Tài liệu tham khảo kinh tế đầu tư: Phân tích tình hình tài chính Công tư vấn giám sát và xây dựng công trình
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Để tồn tại và phát triển, con người phải tiến hành hoạt động sản xuất.Hoạt động sản xuất là hoạt động tự giác có ý thức của con người nhằm biến cácvật thể tự nhiên thành các vật phẩm có ích phục vụ cho mình Con người khitiến hành làm bất cứ việc gì cũng luôn mong muốn đạt hiệu quả cao với nhữngchi phí tối thiểu nhưng đem lại lợi ích tối đa cho mình Một trong những hoạtđộng quan trọng và được con người tiến hành thường xuyên là hoạt động sảnxuất kinh doanh Để hoạt động sản xuất kinh doanh tiến hành đạt được kết quảnhư mong muốn thì điều tất yếu là phải thực hiện chức năng quản lý và để cóthể thực hiện tốt chức năng quản lý thì không thể thiếu thông tin Thông tin cungcấp cho quản lý được thu thập từ rất nhiều nguồn khác nhau và bằng nhiều cáchkhác nhau, trong đó có các thông tin về hoạt động tài chính
Hoạt động tài chính là một bộ phận của hoạt động sản xuất kinh doanh
Nó có mặt trong tất cả các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh từ khâu tạovốn trong doanh nghiệp đến khâu phân phối tiền lãi thu được từ quá trình hoạtđộng sản xuất kinh doanh
Nhiệm vụ của hoạt động tài chính là phải huy động đủ vốn đáp ứng chonhu cầu sản xuất kinh doanh, đồng thời phải quản lý và sử dụng vốn có hiệu quảtrên cơ sở chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, chính sách, chế độ quy định về tàichính tín dụng của Nhà nước
Trong nền kinh tế thị trường, tình hình tài chính của doanh nghiệp là mộtvấn đề được rất nhiều người quan tâm nhất là những người quan tâm đến hoạtđộng của doanh nghiệp Chính vì vậy, phân tích tình hình tài chính là một việclàm vô cùng cần thiết Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp nhằm đánh giáđược đầy đủ, chính xác tình hình tổ chức, phân phối, sử dụng và quản lý các loạivốn và nguồn vốn của doanh nghiệp, vạch rõ khả năng tiềm tàng và xu hướngphát triển của doanh nghiệp trong tương lai Thông qua việc quản lý, sử dụngcác nguồn vốn, đề xuất các biện pháp cần thiết và có hiệu quả để khai thác tớimức cao nhất những khả năng tiềm tàng để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn phục
vụ tốt cho sản xuất kinh doanh
Tài liệu dùng để phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp chủ yếu dựavào các số liệu trên báo cáo tài chính được lập theo định kỳ trong đó bảng cân
Trang 2đối kế toán được sử dụng nhiều nhất trong việc phân tích vì nó phản ánh khá đâỳ
đủ tình hình tài chính của doanh nghiệp Kết quả của việc phân tích tình hình tàichính cho ta biết thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tạithời điểm phân tích
Vì vậy em chọn đề tài tốt nghiệp là: “Phân tích tình hình tài chính Công
tư vấn giám sát và xây dựng công trình”
Ngoài mở đầu và kết luận đồ án gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề chung về phân tích tài chính trong doanh nghiệp
Chương 2: Phân tích tình hình tài chính của Công ty tư vấn giám sát và xây dựng công trình
Chương 3 : Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác phân tích tài chính của công ty tư vấn giám sát và xây dựng công trình.
Trang 3ƯƠ NG 1NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH
TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
I Khái niệm và vai trò của phân tích tài chính doanh nghiệp
1 Khái niệm phân tích tài chính doanh nghiệp :
Phân tích tài chính là một tập hợp các khái niệm, phương pháp và cáccông cụ cho phép thu thập và xử lý các thông tin kế toán và các thông tin khác
về quản lý nhằm đánh giá tình hình tài chính của một doanh nghiệp, đánh giá rủi
ro, mức độ và chất lượng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đó, khả năng vàtiềm lực của doanh nghiệp, giúp người sử dụng thông tin đưa ra các quyết địnhtài chính, quyết định quản lý phù hợp
Mối quan tâm hàng đầu của các nhà phân tích tài chính là đánh giá rủi rophá sản tác động tới các doanh nghiệp mà biểu hiện của nó là khả năng thanhtoán, đánh giá khả năng cân đối vốn, năng lực hoạt động cũng như khả năngsinh lãi của doanh nghiệp Trên cơ sở đó, các nhà phân tích tài chính tiếp tụcnghiên cứu và đưa ra những dự đoán về kết quả hoạt động nói chung và mứcdoanh lợi nói riêng của doanh nghiệp trong tương lai Nói cách khác, phân tíchtài chính là cơ sở để dự đoán tài chính - một trong các hướng dự đoán doanhnghiệp Phân tích tài chính có thể được ứng dụng theo nhiều hướng khác nhau :với mục đích tác nghiệp (chuẩn bị các quyết định nội bộ), với mục đích nghiêncứu, thông tin hoặc theo vị trí của nhà phân tích( trong doanh nghiệp hoặc ngoàidoanh nghiệp )
2 Vai trò của phân tích tài chính doanh nghiệp
Phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp hay cụ thể hoá là việcphân tích các báo cáo tài chính của doanh nghiệp là quá trình kiểm tra, đốichiếu, so sánh các số liệu, tài liệu về tình hình tài chính hiện hành và trong quákhứ nhằm mục đích đánh giá tiềm năng, hiệu quả kinh doanh cũng như nhữngrủi ro trong tương lai Báo cáo tài chính là những báo cáo tổng hợp nhất về tìnhhình tài sản, vốn và công nợ cũng như tình hình tài chính, kết quả kinh doanh
Trang 4trong kỳ của doanh nghiệp Báo cáo tài chính rất hữu ích đối việc quản trị doanhnghiệp, đồng thời là nguồn thông tin tài chính chủ yếu đối với những người bênngoài doanh nghiệp Do đó, phân tích báo cáo tài chính là mối quan tâm củanhiều nhóm người khác nhau như nhà quản lý doanh nghiệp, các nhà đầu tư, các
cổ đông, các chủ nợ, các khách hàng, các nhà cho vay tín dụng, các cơ quanchính phủ, người lao động Mỗi nhóm người này có những nhu cầu thông tinkhác nhau
Phân tích tài chính có vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác quản lýtài chính doanh nghiệp Trong hoạt động kinh doanh theo cơ chế thị trường có
sự quản lý của Nhà nước, các doanh nghiệp thuộc các loại hình sở hữu khácnhau đều bình đẳng trước pháp luật trong việc lựa chọn ngành nghề, lĩnh vựckinh doanh Do vậy sẽ có nhiều đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính củadoanh nghiệp như : chủ doanh nghiệp, nhà tài trợ, nhà cung cấp, khách hàng
kể cả các cơ quan Nhà nước và người làm công, mỗi đối tượng quan tâm đếntình hình tài chính của doanh nghiệp trên các góc độ khác nhau
2.1 Đối với người quản lý doanh nghiệp :
Đối với người quản lý doanh nghiệp mối quan tâm hàng đầu của họ là tìmkiếm lợi nhuận và khả năng trả nợ Một doanh nghiệp bị lỗ liên tục sẽ bị cạn kiệtcác nguồn lực và buộc phải đóng cửa Mặt khác, nếu doanh nghiệp không cókhả năng thanh toán nợ đến hạn cũng bị buộc phải ngừng hoạt động
Nhà quản lý tài chính phải chịu trách nhiệm điều hành hoạt động tài chính
và dựa trên cơ sở các nghiệp vụ tài chính thường ngày để đưa ra các quyết định
vì lợi ích của cổ đông của doanh nghiệp Doanh nghiệp chỉ có thể hoạt động tốt
và mang lại sự giàu có cho chủ sở hữu khi các quyết định của nhà quản lý đượcđưa ra là đúng đắn Muốn vậy, họ phải thực hiện phân tích tài chính doanhnghiệp, các nhà phân tích tài chính trong doanh nghiệp là những người có nhiềulợi thế để thực hiện phân tích tài chính một cách tốt nhất
Trên cơ sở phân tích tài chính mà nội dung chủ yếu là phân tích khả năngthanh toán, khả năng cân đối vốn, năng lực hoạt động cũng như khả năng sinh
Trang 5lãi, nhà quản lý tài chính có thể dự đoán về kết quả hoạt động nói chung và mứcdoanh lợi nói riêng của doanh nghiệp trong tương lai Từ đó, họ có thể địnhhướng cho giám đốc tài chính cũng như hội đồng quản trị trong các quyết địnhđầu tư, tài trợ, phân chia lợi tức cổ phần và lập kế hoạch dự báo tài chính Cuốicùng phân tích tài chính còn là công cụ để kiểm soát các hoạt động quản lý.
