TƯỚI NƯỚC ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ KHẢ NĂNG CHO NĂNG SUẤT CỦA CHÈ KIẾN THIẾT CƠ BẢN TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ - KỸ THUẬT VỤ ĐÔNG XUÂN NĂM 2011... hiện nay cả nước có khoảng 120.000 ha chè, t
Trang 1TƯỚI NƯỚC ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ KHẢ NĂNG CHO NĂNG SUẤT CỦA CHÈ KIẾN THIẾT CƠ BẢN TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ -
KỸ THUẬT VỤ ĐÔNG XUÂN NĂM 2011
Trang 2giúp đỡ của Ban Giám hiệu Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật, sự quan tâm của các thầy cô giáo khoa Kỹ thuật Nông Lâm, sự phối hợp và giúp đỡ của các bạn trong lớp.
Trước hết, chúng em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS.Võ Quốc Việt
đã dành thời gian quý báu tận tình chỉ bảo cho chúng em trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Chúng em xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu nhà Trường và các thầy, cô giáo bộ môn Nông học khoa Kỹ thuật Nông Lâm đã tạo điều kiện thuận lợi nhất để chúng em thực hiện đề tài này
Cuối cùng chúng em xin gửi lời cảm ơn tới tập thể lớp K5-CĐ Trồng trọt luôn đồng hành và giúp đỡ chúng em trong quá trình thực hiện đề tài
Do điều kiện thời gian và trình độ còn hạn chế nên báo cáo đề tài nghiên cứu khoa học của chúng em không tránh khỏi thiếu sót Chúng em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy, cô và các bạn để bài báo cáo của chúng em được hoàn thiện hơn
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2012
Chủ nhiệm đề tài
Trang 3
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu của đề tài 2
3.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài 2
3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 2
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3
1.2 Nguồn gốc, phân loại cây chè 4
1.2.1.Nguồn gốc cây chè 4
1.2.2 Phân loại cây chè 4
1.3 Yêu cầu điều kiện ngoại cảnh của cây chè 5
1.3.1 Điều kiện đất đai, địa hình 5
1.3.2 Các yếu tố khí hậu đối với sự sinh trưởng của cây chè 6
1.3.3 Nhu cầu dinh dưỡng đối với chè 8
1.4 Một số kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài.10 1.4.1 Một số nghiên cứu về cây chè trên thế giới 10
1.4.2 Một số nghiên cứu kỹ thuật tưới nước và tủ gốc cho chè ở Việt Nam .10
1.5 Tình hình sản xuất chè trên thế giới, Việt Nam và tỉnh Thái Nguyên.14 1.5.1 Tình hình sản xuất chè trên thế giới 14
1.5.2 Tình hình sản xuất và định hướng phát triển của ngành chè Việt Nam 18
1.5.2.1 Tình hình sản xuất 18
1.5.2.2 Định hướng phát triển ngành chè 21
Trang 4ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 24
2.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 24
2.3 Nội dung nghiên cứu 24
2.4 Phương pháp nghiên cứu 25
2.4.1 Phương pháp thí nghiệm đồng ruộng 25
2.4.2 Phương pháp theo dõi 26
2.4.2.1 Chỉ tiêu về sinh trưởng 26
2.4.2.2 Chỉ tiêu về khả năng cho năng suất của chè kiến thiết cơ bản 27
2.4.2.3 Theo dõi thành phần sâu bệnh hại 28
2.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 28
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 30
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của tỉnh Thái Nguyên 30
3.1.1 Vị trí địa lý 30
3.1.2 Địa hình 30
3.1.3 Khí hậu thủy văn 31
3.1.4 Điều kiện đất đai 31
3.2 Ảnh hưởng của vật liệu che phủ đến sự sinh trưởng và khả năng cho năng suất của chè kiến thiết cơ bản 32
3.2.1 Ảnh hưởng của vật liệu che phủ đến khả năng sinh trưởng của chè kiến thiết cơ bản 32
3.2.1.1 Ảnh hưởng của vật liệu che phủ tới chiều rộng tán chè 32
3.2.1.2 Ảnh hưởng của vật liệu che phủ tới đường kính thân chè 33
3.2.1.3 Ảnh hưởng của vật liệu che phủ đến chiều cao cây 34 3.2.1.4 Ảnh hưởng của vật liệu che phủ đến khả năng kiểm soát cỏ dại 35
Trang 53.2.2.1 Ảnh hưởng của vật liệu che phủ đến mật độ búp chè 36
3.2.2.2 Ảnh hưởng của vật liệu che phủ đến khối lượng búp chè 37
3.2.2.3 Ảnh hưởng của vật liệu che phủ đến chiều dài búp chè 38
3.2.2.4 Ảnh hưởng của vật liệu che phủ đến tỷ lệ búp mù xòe 39
3.2.2.5 Ảnh hưởng của vật liệu che phủ tới năng suất búp tươi 41
3.2.2.6 Ảnh hưởng của vật liệu che phủ tới thành phần sâu bệnh hại của chè kiến thiết cơ bản 41
3.3 Ảnh hưởng thời gian tưới nước tới khả năng sinh trưởng và năng suất của chè kiến thiết cơ bản 43
3.3.1 Ảnh hưởng của thời gian tưới nước tới khả năng sinh trưởng của chè kiến thiết cơ bản 43
3.3.1.1 Ảnh hưởng của thời gian tưới nước tới chiều rộng tán chè 43
3.3.1.2 Ảnh hưởng của thời gian tưới nước tới đường kính thân chè 44
3.3.1.3 Ảnh hưởng của thời gian tưới nước tới khả năng sinh trưởng chiều cao cây 45
3.3.2 Ảnh hưởng của thời gian tưới nước tới khả năng cho năng suất của chè kiến thiết cơ bản 45
3.3.2.1 Ảnh hưởng của thời gian tưới nước tới mật độ búp chè 45
3.3.2.2 Ảnh hưởng của thời gian tưới nước tới khối lượng búp chè 46
3.3.2.3 Ảnh hưởng của thời gian tưới nước tới chiều dài búp chè 47
3.3.2.4 Ảnh hưởng của thời gian tưới nước tới tỷ lệ búp mù xòe 48
3.2.2.5 Ảnh hưởng của thời gian tưới nước tới khả năng cho năng suất búp tưới 49
3.3.2.6 Ảnh hưởng của thời gian tưới nước tới thành phần sâu bệnh hại trên chè kiến thiết cơ bản 50
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 52
Trang 6TÀI LIỆU THAM KHẢO 54
Trang 7Bảng 1.1: Ảnh hưởng của tưới nước, tủ gốc đến năng suất và chất lượng chè
Đông Xuân tại xã Phú Hộ- tỉnh Phú Thọ 12
Bảng 1.2: Diện tích, năng suất, sản lượng chè thế giới từ năm 2002-2010 15
Bảng 1.3: Tình hình sản lượng chè của thế giới và một số nước có sản lượng chè cao từ năm 2005- 2010 16
Bảng 1.4: Diện tích, năng suất, sản lượng chè của Việt Nam từ năm 2005-2010 19
Bảng 1.5: Tình hình sản xuất chè của tỉnh Thái Nguyên từ năm 2005 – 2009 .22
Bảng 3.1: Ảnh hưởng của vật liệu che phủ đến chiều rộng tán chè 33
Bảng 3.2: Ảnh hưởng của vật liệu che phủ đến đường kính thân chè 33
Bảng 3.3: Ảnh hưởng của vật liệu che phủ đến chiều cao cây 34
Bảng 3.4: Ảnh hưởng của vật liệu che phủ đến khối lượng cỏ dại ở các công thức 35
Bảng 3.5: Ảnh hưởng của vật liệu che phủ đến mật độ búp chè 36
Bảng 3.6: Ảnh hưởng của vật liệu che phủ đến khối lượng búp chè 37
Bảng 3.7: Ảnh hưởng của vật liệu che phủ đến chiều dài búp 38
Bảng 3.8: Ảnh hưởng của vật liệu che phủ đến tỷ lệ búp mù xòe 40
Bảng 3.9: Ảnh hưởng của vật liệu che phủ tới năng suất búp tươi 41
Bảng 3.10: Ảnh hưởng của vật liệu che phủ thành phần sâu bệnh hại trên chè kiến thiết cơ bản 42
Bảng 3.11: Ảnh hưởng của thời gian tưới nước đến chiều rộng tán chè 43
Bảng 3.12: Ảnh hưởng của thời gian tưới nước tới đường kính thân chè 44
Bảng 3.13: Ảnh hưởng của thời gian tưới nước tới chiều cao cây 45
Bảng 3.14: Ảnh hưởng của thời gian tưới nước đến mật độ búp chè 45
Bảng 3.15: Ảnh hưởng của thời gian tưới nước đến khối lượng búp chè 46
Trang 8Bảng 3.18: Ảnh hưởng của thời gian tưới nước tới năng suất búp tươi 49Bảng 3.19: Ảnh hưởng của thời gian tưới nước đến thành phần sâu, bệnh hại
50
Trang 9CNH-HĐH : Công nghiệp hóa- hiện đại hóa
Trang 10Tên đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp kỹ thuật tủ gốc và tuwois nước đến sinh trưởng và khả năng cho năng suất của chè kiến thiết cơ bản tsij trường Cao đẳng Kinh tế-Kỹ thuật vụ Đông Xuân năm 20111 ”.
