Mô tả các giải pháp cũ thường làm Nêu rõ tình trạng và nhược điểm của giải pháp cũ: Giáo viên chưa sử dụng nhiều trò chơi trong dạy học môn Tiếng việt.. Nhược điểm của giải pháp: - Nhữ
Trang 1BM 02b-SK
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
THUYẾT MINH MÔ TẢ GIẢI PHÁP VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN SÁNG KIẾN
1 Tên sáng kiến: Tổ chức các trò chơi học tập trong môn Tiếng việt lớp 5
để nâng cao chất lượng dạy học
2 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử (Ghi ngày nào
sớm hơn): Ngày 15 tháng 9 năm 2021
3 Các thông tin cần bảo mật (nếu có):………Không…………
4 Mô tả các giải pháp cũ thường làm (Nêu rõ tình trạng và nhược điểm của
giải pháp cũ): Giáo viên chưa sử dụng nhiều trò chơi trong dạy học môn Tiếng
việt Nếu có cũng chỉ là hình thức mà chưa đạt hiệu quả
Nhược điểm của giải pháp:
- Những năm học vừa qua, theo chương trình đổi mới sách giáo khoa, đổi mới phương pháp dạy học Tiếng việt, việc sử dụng trò chơi học tập đối với một số giáo viên còn là hình thức
- Một số giáo viên chưa quan tâm nhiều đến việc đưa trò chơi học Tiếng việt vào giảng dạy hoặc có đưa trò chơi vào giờ học cũng chỉ trong những giờ hội giảng Nguyên nhân là do giáo viên ngại đổi mới, ngại chuẩn bị thiết bị dạy học phục vụ cho tổ chức trò chơi
- Trong khi đó, còn một số giáo viên khi sử dụng các trò chơi học tập thì chưa chọn lọc kỹ, không có tác dụng thiết thực phục vụ mục tiêu của bài học nên việc tổ chức trò chơi chưa thực sự hiệu quả
- Học sinh hầu hết không mấy hứng thú khi học môn Tiếng việt Bài tập đưa ra các em hoàn thành nhưng chưa thực sự có chất lượng
- Vốn hiểu biết của các em không được mở rộng, khả năng tìm từ của các
em học sinh còn hạn chế, thường chỉ tìm được 1 đến 2 từ, có em nhớ được nhiều
từ nhưng cũng có em không nhớ được từ nào Học sinh chưa tích cực suy nghĩ
để tìm được các từ mới đặc biệt là các em học sinh chưa hoàn thành tốt
Trang 2
- Học sinh ít tham gia vào kể chuyện trong phân môn kể chuyện do các
em không tự tin và không hào hứng
- Năng lực Tập làm văn của học sinh còn hạn chế do vốn từ còn ít, chưa hứng thú với môn học
- Kĩ năng giao tiếp của các em chưa thực sự tốt do vốn từ nghèo nàn ít giao lưu giao tiếp với bạn bè xung quanh hoặc với người khác
Giáo viên tổ chức trò chơi trong dạy học còn hình thức
5 Sự cần thiết phải áp dụng giải pháp sáng kiến: Rèn luyện thể lực, rèn luyện các giác quan mà nó còn tạo cơ hội cho các em được giao lưu với nhau, được hợp tác với bạn bè, đồng đội trong nhóm, trong tổ…thông qua đó, các em
sẽ dần được hoàn thiện những năng lực “giao tiếp, hợp tác”, phẩm chất “Tự tin, trách nhiệm” và năng lực ngôn ngữ Phát triển năng lực và phẩm chất cho học sinh Với mục đích giúp học sinh thay đổi loại hình hoạt động trong giờ học Học sinh tiếp thu kiến thức nhẹ nhàng, gây hứng thú học tập Qua đó, những kỹ năng giao tiếp ở các em sẽ ngày càng hoàn thiện và phát triển
6 Mục đích của giải pháp sáng kiến
- Tìm hiểu nguyên nhân cần tổ chức trò chơi.trong dạy học môn Tiếng việt
- Đưa ra các giải pháp, vận dụng hướng dẫn tổ chức các trò chơi cụ thể với từng hoạt động, từng bài học trong dạy học môn Tiếng việt
- Giúp các giáo viên giảng dạy môn Tiếng việt có nhiều giải pháp để nâng cao chất lượng dạy học
- Từ những biện pháp đã thực hiện, những kết quả đã đạt được để rút ra kinh nghiệm cho bản thân
7 Nội dung:
7.1 Thuyết minh giải pháp mới hoặc cải tiến:
Xác định vấn đề
Lý
do
chọn
giải
pháp
Khảo sát thực trạng
Tìm hiểu nguyên nhân
Kết quả Bài họckinh
nghiệm
Kết luận
Đưa
ra các giải pháp thực hiện
Trang 3* Kết quả của sáng kiến
- Trong số 36 học sinh lớp 5A năm học 2021 - 2022 mà tôi đã vận dụng trò
chơi học tập vào môn Tiếng Việt và một số biện pháp nâng cao chất lượng khác Qua theo dõi và đối chiếu từng giai đoạn học tập của học sinh, tôi thấy các em
có sự tiến bộ nhiều mặt, các kỹ năng của học sinh trở nên nhanh nhẹn Chất lượng học tập của lớp có sự thay đổi rõ rệt
- Cụ thể chất lượng môn Tiếng việt của lớp chủ nhiệm cao hơn so với các lớp trong khối
Thống kê môn Tiếng việt đầu năm– Khối Năm
LỚP TSHS Chưa hoàn thành Hoàn thành Hoàn thành tốt
Thống kê môn Tiếng việt cuối năm – Khối Năm
LỚP TSHS Chưa hoàn thành Hoàn thành Hoàn thành tốt
* Sản phẩm được tạo ra từ giải pháp (Tên, khối lượng, số lượng, thông số
của sản phẩm nếu có):……….