2.2 Đối với các nhà đầu tư vào doanh nghiệp
Đối với các nhà đầu tư, mối quan tâm hàng đầu của họ là thời gian hoànvốn, mức sinh lãi và sự rủi ro Vì vậy, họ cần các thông tin về điều kiện tàichính, tình hình hoạt động, kết quả kinh doanh và tiềm năng tăng trưởng của cácdoanh nghiệp
Trong doanh nghiệp Cổ phần, các cổ đông là người đã bỏ vốn đầu tư vàodoanh nghiệp và họ có thể phải gánh chịu rủi ro Những rủi ro này liên quan tớiviệc giảm giá cổ phiếu trên thị trường, dẫn đến nguy cơ phá sản của doanhnghiệp Chính vì vậy, quyết định của họ đưa ra luôn có sự cân nhắc giữa mức độrủi ro và doanh lợi đạt được Trên cơ sở phân tích các thông tin về tình hình hoạtđộng, về kết quả kinh doanh hàng năm, các nhà đầu tư sẽ đánh giá được khảnăng sinh lợi và triển vọng phát triển của doanh nghiệp; từ đó đưa ra nhữngquyết định phù hợp Các nhà đầu tư sẽ chỉ chấp thuận đầu tư vào một dự án nếu
ít nhất có một điều kiện là giá trị hiện tại ròng của nó dương Khi đó lượng tiềncủa dự án tạo ra sẽ lớn hơn lượng tiền cần thiết để trả nợ và cung cấp một mứclãi suất yêu cầu cho nhà đầu tư Số tiền vượt quá đó mang lại sự giàu có chonhững người sở hữu doanh nghiệp Bên cạnh đó, chính sách phân phối cổ tức và
cơ cấu nguồn tài trợ của doanh nghiệp cũng là vấn đề được các nhà đầu tư hếtsức coi trọng vì nó trực tiếp tác động đến thu nhập của họ Ta biết rằng thu nhậpcủa cổ đông bao gồm phần cổ tức được chia hàng năm và phần giá trị tăng thêmcủa cổ phiếu trên thị trường Một nguồn tài trợ với tỷ trọng nợ và vốn chủ sởhữu hợp lý sẽ tạo đòn bẩy tài chính tích cực vừa giúp doanh nghiệp tăng vốn đầu
tư vừa làm tăng giá cổ phiếu và thu nhập trên mỗi cổ phiếu (EPS) Hơn nữa các
cổ đông chỉ chấp nhận đầu tư mở rộng quy mô doanh nghiệp khi quyền lợi của
họ ít nhất không bị ảnh hưởng Bởi vậy, các yếu tố như tổng số lợi nhuận ròng
Trang 6trong kỳ có thể dùng để trả lợi tức cổ phần, mức chia lãi trên một cổ phiếu nămtrước, sự xếp hạng cổ phiếu trên thị trường và tính ổn định của thị giá cổ phiếucủa doanh nghiệp cũng như hiệu quả của việc tái đầu tư luôn được các nhà đầu
tư xem xét trước tiên khi thực hiện phân tích tài chính
2.3 Đối với các chủ nợ của doanh nghiệp
Nếu phân tích tài chính được các nhà đầu tư và quản lý doanh nghiệp thựchiện nhằm mục đích đánh giá khả năng sinh lợi và tăng trưởng của doanh nghiệpthì phân tích tài chính lại được các ngân hàng và các nhà cung cấp tín dụngthương mại cho doanh nghiệp sử dụng nhằm đảm bảo khả năng trả nợ của doanhnghiệp
Đối với các chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng, mối quan tâm của
họ chủ yếu hướng vào khả năng trả nợ của doanh nghiệp Vì vậy, họ chú ý đặcbiệt đến số lượng tiền và các tài sản khác có thể chuyển nhanh thành tiền, từ đó
so sánh với số nợ ngắn hạn để biết được khả năng thanh toán tức thời của doanhnghiệp Bên cạnh đó, các chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng cũng rấtquan tâm tới số vốn của chủ sở hữu, bởi vì số vốn này là khoản bảo hiểm cho họtrong trường hợp doanh nghiệp bị rủi ro Như vậy, kỹ thuật phân tích có thể thayđổi theo bản chất và theo thời hạn của các khoản nợ, nhưng cho dù đó là cho vaydài hạn hay ngắn hạn thì người cho vay đều quan tâm đến cơ cấu tài chính biểuhiện mức độ mạo hiểm của doanh nghiệp đi vay
Đối với các nhà cung ứng vật tư hàng hoá, dịch vụ cho doanh nghiệp, họphải quyết định xem có cho phép khách hàng sắp tới được mua chịu hàng haykhông, họ cần phải biết được khả năng thanh toán của doanh nghiệp hiện tại vàtrong thời gian sắp tới
2.4 Đối với người lao động trong doanh nghiệp
Bên cạnh các nhà đầu tư, nhà quản lý và các chủ nợ của doanh nghiệp,người được hưởng lương trong doanh nghiệp cũng rất quan tâm tới các thông tintài chính của doanh nghiệp Điều này cũng dễ hiểu bởi kết quả hoạt động củadoanh nghiệp có tác động trực tiếp tới tiền lương, khoản thu nhập chính của
Trang 7người lao động Ngoài ra trong một số doanh nghiệp, người lao động được thamgia góp vốn mua một lượng cổ phần nhất định Như vậy, họ cũng là nhữngngười chủ doanh nghiệp nên có quyền lợi và trách nhiệm gắn với doanh nghiệp
2.5 Đối với các cơ quan quản lý Nhà nước
Dựa vào các báo cáo tài chính doanh nghiệp, các cơ quan quản lý của Nhànước thực hiện phân tích tài chính để đánh giá, kiểm tra, kiểm soát các hoạtđộng kinh doanh, hoạt động tài chính tiền tệ của doanh nghiệp có tuân thủ theođúng chính sách, chế độ và luật pháp quy định không, tình hình hạch toán chiphí, giá thành, tình hình thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước và khách hàng
Tóm lại, phân tích hoạt động tài chính doanh nghiệp mà trọng tâm là phântích các báo cáo tài chính và các chỉ tiêu tài chính đặc trưng thông qua một hệthống các phương pháp, công cụ và kỹ thuật phân tích, giúp người sử dụngthông tin từ các góc độ khác nhau, vừa đánh giá toàn diện, tổng hợp khái quát,lại vừa xem xét một cách chi tiết hoạt động tài chính doanh nghiệp, tìm ra nhữngđiểm mạnh và điểm yếu về hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đểnhận biết, phán đoán, dự báo và đưa ra quyết định tài chính, quyết định tài trợ vàđầu tư phù hợp
3 Nhiệm vụ của phân tích tài chính
Với ý nghĩa quan trọng như vậy, nhiệm vụ của việc phân tích tình hình tài
chính là việc cung cấp những thông tin chính xác về moị mặt tài chính củadoanh nghiệp, bao gồm:
- Đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp trên các mặt đảm bảo vốncho sản xuất kinh doanh, quản lý và phân phối vốn, tình hình nguồn vốn
- Đánh giá hiệu quả sử dụng từng loại vốn trong quá trình kinh doanh vàkết quả tài chính của hoạt động kinh doanh, tình hình thanh toán
- Tính toán và xác định mức độ có thể lượng hoá của các nhân tố ảnhhưởng đến tình hình tài chính của doanh nghiệp, từ đó đưa ra những biện pháp
có hiệu quả để khắc phục những yếu kém và khai thác triệt để những năng lực
Trang 8tiềm tàng của doanh nghiệp để nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinhdoanh.
II Phân tích tài chính doanh nghiệp
Nội dung chủ yếu của phân tích tình hình tài chính bao gồm:
- Đánh giá khái quát tình hình tài chính
- Phân tích tình hình và khả năng thanh toán
- Phân tích tình hình sử dụng và hiệu quả sử dụng tài sản lưu động
- Phân tích tình hình sử dụng và hiệu quả sử dụng tài sản cố định
- Phân tích khả năng sinh lời của doanh nghiệp
Để tiến hành phân tích tình hình tài chính, người phân tích phải sử dụngrất nhiều tài liệu khác nhau, trong đó chủ yếu là các báo cáo tài chính Báocáo tài chính rất hữu ích đối với việc quản trị doanh nghiệp và là nguồn thôngtin tài chính chủ yếu đối với những người ngoài doanh nghiệp
1 Cơ sở số liệu trong việc phân tích tài chính doanh nghiệp
1.1 Quy trình phân tích tài chính doanh nghiệp
Thu nhập thông tin số liệu:
Trong phân tích tài chính, nhà phân tích phải thu nhập, sử dụng mọi nguồnthông tin Từ thông tin nội bộ doanh nghiệp đến những thông tin bên ngoàidoanh nghiệp, từ thông tin số lượng đến thông tin giá trị Những thông tin đóđều giúp cho nhà phân tích có thể đưa ra được những nhận xét kết luân chínhxác
Trang 9So sánh các tỷ số đó với nhau, có thể năm này với năm khác, hoặc thời điểmnày với thời điểm kia, so sánh với tỷ số trung bình của ngành đó Phân tíchcác tỉ số đó xem như thế đã được chưa, có hợp lí không?
Đánh giá và rút ra kết luận
Nhìn vào các tỷ số đã phân tích và so sánh đó, để rút ra những mặt còn hạnchế, cần khắc phục, những điểm mạnh cần phát huy
1.2.Trình tự phân tích tình hình tài chính
Trình tự tiến hành phân tích tài chính tuân theo các nghiệp vụ phân tíchthích ứng với từng giai đoạn dự đoán tài chính theo sơ đ sau :ồ sau :
Chuẩn bị và xử lý các nguồn thông tin
- Thông tin kế toán nội bộ
- Thông tin khác từ bên ngoài
- Biểu hiện hoặc hội chứng khó khăn
- Điểm mạnh và điểm yếu
- Cân bằng tài chính
- Năng lực hoạt động tài chính
- Cơ cấu vốn và chi phí vốn
- Cơ cấu đầu tư và doanh lợi
Phân tích thuyết minh
- Nguyên nhân khó khăn
- Phương tiện thành công và điều kiện bất
Trang 10Tuy nhiên, trình tự phân tích và một số tiểu tiết cũng có thể thay đổi hoặc bỏqua một số bước tuỳ thuộc vào từng điều kiện của từng doanh nghiệp
1.3 Tài liệu phân tích tài chính doanh nghiệp
a Bảng cân đối kế toán
Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính mô tả tình trạng tài chínhcủa một doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định nào đó Đấy là một báo cáotài chính phản ánh tổng quát tình hình tài sản của doanh nghiệp tại một thờiđiểm nhất định, dưới hình thái tiền tệ theo giá trị tài sản và nguồn hình thành tàisản Xét về bản chất, bảng cân đối kế toán là một bảng cân đối tổng hợp giữa tàisản với vốn chủ sở hữu và công nợ phải trả( nguồn vốn)
Để phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp, tài liệu chủ yếu là bảncân đối kế toán.Thông qua nó cho phép ta nghiên cứu, đánh giá một cách tổngquát tình hình tài chính và kết quả sản xuất kinh doanh, trình độ sử dụng vốn vànhững triển vọng kinh tế, tài chính của doanh nghiệp
Bảng cân đối kế toán có hai hình thức trình bày:
- Hình thức cân đối hai bên: Bên trái là phần tài sản, bên phải là phầnnguồn vốn
- Hình thức cân đối hai phần liên tiếp: phần trên là phần tài sản, phầndưới là phần nguồn vốn
Mỗi phần đều có số tổng cộng và số tổng cộng của hai phần luôn luônbằng nhau
Tài sản = Nguồn vốn
Hay Tài sản = Vốn chủ sở hữu+ Nợ phải trả
Phần tài sản : Bao gồm có tài sản lưu động và tài sản cố định.