Mã số: S2011-06
Chủ nhiệm đề tài: SV Phạm Thanh Xuân Điện thoại: 01673201181 E-mail: xuanpham3@gmail.com
Cơ quan chủ trì đề tài: Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Thái Nguyên
Cơ quan phối hợp thực hiện : Bộ môn Nông học khoa Kỹ thuật Nông Lâm, trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật, Đại học Thái Nguyên
Thời gian thực hiện: từ tháng 11 năm 2010 đến tháng 4 năm 2011
1 Mục tiêu:
- Xác định được loại vật liệu thích hợp dùng tủ gốc cho chè
- Xác định được thời gian tưới nước cho chè kiến thiết cơ bản
- Xác định được loại vật liệu thích hợp dùng tủ gốc cho chè
- Xác định được thời gian tưới nước cho chè kiến thiết cơ bản
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cây chè (Camelia sinensis.L) là cây công nghiệp dài ngày, chỉ một lần
trồng cho thu hoạch 30-40 năm Lá chè tươi chứa khoảng 40% caffein Lá non
và các lá có màu xanh lục nhạt được thu hoạch để sản xuất chè Các loại chè xanh, chè đen, chè đỏ, chè vàng đều được chế biến từ búp chè tươi Nước chè
là loại nước giải khát rất tốt cho con người Uống chè là một thói quen truyền thống không những của Việt Nam mà còn là hoạt động văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc của nhiều nước trên thế giới
Việt Nam được xác định là một trong tám cội nguồn của cây chè Có điều kiện địa hình, đất đai, khí hậu phù hợp cho cây chè phát triển cho chất lượng cao Hiện nay sản phẩm chè của Việt Nam đã có mặt trên 110 quốc gia
và vùng lãnh thổ trên thế giới Đặc biệt thương hiệu “Che Viet” đã được đăng
ký và bảo hộ trên rất nhiều thị trường của các quốc gia trên thế giới và khu vực Việt Nam hiện đang là quốc gia đứng thứ 5 trên thế giới về sản lượng cũng như kim ngạch xuất khẩu chè
Việt Nam là một trong những nước có lịch sử trồng chè lâu đời hiện nay
cả nước có khoảng 120.000 ha chè, tuy nhiên năng suất, chất lượng chè của nước ta còn thấp so với các nước trên thế giới Nhưng nhiều hộ trồng chè vùng trung du vẫn đạt 15-20 tấn/ha Chè cho thu hoạch quanh năm kể cả những tháng khô hạn Trên khắp vùng trồng chè trên cả nước ta thấy rằng những chỗ đất tốt, có độ dốc thích hợp đã được trồng chè, những diện tích quy hoạch trồng chè còn lại ở vùng trung du miền núi hầu hết là đất màu, mới phá bỏ cây trồng trước hoặc trồng lại 2-3 chu kỳ do vậy khi tiến hành trồng chè cần phải tiến hành cải tạo đất, áp dụng biện pháp kỹ thuật phù hợp để nâng cao hiệu quả kinh tế ( Nguyễn Hữu Khải, 2005) [6]
Ở giai đoạn kiến thiết cơ bản, đất trồng chè thường là đất dốc có hàm lượng dinh dưỡng nghèo và độ ẩm thấp Do vậy cần phải bổ sung chất hữu cơ cho đồi chè bằng phân chuồng Tuy nhiên biện pháp này còn nhiều hạn chế,
Trang 12hàng năm sự bào mòn, rửa trôi lượng mùn dinh dưỡng khá cao Sự thoái hóa đất là xu thế phổ biến đối với nhiều vùng, đặc biệt là vùng đồi núi.
Tỉnh Thái Nguyên là một điển hình của Trung du miền núi phía Bắc Thái Nguyên có nhiều dãy núi cao chạy dần theo hướng Bắc-Nam và thấp dần xuống phía Nam Diện tích đất tự nhiên chủ yếu được hình thành do sự phong hóa trên đá Macma, đá biến chất và trầm tích Cây chè là thế mạnh của vùng, chè được trồng chủ yếu trên các vùng đồi như Đại Từ, Võ Nhai, Tân Cương… tuy nhiên người làm chè mới chỉ chú trọng đến khai thác sản phẩm mà chưa chú ý đầu tư đúng mức Xuất phát từ yêu cầu sản suất nông nghiệp bền vững, hiểu được vai trò của lớp thực vật trong bảo vệ đất chống xói mòn, làm cho đất màu mỡ hơn, kiểm soát cỏ dại, giữ ẩm, tăng năng suất
cây trồng, tăng thu nhập cho người dân Vì vậy chúng em thực hiện đề tài
”Nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp kỹ thuật tủ gốc và tưới nước đến sinh trưởng và khả năng cho năng suất của chè kiến thiết cơ bản tại Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật vụ Đông - xuân năm 2011”.
2 Mục tiêu của đề tài
- Xác định được loại vật liệu thích hợp dùng tủ gốc cho chè
- Xác định được thời gian tưới nước cho chè kiến thiết cơ bản
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Giúp cho sinh viên áp dụng những kiến thức khoa học đã được tích lũy trong quá trình học tập vào thực tiễn sản xuất Bên cạnh đó giúp cho sinh viên làm quen với những bước tiến hành nghiên cứu khoa học
3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
- Từ kết quả theo dõi, thực hiện đề tài giúp chọn được vật liệu tủ tốt nhất cho chè giai đoạn kiến thiết cơ bản phù hợp với điều kiện khí hậu, thời tiết và đất đai của vườn trường
- Từ kết quả theo dõi, thực hiện đề tài giúp xác định được thời gian tưới thích hợp nhất cho chè kiến thiết cơ bản trong vụ Đông - Xuân ở Thái Nguyên
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Sản xuất chè vụ Đông Xuân là quá trình áp dụng các biện pháp kỹ thuật thích hợp nhằm tạo điều kiện cho cây chè sinh trưởng tốt trong cả vụ Đông Xuân,khi nhiệt độ xuống thấp, ít mưa Nghiên cứu ảnh hưởng của điều kiện sinh thái đến sinh trưởng búp chè các nhà khoa học Trung Quốc và Việt Nam đều cho rằng nhiệt độ thích hợp của cây chè là 10oC, nghĩa là trong điều kiện nhiệt độ lớn hơn 10oC thì cây chè vẫn sinh trưởng búp Mặt khác sản lượng chè búp hàng tháng có quan hệ rất chặt với lượng mưa, những tháng có mưa <
50 mm/tháng sản lượng chè chỉ đạt dưới 5% tổng sản lượng cả năm, những tháng có lượng mưa 50 - 100 mm/tháng sản lượng chè hàng tháng đạt từ 5 - 10% tổng sản lượng cả năm, những tháng có mưa > 100mm/tháng, sản lượng hàng tháng đạt > 10% tổng sán lượng cả năm Như vậy trong các tháng vụ Đông Xuân ở vùng trung du phía Bắc nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất đều
> 10oC thì yếu tố hạn chế năng suất chính là lượng mưa Nếu tưới nước đủ ẩm cây sẽ sinh trưởng búp và cho thu hoạch đáng kể (Lê Tất Khương, 1997) [7]
Trên thực tế ở vùng trung du miền núi phía Bắc cho thấy sản lượng chè các tháng vụ Đông Xuân giảm mạnh, trong khi đó nhu cầu tiêu thụ chè tăng nhanh làm cho giá chè tăng mạnh có khi gấp 2 - 2,5 lần những tháng giữa vụ Chi phí đầu vào để sản xuất chè vụ Đông Xuân không cao do chi phí bảo vệ thực vật và chi phí chế biến giảm Mặt khác sản xuất chè vụ Đông Xuân sẽ rải
vụ thu hoạch chè, rải vụ chế biến chè tạo việc làm cho người lao động vào các tháng đông xuân Vì vậy sản xuất chè vụ Đông Xuân thường mang lại hiệu quả kinh tế cao
Trang 141.2 Nguồn gốc, phân loại cây chè
1.2.1.Nguồn gốc cây chè
Các công trình nghiên cứu và khảo sát trước đây cho rằng nguồn gốc của cây chè là vùng Vân Nam Trung Quốc, nơi có điều kiện khí hậu ẩm ướt quanh năm Theo các tài liệu của Trung Quốc thì cách đây 4.000 năm người Trung Quốc đã biết dùng chè làm dược liệu sau đó mới dùng để uống
Năm 1823, R.Bruce phát hiện những cây chè dại lá to ở vùng Atxam(Ấn
Độ ) từ đó các học giả người Anh cho rằng quê hương của cây chè là ở Ấn Độ chứ không phải ở Trung Quốc
Những công trình nghiên cứu của Dejemukhatze (1961-1976) về phức Catechin giữa các loại chè được trồng và mọc hoang dại đã nêu lên luận điểm cho sự tiến hóa trên cơ sở đó xác minh nguồn gốc cây chè Từ sự biến đổi sinh hóa của các lá cây chè mọc hoang dại và các cây chè được trồng trọt, chăm sóc Dejemukhatze cho rằng, nguồn gốc của cây chè chính là ở Việt Nam
Hiện nay chè được phân bố khá rộng trong những điều kiện tự nhiên rất khác nhau, từ 300 vĩ Nam đến 450 vĩ Bắc, là những nới có điều kiện tự nhiên khác xa vùng nguyên sản Những thành tựu khoa học của các nhà chọn giống Liên Xô,Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản… đã tạo nhiều giống mới có khả năng thích ứng với các điều kiện khác nhau, tạo nhiều triển vọng cho nghề trồng chè trên thế giới (Nguyễn Văn Hùng, 2006) [6]
1.2.2 Phân loại cây chè
Tên khoa học của cây chè được thống nhất là Camellia sinensis (L) O Kuntze và có tên đồng nghĩa là Thea sinensis L.
