện cam kết khi huy động vốn
* Vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI):
Là phần vốn đầu tư mà nhà đầu tư nước ngoài đầu tư liên doanh một phần hoặcđầu tư 100% vốn tại Việt Nam Đối với các dự án liên doanh với nước ngoài, vốn nàykhông bao gồm phần Việt Nam đóng góp Vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài thuộcđối tượng điều chỉnh của luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (sửa đổi)
* Những nguồn vốn khác:
Trang 14
Ngoài những nguồn vốn nói trên, còn có vốn đầu tư của các cơ quan ngoại giao,
tổ chức quốc tế và các cơ quan nước ngoài được phép xây dựng trên nước ta, sẽ đượcquản lí theo hiệp định hoặc thoả thuận đã đưọac kí kết của Chính phủ với các tổ chức
cơ quan đó
2.3 Phân loại vốn đầu tư phát triển toàn xã hội theo vùng và lãnh thổ.
Nước ta bao gồm 8 vùng địa lý như sau:
Đồng bằng sông Cửu Long
2.4 Phân loại vốn đầu tư phát triển toàn xã hội theo ngành kinh tế.
Nước ta có những ngành kinh tế như sau:
Nông nghiệp và lâm nghiệp
Thuỷ sản
Công nghiệp khai thác mỏ
Công nghiệp chế biến
Sản xuất và phân phối điện, khí đốt và nước
Hoạt động khoa học và công nghệ
Các hoạt động liên quan đến kinh doanh tài sản
Trang 15
Quản lý nhà nước và an ninh quốc phòng
Giáo dục và đào tạo
Y tế và hoạt động cứu trợ xã hội
Hoạt động văn hoá và thể thao
Các hoạt động Đảng, đoàn thể và hiệp hội
Hoạt động phục vụ cá nhân và cộng đồng
Hoạt động làm thuê công việc gia đình
Hoạt động của các tổ chức và đoàn thể quốc tế
II Vai trò của vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trong nền kinh tế quốc dân.
Đầu tư vừa tác động đến tổng cung, vừa tác động đến tổng cầu
Đầu tư là một yếu tố chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cầu của toàn bộ nền kinh tế.Theo số liệu của ngân hàng thế giới, đầu tư thường chiếm khoảng 24-28% trong cơcấu tổng cầu của tất cả các nước trên thế giới Đối với tổng cầu, tác động của đầu tư
là ngắn hạn Với tổng cung chưa kịp thay đổi, sự tăng lên của đầu tư làm tổng cầutăng Khi thành quả của đầu tư phát huy tác dụng, các năng lực mới đi vào hoạt độngthì tổng cung, đặc biệt là tổng cung dài hạn tăng lên, kéo theo sản lượng tiềm năngtăng lên Sản lượng tăng, giá cả giảm cho phép tăng tiêu dùng Việc tăng tiêu dùng lạikích thích sản xuất hơn nữa Sản xuất phát triển là nguồn gốc cơ bản để tăng tích luỹ,phát triển kinh tế xã hội, tăng thu nhập cho người lao động, nâng cao đời sống củamọi thành viên trong xã hội
Đầu tư có tác động hai mặt đến sự ổn định kinh tế
Sự tác động không đồng thời về mặt thời gian của đầu tư đối với tổng cầu và đốivới tổng cung của nền kinh tế làm cho mọi sự thay đổi của đầu tư, dù là tăng haygiảm cùng một lúc vừa là yếu tố duy trì sự ổn định, vừa là yếu tố phá vỡ sự ổn địnhcủa nền kinh tế của mọi quốc gia
Chẳng hạn, khi tăng đầu tư, cầu của các yếu tố của đầu tư tăng làm cho giá củacác hàng hoá có liên quan tăng ( giá chi phí vốn, giá công nghệ, lao động, vật tư ) đếnmột mức độ nào đó dẫn đến tình trạng lạm phát Đến lượt mình, lạm phát làm cho sản