Về mặt pháp lý, phần tài sản thể hiện số tiềm lực mà doanh nghiệp cóquyền quản lý, sử dụng lâu dài gắn với mục đích thu được các khoản lợi íchtrong tương lai
Trang 11Về mặt kinh tế, các chỉ tiêu của phần tài sản cho phép đánh giá tổng quát
về quy mô vốn, cơ cấu vốn, quan hệ giữa năng lực sản xuất và trình độ sử dụngvốn của doanh nghiệp
Phần nguồn vốn: Bao gồm công nợ phải trả và nguồn vốn chủ sở hữu,phản ánh các nguồn hình thành tài sản của doanh nghiệp
Về mặt pháp lý, phần nguồn vốn thể hiện trách nhiệm pháp lý về mặt vậtchất của doanh nghiệp đối với các đối tượng cấp vốn( Nhà nước, ngân hàng, cổđông, các bên liên doanh ) Hay nói cách khác thì các chỉ tiêu bên phần nguồnvốn thể hiện trách nhiệm của doanh nghiệp về tổng số vốn đã đăng ký kinhdoanh, về số tài sản hình thành và trách nhiệm phải thanh toán các khoảnnợ( với người lao động, với nhà cung cấp, với Nhà nước )
Về mặt kinh tế, phần nguồn vốn thể hiện các nguồn hình thành tài sảnhiện có, căn cứ vào đó có thể biết tỷ lệ, kết cấu của từng loại nguồn vốn đồngthời phần nguồn vốn cũng phản ánh được thực trạng tình hình tài chính củadoanh nghiệp
Tác dụng của phân tích bảng cân đối kế toán:
+ Cho biết một cách khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp thông quacác chỉ tiêu về tổng tài sản và tổng nguồn vốn
+ Thấy được sự biến động của các loại tài sản trong doanh nghiệp : tài sảnlưu động, tài sản cố định
+ Khả năng thanh toán của doanh nghiệp qua các khoản phải thu và cáckhoản phải trả
+ Cho biết cơ cấu vốn và phân bổ nguồn vốn trong doanh nghiệp
b Báo cáo kết quả kinh doanh
Một loại thông tin không kém phần quan trọng được sử dụng trong phântích tài chính là thông tin phản ánh trong báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh.Khác với bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh cho biết sựdịch chuyển của vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; nó
Trang 12cho phép dự tính khả năng hoạt động của doanh nghiẹp trong tương lai Báo cáokết quả sản xuất kinh doanh đồng thời cũng giúp cho nhà phân tích so sánhdoanh thu và số tiền thực nhập quỹ khi bán hàng hoá, dịch vụ với tổng chi phíphát sinh và số tiền thực xuất quỹ để vận hành doanh nghiệp Trên cơ sở đó, cóthể xác định được kết quả sản xuất kinh doanh : lãi hay lỗ trong năm Như vậy,báo cáo kết quả kinh doanh phản ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh,phản ánh tình hình tài chính của một doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định.
Nó cung cấp những thông tin tổng hợp về tình hình và kết quả sử dụng các tiềmnăng về vốn, lao động, kỹ thuật và trình độ quản lý sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp
Biểu mẫu “Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh” có 3 phần:
+ Phần I: Lãi, lỗ
+ Phần II: Tình hình thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước
+ Phần III: Thuế giá trị gia tăng được khấu trừ, được hoàn lại, đượcmiễn giảm
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được lập trên cơ
sở các tài liệu:
+ Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh kỳ trước
+ Sổ kế toán trong kỳ của các tài khoản từ loại 5 đến loại 9
+ Sổ kế toán các tài khoản 133 “Thuế GTGT được khấu trừ” và tàikhoản 333 “Thuế GTGT phải nộp”
Tác dụng của việc phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh:
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh phản ánh các chỉ tiêu về doanh thu,lợi nhuận và tình hình thực hiện nghĩa vụ với ngân sách nhà nước của doanhnghiệp Do đó, phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh cũng cho tađánh giá khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp, biết được trong kỳ doanhnghiệp kinh doanh có lãi hay bị lỗ, tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu và vốn là
Trang 13bao nhiêu Từ đó tính được tốc độ tăng trưởng của kỳ này so với kỳ trước và dựđoán tốc độ tăng trong tương lai.
Như vậy, việc phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh sẽ giúp ta
có những nhận định sâu sắc và đầy đủ hơn về tình hình tài chính của doanhnghiệp
c Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là một trong bốn báo cáo tài chính bắt buộc màbất kỳ doanh nghiệp nào cũng phải lập để cung cấp cho người sử dụng thông tincủa doanh nghiệp Nếu bảng cân đối kế toán cho biết những nguồn lực của cải(tài sản) và nguồn gốc của những tài sản đó; và báo cáo kết quả kinh doanh chobiết thu nhập và chi phí phát sinh để tính được kết quả lãi, lỗ trong một kỳ kinhdoanh, thì báo cáo lưu chuyển tiền tệ được lập để trả lời các vấn đề liên quanđến luồng tiền vào ra trong doanh nghiệp, tình hình thu chi ngắn hạn của doanhnghiệp Những luồng vào ra của tiền và các khoản coi như tiền được tổng hợpthành ba nhóm : lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động sản xuất kinh doanh, lưuchuyển tiền tệ từ hoạt động tài chính và lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động bấtthường
2 Các phương pháp phân tích tài chính
Để nắm được một cách đầy đủ thực trạng tài chính cũng như tình hình sửdụng tài sản của doanh nghiệp, cần thiết phải đi sâu xem xét các mối quan hệ vàtình hình biến động của các khoản mục trong từng báo cáo tài chính và giữa cácbáo cáo tài chính với nhau
Việc phân tích báo cáo tài chính thường được tiến hành bằng hai phươngpháp: phương pháp phân tích ngang và phương pháp phân tích dọc báo cáo tàichính
Phân tích ngang báo cáo tài chính là việc so sánh đối chiếu tình hình biếnđộng cả về số tuyệt đối và số tương đối trên từng chỉ tiêu của từng báo cáo tàichính, còn phân tích dọc là việc sử dụng các quan hệ tỷ lệ, các hệ số thể hiện
Trang 14mối tương quan giữa các chỉ tiêu trong từng báo cáo tài chính và giữa các báocáo tài chính với nhau để rút ra kết luận.
Cụ thể, trong thực tế người ta thường sử dụng các phương pháp sau:
2.1 Phương pháp so sánh.
Phương pháp so sánh được sử dụng phổ biến nhất và là phương pháp chủyếu trong phân tích tài chính để đánh kết quả, xác định vị trí và xu hướng biếnđổi của chỉ tiêu phân tích
Có nhiều phương thức so sánh và sử dụng phương thức nào là tuỳ thuộcvào mục đích và yêu cầu của việc phân tích
+ So sánh chỉ tiêu thực tế với các chỉ tiêu kế hoạch, dự kiến hoặc địnhmức Đây là phương thức quan trọng nhất để đánh giá mức độ thực hiện chỉ tiêu
kế hoạch, định mức và kiểm tra tính có căn cứ của nhiệm vụ kế hoạch được đềra
+ So sánh chỉ tiêu thực hiện giữa các kỳ trong năm và giữa các năm chothấy sự biến đổi trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
+ So sánh các chỉ tiêu của doanh nghiệp với các chỉ tiêu tương ứng củadoanh nghiệp cùng loại hoặc của doanh nghiệp cạnh tranh
+ So sánh các thông số kinh tế- kỹ thuật của các phương án sản xuấtkinh doanh khác nhau của doanh nghiệp
Để áp dụng phương pháp so sánh cần phải đảm bảo các điều kiện có thể
so sánh được của các chỉ tiêu:
+ Khi so sánh các chỉ tiêu số lượng phải thống nhất về mặt chất lượng + Khi so sánh các chỉ tiêu chất lượng phải thống nhất về mặt số lượng + Khi so sánh các chỉ tiêu tổng hợp, phức tạp phải thống nhất về nộidung, cơ cấu của các chỉ tiêu
+ Khi so sánh các chỉ tiêu hiện vật khác nhau phải tính ra các chỉ tiêunày bằng những đơn vị tính đổi nhất định
Trang 15+ Khi không so sánh được bằng các chỉ tiêu tuyệt đối thì có thể so sánhbằng các chỉ tiêu tương đôí Bởi vì, trong thực tế phân tích, có một số trườnghợp, việc so sánh các chỉ tiêu tuyệt đối không thể thực hiện được hoặc khôngmang một ý nghĩa kinh tế nào cả, nhưng nếu so sánh bằng các chỉ tiêu tương đốithì hoàn toàn cho phép và phản ánh đầy đủ, đúng đắn hiện tượng nghiên cứu.
Trong phân tích so sánh có thể sử dụng số bình quân, số tuyệt đối và sốtương đối
Số bình quân phản ánh mặt chung nhất của hiện tượng, bỏ qua sự pháttriển không đồng đều của các bộ phận cấu thành hiện tượng đó, hay nói cáchkhác, số bình quân đã san bằng mọi chênh lệch về trị số của các chỉ tiêu Sốbình quân có thể biểu thị dưới dạng số tuyệt đối hoặc dưới dạng số tương đối( tỷsuất) Khi so sánh bằng số bình quân sẽ thấy mức độ đạt được so với bình quânchung của tổng thể, của ngành, xây dựng các định mức kinh tế kỹ thuật
Phân tích bằng số tuyệt đối cho thấy rõ khối lượng, quy mô của hiệntượng kinh tế Các số tuyệt đối được so sánh phải có cùng một nội dung phảnánh, cách tính toán xác định, phạm vi, kết cấu và đơn vị đo lường
Sử dụng số tương đối để so sánh có thể đánh giá được sự thay đổi kết cấucủa hiện tượng kinh tế, đặc biệt có thể liên kết các chỉ tiêu không giống nhau đểphân tích so sánh Tuy nhiên số tương đối không phản ánh được thực chất bêntrong cũng như quy mô của hiện kinh tế Vì vậy, trong nhiều trường hợp khi sosánh cần kết hợp đồng thời cả số tuyệt đối và số tương đối
2.2 Phương pháp tỷ lệ.
Phương pháp tỷ lệ là phương pháp truyền thống được áp dụng phổ biếntrong phân tích tài chính doanh doanh nghiệp Đây là phương pháp có tính hiệnthực cao với điều kiện áp dụng ngày càng được bổ sung và hoàn thiện bởi vì:Nguồn thông tin kế toán và tài chính được cải tiến và cung cấp đầy đủ hơn
Đó là cơ sở hình thành những tham chiến tin cậy cho việc đánh giá một tỷ lệ củamột doanh nghiệp trong một nhóm doanh nghiệp
Trang 16Việc áp dụng công nghệ tin học cho phép tích lũy dữ liệu và thúc đẩynhanh quá trình tính toán hàng loạt các tỷ lệ.
