Điều này đòi hỏi vai trò và chức năng của kiểm soát nội bộ tại Cục Thuế tỉnh Khánh Hòa cần đảm bảo về việc đơn vị có thể kiểm soát một cách hữu hiệu các rủi ro xuất hiện và đưa ra các gi
GIỚI THIỆU VỀ CỤC THUẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Lịch sử phát triển Cục Thuế tỉnh Khánh Hòa
Cục Thuế tỉnh Khánh Hòa chính thức hoạt động từ ngày 01/10/1990, sau khi được thành lập dựa trên quyết định của Chính phủ về việc xây dựng hệ thống thuế mới Cục Thuế Khánh Hòa ra đời từ sự hợp nhất của các tổ chức như Chi cục Thuế Công thương nghiệp, Chi cục Thuế Quốc doanh và Ban thuế Nông nghiệp thuộc Sở Tài Chính Việc thành lập Cục Thuế Khánh Hòa đồng bộ với chính sách của Nhà nước về tổ chức hệ thống thuế, nhằm mục đích nâng cao hiệu quả thu ngân sách địa phương.
Cục Thuế tỉnh Khánh Hòa là tổ chức trực thuộc Tổng Cục Thuế, địa chỉ trụ sở hiện nay tại số
Cục Thuế tỉnh Khánh Hòa, có trụ sở tại 17 đường 19/5, khu Đô thị Vĩnh Điềm Trung, xã Vĩnh Hiệp, thành phố Nha Trang, là tổ chức trực thuộc Tổng cục Thuế, chịu trách nhiệm quản lý thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác của ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa Toàn ngành thuế của tỉnh Khánh Hòa có tổng cộng 564 công chức, trong đó 137 người làm việc tại Cục Thuế tỉnh Khánh Hòa theo phân bổ biên chế Cục Thuế tỉnh Khánh Hòa đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện các nhiệm vụ quản lý thuế theo quy định của pháp luật, góp phần đảm bảo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước.
Thành phần ban lãnh đạo Cục Thuế tỉnh Khánh Hòa gồm có:
- Ông Lương Văn Ngà, Cục trưởng Cục Thuế tỉnh Khánh Hòa
- Ông Trần Sỹ Quân, Phó Cục trưởng Cục Thuế tỉnh Khánh Hòa
- Ông Trần Minh Chiến, Phó Cục trưởng Cục Thuế tỉnh Khánh Hòa
Trong gần 30 năm hoạt động, ngành thuế tỉnh Khánh Hòa đã đóng góp to lớn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Nhờ những nỗ lực này, ngành thuế đã được Đảng và Nhà nước trao tặng nhiều huân chương cao quý như Huân chương Lao động hạng Nhất, hạng Ba, Huân chương Độc lập hạng Ba và danh hiệu Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới.
Cờ thi đua, Bằng khen, Giấy khen của Chính phủ, Bộ Tài chính, UBND tỉnh và của Tổng cục Thuế.
Cơ cấu bộ máy tổ chức
Ngành thuế Nhà nước được tổ chức thành ba cấp: tại Trung ương có Tổng cục Thuế trực thuộc
Bộ Tài chính quản lý hệ thống thuế quốc gia, trong đó các Cục thuế trực thuộc Tổng Cục thuế đóng vai trò chủ chốt trong công tác thu ngân sách Tại các cấp tỉnh, thành phố, có các Cục thuế trực thuộc Tổng Cục thuế nhằm đảm bảo quản lý thuế hiệu quả và đồng bộ Bên cạnh đó, các quận, huyện, thị xã đều có các Chi cục thuế trực thuộc Cục thuế, giúp thực hiện các nhiệm vụ thuế địa phương, đảm bảo thu ngân sách Nhà nước được thực hiện đúng quy định và chính xác.