Trang 16
xuất đình trệ, đời sống của người lao động gặp nhiều khó khăn do tiền lương ngàycàng thấp hơn, thâm hụt ngân sách, kinh tế phát triển chậm lại Mặt khác, tăng đầu tưlàm cho cầu của các yếu tố có liên quan tăng, sản xuất của các ngành này phát triển,thu hút thêm lao động, giảm tình trạng thất nghiệp, nâng cao đời sống của người laođộng, giảm tệ nạn xã hội Tất cả các tác động này tạo điều kiện cho sự phát triển kinhtế
Khi giảm đầu tư (như Việt Nam thời kỳ 1982 – 1989) cũng dẫn đến tác động haimặt, nhưng theo chiều hướng ngược lại so với các tác động trên đây Vì vậy trongđiều hành vĩ mô nền kinh tế, các nhà hoạch định chính sách cần thấy hết tác động haimặt này để đưa ra các chính sách nhằm hạn chế các tác động xấu phát huy tác độngtích cực, duy trì được sử ổn định kinh tế của toàn bộ nền kinh tế
Đầu tư tác động tăng trưởng và phát triển kinh tế
Kết quả nghiên cứu của các nhà kinh tế cho thấy: Muốn giữ tốc độ tăng trưởng ởmức độ trung bình thì tỷ lệ đầu tư phải đạt được từ 15% - 25% so với GDP, tuỳ thuộcvào ICOR của mỗi nước
Nếu ICOR không đổi, mức tăng GDP hoàn toàn phụ thuộc vào vốn đầu tư
Ở các nước phát triển, ICOR thường lớn, từ 5 – 7 do thừa vốn, thiếu lao động,vốn được sử dụng nhiều để thay thế cho lao động, do sử dụng công nghệ hiện đại cógiá cao Còn ở các nước chậm phát triển ICOR thấp từ 2 – 3 do thiếu vốn, thừa laođộng nên có thể và cần phải sử dụng lao động để thay thế cho vốn, do sử dụng côngnghệ hiện đại, giá rẻ
Trang 17
Chỉ tiêu ICOR mỗi nước phụ thuộc vào nhiều nhân tố, thay đổi theo trình độphát triển kinh tế và cơ chế chính sách kinh tế trong nước Kinh nghiệm các nước chothấy, chỉ tiêu ICOR phụ thuộc mạnh vào cơ cấu kinh tế và hiệu quả đầu tư trong cácngành, các vùng lãnh thổ cũng như phụ thuộc vào hiệu quả của chính sách kinh tế nóichung Thông thường ICOR trong nông nghiệp thấp hơn trong công nghiệp, ICORtrong giai đoạn chuyển đổi cơ chế chủ yếu do tận dụng năng lực sản xuất Do đó, ởcác nước phát triển, tỷ lệ đầu tư thấp dẫn đến tỷ lệ tăng trưởng thấp
152119213330
1.62.02.42.34.34.6
Trang 18
Nguồn: Báo cáo của ngân hàng thế giới
Các nước Nhật và Thụy Sỹ có tỷ lệ đầu tư/GDP lớn lên tốc độ tăng trưởng cao.Đối với các nước đang phát triển, phát triển về bản chất được coi là vấn đề đảmbảo các nguồn vốn đầu tư đủ để đạt được một tỷ lệ tăng thêm sản phẩm quốc dân dựkiến Thực vậy, ở nhiều nước, đầu tư đóng vai trò như một: “ cú hích ban đầu ”, tạo
đà cho sự cất cánh của nền kinh tế ( các nước NICs, các nước Đông Nam á )
Đối với Việt Nam, để đạt được mục tiêu đến năm 2000 tăng gấp đôi tổng sảnphẩm quốc nội theo dự tính của các nhà kinh tế cần một khối lượng đầu tư gấp 3,5 lần
so với năm 1992, tỷ lệ vốn đầu tư so với GDP đạt 24,7%
18.28.02.53.620.5
26.88.03.06.424.7
Nguồn: Bộ kế hoạch và đầu tư.