Việc phân loại chè dựa vào các cơ sở sau :
- Cơ quan sinh dưỡng : Loại thân bụi hoặc thân gỗ, hình dạng của tán, hình dạng và kích thước của lá, số đôi gân lá
Trang 15- Cơ quan sinh thực : Độ lớn của cánh hoa, số lượng đài hoa, vị trí phân nhánh của đầu nhụy cái.
- Đặc tính sinh hóa : Chủ yếu dựa vào hàm lượng tanin, mỗi giống chè
có hàm lượng tanin biến đổi nhất định (Nguyễn Văn Hùng, 2006) [5]
Chè Camellia sinensis được chia làm 4 thứ:
* Chè Trung Quốc lá nhỏ (Camellia sinensis var.bohea)
Đặc điểm : Cây bụi, thân thấp, phân cành nhiều, lá nhỏ dày, nhiều gợn sóng màu xanh đậm Lá dài 3,5-6,5 cm có 6-7 đôi gân lá không rõ, răng cưa nhỏ, không đều, búp nhỏ hoa nhiều, năng suất thấp, phẩm chất bình thường, khả năng chịu rét ở nhiệt độ (120C-150C), phân bố chủ yếu ở miền Đông Nam Trung Quốc, Nhật Bản và một số vùng chè khác
* Chè Trung Quốc lá to (Camellia sinensis var.marcophyla)
Đặc điểm : Thân gỗ nhỏ, cao 5m trong điều kiện sinh trưởng tự nhiên, lá
to trung bình chiều dài 12-15cm, rộng 5-7 cm, màu xanh nhạt, bóng Răng cưa sâu không đều,đầu lá nhọn, trung bình có 8-9 đôi gân lá rõ Năng suất cao, phẩm chất tốt, nguyên sản ở Vân Nam, Tứ Xuyên (Trung Quốc)
* Chè Shan (Camellia sinensis var.Shan)
Đặc điểm : Thân gỗ cao 6-10m, lá to và dài 15-18cm, có màu xanh nhạt, đầu lá dài, răng cưa nhỏ và dày Tôm chè nhiều lông tơ trắng mịn trông như tuyết nên thích ứng ở điều kiện ấm, ẩm, địa hình cao Năng suất cao, phẩm chất tốt Nguyên sản ở Vân Nam (Trung Quốc) miền Bắc Mianma và Việt Nam
* Chè Ấn Độ (Camellia sinensis var atxamica)
Đặc điểm: Thân gỗ cao tới 17m, phân cành thưa, lá dài 20-30 cm mỏng, mềm, thường có màu xanh đậm, dạng lá hình bầu dục có trung bình 12-15 đôi gân
lá Rất ít hoa quả, không chịu được rét hạn Năng suất phẩm chất tốt Trồng nhiều
ở Ấn Độ, Mianma, Vân Nam (Trung Quốc) và một số vùng khác (Nguyễn Văn Hùng, 2006) [5]
1.3 Yêu cầu điều kiện ngoại cảnh của cây chè
1.3.1 Điều kiện đất đai, địa hình
Trang 16- Độ chua : Là chỉ tiêu quan trọng quyết định đến đời sống cây chè Các nhà khoa học Trung Quốc cho rằng: độ pH < 3,5 cây chè có màu xanh sẫm, chết dần trong điều kiện pH > 7,5 cây chè ít lá, lá vàng, chết Các nhà khoa học cũng xác định rằng giới hạn pH của đất trồng chè là 4,5 và giới hạn trên là 6,5.
- Tầng dày, kết cấu đất thành phần cơ giới và chế độ nước : Cây chè sinh trưởng tốt ở tầng dày ≥ 1m, giới hạn cuối cùng về đất trồng chè là 0,5m Về thành phần cơ giới chè ưa các loại đất từ cát pha đến thịt nặng
Thực tiễn cho thấy: Thái Nguyên có 6 loại đất có khả năng trồng chè, trong đó chè được trồng trên 2 loai đất: đất vàng nhạt trên đá cát, đất vàng nâu trên đá phù sa cổ có thành phần cơ giới nhẹ , đều có hương thơm tự nhiên vị đậm, màu nước đẹp hơn chè trồng trên các loại đất có thành phần cơ giới nặng hơn
Cây chè sinh trưởng tốt trên đất có kết viên, tơi xốp Trên các loại đất này
bộ rễ chè phát triển tốt, hệ sinh vật hoạt động mạnh, cây chè có tuổi thọ cao.Chè là cây cần nước, tuy nhiên không có khả năng chịu úng, chỉ nên trồng chè ở những nơi có mực nước ngấm ở dưới độ sâu 1m
- Độ cao so với mực nước biển : của đất trồng chè có ảnh hưởng tới phẩm chất chè; chè trồng trên núi cao thường có chất lượng tốt
1.3.2 Các yếu tố khí hậu đối với sự sinh trưởng của cây chè
- Lượng mưa và độ ẩm không khí Hàm lượng nước trong rễ chè là 54.5%, trong thân cành là 48-75%, trong lá là 74-76%
48-Lượng mưa trung bình hàng năm thích hợp cho sinh trưởng cây chè là 2000mm
1500-Số ngày mưa có ảnh hưởng lớn đến việc hái chè cũng như chế biến chè: Khó làm héo, tốn nhiên liệu và công sấy chè
Trang 17Độ ẩm tương đối của không khí thích hợp là 80-85% Ẩm độ cần thiết cho cây chè là 70-90% Lượng mưa phân bố đều, xen kẽ ngày mưa, ngày nắng rất phù hợp cho cây chè sinh trưởng, phát triển Lượng mưa tập trung phân bố không đều ảnh hưởng xấu tới sinh trưởng của cây chè, gây xói mòn đất trồng chè Ẩm độ không khí thấp, chè cằn cỗi, búp chè chóng già, tỷ lệ mù xòe cao, sức chống chịu sâu bệnh giảm.