7.2 Thuyết minh về phạm vi áp dụng sáng kiến
Phạm vi áp dụng: Học sinh lớp 5 trong các giờ học Tiếng việt của trường Tiểu học Hương Sơn, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang
Các giải pháp đã tiến hành cụ thể: Tổ chức các trò chơi học tập trong môn Tiếng việt để nâng cáo chất lượng dạy học
* Sử dụng trò chơi trong hoạt động Khởi động
Trước đây, phần đầu tiên của mỗi tiết học là “Kiểm tra bài cũ” để kiểm tra lại kiến thức các em đã học Nhưng dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh thì phần đầu tiên của mỗi tiết học là phần khởi động nhằm tạo tâm thế, hứng thú, sự tò mò của học sinh đối với bài mới, có thể lồng ghép việc kiểm tra bài cũ để giới thiệu bài mới Vì thế, trong hoạt động này, giáo viên có thể sử dụng trò chơi học tập đề khởi động cho bài học Trò chơi được tổ chức
Trang 4
trong hoạt động này phải đảm bảo nội dung dẫn nhập vào bài mới, có thể có sự liên quan hoặc không liên quan đến kiến thức cũ Trò chơi phải được tổ chức nhẹ nhàng, thời gian ngắn (khoảng 5 phút) nên đòi hỏi giáo viên phải có sự đầu
tư cả về nội dung lẫn hình thức để đạt được hiệu quả vừa có thể ôn kiến thức, vừa có thể tạo hứng thú, tâm thế cho học sinh vào bài học, hoặc đơn giản chỉ là tạo hứng thú cho học sinh vào tiết học
- Để tạo hứng thú, tránh sự mệt mỏi (đặc biệt là tiết 2 và tiết 4 trong ngày), giáo viên có thể sử dụng một số trò chơi vận động đơn giản để học sinh vận động, tránh mệt mỏi sau 35 phút học của tiết 1, tạo tâm thế mới cho tiết
học Các trò chơi vận động có thể tổ chức như: gió thổi, ai làm đúng, trời mưa
trời mưa, thò thụt, cá bơi cá nhảy, alibaba, tiêu diệt con vật có hại, con thỏ, đứng – ngồi – vỗ tay Nhờ các trò chơi này mà các em giải tỏa được căng
thẳng, sẵn sàng tiếp thu kiến thức mới
Ví dụ 1: Trò chơi “Trời mưa trời mưa”
Sử dụng trong tiết Tập làm văn: Luyện tập tả cảnh (trang 31 – SGK TV 5 tập 1), bài này có nội dung hướng dẫn học sinh tả cơn mưa nên giáo viên sử dụng trò chơi để giới thiệu tiết học
Mục đích: Rèn khả năng tập trung, tinh thần tập thể, phản xạ nhanh nhạy; giới thiệu vào bài “Luyện tập tả cảnh”
Luật chơi:
Quản trò hô “trời mưa, trời mưa”
Cả lớp: che ô, đội mũ (hai tay vòng lên phía trên đầu)
Quản trò: Mưa nhỏ
Cả lớp: Tí tách, tí tách (vỗ nhẹ hai bàn tay vào nhau)
Quản trò: Trời chuyển mưa rào
Cả lớp: Lộp độp, lộp độp (vỗ tay to hơn)
Quản trò: Sấm nổ
Cả lớp: Đì đoàng, đì đoàng (nắm bàn tay phải, giơ lên cao hai lần)
Trang 5
Học sinh tham gia trò chơi “Trời mưa, trời mưa”
Sau khi học sinh chơi xong giáo viên có thể nói: Các em có thể thấy trong cơn mưa có những âm thanh khác nhau (tí tách, lộp độp, đì đoàng ) và mọi người sẽ tìm nơi để tránh trú mưa hoặc che ô Vậy để tả cảnh một cơn mưa như thế nào cho hay, cho sinh động, các em sẽ cùng vào bài học hôm nay
Như vậy, với trò chơi này học sinh vừa được vận động, vừa được giải lao vui vẻ nhưng cũng vừa khơi gợi những biểu tượng ban đầu về nội dung bài học