Phương pháp này giúp cho các nhà phân tích khai thác có hiệu quả những
số liệu và phân tích hàng loạt các số liệu một cách có hệ thống theo thời gianlien tục hay theo từng giai đoạn
Phương pháp này dựa trên ý nghĩa chuẩn mực các tỷ lệ của các đại lượngtài chính doanh nghiệp, trên cơ sở so sánh các tỷ lệ của doanh nghiệp với giá trịcủa tỷ lệ tham chiếu như các tỷ số trước đây của doanh nghiệp Một tỷ lệ chuẩn
cà các tỷ số của các doanh nghiệp khác có thể so sánh
Theo phương pháp này thông thường các tỷ lệ tài chính được phân thànhcác nhóm tỷ lệ về: Khả năng thanh toán, năng lực hoạt động, khả năng cân đốivốn, khả năng sinh lãi
2.3 Phương pháp phân tích tài chính Dupont:
Dupont là tên một nhà quản trị tài chính người Pháp, tham gia kinh doanh ở Mỹ Ông đã thành công trong việc phân tích tài chính doanh nghiệp từ chỉ số doanh lợi vốn đầu tư của doanh nghiệp.
Phương pháp phân tích tài chính Dupont cho ta thấy mối quan hệ tương hỗgiữa các tỷ lệ tài chính doanh nghiệp chủ yếu Nó xem xét mối quan hệ tươngtác giữa hệ số sinh lời, doanh thu với hiệu suất sử dụng tài chính, tỷ lệ sinh lãivốn chủ sở hữu doanh nghiệp Phương pháp này thiết lập ra các hàm số giữa các
tỷ lệ tài chính để xem xét ảnh hưởng của các yếu tố khác đến một chỉ tiêu tổnghợp như thế nào Đó là mối quan hệ hàm số giữa doanh lợi vốn, vòng quay toàn
bộ vốn và doanh lợi tiêu thụ Phân tích các hàm số này sẽ thấy được sự tác độnggiữa các chỉ tiêu tài chính để từ đó đưa rac các giải pháp nhằm tăng doanh thu,
Trang 17tiết kiệm chi phí hay xác định tỷ lệ nợ hợp lý Phương pháp này được sử dụngnhư việc tổng hợp ảnh hưởng các nhân tố nhẳm rút ra nhận xét và kiến nghị.
3.Nội dung chủ yếu của phân tích tài chính doanh nghiệp
Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp có thể được trình bày theo haicách sau:
- Phân tích khái quát và phân tích chi tiết tình hình tài chính
- Phân tích các hoạt động tài chính và phân tích các tỷ lệ tài chính
3.1 Phân tích khái quát và phân tích chi tiết tình hình tài chính
a Phân tích khái quát tình hình tài chính
Để đánh giá khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp, trước tiênphải so sánh tổng tài sản và tổng nguồn vốn giữa kì và đầu năm Qua so sánh, cóthể thấy được sự thay đổi quy mô vốn mà doanh nghiệp sử dụng trong kỳ cũngnhư khả năng huy động vốn của doanh nghiệp Tuy nhiên, số tổng cộng của tàisản và nguồn vốn tăng giảm là do nhiều nguyên nhân khác nhau, do đó cần đisâu phân tích các mối quan hệ giữa các chỉ tiêu trong bảng cân đối kế toán
Tài sản của doanh nghiệp bao gồm tài sản lưu động và tài sản cố định Hailoại tài sản này được hình thành chủ yếu từ nguồn vốn chủ sở hữu, nhưng cânđối này chỉ mang tính lí thuyết tức là nguồn vốn chủ sở hữu chủ doanh nghiệp
đủ trang trải các loại tài sản cho các hoạt động chủ yếu mà không phải đi vayhoặc chiếm dụng Thực tế thường xảy ra 1 trong 2 trường hợp sau:
- Trường hợp doanh nghiệp thừa nguồn vốn, không sử dụng hết nên sẽ bị chiếmdụng
- Trường hợp doanh nghiệp thiếu vốn để trang trải tài sản nên doanh nghiệp phải
đi vay hoặc chiếm dụng vốn từ bên ngoài
Qua phân tích các mối quan hệ cân đối, cho thấy số vốn doanh nghiệp bịchiếm dụng (hoặc đi chiếm dụng) đúng bằng số chênh lệch giữa số tài sản phảithu và nợ phải trả
Bên cạnh đó, trong phân tích tổng quát ta còn tính toán và so sánh các chỉtiêu tỉ suất tài trợ đẻ thấy được khả năng đảm bảo về mặt tài chính và tính chủ
Trang 18động trong kinh doanh của công ty (phần này được trình bày trong phân tích kếtcấu nguồn vốn của doanh nghiệp) Bên cạnh đó, về khả năng thanh toán cũngcần được quan tâm chú ý ( được trình bày ở phần nhu cầu và khả năng thanhtoán)
b Phân tích chi tiết tình hình tài chính
Trong phân tích chi tiết tình hình tài chính ta đi phân tích tình hình phân
bổ vốn, xem xét doanh nghiệp đã phân bổ vốn hợp lí và phát huy hiệu quả chưa?
Để phân tích, ta tiến hành xác định tỉ trọng từng khoản vốn ở thời điểm đầu kì
và cuối kì và so sánh sự thay đổi về tỉ trọng giữa đầu kì và cuối kì nhằm tìm ranguyên nhân của sự chênh lệch này Qua so sánh ta thấy được sự thay đổi về sốlượng, quy mô và tỉ trọng của từng loại vốn Để có thể thấy được tình hình thayđổi của tài sản là hợp lí hay không cần đi sâu nghiên cứu sự biến động của tàisản Việc đầu tư chiều sâu, mua sắm trang thiết bị, đổi mới công nghệ để tạo tiền
đề tăng năng suất lao động và sử dụng vốn đầu tư có hiệu quả hoặc đầu tư tàichính dài hạn được xem xét thông qua các chỉ tiêu: Tỉ suất đầu tư chung, tỉ suấtđầu tư tài sản cố định, tỉ suất đầu tư tài chính dài hạn Bên cạnh đó việc phântích kết cấu nguồn vốn; phân tích tình hình công nợ và khả năng thanh toán;phân tích hiệu quả và khả năng sinh lợi của vốn; phân tích tình hình đảm bảovốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ được phân tích một cách cụ thể vàđược trình bày cụ thể trong Chương 2 của đồ án này
3.2 Phân tích các hoạt động tài chính và phân tích các tỷ lệ tài chính.
3.2.1 Phân tích các tỷ lệ tài chính
Trong phân tích tài chính, các tỷ lệ tài chính chủ yếu thường được phânthành 4 nhóm chính Đó là : nhóm tỷ lệ về khả năng thanh toán, nhóm tỷ lệ vềkhả năng cân đối vốn, nhóm tỷ lệ về khả năng hoạt động, nhóm tỷ lệ về khảnăng sinh lãi
Các tỷ lệ tài chính cung cấp cho người phân tích khá đầy đủ các thông tin
về từng vấn đề cụ thể liên quan tới tài chính doanh nghiệp Nhiệm vụ của ngườiphân tích là phải tìm hiểu mối liên hệ giữa các nhóm tỷ lệ để từ đó đưa ra kếtluận khái quát về toàn bộ tình hình tài chính doanh nghiệp Tuy nhiên, trong quá
Trang 19trình phân tích nên lưu ý rằng một tỷ lệ tài chính riêng rẽ thì tự nó không nói lênđiều gì Nó cần phải được so sánh với tỷ lệ ở các năm khác nhau của chínhdoanh nghiệp đó và so sánh với tỷ lệ tương ứng của các doanh nghiệp hoạt độngtrong cùng ngành.
Mỗi nhóm tỷ lệ trên bao gồm nhiều tỷ lệ và trong từng trường hợp các tỷ
lệ được lựa chọn sẽ phụ thuộc vào bản chất, quy mô của hoạt động phân tích
Dưới đây, chúng ta sẽ lần lượt xem xét cả bốn nhóm tỷ lệ thường dùng đểphân tích và đánh giá hoạt động tài chính doanh nghiệp
b Các tỷ lệ về khả năng thanh toán :
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, để tài trợ cho các tài sảncủa mình các doanh nghiệp không chỉ dựa vào nguồn vốn chủ sở hữu mà còncần đến nguồn tài trợ khác là vay nợ Việc vay nợ này được thực hiện với nhiềuđối tượng và dưới nhiều hình thức khác nhau Cho dù là đối tượng nào đi chăngnữa thì để đi đến quyết định có cho doanh nghiệp vay nợ hay không thì họ đềuquan tâm đền khả năng thanh toán của doanh nghiệp
Khả năng thanh toán của doanh nghiệp phản ánh mối quan hệ tài chínhgiữa các khoản phải có khả năng thanh toán trong kỳ với các khoản phải thanhtoán trong kỳ Việc phân tích các tỷ lệ về khả năng thanh toán không những giúpcho các chủ nợ giảm được rủi ro trong quan hệ tín dụng và bảo toàn được vốncủa mình mà còn giúp cho bản thân doanh nghiệp thấy được khả năng chi trảthực tế để từ đó có biện pháp kịp thời trong việc điều chỉnh các khoản mục tàisản cho hợp lý nhằm nâng cao khả năng thanh toán
Các tỷ lệ về thanh toán bao gồm :
Hệ số thanh toán hiện hành
Là tỷ lệ được tính bằng cách chia tài sản lưu động cho nợ ngắn hạn Tàisản lưu động thường bao gồm tiền, các chứng khoán dễ chuyển nhượng, cáckhoản phải thu và dự trữ (tồn kho); còn nợ ngắn hạn thường bao gồm các khoảnvay ngắn hạn ngân hàng và các tổ chức tín dụng, các khoản phải trả nhà cungcấp, các khoản phải trả khác Cả tài sản lưu động và nợ ngắn hạn đều có thời
Trang 20hạn nhất định - tới một năm Tỷ lệ khả năng thanh toán chung là thước đo khảnăng thanh toán ngắn hạn của doanh nghiệp, nó cho biết mức độ các khoản nợcủa các chủ nợ ngắn hạn được trang trải bằng các tài sản có thể chuyển thànhtiền trong một giai đoạn tương ứng với thời hạn của các khoản nợ đó.