Các loại chè núi cao có chất lượng tốt vì độ ẩm cao và ánh sáng tán xạ và biên độ nhiệt ngày đêm lớn
- Nhiệt độ: Nhiệt độ thích hợp cho sinh trưởng cây chè là 22-280C Theo các nhà khoa học Trung Quốc, Liên Xô thì cây chè ngừng sinh trưởng ở 100C,
từ 15-180C cây chè sinh trưởng chậm, từ 22 đến 250C cây chè sinh trưởng mạnh, trên 300C cây chè sinh trưởng chậm lại, ở nhiệt độ 400C các bộ phận non của chè bị cháy
Biên độ nhiệt ngày - đêm rộng có lợi cho chất lượng chè Biên độ nhiệt
độ các mùa thấp thì thời gian thu hoạch búp chè càng dài
- Ánh sáng: ở giai đoạn cây con, cây chè ưa bóng râm Cây chè trưởng thành ưa ánh sáng Yêu cầu của cây chè với ánh sáng có khác nhau giữa các tuổi chè, giống chè Chè con cần ánh sáng ít hơn chè lớn, các giống chè to cần
ít ánh sáng hơn các giống chè lá nhỏ
Dưới bóng râm cây chè sinh động, lóng dài, búp non lâu, hàm lượng nước cao nhưng búp thưa, quang hợp kém nên năng suất thấp
Ánh sáng tán xạ ở vùng núi cao có tác dụng tốt đến phẩm chất chè Sương mù nhiều ẩm ướt, nhiệt độ thấp ở vùng núi cao là nơi sản xuất chè có chất lượng cao
Trồng cây bóng mát ở những vùng thấp và nắng nóng cho kết quả tốt Vườn chè cơ cấu bóng mát che bớt 30% ánh sáng làm tăng năng suất chè lên 34% Chúng ta có tập đoàn cây bộ đậu che bóng mát cho chè rất tốt Đáng chú ý có cây muồng đen ở Tây Nguyên, cây chàm là nhọn ở các tỉnh phía
Trang 18Bắc Cây bóng mát còn có tác dụng làm giàu chất hữu cơ, chống xói mòn cho đất trồng chè nâng cao mạch nước ngầm và chắn gió cho chè (Đường Hồng Dật, 2004) [3].
- Không khí : Sự lưu thông không khí, gió nhẹ và có mưa rất có lợi cho sinh trưởng của cây chè Gió nhẹ làm cho CO2 phân bố đều, cố lợi cho quá trình quang hợp , gió nhẹ có tác dụng điều hòa nước trong cây Để giảm tác hại của gió bão người ta tiến hành trồng các đai rừng chắn gió cho chè
Qua cơ sở khoa học nêu trên và yêu cầu về điều kiện sinh thái của cây chè, thì tỉnh Thái Nguyên tương đối thích hợp cho sản xuất chè vụ đông, thông qua các biện pháp tưới, tủ, làm đất giữ ẩm cho chè nhằm khắc phục yếu
tố hạn chế lớn nhất đến cây chè vụ đông là mưa ít, nhờ vậy mà cây chè sinh trưởng búp thuận lợi và cho thu hoạch sản lượng
1.3.3 Nhu cầu dinh dưỡng đối với chè
* Nhu cầu phân đạm cho chè
Trong chè đạm tập trung ở các bộ phận còn non như búp và lá non, N tham gia vào sự hình thành axit amin và protein, bón đủ N cho chè, lá chè có màu xanh quang hợp tốt cây chè sinh trưởng tốt, cho nhiều búp, búp to Thiếu đạm chồi mọc ít, lá vàng, búp nhỏ, năng suất thấp
Các thí nghiệm tại viện chè Phú Hộ cho thấy: Bón đạm làm tăng năng suất từ 2,0-2,5 lần so với đối chứng không bón
Về chất lượng : Các tài liệu Ấn Độ, Nhật Bản và Việt Nam đều cho rằng bón đạm không hợp lý (bón quá nhiều hoặc bón đơn độc) làm giảm chất lượng chè đặc biệt là sản xuất chè đen
Bón quá nhiều đạm làm cho hàm lượng tanin, cafein giảm làm protein tăng, protein sẽ kết hợp với tanin thành hợp chất không tan vì thế lượng tanin càng bị giảm, hơn nữa bón quá nhiều đạm làm cho hàm lượng ancanoit tăng, chè có vị đắng
Trang 19Các thí nghiệm còn cho thấy có thể làm giảm tác hại của việc dùng liều lượng đạm cao nếu bón phối hợp cân đối các phân khoáng khác và phân hữu cơ
* Nhu cầu phân lân cho chè
Trong búp non của chè có 1,5% P2O5 (Eden 1958) Lân tham gia vào thành phần cấu tạo của tế bào, trong axit nucleic, lân có vai trò quan trọng trong việc tích lũy năng lượng cho cây, có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của chè, nâng cao chất lượng chè (cả chè nguyên liệu và chè giống) làm tăng khả năng chống rét, chống hạn cho chè, thiếu lân lá chè có màu xanh thẫm, có vết nâu hại bên gân chính, búp nhỏ năng suất thấp
Các tài liệu nghiên cứu của Liên Xô, Việt Nam và nhiều nước khác cho thấy: bón lân làm tăng năng suất chè rõ rệt , đặc biệt bón lân trên nền N ,K, đất thiếu đạm và kali cũng làm giảm hiệu quả của phân lân đối với chè Điều đáng chú ý là bón lân có hiệu quả tương đối dài thậm chí 20-25 năm
Kết quả sơ bộ thì nghiệm 10 năm phân bón N P K cho chè của trại thí nghiệm chè Phú Hộ cho thấy trên cơ sở bón 100 kgN/ha, bón 50 Kg P2O5 trong từng năm không có chênh lệch đáng kể về năng suất Nhưng từ năm thứ
7 trở đi thì bội thu tăng lên rõ rệt, qua 10 năm hiệu quả của phân lân tỏ ra rõ rệt và chắc chắn bình quân 10 năm thì hiệu quả của phân lân tỏ ra rõ rệt và chắc chắn bình quân 10 năm 1Kg P2O5 làm tăng được 3,5 Kg búp chè tươi.Kết quả nghiên cứu của Curxnop(1954) và T.C mgalolisvili (1966) Liên
xô đều khẳng định bón lân trên nền N-K làm tăng hàm lượng catechin trong búp chè, có lợi cho chất lượng chè (Đường Hồng Dật, 2004) [3]
* Bón Kali cho chè
Kali có trong tất cả các bộ phận của cây chè nhất là thân, cành và các bộ phận đang sinh trưởng Nó tham gia vào quá trình trao đổi chất trong cây làm khả năng hoạt động của các men tăng, làm tăng khả năng tích luỹ gluxit và axit amin, tăng khả năng giữ nước của tế bào, nâng cao năng suất, chất lượng búp, làm tăng khả năng chống bệnh, chịu rét cho chè
Thiếu kali rìa lá có vết nâu, rụng lá nhiều, búp nhỏ, lá nhỏ
Trang 20* Bón phân hữu cơ cho chè
Đối với chè phân hữu cơ có vai trò rất quan trọng, nó không những cung cấp trực tiếp chất dinh dưỡng cho cây mà còn cải thiện lí tính đất như: làm cho đất tơi xốp, có kết cấu viên làm tăng khả năng thấm và giữ nước của đất, làm tăng sự hoạt động của các hệ vi sinh vật trong đất, tăng thành phần các chất dinh dưỡng: N P K và các nguyên tố vi lượng khác trong đất (Đường Hồng Dật, 2004) [3]
1.4 Một số kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài
1.4.1 Một số nghiên cứu về cây chè trên thế giới
Các tác giả CFKozopkin(1950) G.V Lêbêdep(1954,1957) N.X Petino bằng nghiên cứu của mình đã cho thấy: vùng cận nhiệt đới chỉ có thể trồng chè khi tưới nước đều đặn, các tác giả cho rằng: Tưới nước cho chè làm tăng thời gian thu hoạch búp, làm tăng chất lượng chè nguyên liệu (Lê Tất Khương, 1997) [7]