- Nếu vào đầu tiết học, giáo viên dùng phương pháp thuyết trình để giới thiệu về nội dung bài học thì học sinh sẽ không cảm thấy hứng thú với vấn đề
sẽ học Vì thế, giáo viên thường tổ chức khởi động dưới dạng trò chơi học tập với các nội dung kiến thức liên quan đến bài cũ và khơi gợi ra nội dung bài
mới Trong hoạt động này đa số tôi thực hiện các trò chơi “Đố bạn, truyền điện,
gọi thuyền, chuyền hoa, hộp quà bí mật, lật mảnh ghép ” để ôn tập kiến thức
gợi mở bài mới Có thể tập huấn cho một vào em trong ban cán sự lớp để các
em thay giáo viên tổ chức các trò chơi này Thông qua việc tổ chức trò chơi và tham gia chơi nhằm phát triển ở các em tính nghiêm túc, tuân thủ luật chơi, khả năng giao tiếp và giao lưu với các bạn điều đó cũng góp phần hình thành và phát triển năng lực học sinh
Ví dụ 2: Trò chơi “Lật mảnh ghép”
Trang 6
Sử dụng trong bài Luyện từ và câu: Từ trái nghĩa (Tr39 – SGK TV 5 tập 1)
Mục đích: Ôn kiến thức về từ đồng nghĩa; giới thiệu bài “Từ trái nghĩa” Luật chơi: Học sinh chọn các mảnh ghép, mỗi mảnh ghép ứng với 1 câu hỏi Học sinh lớp sẽ cùng trả lời vào bảng con Nếu trả lời đúng thì mảnh ghép
sẽ được lật mở hiển thị một phần từ khóa hoặc bức tranh của từ khóa Khi tất cả các mảnh ghép được mở thì HS được đoán từ khóa và từ khóa sẽ là nội dung dẫn HS vào bài học
Câu 1: Tìm từ đồng nghĩa với to (Đáp án: to lớn, khổng lồ )
Câu 2: Tìm từ đồng nghĩa với nhỏ (Đáp án: nhỏ bé, nho nhỏ )
Câu 3: Tìm từ đồng nghĩa với từ được gạch chân trong câu sau:
Ông ấy đã mất tối hôm qua rồi (Đáp án: Chết)
Câu 4: Bác Hồ mãi trong sự nghiệp của chúng ta
Từ thích hợp điền vào chỗ chấm là:
a Còn b Sống c Nhớ d Tồn tại (Đáp án: Sống)
Các từ hiện trên màn hình: To lớn – nhỏ bé; Chết – sống
Hỏi học sinh: Em có nhận xét gì về nghĩa của các cặp từ trên: Nghĩa chúng trái ngược nhau
GV giới thiệu vào bài: Những cặp từ: To lớn – nhỏ bé, Chết – sống có nghĩa trái ngược nhau thì chúng thuộc từ gì? Chúng ta sẽ tìm hiểu vào bài học hôm nay
Trang 7
Sử dụng trò chơi trên trong bài Từ trái nghĩa vừa kiểm tra được kiến thức
cũ về từ đồng nghĩa, vừa tạo không khí vui vẻ khi bắt đầu tiết học, vừa gợi ra được biểu tượng ban đầu về nội dung bài học cho học sinh Qua đó học sinh sẽ tiếp thu bài chủ động hơn
* Sử dụng trò chơi trong Hình thành kiến thức mới
Nếu như trước đây, việc hình thành kiến thức mới đều theo hướng truyền thụ, giáo viên giảng, học trò tiếp nhận, mục đích của bài là học sinh biết gì sau tiết học thì hiện nay, khi đổi mới phương pháp dạy học, giáo viên có thể hướng dẫn, tổ chức cho học sinh thực hiện nhiều cách khác nhau để hình thành kiến thức mới cho học sinh Trong đó, trò chơi học tập cũng là một biện pháp để hình thành và phát triển năng lực học sinh Tùy từng nội dung bài học, giáo viên có thể lựa chọn trò chơi phù hợp đề hình thành kiến thức mới Tất nhiên, không phải khi nào cũng tổ chức trò chơi trong phần hình thành kiến thức mới