Công thức của khả năng thanh toán chung như sau :
Hệ số thanh toán hiện
Hệ số thanh toán nhanh:
Một tỷ lệ thanh toán chung cao chưa phản ánh chính xác việc doanhnghiệp có thể đáp ứng nhanh chóng được các khoản nợ ngắn hạn trong thời gianngắn với chi phí thấp hay không vì nó còn phụ thuộc vào tính thanh khoản củacác khoản mục trong tài sản lưu động và kết cấu của các khoản mục này Vì vậy,chúng ta cần phải xét đến hệ số thanh toán nhanh của doanh nghiệp
Hệ số thanh toán nhanh được tính bằng cách chia tài sản quay vòng nhanhcho nợ ngắn hạn Tài sản quay vòng nhanh là những tài sản có thể nhanh chóngchuyển đổi thành tiền, bao gồm : tiền, chứng khoán ngắn hạn và các khoản phảithu Hàng tồn kho là tài sản khó chuyển thành tiền hơn trong tổng tài sản lưuđộng và dễ bị lỗ khi đem bán Do vậy, tỷ lệ khả năng thanh toán nhanh cho biếtkhả năng hoàn trả các khoản nợ ngắn hạn không phụ thuộc vào việc bán dự trữ(tồn kho)
= Tiền + Đầu tư ngắn hạn + Khoản phải thu
Trang 21Hệ số thanh toán nhanh
(thanh toán tức thời)
Nợ ngắn hạn
Nói chung tỷ lệ này thường biến động từ 0,5 đến 1 Tuy nhiên, cũng giốngnhư trương hợp của hệ số thanh toán ngắn hạn để kết luận giá trị của hệ số thanhtoán tức thời là tốt hay xấu cần xét đến đặc điểm và điều kiện kinh doanh củadoanh nghiệp Nếu hệ số này nhỏ hơn 0,5 thì doanh nghiệp sẽ gặp khó khăntrong việc thanh toán nợ
c Các tỷ lệ về khả năng cân đối vốn
Tỷ lệ này được dùng để đo lường phần vốn góp của các chủ sở hữu doanhnghiệp so với phần tài trợ của chủ nợ cho doanh nghiệp Nó còn được coi là tỷ lệđòn bẩy tài chính và có ý nghĩa quan trọng trong phân tích tài chính
Những doanh nghiệp có tỷ lệ này thấp phải chịu rủi ro lỗ ít hơn khi nềnkinh tế suy thoái đồng thời có lợi nhuận kỳ vọng thấp hơn so với doanh nghiệp
có tỷ lệ này cao trong nền kinh tế bùng nổ
Trên cơ sở phân tích kết cấu nguồn vốn, doanh nghiệp sẽ nắm được khảnăng tự tài trợ về mặt tài chính, mức độ chủ động trong sản xuất kinh doanh haynhững khó khăn mà doanh nghiệp gặp phải trong việc khai thác nguồn vốn
Mức độ ảnh hưởng của DFL được xác định như là tỷ lệ thay đổi về doanhlợi vốn chủ sở hữu phát sinh do sự thay đổi về lợi nhuận trước thuế và lãi vayphải trả
DLF = Q (P - V) - F
Q (P - V) – F - 1Trong đó : Q là sản lượng
Trang 22P là giá bán đơn vị sản phẩm
V là chi phí biến đổi mỗi đơn vị sản phẩm
F là chi phí cố định
I là chi phí lãi vay phải trả
Từ công thức trên ta thấy khi lợi nhuận trước thuế và lãi vay không đủ lớn
để trang trải lãi vay thì doanh lợi vốn chủ sở hữu sẽ bị giảm sút Nhưng khi lợinhuận trước thuế và lãi vay đã đủ lớn để trang trải lãi vay phải trả thì chỉ cầnmột sự gia tăng nhỏ về sản lượng cũng mang lại một biến động lớn về doanh lợivốn chủ sở hữu
Khả năng thanh toán lãi vay hay số lần có thể trả lãi
Tỷ lệ này được xác định bằng cách chia lợi nhuận trước thuế và lãi vay cho lãi tiền vay
Khả năng thanh toán lãi vay = Lợi nhuận trước thuế và lãi
Lãi tiền vayKhả năng thanh toán lãi vay cho biết mức độ lợi nhuận đảm bảo cho khảnăng trả lãi hàng năm Việc không trả được các khoản nợ này có thể làm chodoanh nghiệp bị phá sản Cùng với tỷ lệ nợ trên tổng tài sản, tỷ lệ này giúp tathấy được tình trạng thanh toán công nợ của doanh nghiệp tốt hay xấu Một tỷ lệ
nợ trên tổng tài sản cao cộng với khả năng thanh toán lãi thấp so với mức trungbình của ngành sẽ khiến cho doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc muốn giatăng nợ
Khả năng độc lập về tài chính
Khả năng độc lập về tài chính = Vốn chủ sở hữuVốn trung và dài hạn
Tỷ lệ này phản ánh khả năng tự bảo đảm về mặt tài chính và tính chủđộng trong kinh doanh của doanh nghiệp Tỷ lệ này càng lớn thì tài sản củadoanh nghiệp càng ít chịu rủi ro Tuy nhiên, chi phí của vốn cổ phần lớn hơn chiphí vay nợ và việc tăng vốn cổ phần cổ phần có thể dẫn đến bị san sẻ quyền lãnhđạo doanh nghiệp
Tỷ lệ về cơ cấu tài sản
Trang 23Đồng thời với việc xác định cho mình một cơ cấu vốn hợp lý, doanhnghiệp cần phải xem xét việc sử dụng vốn đó như thế nào để đáp ứng yêu cầukinh doanh và nâng cao hiệu qủa kinh tế của đồng vốn Việc phân tích tình hìnhphân bổ vốn hay kết cấu tài sản của doanh nghiệp sẽ cho ta thấy việc sử dụngvốn của doanh nghiệp có hợp lý hay không, có phù hợp với đặc điểm loại hìnhkinh doanh không và sự thay đổi kết cấu tài sản qua từng thời kỳ có ảnh hưởng
gì đến kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Tỷ lệ về cơ cấu tài sản = Tài sản cố định hoặc tài sản lưu động
Tổng tài sảnChỉ tiêu này phản ánh tình hình trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật nói chung
và máy móc thiết bị nói riêng của doanh nghiệp Nó cho biết năng lực sản xuất
và xu hướng phát triển lâu dài của doanh nghiệp Giá trị của chỉ tiêu này tuỳthuộc vào từng ngành kinh doanh cụ thể
d Các tỷ lệ về khả năng hoạt động
Các tỷ lệ về khả năng hoạt động được sử dụng để đánh giá hiệu quả sửdụng nguồn vốn của doanh nghiệp Nguồn vốn của doanh nghiệp được đầu tưcho các loại tài sản khác nhau như tài sản cố định, tài sản lưu động Do đó, cácnhà phân tích không chỉ quan tâm đến việc đo lường hiệu quả sử dụng của tổngnguồn vốn mà còn chú trọng tới hiệu quả sử dụng của từng bộ phận cấu thànhnguồn vốn của doanh nghiệp
Chỉ tiêu doanh thu thuần được sử dụng chủ yếu trong các tỷ lệ này nhằmtính tốc độ quay vòng của một số đại lượng rất cần cho quản lý tài chính ngắnhạn Các tỷ lệ này cho ta những thông tin hữu ích để đánh giá mức độ cân bằngtài chính và khả năng thanh khoản của doanh nghiệp
Vòng quay tiền
Tiền là khoản mục có tính lỏng cao nhất trong tổng tài sản của doanhnghiệp Việc giữ tiền và các tài sản tương đương tiền đem lại cho doanh nghiệpnhiều lợi thế như chủ động trong kinh doanh Tuy nhiên, tiền được lưu giữ ởmức không hợp lý có thể gây ra nhiều bất lợi Vì vậy, cần quan tâm đến tốc độvòng quay tiền sao cho đem lại khả năng sinh lợi cao nhất cho doanh nghiệp
Trang 24Vòng quay hàng tồn kho = Doanh thu thuần
Hàng tồn khoChỉ tiêu vòng quay hàng tồn kho phản ánh số lần hàng tồn kho được bán
ra trong kỳ kế toán và có ảnh hưởng trực tiếp đến nhu cầu vốn luân chuyển Con
số này càng cao chứng tỏ khả năng bán ra càng lớn Trên góc độ chu chuyển vốnthì hệ số quay vòng tồn kho lớn sẽ giảm bớt được số vốn đầu tư vào công việcnày, hiệu quả sử dụng vốn sẽ cao hơn
Biến động của chỉ tiêu vòng quay hàng tồn kho cung cấp cho ta nhiềuthông tin Việc giảm vòng quay vốn hàng tồn kho có thể do chậm bán hàng,quản lý dự trữ kém, trong dự trữ có nhiều sản phẩm lạc hậu
Kỳ thu tiền bình quân
Kỳ thu tiền bình quân được tính theo công thức sau (đơn vị của công thứcnày là ngày) :
Kỳ thu tiền bình quân = Các khoản phải thu x 360
Doanh thu thuầnTrong phân tích tài chính, chỉ tiêu này được sử dụng để đánh giá khả năngthu hồi vốn trong thanh toán của doanh nghiệp Các khoản phải thu lớn hay nhỏphụ thuộc vào nhiều yếu tố :
Trang 25- Tính chất của việc doanh nghiệp chấp nhận bán hàng chịu : Một sốdoanh nghiệp có chính sách mở rộng bán chịu và chấp nhận kéo dài thời hạnthanh toán hơn các đối thủ cạnh tranh để phát triển thị trường.