M.K Daraselia (1989) tủ chè tưới làm thay đổi điều kiện quang hợp, thay đổi hoạt tính các men trong rễ chè, kể cả polifenon-oxydaza là men có mặt trong việc tạo tanin của chè (Lê Tất Khương, 1997) [7]
1.4.2 Một số nghiên cứu kỹ thuật tưới nước và tủ gốc cho chè ở Việt Nam
Theo tác giả Hà Ngọc Ngô (1977) [8], tưới nước cho chè ở Việt Nam lần đầu tiên được nghiên cứu vào những năm 1960- 1961 tại trại thí nghiệm chè Phú Hộ dưới sự chỉ đạo của giáo sư Fridland trên chè 4 tuổi ở độ dốc 110 Kết quả cho thấy tưới nước đã làm tăng sản lượng chè từ 13- 38% và cho bội thu cao trong các tháng vụ đông
Kết quả nghiên cứu của Lê Tất Khương (1997) [7] cho thấy: Các công thức được tủ giữ ẩm, tưới nước hoặc kết hợp giữa tủ và tưới đã tăng tỷ lệ búp
có tôm từ 3,7- 18,7% và tăng tỷ lệ chè loại A, B lên từ 5,0-17,3%, tăng hàm lượng tanin từ 0,7- 2,1% và làm tăng hàm lượng chất hòa tan từ 1,0- 1,5%
Trang 21Cũng theo nghiên cứu của Lê Tất Khương (1997) [7] cho thấy: Đốn chè vào tháng 12, ở các công thức có tủ và tưới nước đã làm tăng năng suất chè
vụ đông và xuân từ 10,4- 125,1% và đã làm tăng mức thu - chi từ 5,3-67,5%
so với không tủ , không tưới nước
Theo Chu Thị Thơm (2005) [11] thì phủ rác có tác dụng chống cỏ dại, giữ ẩm, chống xói mòn, tăng độ mùn, độ xốp cho đất Cách phủ rác có thể làm tăng năng suất chè từ 35-50%
Theo nghiên cứu của Nguyễn Duy Đông (2010) [4] thì việc tưới nước cho chè qua đông kết hợp với các biện pháp tủ giữ ẩm và làm đất trước khi tủ
đã làm tăng năng suất chè từ 107,27 – 181,49% Việc tưới tủ kết hợp với làm đất trước khi tủ cho chè đem lại hiệu quả kinh tế cao Hiệu số thu – chi của các công thức đều cao hơn so với đối chứng (trừ công thức 2) từ 1.270.150 – 8.192.150 đồng Công thức đạt hiệu quả kinh tế cao nhất là công thức 6, có mức thu – chi đạt 8.192.150 đồng
Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Cẩm Mỹ (2010) [8] về ảnh hưởng của vật liệu che phủ đến sinh trưởng, phát triển của chè giai đoạn kiến thiết cơ bản tại xã Phú Hộ tỉnh Phú Thọ thì che phủ đất bằng xác thực vật cho chè trong giai đoạn kiến thiết cơ bản có tác dụng tích cực đối với sinh trưởng phát triển của chè (tăng chiều cao cây, tăng chiều rộng tán, tăng chỉ số diện tích lá, giảm
cỏ dại ) đồng thời khắc phục được các yếu tố hạn chế của đất dốc
Theo Đường Hồng Dật (2004) [3] ở nước ta, do lượng mưa phân bổ không đều qua các tháng trong năm, lượng chè chiếm 70% sản lượng cả năm Trong khi các tháng vụ Đông –Xuân, do thời tiết khô hạn, nhiệt độ thấp, cho nên sản lượng chè rất thấp, có tháng như tháng 1, các nương chè hầu như không cho thu hoạch
Trong các tháng có lượng mưa trên 100 mm, thu hoạch búp chè đạt trên 10% sản lượng chè cả năm Dưới 50 mm, thu hoạch búp chè chỉ đạt dưới 5% sản lượng cả năm
Trang 22Tưới nước cho chè, hoặc kết hợp giữa tưới nước và tủ gốc giữ ẩm cây chè sinh trưởng tốt và làm cho thu hoạch búp với năng suất cao Ngay cả trong các tháng vụ Đông - Xuân , nhiệt độ thấp, thời tiết khô hạn vẫn làm tăng năng suất và sản lượng chè.
Thí nghiệm được tiến hành đối với chè vụ Đông - Xuân cho kết quả :
Khi được tủ gốc, giữ ẩm, tưới nước làm tăng năng suất chè Đông - Xuân lên từ 10,4% đến 125,1% làm tăng tỷ lệ búp có tôm lên 3,7 – 18,3% tăng hàm lượng tanin lên 0,7 – 2,1% tăng hàm lượng chát hòa tan lên 1,0 – 1,5%
Theo Đường Hồng Dật (2004) [3] đối với cây chè vụ Đông Xuân,không cho thu hoạch không phải là do nhiệt độ quá thấp, mà do thiếu nước Khi được tưới nước đầy đủ chè vẫn tạo búp tốt, vẫn cho thu hoạch, vì vậy, với mục đích nhằm rải vụ thu hoạch chè, tạo thêm việc làm cho người trồng chè trong các tháng nông nhàn Nâng cao hiệu quả kinh tế của sản xuất chè ở những nơi điều kiện tưới nước, người ta không tiến hành đốn chè váo tháng
12, tháng 1 như những nơi khác, mà đốn chè vào cuối tháng 2 hoặc cuối tháng
4 để thu hoạch thêm vụ búp chè Đông Xuân
Bảng 1.1: Ảnh hưởng của tưới nước, tủ gốc đến năng suất và chất lượng
chè Đông Xuân tại xã Phú Hộ- tỉnh Phú Thọ
Công thức thí
nghiệm
Năng suất búp (tạ/ha)
So sánh
%
Tỷ lệ búp
có tôm (%)
Tỷ lệ chè loại A, B (%)
Hàm lượng tanin (%)
Hàm lượng chất hòa tan ( %)
Trang 23Ở các tỉnh phía Bắc nước ta thường có hiện tượng thừa nguyên liệu búp chè ở các cơ sở chế biến vào các tháng vụ hè thu gây nên tình trạng thiếu lao động Ngược lại, vào các tháng Đông Xuân lại thiếu nguyên liệu chế biến dẫn đến sự gia tăng giá chè đột ngột khi sản lượng chè thấp Sản xuất chè vụ Đông Xuân có ý nghĩa rải vụ chè, tạo việc làm cho người trồng chè, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ chè trong vụ Đông Xuân,đặc biệt là dịp Tết Nguyên Đán, nâng cao hiệu quả cây chè (Lê Tất Khương, 1997) [7].
Tuy nhiên, để sản xuất chè vụ Đông Xuân có hiệu quả cần chú ý tới những điều sau :
- Chỉ sản suất chè vụ Đông Xuân trên những diện tích có khả năng tưới nước
- Thời gian tưới có hiệu quả nhất từ tháng 10 đến tháng 4
- Lượng nước tưới thích hợp là 600m3/ha, tưới làm 3 lần trong 1 tháng
- Tiến hành đốn chè vào cuối tháng 2 hoặc cuối tháng 4
- Chú ý phòng trừ sâu bệnh vào cuối tháng 2, tháng 3 khi có mưa phùn,
ẩm độ không khí cao
- Phòng lứa rầy xanh đầu vụ xuân (Đường Hồng Dật, 2004) [3]
Nơi có điều kiện về nguồn nước, khả năng đầu tư thì có thể tiến hành tưới nước cho chè, khi độ ẩm đất dưới 60% sức chứa ẩm đồng ruộng (vào các tháng hạn, từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau hoặc các thời điểm hạn ở chính
vụ dài quá 15 ngày mặt đất lô chè khô kiệt chuyển sang màu xám trắng)
* Biện pháp giữ ẩm cho chè
Bộ nông nghiệp và phát triển Nông Thôn(2005) [1] phương pháp giữ ẩm cho chè là tủ cỏ, rác, nilon quanh gốc chè Trồng cây phân xanh, bóng mát có đốn tỉa hợp lý Mật độ cây bóng mát 200-250 cây/ha
* Phương pháp và kỹ thuật tưới
Trang 24Bộ nông nghiệp và phát triển Nông Thôn(2005) [1] Phương pháp tưới phun mưa bề mặt với vòi tưới di động hoặc cố định cho hiệu quả cao.Phương pháp tưới nhỏ giọt yêu cầu đầu tư cao Nếu nguồn nước đầy đủ có thể sử dụng phương pháp tưới tràn theo rãnh chè.