Đầu tư và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế:
Trang 19
Kinh nghiệm của các nước trên thế giới cho thấy con đường tất yếu có thể tăngtrưởng nhanh tốc độ mong muốn (từ 9 – 10%) là tăng cường đầu tư tạo ra sự pháttriển nhanh ở khu vực công nghiệp và dịch vụ Đối với các ngành nông, lâm, ngưnghiệp do những hạn chế về đất đai và khả năng sinh học, để đạt được tốc độ tăngtrưởng từ 5 – 6% là rất khó khăn Như vậy, chính sách đầu tư quyết định quá trìnhchuyển dịch cơ cấu kinh tế ở các quốc gia nhằm đạt được tốc độ tăng trưởng nhanhcủa toàn bộ nền kinh tế
Về cơ cấu lãnh thổ, đầu tư có tác dụng giải quyết những mất cân đối về phát triểngiữa các vùng lãnh thổ, đưa những vùng kém phát triển thoát khỏi tình trạng đóinghèo, phát huy tối đa những lợi thế so sánh về tài nguyên, địa thế, kinh tế, chính trị,
… cũng như những vùng có khả năng phát triển nhanh hơn, làm bàn đạp thúc đẩynhững vùng khác cùng phát triển
Đầu tư với việc tăng cường khả năng khoa học và công nghệ của đất nước
Công nghệ là trung tâm của công nghiệp hoá Đầu tư là điều kiện tiên quyết của
sự phát triển và tăng cường khả năng công nghệ của đất nước ta hiện nay
Theo đánh giá của các chuyên gia công nghệ, trình độ công nghệ của Việt Namlạc hậu nhiều thế hệ so với thế giới và khu vực Theo UNIDO, nếu chia quá trìnhphát triển công nghệ thế giới làm 7 giai đoạn thì Việt Nam năm 1990 ở vào giai đoạn
1 và 2 Việt Nam đang là một trong 90 nước kém nhất về công nghệ Với trình độcông nghệ lạc hậu này, quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá của Việt Nam sẽgặp rất nhiều khó khăn nếu không đề ra được một chiến lược đầu tư phát triển côngnghệ nhanh và vững chắc
Chúng ta đều biết rằng có hai con đường cơ bản để có công nghệ là tự nghiên cứuphát minh ra công nghệ và nhập công nghệ từ nước ngoài Dù là tự nghiên cứu haynhập từ nước ngoài đều cần phải có tiền, cần phải có vốn đầu tư Mọi phương án đổimới công nghệ không gắn với nguồn vốn đầu tư sẽ là những phương án không khảthi
Trang 20
Đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ: Đầu tư quyết định sự ra đời, tồn
tại và phát triển của mỗi cơ sở Chẳng hạn để tạo dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho
sự ra đời của bất kỳ cơ sở nào đều cần phải xây dựng nhà xưởng, cấu trúc hạ tầng,mua sắm và lắp đặt thiết bị, máy móc trên nền bệ, tiến hành các công tác xây dựng cơbản và thực hiện các chi phí khác gắn liền với sự hoạt động trong một chu kỳ của các
cơ sở vật chất – kỹ thuật vừa tạo ra Các hoạt động này chính là các hoạt động đầu tưđối với các cơ sở sản xuất và kinh doanh dịch vụ đang tồn tại: sau một thời gian hoạtđộng, các cơ sở vật chất – kỹ thuật của các cơ sở này hao mòn, hư hỏng Để duy trì
sự hoạt động bình thường cần định kỳ tiến hành sửa chữa lớn hoặc thay mới các cơ
sở vật chất – kỹ thuật đã hư hỏng, hao mòn này hoặc đổi mới để thích ứng với điềukiện hoạt động mới của sự phát triển khoa học - kỹ thuật và nhu cầu tiêu dùng củanền sản xuất xã hội, phải mua sắm các trang thiết bị mới thay thế cho các trang thiết
bị cũ đã lỗi thời, cũng có nghĩa là phải đầu tư
Đối với các cơ sở vô vị lợi (hoạt động không để thu lợi nhuận cho bản thân mình)đang tồn tại, để duy trì sự hoạt động, ngoài tiến hành sửa chữa lớn định kỳ các cơ sởvật chất – kỹ thuật còn phải thực hiện các chi phí thường xuyên Tất cả những hoạtđộng và chi phí này đều là những hoạt động chi phí đầu tư
1 Hệ thống chỉ tiêu phản ánh quy mô đầu tư.
- Tổng mức vốn đầu tư phát triển toàn xã hội phân theo:
Trang 21
Phân theo cấu thành
Phân theo nguồn vốn
Phân theo ngành kinh tế quốc dân
2 Hệ thống chỉ tiêu phản ánh kết quả đầu tư.
Hệ thống chỉ tiêu này bao gồm tài sản cố định huy động và năng lực sản xuấtphục vụ tăng thêm
Tài sản cố định huy động: Là từng công trình hoặc hạng công trình, đối tượng
xây dựng có khả năng phát huy tác dụng độc lập, làm ra sản phẩm hàng hóa hoặc tiếnhành các sản phẩm dịch vụ cho xã hội dược ghi trong dự án đầu tư, đã kết thúc quátrình xây lắp, đã làm xong thủ tục nghiệm thu, sử dụng và có thể đưa vào hoạt đượcngay
Các tài sản cố được định huy động toàn bộ hay huy động bộ phận:
+ Huy động toàn bộ là huy động cùng một lúc tất cả các đối tượng hạng mựckhông có khả năng phát huy tác dụng độc lập trong dự án, không có dự kiến cho pháthuy tác dụng độc lập, đã kết thúc quá trình xây dựng và sẵn sàng có thể huy độngđược ngay
+ Huy động bộ phận là huy động từng đối tượng, hạng mục xây dựng của côngtrình và hoạt động ở những thời điểm khác nhau do thiết kế quy định
Nói chung, đối với công cuộc đầu tư quy mô lớn, có nhiều đối tượng, hạng mụcxây dựng có khả năng phát huy tác dụng độc lập thì được áp dụng hình thức huy dộng
bộ phận sau cho từng đối tượng, hạng mục đã kết thúc quá trình xây dựng, mua sắm,lắp đặt: Còn đối với các công cuộc đâùu tư quy mô nhỏ, thời gian thực hiện đầu tưngắn thì áp dụng hình thức huy động toàn bộ khi tất cả các đối tượng, hạng mục côngtrình đã kết thúc quá trình xây dựng, mua sắm và lắp đặt
Năng lực mới tăng: (hay còn gọi là công suất mới huy động) là khả năng sản
xuất ( hoặc phục vụ ) tính theo thiết kế đã được phê chuẩn của công trình hoàn thành
đã bàn giao cho đơn vị sử dụng theo đúng chế độ nghiệm thu bàn giao công trình
Trang 22
Năng lực sản xuất mới tăng bao gồm: năng lực sản xuất và phục vụ sản xuất củacông trình tính theo thiết kế Trường hợp mở rộng, đổi mới thiết bị hoặc khôi phụctừng phần của công trình thì chỉ tính phần năng lực mới tăng thêm do đầu tư xâydựng cơ bản mới tạo ra
Cơ sở xác định năng lực mới tăng dựa vào :
+ Biên bản nghiệm thu công trình
+ Bản thiết kế xây dựng công trình
Sản phẩm xây dựng cơ bản nào cũng có hai thuộc tính là giá trị và giá trị sử dụngnhư bất kỳ một loại hàng hoá nào khác, nó được sản xuất ra để thoả mãn nhu cầu nào
đó của sản xuất hoặc tiêu dùng với tư cách là một loại hàng hoá thông thường đượcđem trao đổi trên thị trường Khối lượng sản phẩm hàng hoá mà ngành xây dựng đãtạo ra cho xã hội được xem xét về mặt số lượng, chất lượng về chủng loại Các đốitượng xây dựng có tác dụng trực tiếp như một định hướng cụ thể để hình thành cơ cấukinh tế quốc dân nói chung và đổi mới trong từng ngành kinh tế nói riêng
Các tài sản cố định hoạt được huy động và năng lực sản xuất phục vụ tăng thêm
là sản phẩm cuối cùng của công cuộc đầu tư, chúng được thể hiện bằng tiền hoặcbằng hiện vật Các chỉ tiêu biểu hiện bằng hiện vật như số lượng các tài sản cố địnhhoạt động (số lượng nhà ở, bệnh viện, cửa hàng, trường học, nhà máy…) Công suấthay năng lực phát huy tác dụng của tài sản cố định được huy động (như số căn hộ, sốmét vuông diện tích nhà ở, số chỗ ngồi ở rạp hát, trưòng học, số giường nằm củabệnh viện, số KW giờ của nhà máy điện, số tấn than khai thác hàng năm của các mỏthan, số mét vải dệt hàng năm của các nhà máy dệt…), mức tiêu dùng nguyên vật liệutrong một đơn vị thời gian( số tấn mía chế biến trong một ngày đêm của các nhà máylàm đường…)
Chỉ tiêu giá trị các tài sản cố định huy động được tính theo giá dự toán hoặc giátrị thực tế tuỳ thuộc vào mục đích sử dụng chúng trong công tác nghiên cứu kinh tếhoặc quản lý hoạt động đầu tư Cụ thể giá dự toán được sử dụng làm cơ sở để tínhgiá trị thực tế của tài sản cố định, để lập kế hoạch về vốn đầu tư và tính khối lượng