- Tình trạng của nền kinh tế : Khi tình hình thuận lợi các doanh nghiệp cókhuynh hướng dễ dàng chấp nhận bán chịu và ngược lại Nếu chấp nhận tăngthời gian bán chịu cho khách hàng mà không tăng được mức tiêu thụ thì đó làdấu hiệu xấu về tình hình kinh doanh Doanh nghiệp cần phải thay đổi chínhsách tiêu thụ để giữ khách hàng hoặc nâng cao khả năng cạnh tranh của sảnphẩm Nhưng tình trạng đó cũng có thể là do khách hàng gặp khó khăn trong chitrả nhất là ở vào thời kỳ kinh tế suy thoái Tình huống đó gây khó khăn dâychuyền cho các doanh nghiệp bán chịu
- Chính sách tín dụng và chi phí bán hàng chịu : khi lãi suất tín dụng cấpcho các doanh nghiệp để tài trợ cho kinh doanh tăng, các doanh nghiệp có xuhướng giảm thời gian bán chịu vì nếu tiếp tục kéo dài thời hạn sẽ rất tốn kém vềchi phí tài chính
- Ngoài ra độ lớn của các khoản phải thu còn phụ thuộc vào các khoản trảtrước của doanh nghiệp
Vòng quay vốn lưu động
Vòng quay vốn lưu động = Doanh thu thuần
Vốn lưu độngChỉ tiêu này cho biết vốn lưu động quay được mấy vòng trong kỳ Nếu sốvòng quay tăng chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn tăng và ngược lại Chỉ tiêu nàycòn được gọi là hệ số luân chuyển Đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn sẽ gópphần giải quyết nhu cầu về vốn cho doanh nghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả
sử dụng vốn
Hiệu suất sử dụng tài sản cố định
Chỉ tiêu này cho biết một đồng tài sản cố định tạo ra được bao nhiêu đồngdoanh thu trong kỳ Tài sản cố định ở đây được xác định là giá trị còn lại tới thờiđiểm lập báo cáo tức là bằng nguyên giá tài sản cố định trừ đi hao mòn luỹ kế
Trang 26Hiệu suất sử dụng tài sản cố định = Doanh thu thuần
Giá trị còn lại của tài sản cố định
Hiệu suất sử dụng tổng tài sản
Tỷ lệ này cho biết một đồng tài sản đem lại bao nhiêu đồng doanh thu Nócũng thể hiện số vòng quay trung bình của toàn bộ vốn của doanh nghiệp trong
kỳ báo cáo Hệ số này làm rõ khả năng tận dụng vốn triệt để vào sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp Việc tăng vòng quay vốn kinh doanh này là yếu tốquan trọng làm tăng lợi nhận cho doanh nghiệp đồng thời làm tăng khả năngcạnh tranh, tăng uy tín của doanh nghiệp trên thị trường
Hiệu suất sử dụng tổng tài sản = Doanh thu thuần
Tổng tài sản
e Các tỷ lệ về khả năng sinh lời
Khả năng sinh lời là kết quả tổng hợp chịu tác động của nhiều nhân tố vìthế khác với các tỷ lệ tài chính phân tích ở trên chỉ phán ánh hiệu quả từng hoạtđộng riêng biệt của doanh nghiệp, tỷ lệ về khả năng sinh lời phản ánh tổng hợpnhất hiệu quả sản xuất kinh doanh và hiệu năng quản lý của doanh nghiệp Mụcđích chung của các doanh nghiệp là làm sao để một đồng vốn bỏ ra mang lạihiệu quả cao nhất và khả năng sinh lời nhiều nhất Để đánh giá khả năng sinh lờingười ta dùng các chỉ tiêu sau:
Doanh lợi tiêu thụ sản phẩm
Doanh lợi tiêu thụ sản phẩm = Lợi nhuận sau thuế
Doanh thu thuầnChỉ tiêu trên phản ánh số lợi nhuận sau thuế có trong một đồng doanh thu.Chỉ tiêu này có thể tăng giảm giữa các kỳ tuỳ theo sự thay đổi của doanh thuthuần và chi phí Nếu doanh thu thuần giảm hoặc tăng không đáng kể trong khi
đó chi phí tăng lên với tốc độ lớn hơn sẽ dẫn đến lợi nhuận sau thuế giảm và kếtquả là doanh lợi tiêu thụ sản phẩm thấp Khi đó, doanh nghiệp vẫn cần xác định
rõ nguyên nhân của tình hình để có giải pháp khắc phục
Trang 27Doanh lợi vốn chủ sở hữu
Được xác định bằng cách chia lợi nhuận sau thuế cho vốn chủ sở hữu Nóphản ánh khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu và được các nhà đầu tư đặc biệtquan tâm khi họ quyết định bỏ vốn đầu tư vào doanh nghiệp Tăng mức doanhlợi vốn chủ sở hữu cũng là mục tiêu của hoạt động quản lý tài chính doanhnghiệp Ta xét các nhân tố ảnh hưởng đến doanh lợi vốn chủ sở hữu như sau:
Lợi nhuận sau thuế
hữuNhư vậy, doanh lợi vốn chủ sở hữu chịu ảnh hưởng của ba nhân tố :
-Doanh lợi tiêu thụ sản phẩm
-Hiệu suất sử dụng tổng tài sản
-Tỷ trọng vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản
Vì vậy, khi xem xét sự biến động của doanh lợi vốn chủ sở hữu ta cầnphân tích sự thay đổi của cả ba yếu tố trên để đưa ra những kết luận đúng đắn
Doanh lợi vốn
Đây là chỉ tiêu tổng hợp nhất được dùng để đánh giá khả năng sinh lời củamột đồng vốn đầu tư (ROA) Tùy thuộc vào tình hình cụ thể của doanh nghiệpđược phân tích và phạm vi so sánh mà người ta lựa chọn lợi nhuận trước thuế vàlãi hay lợi nhuận sau thuế để so sánh với tổng tài sản Đối với doanh nghiệp có
sử dụng nợ trong kinh doanh, người ta thường sử dụng chỉ tiêu doanh lợi vốnxác định bằng cách chia lợi nhuận trước thuế và lãi cho tổng tài sản
Doanh lợi
Lợi nhuận trước thuế và lãi vayTổng tài sản
3.2.2 Phân tích các hoạt động tài chính
a Phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn
Trang 28Một trong những công cụ hữu hiệu của nhà quản lý tài chính là bảng nguồnvốn và sử dụng vốn (bảng tài trợ) Nó giúp các nhà quản lý xác định rõ cácnguồn cung ứng vốn và mục đích sử dụng các nguồn vốn.
Trong phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn, người ta thườngxem xét sự thay đổi của các nguồn vốn và cách thức sử dụng vốn của một doanhnghiệp trong một thời kỳ theo số liệu giữa hai thời điểm lập bảng cân đối kếtoán
Để lập được bảng này, trước hết phải liệt kê sự thay đổi của các khoảnmục trên bảng cân đối kế toán từ đầu kỳ đến cuối kỳ Mỗi sự thay đổi được phânbiệt ở hai cột sử dụng vốn và nguồn vốn theo nguyên tắc :
Sử dụng vốn : tăng tài sản hoặc giảm vốn.
Nguồn vốn : giảm tài sản hoặc tăng vốn.
Việc thiết lập bảng kê nguồn vốn và sử dụng vốn là cơ sở để tiến hànhphân tích tình hình tăng giảm nguồn vốn, sử dụng vốn, chỉ ra những trọng điểmđầu tư vốn và những nguồn vốn chủ yếu được hình thành để tài trợ cho nhữngđầu tư đó Từ đó có giải pháp khai thác các nguồn vốn và nâng cao hiệu quả sửdụng vốn trong doanh nghiệp
b Phân tích tình hình đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh
Vốn lưu động thường xuyên
Để tiến hành sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp cần phải có tài sảnbao gồm tài sản lưu động và tài sản cố định Để hình thành hai nguồn tài sản nàyphải có các nguồn tài trợ tương ứng bao gồm nguồn vốn ngắn hạn và nguồn vốndài hạn
Trang 29Nguồn vốn ngắn hạn là nguồn vốn mà doanh nghiệp sử dụng trongkhoảng thời gian dưới một năm cho hoạt động sản xuất kinh doanh bao gồm nợngắn hạn, nợ quá hạn, nợ nhà cung cấp và nợ ngắn hạn phải trả khác.
Nguồn vốn dài hạn là nguồn vốn doanh nghiệp sử dụng lâu dài cho hoạtđộng kinh doanh, nó có thời hạn trên một năm và bao gồm nguồn vốn chủ sởhữu, nguồn vốn vay nợ trung hạn và dài hạn
Nguồn vốn dài hạn trước hết được đầu tư để hình thành tài sản cố định(TSCĐ), phần dư của nguồn vốn dài hạn được đầu tư để hình thành tài sản lưuđộng (TSLĐ) Chênh lệch giữa nguồn vốn dài hạn và tài sản cố định hay giữa tàisản lưu động và nợ ngắn hạn được gọi là vốn lưu động thường xuyên Mức độ
an toàn của tài sản ngắn hạn phụ thuộc vào độ lớn của vốn lưu động thườngxuyên
VLĐ thường xuyên = Nguồn vốn dài hạn - TSCĐ = TSLĐ - Nợ ngắn hạn
Có 3 trường hợp có khả năng xảy ra như sau:
- Vốn lưu động thường xuyên > 0, nghĩa là nguồn vốn dài hạn lớn hơn tàisản cố định, phần dư thừa đó đầu tư vào tài sản lưu động Đồng thời, tài sản lưuđộng lớn hơn nợ ngắn hạn nên khả năng thanh toán của doanh nghiệp tốt
- Vốn lưu động thường xuyên = 0, có nghĩa nguồn vốn dài hạn vừa đủ tàitrợ cho tài sản cố định và tài sản lưu động đủ để doanh nghiệp trả các khoản nợngắn hạn, tình hình tài chính như vậy là lành mạnh
- Vốn lưu động thường xuyên < 0, nguồn vốn dài hạn không đủ để tài trợcho tài sản cố định Doanh nghiệp phải đầu tư một phần nguồn vốn ngắn hạnvào tài sản cố định, tài sản lưu động không đủ đáp ứng nhu cầu thanh toán nợngắn hạn, cán cân thanh toán của doanh nghiệp mất thăng bằng, doanh nghiệpphải dùng một phần tài sản cố định để thanh toán nợ ngắn hạn đến hạn phải trả
Như vậy, vốn lưu động thường xuyên là một chỉ tiêu tổng hợp rất quantrọng để đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp, nó cho biết :
- Một là, doanh nghiệp có khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn haykhông?
Trang 30- Hai là, tài sản cố định của doanh nghiệp có được tài trợ một cách vữngchắc bằng nguồn vốn dài hạn không?