+ Cây chè sinh trưởng bình thường khi độ ẩm đạt 85-95% sức chứa ẩm đồng ruộng Khi độ ẩm đất dưới 60% sức chứa ẩm đồng ruộng, hạn kéo dài cần tưới khoảng 200m3 nước/ha
- Hiệu quả tưới rất cao khi tưới kết hợp tủ chất hữu cơ cho chè (Đỗ Ngọc Quỹ, 2005) [10]
Tủ gốc chè bằng cỏ, rác, cây phân xanh để hạn chế cỏ dại ngay sau khi trồng lượng 30 -40 tấn/ha, 2 lần/năm không phải làm cỏ còn giữ được ẩm, ấm cho chè
- Nếu không có điều kiện tủ tiến hành xới cỏ vụ xuân từ tháng 1-2 và vụ thu từ tháng 8 – 9, xới sạch đưa cỏ ra ngoài Trong năm tiến hành xới 3-4 lần rộng cách gốc 30 -40cm
Không được dùng thuốc trừ cỏ cho chè kiến thiết cơ bản
- Tưới nước: Sau trồng và khi hạn cần phải, yêu cầu chất lượng nước như yêu cầu chè kinh doanh (Đỗ Ngọc Quỹ, 2005) [10]
1.5 Tình hình sản xuất chè trên thế giới, Việt Nam và tỉnh Thái Nguyên
1.5.1 Tình hình sản xuất chè trên thế giới
Chè hiện chiếm khoảng 1/3 lượng tiêu dùng của thị trường đồ uống nóng thế giới, nhưng chỉ chiếm 20% tổng giá trị của thị trường này Theo đánh giá của chuyên gia trong các nước sản xuất kinh doanh chè thuộc tổ chức Nông Lương Quốc tế, những năm cuối thế kỷ 20 có trên một nửa dân số thế giới uống chè Hầu hết các nước đều có người uống chè, trong đó khoảng 160 nước
có nhiều người uống chè Mức tiêu thụ chè bình quân đầu người một năm trên toàn thế giới là 0,5kg/người/năm và con số này sẽ càng tăng lên trong thời gian tới (Nguyễn Hữu Khải, 2005) [6]
Trang 25Theo thống kê của Fao tại thị trường Châu Âu, các nước Đức, Anh, Nga đều có xu hướng tăng Trong giai đoạn 2009-2010 nhập khẩu chè đen của Nga
sẽ tăng từ 223.600 tấn lên 315.200 tấn, mức tăng trung bình hàng năm là 3%
Có thể thấy nhu cầu tiêu dùng chè tại các nước phát triển đang chuyển dần từ các sản phẩm chè thông thường sang các sản phẩm chè uống liền và chế biến đặc biệt trong khi tại các thị trường Tây Á và Châu Á vẫn thích dùng các sản phẩm chè truyền thống(w.w.w.viettrade.gov.vn)[14]
Trước nhu cầu tiêu thụ chè chất lượng cao ngày càng tăng lên các nước sản xuất và xuất khẩu chè buộc phải đầu tư chiều sâu cho các vùng cải tiến giống, thực hiện nghiêm ngặt hơn nữa các kỹ thật canh tác, thu hái khiến cho năng suất chè tăng lên rõ rệt Năng suất bình quân của các nước sản xuất chè chủ yếu trong hơn 10 năm trở lại đây trung bình tăng 48% Ấn Độ là một trong những quốc gia sản xuất và xuất khẩu chè lớn nhất thế giới với tốc độ năng suất trung bình từ năm 1990 đến nay là 55% theo sau là Srilanka 45%, Trung Quốc 35%, Indonesia 31% Năm 1991 năng suất chè trung bình trên thế giới là 1,12 tấn/ha, đến năm 2004 năng suất trung bình đã tăng 1,3 tấn/ha (Nguyễn Hữu Khải, 2005) [6]
Diện tích, năng suất, sản lượng chè trên thế giới từ năm 2002-2009 được thể hiện ở bảng 1.2:
Bảng 1.2: Diện tích, năng suất, sản lượng chè thế giới từ năm 2002-2010
(1000ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (1000 tấn)
Trang 26(Nguồn: Theo FAOSTAT, 2011)[13]
Qua số liệu thống kê diện tích, năng suất, sản lượng chè trong giai đoạn
từ năm 2002-2010 cho thấy:
Diện tích chè thế giới tăng đều qua các năm từ năm 2002-2010 Trong 9 năm trở lại đây diện tích trồng chè tăng khoảng 1,02-1,03% Theo thống kê năm 2005, diện tích chè thế giới tương đối cao, trong đó diện tích chè Châu Á chiếm 76,7%, Châu Phi là 8,05%
Năng suất chè thế giới tăng mạnh vào năm 2006 và năm 2007, từ 13,38 tạ/ha (năm 2006) đến 13,58 tạ/ha (năm 2007 ) và giảm dần vào các năm tiếp theo chỉ còn 13,10 tạ/ha
Sản lượng chè tăng nhanh qua các năm từ 317,06 (nghìn tấn ) năm 2002 lên 450,21 (nghìn tấn) năm 2010 Như vậy sản lượng chè thế giới đã tăng 12,4% từ năm 2002 đến năm 2010
Ngày nay trên thế giới có khoảng 40 nước trồng chè Chè tập trung nhiều nhất ở Châu Á sau đó đến Châu Phi Các nước có diện tích trồng chè lớn như Kenia, Ấn Độ, Trung Quốc, Srilanka…
Sản lượng chè của thế giới và một số nước có sản lượng chè cao được thể hiện qua bảng 1.3:
Bảng 1.3: Tình hình sản lượng chè của thế giới và một số nước có sản
lượng chè cao từ năm 2005- 2010
Trang 27(Nguồn: Theo FAOSTAT, 2011) [12].
Qua bảng 1.2 cho thấy: Năng suất chè khô trung bình toàn thế giới năm
2008 đạt 17,73 tạ/ha tăng 2,27 tạ/ha so với năm 2007 Các nước đạt năng suất cao như Kenya, Nhật Bản, Ấn Độ, Srilanka đạt từ 14,97 – 21,93 tạ/ha, thấp nhất là Myanmar chỉ đạt 3,56 tạ/ha
* Về sản lượng:
Qua bảng 1.3 cho thấy: Sản lượng chè trung bình toàn thế giới năm
2008 đạt 4.735.61 tấn, tăng 833.080 tấn Đứng đầu về sản lượng là Trung Quốc đạt 1.257.384 tấn, chiếm 26,5% so với tổng sản lượng toàn thế giới Sản lượng thấp nhất là Myanmar đạt 26.500 tấn, chiếm 0,55% so với tổng sản lượng chè toàn thế giới Sản lượng chè của Việt Nam chiếm tỷ lệ là 3,69% so với tổng sản lượng chè toàn thế giới
Qua số liệu bảng 1.1, 1.2 cho thấy, hai nước có diện tích và sản lượng chè cao nhất là Ấn Độ và Trung Quốc, cũng là hai nước có khả năng tiêu thụ chè lớn nhất thế giới Các nước còn lại như Anh, Mỹ, Canada sẽ là thị trường tiềm năng cho những nước xuất khẩu chè
Sản xuất chè trên thế giới tập trung chủ yếu ở Châu Á Trong số 10 nước dẫn đầu về sản lượng (chiếm khoảng 90% ổng sản lượng trên thế giới) thì có tới 7 nước Châu Á Trong những năm qua, diện tích trồng chè thế giới tăng không đáng kể nhưng năng suất chè có sự cải thiện vượt bậc nên sản lượng vẫn gia tăng Trong khi đó chè đang bị cạnh tranh gay gắt từ các loại đồ
Trang 28uống khác nên giá chè có xu hướng giảm từ năm 1998-1999 đến nay (Nguyễn Hữu Khải, 2005) [6].