vì có những bài, những kiến thức sẽ không phù hợp với trò chơi mà phù hợp với các phương pháp khác Tổ chức trò chơi học tập để học sinh vừa chơi vừa phát hiện ra kiến thức mới từ đó đạt hiệu quả giáo dục
Ví dụ 3: Trò chơi “Tập trung”
- Áp dụng bài: "Từ đồng nghĩa", Tiếng Việt 5, tập 1, trang 7 Trò chơi được vận dụng khi tìm hiểu bài hoặc có thể vận dụng khi dạy bài "Từ trái nghĩa" với ngữ liệu khác nhau
- Mục tiêu:
+ Giúp học sinh bước đầu hiểu được thế nào là từ đồng nghĩa
+ Khơi gợi sự tập trung chú ý để tìm tòi kiến thức mới
- Chuẩn bị: Đây là khâu khá quan trọng, khâu này quyết định 90% việc
tổ chức trò chơi có thành công hay không Chính vì thế giáo viên phải thực hiện một số việc sau đây:
Chuẩn bị các đồ dùng phục vụ để tổ chức trò chơi Đối với trò chơi này, giáo viên cần phải chuẩn bị: 1 bộ thẻ ghi các cặp từ có nghĩa giống nhau hoặc
Trang 8
gần giống nhau (có thể lấy từ ngữ liệu cần phân tích trong phần nhận xét của bài học ở sách giáo khoa)
Chuẩn bị hệ thống câu hỏi dẫn dắt sau khi kết thúc trò chơi để học sinh rút ra được thế nào là từ đồng nghĩa, đồng nghĩa hoàn toàn và đồng nghĩa không hoàn toàn Xác định rõ các bước tiến hành trò chơi
- Tiến hành: Bộ thẻ từ được đính lên bảng lớp (đặt úp thẻ xuống theo 2 dãy) Giáo viên chia lớp thành 2 đội chơi Mỗi đội cử 1 bạn đại diện lật thẻ và oẳn tù tì để giành quyền lật trước Đại diện mỗi đội lần lượt lật một thẻ từ ở mỗi dãy lên và trình bày với lớp đây có phải là một cặp thẻ phù hợp hay không
Nếu hai thẻ từ tạo thành một cặp thẻ từ có nghĩa giống nhau hoặc gần giống nhau thì người chơi được giữ cặp thẻ Nếu hai thẻ không phù hợp, người chơi đặt úp hai thẻ này vào lại chỗ cũ Trò chơi kết thúc khi tất cả các cặp thẻ đồng nghĩa được xác định Đội thắng cuộc sẽ là đội có nhiều cặp thẻ đồng nghĩa nhất
- Lưu ý: Giáo viên cần phải cân nhắc thật kĩ số lượng thẻ từ để thời gian chơi không quá dài, làm mất sự tập trung chú ý của học sinh Thời gian tiến hành tốt nhất là khoảng 5 phút Sau đó giáo viên sử dụng hệ thống câu hỏi dẫn dắt học sinh hình thành kiến thức trong vòng 5 phút tiếp theo là hợp lí
Thời gian còn lại nên dành cho việc luyện tập hình thành kĩ năng Giáo viên phổ biến cách chơi càng rõ ràng bao nhiêu thì việc tiến hành chơi càng đỡ mất thời gian bấy nhiêu Cần chú ý đến màu sắc của thẻ từ và độ lớn của chữ ghi trên thẻ từ sao cho phù hợp, gây được sự chú ý của học sinh, học sinh ngồi cuối lớp vẫn có thể nhìn thấy được
*Giải pháp 3: Sử dụng trò chơi trong Hoạt động Luyện tập- thực hành
Hoạt động thực hành trong dạy học là một hoạt động quan trọng để rèn luyện kĩ năng của học sinh Các kiến thức – kĩ năng cần hình thành ở học sinh được thiết kế thành các bài tập Nếu giáo viên không đổi mới trong giảng dạy, chỉ cho học sinh đọc đề rồi cho các em làm bài thì các em sẽ nhàm chán, một
số em học trung bình yếu có thể sẽ không hiểu được bài Vì vậy, giáo viên cần xem kẽ tổ chức các trò chơi học tập để học sinh luyện tập kiến thức và thay đổi