Từ công thức tính vốn lưu động thường xuyên ta có thể thấy các yếu tốlàm thay đổi vốn lưu động thường xuyên là những nghiệp vụ làm thay đổi nguồnvốn dài hạn và tài sản cố định của bảng cân đối kế toán
Các nghiệp vụ làm giảm vốn l ư u đ ộng th ư ờng xuyên :
- Tăng tài sản cố định : tài sản cố định hữu hình, tài sản cố định vô hình
và tài sản cố định tài chính
- Giảm nguồn vốn dài hạn :
Giảm vốn chủ sở hữu : do chia lợi tức cổ phần, lỗ trong kinh doanh
Hoàn trả tiền vay : bao gồm trả tiền vay trung và dài hạn, hoàn trả tráiphiếu đáo hạn
Các nghiệp vụ làm t ă ng vốn l ư u đ ộng th ư ờng xuyên :
- Tăng nguồn vốn dài hạn :
Tăng vốn chủ sở hữu : phát hành thêm cổ phiếu thường, giữ lại lợinhuận không chia
Tăng vay nợ trung, dài hạn; phát hành trái phiếu dài hạn
- Giảm tài sản cố định thông qua nhượng bán
Những thay đổi tài sản lưu động hoặc nợ phải trả ngắn hạn không làmthay đổi vốn lưu động thường xuyên, bởi vì việc tăng của một loại tài sản lưuđộng sẽ dẫn đến hoặc giảm một loại tài sản lưu động khác, hoặc tăng một dòng
nợ ngắn hạn Chẳng hạn, khi bán sản phẩm tồn kho sẽ làm giảm tồn kho và tăngtương ứng ở mục nợ phải thu (nếu bán chịu), hoặc tăng tiền mặt (nếu bán thutiền ngay) Ta cũng cần chú ý là chính sách khấu hao có tác động lớn vào vốnlưu động thường xuyên, nếu doanh nghiệp áp dụng chế độ khấu hao nhanh thìvốn luân chuyển sẽ cao hơn so với áp dụng phương pháp khấu hao theo đườngthẳng
Vốn lưu động thường xuyên thể hiện mức độ an toàn, đảm bảo cho doanhnghiệp chống lại rủi ro làm mất giá trị tài sản hoặc rủi ro làm giảm tốc độ luân
Trang 31chuyển vốn dự trữ Vì vậy, mọi biến động của vốn lưu động thường xuyên phảiđược chú ý theo dõi Tại các thời điểm khác nhau có ba tình huống xảy ra :
- Tăng vốn lưu động thường xuyên
Trong trường hợp này, an toàn của doanh nghiệp tăng vì phần lớn tài sản
cố định được nguồn vốn dài hạn tài trợ Tuy nhiên, cần phải thấy rằng để đạtđược sự an toàn đó, doanh nghiệp phải tăng nợ dài hạn Nếu khối lượng nợ dàihạn càng lớn sẽ dẫn đến chi phí tài chính càng cao, từ đó làm giảm kết quả kinhdoanh Nếu tăng vốn lưu động thường xuyên bằng việc tăng vốn chủ sở hữu thìtình hình tài chính doanh nghiệp được cải thiện, nhưng doanh nghiệp phải chịuchi phí sử dụng vốn cao hơn nợ vay và có thể phải chia sẻ quyền kiểm soátdoanh nghiệp Do vậy, quyết định tăng vốn lưu động và tăng bằng cách nào đòihỏi một quyết định đúng
Mặt khác, khi vốn lưu động thường xuyên đã tài trợ đủ cho tài sản cố địnhcòn dư thừa, nếu sử dụng vốn lưu động thường xuyên tài trợ toàn bộ cho tồn khokhông phải là quyết định quản trị tốt, vì có thể doanh nghiệp đã sử dụng nguồnvốn dài hạn tốn kém cho đầu tư tài sản ngắn hạn mà lẽ ra việc sử dụng này phải
do tín dụng ngắn hạn tài trợ
- Giảm vốn lưu động thường xuyên
Khi một doanh nghiệp giảm vốn lưu động thường xuyên sẽ làm cho mức
độ an toàn tài chính của doanh nghiệp giảm xuống Tuy vậy, nếu việc giảm vốnnày nhằm tài trợ cho các khoản đầu tư sinh lời mới góp phần nâng cao vị thế củadoanh nghiệp thì cũng cần quan tâm xem xét kỹ
- Giữ ổn định vốn lưu động thường xuyên
Tình huống này thể hiện tình trạng giữ ổn định các hoạt động của doanhnghiệp; để điều chỉnh cơ cấu đầu tư do lợi nhuận không tăng hoặc mức tăngtrưởng giảm lâu dài, khi cần đánh giá thực trạng của tình huống này cần tiếnhành nghiên cứu nguồn có khả năng tạo ra lợi nhuận để xem xét
Nhu cầu vốn lưu động thường xuyên
Trang 32Tại một thời điểm nào đó, vốn lưu động thường xuyên chỉ rõ mức độ antoàn mà doanh nghiệp có được nhằm tài trợ cho chu kỳ kinh doanh của nó Vìthế ta phải nghiên cứu một cách đầy đủ bằng cách so sánh giữa vốn lưu độngthường xuyên và nhu cầu vốn lưu động thường xuyên Vậy nhu cầu vốn lưuđộng thường xuyên là gì?
Nhu cầu vốn lưu động thường xuyên là lượng vốn ngắn hạn doanh nghiệpcần để tài trợ cho một phần tài sản lưu động, đó là hàng dự trữ và các khoản phảithu (tài sản lưu động không phải là tiền)
Như vậy, nhu cầu vốn lưu động thường xuyên phụ thuộc vào ba tham số :
dự trữ, tồn kho và sản phẩm dở dang; nợ phải thu; nợ ngắn hạn Nhưng tầmquan trọng của ba tham số này thay đổi theo tính chất của ngành và mức độ hoạtđộng, điều kiện quản lý và những biến động giá cả Vì vậy, ta cần phải xem xét
sự biến động của nhu cầu vốn lưu động thường xuyên theo tính chất của ngành
và mức độ hoạt động, điều kiện quản lý và những biến động giá cả
Nhu cầu VLĐ thường xuyên = Dự trữ và các khoản phải thu - Nợ ngắn hạn
- Nhu cầu vốn lưu động thường xuyên và tính chất của ngành mà doanhnghiệp hoạt động : nhìn chung có mối liên hệ chặt chẽ giữa nhu cầu vốn lưuđộng thường xuyên và giá trị gia tăng do doanh nghiệp tạo ra Các doanh nghiệp
có giá trị gia tăng thấp và chu kỳ sản xuất kinh doanh ngắn (ngành thương mại)thì nhu cầu vốn lưu động thường xuyên nhỏ thậm chí âm do dự trữ ít và tậndụng được nguồn kinh phí từ bán chịu của nhà cung cấp Các doanh nghiệp cógiá trị gia tăng cao và chu kỳ sản xuất dài thường có nhu cầu vốn lưu độngthường xuyên lớn Đó là các doanh nghiệp chấp nhận bán hàng chịu trong thờigian dài và khối lượng tồn kho lớn (doanh nghiệp công nghiệp chế tạo máy).Tuy nhiên một số doanh nghiệp có thể giảm vốn lưu động thường xuyên bằngcách yêu cầu khách hàng ứng trước cho những hợp đồng mà họ đang thực hiện
- Nhu cầu vốn lưu động thường xuyên và mức độ hoạt động diễn ra theochu kỳ : nợ phải thu từ khách hàng và nợ phải trả đối với nhà cung cấp gần như
tỷ lệ thuận với doanh thu
Trang 33- Nhu cầu vốn lưu động thường xuyên và sự biến động giá cả : trong thời
kỳ lạm phát, nhu cầu vốn lưu động thường xuyên tăng vì việc tăng nợ phải trảkhông đủ bù đắp mức tăng các khoản tồn kho và nợ phải thu, nhất là trongngành công nghiệp Tình trạng đó làm cho các doanh nghiệp phải vay mượnnhiều hơn để tài trợ cho các nhu cầu vốn lưu động thường xuyên
- Nhu cầu vốn lưu động thường xuyên và quản lý : quản lý tồn kho cũngnhư quản lý bán chịu cho khách hàng là tiền đề làm tăng hay giảm nhu cầu vốnlưu động thường xuyên
Nhu cầu vốn lưu động thường xuyên có thể nhận các giá trị sau :
- Nhu cầu vốn lưu động thường xuyên > 0, tức là tồn kho và các khoảnphải thu lớn hơn nợ ngắn hạn Tại đây các sử dụng nợ ngắn hạn của doanhnghiệp lớn hơn các nguồn vốn ngắn hạn mà doanh nghiệp có được từ bên ngoài,doanh nghiệp phải dùng nguồn vốn dài hạn để tài trợ vào phần chênh lệch.Trong trường hợp này doanh nghiệp cần có biện pháp để giải phóng tồn kho vàgiảm các khoản phải thu từ khách hàng
- Nhu cầu vốn lưu động thường xuyên = 0, tức là các nguồn vốn từ bênngoài vừa đủ để tài trợ cho các sử dụng ngắn hạn của doanh nghiệp
- Nhu cầu vốn lưu động thường xuyên < 0 có nghĩa là các nguồn vốn từbên ngoài đã dư thừa để tài trợ cho các sử dụng ngắn hạn của doanh nghiệp.Doanh nghiệp không cần nhận thêm nguồn vốn ngắn hạn để tài trợ cho chu kỳkinh doanh
Tiền
Tiền = Vốn lưu động thường xuyên - Nhu cầu vốn lưu động thường xuyên
Nếu tiền < 0 sẽ xảy ra tình trạng mất cân đối trong nguồn vốn ngắn hạn vàdài hạn ( vốn ngắn hạn nhiều, vốn dài hạn ít ) hoặc mất cân đối trong đầu tư dàihạn ( đầu tư dài hạn quá nhiều)
c Phân tích các dòng ngân quỹ của doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường, tiền của doanh nghiệp là một yếu tố rất quantrọng Ở một thời điểm nhất định, tiền chỉ phản ánh và có ý nghĩa như một hình
Trang 34thái biểu hiện của tài sản lưu động; nhưng trong quá trình kinh doanh, sự vậnđộng của tiền được xem là hình ảnh trung tâm của hoạt động kinh doanh, phảnánh năng lực tài chính của doanh nghiệp.