1.5.2 Tình hình sản xuất và định hướng phát triển của ngành chè Việt Nam
1.5.2.1 Tình hình sản xuất
Chè là cây công nghiệp dài ngày, xuất hiện ở Việt Nam từ lâu Trước đây, nhân dân chỉ trồng trong vườn nhà làm bóng mát và lấy búp dùng làm đồ uống giải nhiệt Do có khí hậu nhiệt đới gió mùa thuận lợi với 2/3 diện tích lãnh thổ là đồi núi, cây chè đã trở thành cây mang tính chất hàng hóa, sản phầm chè đã được đưa ra bán ở nhiều thị trường khác nhau Theo thống kê của Tổng công ty Chè Việt Nam, hiện nay có gần một nửa số tỉnh, thành trồng chè nhưng phát triển mạnh nhất ở các tình Thái Nguyên, Tuyên Quang, Yên Bái, Phú Thọ, Sơn La, Lâm Đồng chè của Việt Nam được các chuyên gia quốc tế đánh giá là có hương vị đặc trưng, thơm ngon Ngoài ra, theo nhận xét sản phẩm chè của vùng Mộc Châu –Hà Giang có chất lượng tương đương với vùng chè Darjeeling của Ấn Độ nổi tiếng trên toàn thế giới về chất lượng (Nguyễn Hữu Khải, 2005) [6]
Lịch sử phát triển ngành chè Việt Nam chia ra các giai đoạn :
* Giai đoạn 1980-1945
Giai đoạn này nhân dân ta chịu sự áp bức thống trị của thực dân Pháp kết thúc bằng cuộc cách mạng tháng 8, mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc ta, công việc trồng chè ở giai đoạn này mang tính khởi đầu Những đồn điền chè đầu tiên được thành lập ở Tĩnh Cương (Phú Thọ) với diện tích 60 ha, ở Đức Phổ (Quảng Ngãi) 230 ha
Đến năm 1938 Việt Nam đã có 13.405 với sản lượng là 6.100 tấn chè khô Diện tích chè phân bố chủ yếu ở vùng Bắc Bộ và cao nguyên Trung Bộ.Đến năm 1939, việt Nam đạt sản lượng 10.900 tấn chè khô, đứng thứ 6 trên thế giới sau Ấn Độ, Trụng Quốc, Srilanka, Nhật Bản và Indonesia
Trang 29Ở giai đoạn này, diện tích chè bị phân tán, sản xuất chè mang tính tự cung , tự cấp, kỹ thuật canh tác thô sơ, kinh doanh chè chỉ mang tính cầm chừng
* Giai đoạn 1945-1954
Nhiều biến động lịch sử xảy ra trong giai đoạn này đã gây ảnh hưởng đến sự phát triển sản xuất của cây chè Tình hình sản xuất, tiêu thụ chè giảm sút kéo theo ngành chè không phát triển
* Giai đoạn 1954-1990
Sau thắng lợi năm 1975, giao lưu văn hóa chính trị được nối lại giữa hai miền Nam Bắc Cây chè đã được Bộ nông nghiệp và Bộ lương thực thực phẩm quan tâm Nhiều đề án phát triển nông nghiệp được hoạch định ở cả hai miền Cây chè được xác định là cây có giá trị kinh tế cao, có tầm quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế, xã hội của vùng trụng du và miền núi
Từ năm 1980 đến năm 1990 diện tích chè tăng từ 46 nghìn ha lên đến 60 nghìn ha (tăng 28% ) sản lượng chè tăng từ 21,0 nghìn tấn lên 32,2 nghìn tấn khô (tăng 53,3%) Giai đoạn này ngành công nghiệp chế biến phát triển mạnh với nhiều nhà máy chế biến chè xanh, chè đen được thành lập với sự giúp đỡ của Liên Xô (cũ), Trung Quốc sản phẩm chế biến chủ yếu được xuất khẩu sang Liên Xô (cũ ) và Đông Âu
* Giai đoạn 1990 đến nay
Những năm gần đây có nhiều cơ chế chính sách ưu tiên đầu tư phát triển ngành chè Cây chè được coi là cây trồng xóa đói giảm nghèo của nhiều hộ nông dân
Trong giai đoạn này diện tích, năng suất, sản lượng chè của Việt Nam từ năm 2005-2009
Bảng 1.4: Diện tích, năng suất, sản lượng chè của Việt Nam từ năm 2005-2010
(ha)
Năng suất (Kg/ha)
Sản lượng (tấn)
Trang 30(Nguồn: Theo thống kê của FAO 2011)[14]
Qua bảng 1.4 cho thấy : Diện tích đất trồng chè của Việt Nam tăng trung bình trong những năm 2005 đến 2007 Sau đó lại giảm mạnh từ 107.400 ha (năm 2007) chỉ còn 10.880 ha (năm 2008) và tăng nhẹ vào năm 2009 là 11.160ha
Tuy diện tích trồng chè giảm nhưng năng suất chè lại tăng đều qua các năm Từ 13.564 kg/ha (năm 2005) lên tới 16.639kg/ha (năm 2009)
Do năng suất chè hàng năm tăng nên sản lượng chè cũng tăng với tốc
độ trung bình trong 5 năm (2005-2009)
Năng suất chè của Việt Nam tăng lên trong khi diện tích trồng chè lại giảm đi Điều này thể hiện nhiều mặt tiến bộ vượt bậc của ngành chè Việt Nam về đầu tư giống, vốn, kỹ thuật thâm canh, năng lực cán bộ công nhân viên, chất lượng chè …so với thời kì trước đây
Việt Nam đã có một số vườn chè đạt năng suất 20-25 tấn/ha, hàng ngàn
ha có năng suất bình quân trên 12 tấn/ha Tuy nhiên năng suất vườn chè của nước ta còn thấp xa so với một số nước trên thế giới như Kenya, Ấn Độ, Nhật Bản, Srilanka… Trong khi năng suất chè bình quân của Ấn Độ, SriLanka, Kenya đạt từ 15-20 tấn/năm thì của ta mới đạt bình quân chưa đầy 10 tấn/ha Nguyên nhân chính của năng suất chè đạt thấp là do hầu hết diện tích chè của
Trang 31cả nước đều trồng bằng giống chè Trung du, chè Shan và PH1 Việc chăm sóc chè của bà con phần nhiều chưa đúng quy trình, phân hữu cơ ít được sử dụng, chủ yếu bón phân đạm, lân, kali đơn độc dẫn đến vườn chè bị chai cứng Hệ thống thủy lợi kém, hầu hết các đồi chè chưa chủ động nước tưới mà chủ yếu trông chờ vào lượng mưa tự nhiên nên vào những năm khô hạn, năng suất và sản lượng chè bị giảm sút lớn (Nguyễn Hữu Khải, 2005) [6].
+ Là một ngành kinh tế mũi nhọn trong việc phát triển kinh tế - xã hội ở trung du và miền núi
+ Đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng chè trong nước, xuất khẩu ngày càng nhiều và có tích lũy để tái sản xuất mở rộng
+ Góp phần vào việc phân bố lại lao động và dân cư, thu hút ngày càng nhiều lao động, cải thiện thu nhập, điều kiện làm việc và sinh hoạt cho người lao động, đặc biệt cho vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số
+ Góp phần phủ xanh đất trống đồi núi trọc và bảo vệ môi sinh
+ Chú trọng việc phát triển khoa học công nghệ để khắc phục nhược điểm và yếu kém hiện nay Cụ thể:
- Đưa công nghệ mới vào kinh doanh và phát triển đồi chè
Trang 32- Lựa chọn loại hình công nghệ chế biến thích hợp, đổi mới bao bì, mẫu
mã, để nâng cao chất lượng chè xuất khẩu
- Có những giải pháp thích hợp để thu hút mọi nguồn vốn ở trong và ngoài nước nhằm phục vụ cho mục tiêu phất triển cây chè (Nguyễn Hữu Khải, 2005) [6]
1.5.3 Tình hình sản suất chè của tỉnh Thái Nguyên
Thái Nguyên là vùng sản xuất chè nổi tiếng của Việt Nam Xét về diện tích, Thái Nguyên là vùng chè lớn thứ hai cả nước (trên 17.000 ha) sau tỉnh Lâm Đồng Thế nhưng Thái Nguyên là tỉnh dẫn đầu cả nước về sản lượng chè với gần 172.000 tấn.năm Điều đặc biệt hơn tại 9/9 huyện thành thị của Thái Nguyên, người dân đều tham gia trồng chè và chế biến chè Chè thái Nguyên
có thế mạnh được thiên nhiên ưu đãi về chất đất, khí hậu thích hợp cộng với
đó người dân làm chè có kỹ thuật chăm sóc, thu hái và chế biến chè rất tinh xảo, bằng những công cụ chế biến thủ công truyền thống, đã tạo nên sản phẩm trà cánh đẹp, hương thơm, vị cốm, uống “có hậu” với vị chát vừa phải , đượm ngọt đặc trưng (w.w.w.trathai.net)[16]
Nghề sản xuất chè ở Thái Nguyên đã tích tụ hàng trăm năm nay đã tạo thành những làng nghề sản xuất chè truyền thống Từ năm 2008 đến 2011 Thái Nguyên đã có 52 làng nghề sản xuất, chế biến chè được UBND tỉnh ra quyết định công nhận làng nghề Những làng nghề này từ lâu đã gắn liền với văn hóa mang đậm bản sắc của các dân tộc tỉnh Thái Nguyên Năm 2010, số lao động của cả làng nghề vào khoảng 35.900 người (w.w.w.vietrade.gov.vn) [14]
Tình hình sản suất chè của tỉnh Thái Nguyên được thể hiện qua bảng