Trang 9
không khí lớp học Để hình thành và phát triển năng lực học sinh là một chuỗi các phương pháp được giáo viên lựa chọn và liên kết một cách chặt chẽ, logic
Ví dụ muốn tổ chức cho các em thi đua giữa các tổ để ghi từ cần tìm hoặc sắp xếp từ cho sẵn vào từng cột mục thì giáo viên cần dành thời gian cho học sinh thảo luận theo nhóm, theo tổ để các em thống nhất đáp án rồi mới tổ chức trò chơi Như vậy sẽ không xảy ra tranh cãi ở học sinh sau mỗi trò chơi Hệ thống các trò chơi thiết kế trong hoạt động thực hành – luyện tập rất phong phú vì nó gắn liền với nội dung từng bài, giáo viên ít phải sáng tạo như ở phần khởi động
và củng cố bài Điều đó càng thuận lợi hơn cho việc sử dụng trò chơi của giáo viên trong tiết học Sau đây là một số ví dụ
Ví dụ 4: Trò chơi “Thả thơ”
Trò chơi được sử dụng vào phân môn Tập đọc
a) Mục tiêu
- Rèn kỹ năng học thuộc lòng bài thơ, khổ thơ trong bài tập đọc.
- Rèn luyện trí nhớ tốt, tác phong ứng xử nhanh nhẹn, chính xác và ý
thức nỗ lực của từng người trong nhóm (tổ) khi đọc thành tiếng từng câu thơ (khổ thơ) theo yêu cầu đề ra
b) Chuẩn bị
Giáo viên làm các phiếu thả thơ bằng giấy viết vào các phiếu câu thơ đầu (hoặc giữa) của mỗi khổ thơ, hoặc 1 – 2 từ đầu của mỗi câu thơ trong bài học thuộc lòng
Ví
dụ: Khi dạy bài Tập đọc 5: Hành trình của bầy ong SGK TV 5 tập 1 trang 117 -118
Phiếu 1:
Phiếu 2:
Phiếu 3:
Với đôi cánh
……….
Có loài hoa nở như là không tên
Bầy ong………
Trang 10
Phiếu 4:
c) Tiến hành
- Giáo viên hướng dẫn cách chơi và nêu luật chơi
- Mỗi lượt chơi gồm 2 nhóm có số người bằng số phiếu “thả thơ” Mỗi nhóm cử một nhóm trưởng để điều hành việc “thả thơ” của nhóm mình Hai nhóm “Oẳn tù tì” để giành quyền thả thơ trước
- Mỗi học sinh trong nhóm cầm một tờ phiếu (giữ kín), khi nghe trọng tài
ra lệnh “bắt đầu”, nhóm thả thơ cử một người đưa ra một tờ phiếu cho một bạn bất kỳ ở nhóm kia Bạn nhận phiếu phải đọc thuộc cả khổ thơ (hoặc cả câu thơ)
có câu (từ) ghi trên phiếu; nếu đọc đúng sẽ được tính 10 điểm Khi đã “thả” xong hết số phiếu trọng tài tính tổng số điểm của nhóm thuộc thơ
- Đổi nhóm “thả thơ” chơi tương tự như trên, sau đó giáo viên tính tổng
số điểm của nhóm thứ hai
- Kết thúc trò chơi giáo viên nhận xét, tuyên dương tặng hoa điểm 10 cho nhóm thắng cuộc
Lưu ý: “Luật chơi”
+ Chỉ được “thả” từng phiếu và “thả” cho mỗi bạn ở nhóm đối diện một
lần
+ Người nhận được phiếu phải tự nghĩ và đọc thuộc, các bạn khác trong
nhóm không được nhắc bài bạn
+ Sau khi nhận phiếu cả lớp cùng đếm 1 đến 5, nếu người nhận phiếu
không đọc được sẽ không được tính điểm: nếu đọc sai hay ngắc ngứ bị trừ điểm (Trò chơi này được tiến hành để củng cố bài hoặc để thi học thuộc lòng bài thơ)
Ví dụ 5: Trò chơi “Kể chuyện tiếp sức”
Trò chơi được sử dụng vào phân môn Kể chuyện
a) Mục tiêu
- Trau dồi khả năng ghi nhớ, năm vững diễn biến câu chuyện để có thể
kể tiếp nối một đoạn bất kỳ trong câu chuyện đã học
Chắt………