Trong quản lý ngân quỹ người ta quan tâm đến chu kỳ vận động của tiềnmặt Chu kỳ vận động của tiền mặt là độ dài thời gian từ khi thanh toán tiền muanguyên vật liệu (NVL) đến khi thu được tiền từ những khoản phải thu do việcbán sản phẩm cuối cùng, nó được tính bằng công thức sau :
Chu kỳ vận
động của tiền
= Thời gian vậnđộng của NVL
+ Thời gian thu hồicác khoản phải thu
+ Thời gian chậm trảcác khoản phải thu Công thức trên cho thấy chu kỳ tiền mặt cũng là một chỉ tiêu để đánh giáhiệu quả quản lý vốn lưu động của doanh nghiệp
Thời gian vận động của nguyên vật
Hàng tồn kho x 360Doanh thu thuần
Thời gian thu hồi các khoản phải thu = Phải thu x 360
Doanh thu thuầnThời gian chậm trả các khoản phải trả = Phải trả x 360
Doanh thu thuầnMục tiêu doanh nghiệp là rút ngắn chu kỳ vận động của tiền Chu kỳ nay càngdài thì nhu cầu tài trợ từ bên ngoài càng lớn và mỗi nguồn tài trợ đều có chi phí
Để phân tích tài chính đạt được hiệu quả tốt nhất các nhà phân tích tàichính phải biết kết hợp giữa phân tích các tỷ lệ và phân tích tình hình đảm bảonguồn vốn cho hoạt động kinh doanh thì mới đưa ra tổng thể tình hình tài chính
CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY CỔ
PHẦN TƯ VẤN SÔNG ĐÀ
I Giới thiệu chung về Công ty Cổ phần tư vấn Sông Đà
1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty
Công ty cổ phần tư vấn Sông Đà tiền thân là Xí nghiệp thiết kế Sông
Đà (thành lập năm 1975) sau nhiều lần được đổi tên cho phù hợp với tình hìnhnhiệm vụ và được đổi tên thành Công ty Tư vấn Xây dựng Sông Đà (2001) trên
Trang 35cơ sở hợp nhất các đơn vị: Công ty thiết kế tự động hóa CODEMA, Trung tâmthí nghiệm miền Bắc, Trung tâm thí nghiệm miền Nam, Phòng tư vấn và khảosát thiết kế, Phòng tư vấn giám sát chất lượng và thiết bị, Phòng dự án và tư vấnđấu thầu với Công ty Tư vấn và khảo sát thiết kế Cuối năm 2004, công ty đãtiến hành thực hiện Cổ phần hóa và được đổi tên thành Công ty Tư vấn Sông
Đà Đến nay với gần 30 năm xây dựng và trưởng thành, công ty đã có trên 500cán bộ có trình độ Đại học và trên đại học, có kinh nghiệm trong lĩnh vực kinhdoanh trên
Hiện nay công ty đã có các chi nhánh hoạt động trên các vùng miền củađất nước và một số nước trong khu vực Đông Nam Á
Công ty đã xây dựng và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêuchuẩn quốc tế ISO 9001: 2000
Trong những năm qua, Công ty cổ phần tư vấn Sông Đà đã và đang tư vấnxây dựng nhiều công trình lớn, trong đó có những công trình trọng điểm quốcgia:
Các công trình thủy điện: Công trình thủy điện Hòa Bình (1.920 MW),Công trình thủy điện Vĩnh Sơn (66 MW), Công trình thủy điện Sông Hinh ( 70MW), Công trình thủy điện Yaly (720 MW), Công trình thủy điện Cần Đơn (72MW), Công trình thủy điện Sê San 3 (260 MW), Công trình thủy điện TuyênQuang (342 MW), Công trình thủy điện Ry Ninh ( 48MW), Công trình thủyđiện Nậm Chiến (210 MW), Công trình thủy điện Bình Điền (48 MW), Côngtrình thủy điện Sơn La (2.400 MW)… Và nhiều công trình thủy điện vừa vànhỏ
Các công trình công nghiệp và dân dụng như: Nhà máy thép Việt Ý ( HưngYên) công suất 200.000 T/năm, Nhà máy xi măng Hạ Long ( Quảng Ninh) 2triệu T/năm, Khu chưng cư tầng 9 Sông Đà (Hà Nội), Khu chung cư 9 tầngThanh Xuân Nam, Trụ sở làm việc 5 tầng Tổng công ty Sông Đà, Trụ sở chinhánh Tổng công ty tại Sơn La… Lập các dự án đầu tư như: Dự án khu nhà ởkhu công nghiệp Phố Nối A, Khu trung tâm dịch vụ thương mại bờ trái Sông Đà– Hòa Bình, Khu công nghiệp Đình Trám- Bắc Giang, Khu đô thị Thống Nhất
Trang 36Hoành Bồ- Quảng Ninh, Khu nhà ở Tổng công ty Sông Đà tại Hòa Bình, Dự ánđầu tư khách sạn Sông Đà tại Mường La…
Các công trình đường Giao thông như: Đường Hồ Chí Minh, Hầm qua đèoHải Vân, Hầm đường bộ qua đèo ngang, Đường vào nhà máy xi măng Hạ Long,Đường thi công và vận hành các công trình thủy điện, và đường nội bộ trong cáckhu công nghiệp và đô thị trong các dự án mà công ty tham gia thiết kế
Ngoài ra công ty còn tư vấn thiết kế rất nhiều công trình trong lĩnh vực xâydựng khác như thiết kế đường dây chuyền tải điện < 500KV, Khảo sát phục vụcông tác thiết kế và xây dựng, thí nghiệm vật liệu xây dựng, lập hồ sơ mời thầu,đánh giá hồ sơ dự thầu xây lắp…
Cùng với sự nỗ lực phấn đấu cùng với cán bộ công nhân viên công ty trongquá trình xây dựng và trưởng thành Công ty Cổ phần tư vấn Sông Đà đã đượctặng thưởng rất nhiều huân chương và bằng khen của Thủ tướng Chính Phủ và
Bộ Xây Dựng
Năng lực về máy móc thiết bị và công nghệ:
Về công nghệ: Hiện tại công ty đã trang bị hàng loạt các thiết bị phần mềmphục vụ công tác tính toán kết cấu ở trong và ngoài nước như SAP 90, SAP
2000, STAAD3, KP… Phần mềm tính toán ổn định SLOPE, phần mềm tínhtoán thiết kế đường NOVA-TDN, phần mềm phục vụ công tác đo đạc, tính toánthủy văn, thủy năng….phục vụ cho công tác đầu tư thiết kế nhằm làm tăng chínhxác và đảm bảo về thời gian cũng như chất lượng thiết kế
Về năng lực máy móc thiết bị: Công ty đã trang bị đầy đủ lượng máy vitính, máy in và các thiết bị tin học khác đảm bảo mỗi kỹ sư đều được trang bịmột bộ máy vi tính với cấu hình hiện đại Trong lĩnh vực thí nghiệm xây dựng,với đội ngũ cán bộ giàu kinh nghiệm năng lực kết hợp với trang thiết bị hiện đại,đạt chứng chỉ và dâu LAS trong lĩnh vực thí nghiệm
Sản lượng tư vấn thiết kế tư vấn của Công ty trong những năm qua luôntăng trưởng cao, đời sống của cán bộ công nhân viên ngày càng được cải thiện.Với định hướng phát triển của Công ty trong 10 năm giai đoạn 2001- 2010 là:Xây dựng và phát triển Công ty Cổ phần Tư vấn Sông Đà thành một Công ty tư
Trang 37vấn mạnh trong lĩnh vực tư vấn thiết kê Thực hiện đa dạng hóa ngành nghề.Đạc biệt chú trọng phát triển nghề truyền thống tư vấn thiết kế, các công trìnhthủy điện, thủy lợi, phát huy cao mọi nguồn lực để phát triển lĩnh vực tư vấn,các công trình công nghiệp, dân dụng và hạ tầng cơ sở để nâng cao sức cạnhtranh, phấn đấu vì sự nghiệp bền vững của Tổng Công Ty Sông Đà, góp phầnvào sự nghiệp hiện đại hóa đất nước.
Với đội ngũ cán bộ giàu kinh nghiệm, với năng lực và các trang thiết bịhiện đại Công Ty Cổ Phần Tư Vấn Sông Đà hoàn toàn có thể đảm nhận cáccông trình lớn mang tầm cỡ quốc gia
Sơ đồ tổ chức Công Ty Cổ Phần Tư Vấn Sông Đà
Trang 38Ban kiểm soát
Phòng tổ chức
hành chính
Đại hội đồng cổ đông
Ban tổng giám đốc
Đà
Trang 39II.Phân tích tình hình tài chính Công ty Cổ phần Tư vấn Sông Đà
2.1 Phân tích tình hình phân bổ vốn:
2.1.1 Sự thay đổi về số lượng, quy mô tỷ trọng của từng loại vốn:
Phân tích cơ cấu về tài sản, cơ cấu vốn của công ty là một vấn đề có ýnghĩa hết sức quan trọng Nếu doanh nghiệp có cơ cấu vốn hợp lý thì khôngphải chỉ sử dụng vốn có hiệu quả mà còn tiết kiệm được vốn trong quá trìnhsản xuất kinh doanh Phân tích vấn đề này trên cơ sở phân tích một số chỉtiêu cơ bản như: Tỷ trọng của tài sản lưu động và đầu tư tài chính ngắn hạnchiếm trong tổng tài sản của công ty, tỷ trọng của tài sản cố định và đầu tư tàichính dài hạn chiếm trong tổng số tài sản của công ty …Trên cơ sở đó xemcông ty đã phân bổ vốn hợp lý hay chưa, kết cấu vốn của công ty có phù hợpvới đặc điểm loại hình sản xuất kinh doanh, phù hợp với tình hình thực tếtrên thị trường hay chưa ?
Để phân tích ta tiến hành xác định tỷ trọng của từng loại vốn ở thờiđiểm năm 2007, 2008, 2009 và so sánh sự thay đổi tỷ trọng giữa các năm đểtìm ra nguyên nhân cụ thể chênh lệch tỷ trọng này
Ta lập bảng sau: Bảng 2.1
Trang 40Bảng 2.1.Phân tích tình hình phân bổ vốn
n v : ngĐơn vị:đồng ị:đồng đồ sau :
2008-2007
Chªnh lÖch n¨m 2009-2008
B.TSC§ & §TDH 28.474.240.628 21,27
% 30.127.341.875
25,75
% 30.592.109.117 18,02% 1.653.101.250 5,81% 464.767.240 1,5%I.TSC§ 26.506.315.698 19,8% 10.000.000 25,74
%
30.518.472.753
0 17,98% 3.611.206.180 13,62% 401,130,880 1,33%0II.§T TC dµi h¹n 443.600.000 0,33% 0 0,008
% 10.000.000
0,0005
% -343.600.000 -77,46% 0 0%III.XDCB dë dang 1.524.324.930 1,14% 0 0% 63.636.364 0,03% -1.460.688.566 -95,52% 63,636,364