Bảng 1.5: Tình hình sản xuất chè của tỉnh Thái Nguyên từ năm 2005 – 2009
Năm Diện tích (ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (tấn)
Trang 33(Nguồn:Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên năm 2011) [2]
Theo báo cáo của Viện Khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc, đến năm 2010, cả nước có 131.487 ha chè, sản lượng trên 165 nghìn tấn chè khô, xuất khẩu đạt 133,150 triệu USD/năm, giải quyết cho 400.000 hộ sản xuất của 35 tỉnh trong cả nước riêng tỉnh Thái Nguyên năm 2010, diện tích chè toàn tỉnh có 17.660 ha, năng suất chè búp tươi đạt 107 tạ/ha, sản lượng chè búp tươi 171.900 tấn.Thái Nguyên có những vùng chè đặc sản, cho chất lượng cao, đặc biệt thơm ngon
Nhận thức rõ vai trò của việc sản xuất chè an toàn có ý nghĩa sống còn đối với cây chè, tỉnh Thái Nguyên đã và đang triển khai quy hoạch vùng sản xuất chè an toàn trên địa bàn toàn tỉnh làm cơ sở cho việc thu hút đầu tư sản xuất chè hàng hóa chất lượng, giá trị cao; xây dựng vùng sản xuất nguyên liệu chè an toàn theo hướng hữu cơ, hạn chế sử dụng phân bón vô cơ, hóa chất trừ sâu, áp dụng quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt GAP Cũng vì thế 100% sản phẩm của làng nghề chè là sản phẩm chè sạch, chè xanh cao cấp, tiêu thụ tốt ở thị trường nội địa và xuất khẩu Tuy nhiên, giá trị thu được từ chè vẫn còn chưa tương xứng với tiềm năng của địa phương Đa phần, các sản phẩm tra xuất khẩu ra nước ngoài vẫn chỉ là chè đen, chưa có các sản phẩm trà xanh Do vậy, Thái Nguyên cần xây dựng các vùng nguyên liệu vùng chè tập trung để có thể sản xuất ra được nhiều loại trà khác nhau cung cấp cho thị trường các nước trên thế giới (w.w.w.18thang4.com)[15]
Trang 34Chương 2
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: Chè 3 năm tuổi ở thời kỳ cuối của giai đoạn
kiến thiết cơ bản
- Tưới nước cho chè kiến thiết cơ bản với các thời gian khác nhau
+ Công thức 1: Không tưới (Đ/C)
+ Công thức 2: 3 ngày tưới 1 lần
+ Công thức 3: 5 ngày tưới 1 lần
+ Công thức 4: 10 ngày tưới 1 lần
2.2 Địa điểm và thời gian tiến hành
- Địa điểm: Thí nghiệm được thực hiện tại vườn thực nghiệm trường Cao đẳng Kinh tế-Kỹ thuật, Đại học Thái Nguyên
- Thời gian tiến hành: Vụ Đông - Xuân năm 2011 (tháng 11 năm 2010 đến tháng 4 năm 2011)
2.3 Nội dung nghiên cứu
- Điều kiện tự nhiên của tỉnh Thái Nguyên tác động đến sản xuất chè
- Theo dõi khả năng sinh trưởng, khả năng cho năng suất năng suất của chè kiến thiết cơ bản được tủ gốc bằng các vật liệu tủ khác nhau
Trang 35- Theo dõi khả năng sinh trưởng, khả năng cho năng suất của chè kiến thiết cơ bản được tưới nước với thời gian tưới khác nhau
- Theo dõi thành phần sâu bệnh của chè kiến thiết cơ bản được tủ bằng các vật liệu tủ khác nhau
- Theo dõi thành phần sâu bệnh của chè kiến thiết cơ bản được tưới nước với các thời gian tưới khác nhau
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp thí nghiệm đồng ruộng
* Thí nghiệm 1: Nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp tủ gốc tới sinh
trưởng và khả năng cho năng suất của chè kiến thiết cơ bản
Thí nghiệm bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên hoàn toàn có 3 công thức và
3 lần nhắc lại
Công thức 1: Tủ rơm, rạ,cỏ (25 tấn/ha)
Công thức 2: Tủ guột (25 tấn/ha)
Công thức 3: Không tủ (Đối chứng)
Trang 36* Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian tưới nước tới sinh
trưởng và khả năng cho năng suất của chè kiến thiết cơ bản
Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên hoàn toàn có 4 công thức và 3 lần nhắc lại
Công thức 1: Không tưới (Đối chứng)
Công thức 2: 3 ngày tưới 1 lần
Công thức 3: 5 ngày tưới 1 lần
Công thức 4 : 10 ngày tưới 1 lần
* Xác định điểm theo dõi
- Tiến hành điều tra theo lứa hái Chọn 3 cây trên mỗi ô thí nghiệm tiến hành đo các chỉ tiêu về sinh trưởng Để đo đếm các chỉ tiêu về năng suất, lấy 5 điểm theo đường chéo góc trên mỗi ô thí nghiệm Hái các búp đạt tiêu chuẩn để theo dõi khả năng cho năng suất của chè
2.4.2 Phương pháp theo dõi
2.4.2.1 Chỉ tiêu về sinh trưởng
Trang 37Trên mỗi lần nhắc lại của mỗi công thức chọn 3 cây tiến hành đo đếm theo các chỉ tiêu sau:
+ Chiều rộng tán(cm): Chọn cây chè đại diện cho ô thí nghiệm Mỗi lần nhắc lại của công thức đo 3 cây Dùng thước 60cm đo ở hai vị trí vuông góc với nhau Chiều rộng tán chè là trung bình của các lần đo Thời gian đo trung bình mỗi tháng một lần
+ Chiều cao cây(cm): Đo từ mặt đất đến đỉnh sinh trưởng của cây Chọn những cây chè đại diện cho ô thí nghiệm, mỗi lần nhắc lại của một công thức
đo 3 cây Dùng 1 khung vuông có kích thước bằng diện tích tán chè đặt lên mặt tán thăng bằng song song với mặt đất, chiều cao cây đo từ mặt đất đã cố định đến đỉnh sinh trưởng (thân chính) Chiều cao cây là trung bình của những lần đo Thời gian đo trung bình mỗi tháng một lần
+ Đường kính thân(cm): Đo cách cổ rễ 5-10cm, những cây phân cành ngay từ cổ rễ đường kình ở cành chè to nhất cách cổ rễ 5-6 cm Dùng thước kẹp panme đo hai chiều vuông góc với nhau lấy giá trị trung bình của hai lần đo
+ Khối lượng cỏ dại: Nhổ toàn bộ số cỏ trên 1m2 mỗi ô lấy 4 điểm, tính trung bình khối lượng cỏ của các điểm sau đó quy đổi ra kg/m2/lần nhổ
2.4.2.2 Chỉ tiêu về khả năng cho năng suất của chè kiến thiết cơ bản
+ Khối lượng búp (g/búp): Mỗi công thức thí nghiệm ở mỗi lần nhắc lại lấy 100 búp, bảo quản trong túi nilon đưa về phòng Trộn đều mẫu ở các lần nhắc lại với nhau sau đó đếm tổng số búp trong 50g búp để tình trọng lượng
xô Mỗi công thức thực hiện 3 lần Trọng lượng búp trung bình là trọng lượng bình quân của 3 lần nhắc lại
+ Mật độ búp (số búp/m2/lứa hái): Sử dụng khung 25×25cm tiến hành đếm trên mỗi ô thí nghiệm chọn 5 điểm theo dõi theo phương pháp đường chéo góc, đếm số búp trong khung
Trang 38+ Chiều dài búp 1 tôm 2 lá: Đo từ nách lá thứ 3 đến đỉnh sinh trưởng Mỗi lứa hái, chọn ngẫu nhiên 10 búp/ô×3 lần nhắc lại/ CT để đo, búp đủ 1 tôm 2 lá.
+ Năng suất búp tươi trong mỗi lứa hái (kg): Cân toàn bộ số búp hái được, tính trung bình năng suất 3 lần nhắc lại là năng suất bình quân ở mỗi lứa hái
+ Tỷ lệ búp mù: Búp mù là loại búp không có tôm hoặc tôm không rõ, đỉnh sinh trưởng đang ở trạng thái ngủ nghỉ
Phương pháp xác định : Cân ngẫu nhiên 100g búp chè tươi, đếm tổng số búp, số búp có tôm và số búp không có tôm rồi quy ra phần trăm số búp theo mỗi lứa hái:
Tổng số búp+ Năng suất búp tươi của mỗi lần hái: Theo dõi năng suất lúp tươi trên các
ô thí nghiệm tính ra tạ búp tươi/ha trên các thí nghiệm của vụ Đông - Xuân
2.4.2.3 Theo dõi thành phần sâu bệnh hại
- Theo dõi thành phần sâu bệnh hại theo điểm Định kỳ 10 ngày 1 lần, theo dõi bổ sung khi thấy sâu bệnh phá hại nhiều Thu mẫu sâu bệnh hại bắt gặp trên mỗi ô thí nghiệm, nghi đầy đủ thông tin, ngày điều tra theo quy định
về nguyên tắc nội dung và phương pháp tiêu chuẩn ngành
- Tần số xuất hiện sâu bệnh hại :
TS(%) = Số lần bắt gặp x 100
ΣSố lần điều traQuy ước:
- : 0-5% : Xuất hiện rất ít + : 5-10%: Xuất hiện ít ++ : 20-50%: Xuất hiện nhiều +++ : >50% : Xuất hiện phổ biến
2.4.3 Phương pháp xử lý số liệu
- Các số liệu được tính toán theo phương pháp số học thông thường