Trang 23
đầu tư thực hiện Giá trị dự toán là cơ sở để tiến hành thanh quyết toán giữa chủ đầu
tư và các đơn vị nhận thầu Còn giá trị thực tế của các tài sản cố định huy động được
sử dụng để kiểm tra việc thực hiện kỷ luật tài chính, dự toán đối với các công cuộcđầu tư từ nguồn vốn ngân sách cấp, để ghi vào bảng cân đối tài sản cố định của cơ sở,làm một cơ sở để tính khấu hao hàng năm, phục vụ công tác hạch toán của cơ sở,đánh giá kết quả hoạt động tài chính của cơ sở
Sử dụng chỉ tiêu giá trị cho phép xác định toàn bộ khối lượng các tài sản cố địnhđược huy động của tất cả các ngành, đánh giá tổng hợp tình hình thực hiện kế hoạch
và sự biến động của chỉ tiêu này ở mọi cấp độ quản lý khác nhau
Giá trị tài sản cố định được huy động:
sang kỳ nghiên cứu (xây dựng dở dang đầu kỳ)
VT
C: Chi phí trong kỳ không làm tăng gía trị tài sản cố định
C I
F v0 Trong đó
Ivo: Vốn đầu tư đã thực hiện của đối tượng đã được huy động
Trang 24Số vốn đầu tư đã thực hiện để tạo ra kết quả trên
Hv được coi là có hiệu quả khi Hv >Hv0
chọn làm cơ sở so sánh, hoặc của đơn vị khác đã đạt tiêu chuẩn hiệu quả
3.2.Hệ số ICOR
Là đại lượng phản ánh hiệu quả của việc sử dụng vốn đầu tư , đánh giá nhu cầu
về vốn tư để đảm bảo cho GDP tăng trưởng Hệ số ICOR cao hay thấp thể hiện sốvốn cần nhiều hay ít cho sự tăng trưởng Hệ số ICOR thay đổi tuỳ theo điều kiện xãhội của mỗi nước, tuỳ theo từng thời kỳ khác nhau, tuỳ thuộc vào bố trí cơ cấu kinh
IG : tốc độ tăng GDP (tính theo giá so sánh)
Trang 25Trong đó: Vt1: Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội của năm báo cáo
Gt1: GDP tính theo giá thực tế của năm báo cáo
Gto: GDP tính theo giá thực tế của năm trước
Hệ số ICOR tính theo phương pháp này thể hiện: Để tính GDP theo giá thực tếtăng 1 đồng đòi hỏi phải có bao nhiêu đồng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội ?
Phương pháp thứ 3 được tính bằng công thức:
VS1
ICOR = (lần) GS1 – GS0
theo giá so sánh
GSo: GDP tính theo giá so sánh của năm trước
Hệ số ICOR tính theo phương pháp này thể hiện: Để tính GDP theo giá so sánhtăng 1 đồng đòi hỏi phải có bao nhiêu đồng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội tính theogiá so sánh?
Ba phương pháp tính trên đã đưa ra những kết quả khác nhau nhưng trên thực tếngười ta thường sử dụng phương pháp thứ 3
II HỆ THỐNG CHỈ TIÊU PHÂN TÍCH VÀ DỰ DOÁN VỐN ĐẦU TƯ PHÁTTRIỂN TOÀN XÃ HỘI
Phân tích và dự đoán thống kê là nêu một cách tổng hợp và bản chất cụ thể vàtính quy luật của hiện tượng và quá trình kinh tế xã hội số lớn trong điều kiện lịch sử
Trang 26
nhất định, qua biểu hiện bằng số lượng và tính toán các mức độ của hiện tượng trongtương lai nhằm đưa ra những căn cứ cho quyết định quản lý
1 Hệ thống chỉ tiêu phân tích vốn đầu tư phát triển toàn xã hội
1.1 Các chỉ tiêu phân tích dãy số thời gian.
Để phản ánh sự biến động của vốn đầu tư phát triển qua các năm, chúng ta có thể
sử dụng một số chỉ tiêu phân tích dãy số thời gian thông dụng trong khoa học thốngkê
Dãy số thơì gian (DSTG) là một dãy các chỉ số của chỉ tiêu thống kê được sắp
xếp theo thứ tự thời gian
- Cấu tạo của DSTG bao gồm hai phần :
* Thời gian (ngày, tháng, quý, năm)
* Chỉ tiêu về vốn đầu tư phát triển toàn xã hội (các trị có thể biểu hiện bằng
số tuyệt đối,số tương đối hoặc số trung bình )
1.1.1 Mức độ trung bình qua thời gian.
Chỉ tiêu này nói lên mức độ đại diện của vốn đầutư phát triển toàn xã hội hộitrong suốt thời gian nghiên cứu
Công thức:
n
y
y i
Với y i(i=1-n) là các mức độ của dãy số
1.1.2 Lưọng tăng (giảm) tuyệt đối.
Trang 27
Chỉ tiêu này phản ánh sự thay đổi về mức tuyệt đối về vốn đầu tư phát triểntoàn xã hội giữa hai thời gian nghiên cứu (thường là giữa các năm).Tuỳ theo mụcđích mà chúng ta sử dụng lượng tăng (giảm) tuyệt đối liên hoàn, lượng tăng (giảm)tuyệt đối định gốc hay lượng tăng (giảm) tuyệt đối trung bình
+ Lượng tăng (giảm) tuyệt đối liên hoàn năm thứ i so với năm thứ i-1
Chỉ tiêu này nói lên sự thay đổi của hiện tượng ở hai thời gian liền nhau
* Vi: vốn đầu tư phát triển toàn xã hội năm thứ i
* Vi-1: vốn đầu tư phát triển toàn xã hội năm thứ i-1
+ Lượng tăng (giảm) tuyệt đối định gốc: Phản ánh sự thay đổi quy mô của vốnđầu tư phát triển toàn xã hội trong thời gian dài
- Ký hiệu: i
- Công thức :
i
S i
i V V
Trong đó:
- ViS: Vốn đầu tư phát triển năm thứ tính theo giá so sánh (giá năm gốc)
- Vi: vốn đầu tư phát triển năm thứ i
+ Lượng tăng (giảm ) tuyệt đối trung bình: Đó là mức độ đại diện hay đại biểucủa các lượng tăng (giảm) tuyệt đối từng kỳ
- Ký hiệu:
- Công thức:
1 1
1
3 2
n
n n n
Trang 28
Tốc độ phát triển là một số tương đối (số lần hoặc %) phản ánh tốc độ và xuhướng biến động của vốn đầu tư phát triển qua các năm Tuỳ theo mục đích nghiêncứu ta có các tốc độ phát triển liên hoàn, tốc độ phát triển định gốc và tốc độ pháttriển bình quân Để thuận tiện, ta coi năm đầu tiên là năm gốc
+ Tốc độ phát triển liên hoàn năm thứ i so với năm thứ 1
V
V
Trong đó:
- Vi : vốn đầu tư phát triển năm thứ i
- Vi-1 : vốn đầu tư phát triển năm thứ i-1
+ Tốc độ phát triển định gốc: Phản ánh sự phát triển của vốn đầu tư phát triểntoàn xã hội trong thời gian dài
S i
Trong đó:
- ViS : vốn đầu tư phát triển năm thứ i tính theo giá so sánh ( giá năm gốc)
- V1 : vốn đầu tư phát triển năm thứ 1
1 1
t t t t
Trang 29
1.1.4.Tốc độ tăng hoặc giảm vốn đầu tư phát triển toàn xã hội.
Tốc độ tăng hoặc giảm vốn đầu tư phát triển toàn xã hội phản ánh mức độ củavốn đầu tư phát triển giữa hai năm đã tăng (+) hoặc giảm (-) bao nhiêu lần hoặc baonhiêu % Tương ứng với tốc độ phát triển chúng ta có các tốc độ tăng hoặc giảm liênhoàn, tốc độ tăng hoặc giảm định gốc, hay tốc độ tăng hoặc giảm bình quân
+ Tốc độ tăng hoặc giảm liên hoàn, là tỷ số giữa lượng tăng giảm liên hoàn
năm thứ i so với vốn đầu tư phát triển toàn xã hội ở năm thứ i-1
V
a (lần) (i=2 ,n) Nếu tính bằng % thì
at = ti –100 (%)
+ Tốc độ tăng/ giảm định gốc của vốn đầu tư phát triển của năm thứ i so với nămgốc, là tỷ số giữa lượng tăng / giảm định gốc năm thứ i so với vốn đầu tư phát triểntoàn xã hội năm thứ 1
- Ký hiệu: A i
- Công thức:
1 1
Trang 30
Dãy số vốn đầu tư phát triển toàn xã hội qua thời gian có ưu điểm là phản ánhmức độ cụ thể, thực tế của hiện tượng trong suốt quá trình biến động Tuy nhiên, nólại bị tác động của các yếu tố ngẫu nhiên khách quan, nên thông thường dãy số khôngvạch rõ được xu hướng, tính quy luật của bản thân hiện tượng Ta phải điều chỉnh dãy
số biến động sao cho có thể xoá bỏ đến mức cao nhất ảnh hưởng của các yếu tố ngẫunhiên nói trên, để cho xu hướng, quy luật được bộc lộ một cách rõ ràng
Phương pháp hồi quy theo thời gian
Trên cơ sở DSTG, phương pháp phân tích hồi quy theo thời gian là sử dụng môhình toán học nào đó (gọi là phương trình hồi quy) nhằm mô tả quy luật phát triển vàcấu trúc của vốn đầu tư phát triển toàn xã hội Trên cơ sở đó ước lượng các thông sốcủa mô hình và cắt nghĩa kinh tế xã hội của mô hình đó
Với biến thời gian là t, dạng tổng quát của phương trình hồi quy có thể được biểudiễn như sau:
Một số dạng cụ thể:
* Phương trình tuyến tính
Trang 31
bt a
t b na y
* Phương trình parabol bậc hai
2
ct bt a
2 2
3 2
2
.y a t b t c t t
t c t b t a ty
t c t b na y
1 0
lg lg
lg
lg lg
lg
t a t a y t
t a a
n y
* Phương trình hàm hypebol
t
b a
y t 1
Phương pháp biểu hiện biến động thời vụ
Sự biến động của một số hiện tượng kinh tế xã hội thường có tính thời vụ, nghĩa
là hàng năm trong từng thời gian nhất định, sự biến động thường được lặp đi lặp lại.Nguyên nhân xảy ra biến động thời vụ là do ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên nhưthời tiết, khí hậu, động đất …và phong tục tập quán của dân cư Nghiên cứu biếnđộng thời vụ nhằm hạn chế những ảnh hưởng của biến động thời vụ đối với sản xuấtlúc thì căng thẳng, khẩn trương lúc thì nhàn rỗi bị thu hẹp lại
Trang 32i Trong đó :
I i: Chỉ số thời vụ của thời gian i
y0: Số trung bình của các mức độ ttrong dãy số
y i : Số trung bình của các mức độ của các thời gian cùng tên i
1.2 Mô tả thống kê.
Các kỹ thuật thống kê mô tả có thể được vận dụng vào bước phân tích số liệu.Chúng ta có thể áp dụng các kỹ thuật của thống kê mô tả như bảng biểu, đồ thị, đểtình bày một cách xúc tích và trực giác các chỉ tiêu được tính toán ở phần trên qua đócác đặc trưng về xu hướng và biến động qua các năm của vốn đầu tư phát triển đượcbộc lộ một cách rõ ràng
Chúng ta có thể lập các bảng biểu, vẽ đồ thị sử dụng một số phân tổ chínhphục vụ cho mục đích nghiên cứu của chúng ta Một số tiêu chí phân tổ chính có thểlà:
- 8 vùng lãnh thổ và 61 tỉnh/ thành phố trực thuộc trung ương
Bảng thống kê bao gồm các hàng ngang và cột dọc, các tiêu đề và các số liệu
Trang 33
Các hàng ngang và cột dọc phản ánh qui mô của bảng Số hàng ngang, cột dọccàng nhiều thì bảng thống kê càng lớn và phức tạp Các hàng ngang, cột dọc cắt nhautạo thành các ô dùng để điền các số liệu thống kê vào đó Các hàng ngang, cột dọcthường được đánh số thứ tự để tiện cho việc sử dụng và trình bày vấn đề
Tiêu đề của bảng phản ánh nội dung của bảng và của từng chi tiết trong bảng.Trước hết có tiêu đề chung là tên gọi chung của bảng, thường viết ngắn, gọn, dễ hiểu
và đặt ở phía trên đầu của bảng Các tiêu đề nhỏ (còn gọi là tiêu mục) là tên riêng củamỗi hàng và cột phản ánh nội dung các hàng và cột đó
Các số liệu được ghi vào các ô của bảng, mỗi con số phản ánh một đặc trưng vềmặt lượng của hiện tượng nghiên cứu
Cấu thành của bảng thống kê có thể biểu hiện bằng sơ đồ sau:
Có thể chia làm ba loại bảng thống kê: giản đơn, phân tổ và kết hợp
+Bảng giản đơn: Là loại bảng mà phần chủ đề không phân tổ, chỉ sắp xếp các
đơn vị tổng thể theo tên gọi, theo địa phương hoặc theo thời gian nghiên cứu
Ví dụ:
Trang 34Đồ thị thống kê: Là các hình vẽ hoặc đường nét hình học dùng để miêu tả có
tính chất qui ước các tài liệu thống kê khác Khác với các bảng thống kê chỉ dùng con
số, các đồ thị thống kê sử dụng con số kết hợp với hình vẽ, đường nét và màu sắc đểtrình bày các đặc điểm số lượng của hiện tượng Chính vì vậy, đồ thị thu hút sự chú ýcủa người đọc, nó giúp ta nhận thức được những đặc điểm cơ bản của hiện tượng mộtcách dễ dàng, nhanh chóng Đồ thị còn giúp ta kiểm tra bằng hình ảnh độ chính xáccủa những thông tin Đồ thị thống kê có thể biểu thị:
- Kết cấu của hiện tượng theo tiêu thức nào đó và sự biến đổi của kết cấu
- Sự phát triển của hiện tượng theo thời gian
- Tình hình thực hiện kế hoạch
- Mối liên hệ giữa các hiện tượng
- Sự so sánh giữa các mức độ của hiện tượng
Trang 35
- …
Căn cứ theo nội dung phản ánh có thể phân chia đồ thị thống kê thành nhiềuloại khác nhau:
2 Các chỉ tiêu dự đoán thống kê ngắn hạn.
2.1 Dự đoán thống kê ngắn theo thời gian.
2.1.1 Dự doán dựa vào hàm xu thế
Hàm xu thế :
)
(t f
y
Dự đoán ở thời gian t+l:
) (t l f
1 1
t t t t
Dự báo
h
t l
t Y y
1 ,
Trang 362.2 Dự đoán dùng hàm xu thế kết hợp với thành phần thời vụ.
Các thành phần của DSTG t có thể được giả thiết gồm ba thành phần:
của hiện tượng kéo dài theo thời gian
Biến động thời vụ S t có tính chất lặp đi lặp lại trong thời gian nhất định củanăm
khác nhau, xu hướng khác nhau làm sự vật hiện tượng lệch khỏi xu hướng của nó
Kết hợp cộng :
t t t
Kết hợp nhân:
t t t
Mô hình hoá :
t t t
t t t
S F Y
S F Y
j
Trang 371
i T
T y
T i S
S n
m n
b
2
1 1
T a
Tìm được a, b, Cj, ta bắt đầu dự đoán bằng cách thay các giá trị t lần lượt vàophương trình (*) với các Cj tuơng ứng
Trang 38
CHƯƠNG III VẬN DỤNG MỘT SỐ CHỈ TIÊU PHÂN TÍCH THỐNG KÊ ĐỂ PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH THỰC HIỆN VỐN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TOÀN XÃ HỘI THỜI
KỲ 1996-2000 VÀ DỰ ĐOÁN CHO NHỮNG NĂM TỚI
I PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH THỰC HIỆN VỐN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN THỜI KÌ 1996-2000.
1.Tình hình thực hiện vốn đầu tư phát triển toàn xã hội thời kỳ 1996-2000.
Trong những năm vừa qua, Đảng và nhà nước ta đã có những chủ trương: Giảiphóng sức lao động, động viên tối đa mọi nguồn lực trong nước và ngoài nước, đẩymạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá, khuyến khích phát triển các thành phần kinh tế
Trang 39
và các hình thức tổ chức kinh doanh Chủ động đổi mới, phát triển và nâng cao hiệuquả kinh tế Để phát huy và tận dụng tối đa mọi nguồn lực sẵn có của mọi thànhphần kinh tế trong nước nhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế của đất nước.Với chủtrương đúng đắn đó, Đảng và nhà nước ta đã thực sự thay đổi về cơ chế quản lý sảnxuất kinh doanh, thay đổi trên khắp các lĩnh vực sản xuất và dịch vụ, ở hầu khắp cácngành nghề, các vùng và lãnh thổ của đất nước Chúng ta đã tận dụng khai thác tối đa
có kết quả các nguồn vốn đầu tư phát triển trên toàn xã hội
Để nghiên cứu tình hình thực hiện vốn đầu tư phát triển toàn xã hội ta xét cácbảng sau:
Bảng 1: Tình hình thực hiện vốn đầu tư phát triển toàn xã hội thời kỳ
1996-2000 ( theo giá so sánh)
Vốn đầu tưthực hiện (
tỷ đồng)
Lượngtăng/ giảmtuyệt đốiliên hoàn(tỷ đồng)
Lượngtăng/ giảmtuyệt đốiđịnh gốc(tỷ đồng)
Tốc độ pháttriển liênhoàn (%)
Tốc độ pháttriển định gốc(%)
Trang 406732,318447,514822,719330,431050,3
111,08117,3595,42105,96114,63
111,08130,06124,39131,82151,10
Nguồn: Tổng cục thống kê