Cục Thuế tỉnh Khánh Hòa có 13 phòng chức năng tham mưu và 04 Chi cục Thuế trực thuộc tại các huyện, thị xã, thành phố; cụ thể gồm:
Sơ đồ 1.1: Sơ đồ Cơ cấu bộ máy tổ chức quản lý thuế của ngành thuế tỉnh Khánh Hòa
Sơ đồ 1.2: Sơ đồ Bộ máy tổ chức Văn phòng Cục Thuế tỉnh Khánh Hòa.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Cục Thuế tỉnh Khánh Hòa
Cục Thuế tỉnh Khánh Hòa thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm theo quy định của Luật Quản lý thuế, các luật thuế và các quy định pháp luật liên quan Cục Thuế có trách nhiệm quản lý thu ngân sách nhà nước, kiểm tra, giám sát các hoạt động liên quan đến thuế, và thực hiện các nhiệm vụ pháp lý về thuế theo đúng quy định của pháp luật Các quyền hạn của Cục Thuế bao gồm tổ chức công tác thanh tra, kiểm tra nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp và cá nhân, cũng như xử lý các vi phạm về thuế để đảm bảo việc thu thuế công bằng, hiệu quả, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương.
Bộ Tài chính và Tổng cục Thuế chủ trì tổ chức, chỉ đạo và hướng dẫn việc thực hiện thống nhất các văn bản quy phạm pháp luật về thuế và quản lý thuế Đồng thời, cung cấp các quy định, quy trình nghiệp vụ quản lý thuế do cơ quan này ban hành để đảm bảo sự thống nhất và rõ ràng trong việc triển khai trên địa bàn các tỉnh, thành phố.
Chức năng chính của công tác quản lý thuế bao gồm phân tích, tổng hợp và đánh giá công tác thuế để nâng cao hiệu quả thu NSNN Công tác này còn tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương về lập dự toán thu ngân sách nhà nước và quản lý thuế trên địa bàn Ngoài ra, cán bộ quản lý thuế còn chủ trì và phối hợp chặt chẽ với các ngành, cơ quan, đơn vị liên quan nhằm thực hiện các nhiệm vụ được giao một cách hiệu quả, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương.
Cục Thuế có trách nhiệm quản lý toàn diện các hoạt động liên quan đến người nộp thuế, bao gồm đăng ký thuế, khai thuế, tính thuế, thông báo thuế, nộp thuế, hoàn thuế, khấu trừ thuế, và các chính sách miễn giảm thuế Đồng thời, cơ quan này cũng thực hiện xóa nợ tiền thuế và tiền phạt, quản lý kế toán thuế, cũng như đôn đốc người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ nộp thuế đầy đủ và đúng hạn vào ngân sách nhà nước.
- “Quản lý thông tin về người nộp thuế; xây dựng hệ thống dữ liệu thông tin về người nộp thuế”
Thực hiện nhiệm vụ cải cách hệ thống thuế nhằm nâng cao chất lượng hoạt động quản lý thuế, đảm bảo minh bạch hóa thủ tục và quy trình nghiệp vụ Chính sách này còn tập trung vào việc cải tiến quy trình quản lý thuế và cung cấp đầy đủ thông tin nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế thực hiện chính sách, pháp luật về thuế một cách dễ dàng và hiệu quả.
Tổ chức thực hiện công tác tuyên truyền, hướng dẫn và giải thích chính sách thuế của Nhà nước nhằm nâng cao nhận thức và hiểu biết cho người nộp thuế Đồng thời, đơn vị hỗ trợ người nộp thuế trên địa bàn trong việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế đúng quy định của pháp luật, góp phần thúc đẩy công tác thu ngân sách nhà nước hiệu quả.
Cục Thuế chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện dự toán thu ngân sách nhà nước hàng năm đã giao, đồng thời áp dụng các biện pháp nghiệp vụ quản lý thuế trực tiếp để đảm bảo thu đúng, đủ theo quy định của pháp luật Đặc biệt, quá trình quản lý thuế đối với người nộp thuế thuộc phạm vi quản lý của Cục Thuế tuân thủ các quy định, quy trình và biện pháp nghiệp vụ của Bộ Tài chính và Tổng cục Thuế nhằm tăng cường hiệu quả công tác thu ngân sách và nâng cao công tác quản lý thuế.
- “Hướng dẫn, chỉ đạo, kiểm tra các Chi cục Thuế trong việc tổ chức triển khai nhiệm vụ quản lý thuế”
- “Tổ chức các biện pháp kỹ thuật nghiệp vụ quản lý rủi ro trong hoạt động quản lý thuế”;
Cục trưởng Cục Thuế trực tiếp thanh tra chuyên ngành thuế, kiểm tra, giám sát việc kê khai, hoàn thuế, khấu trừ, miễn giảm thuế, nộp thuế và chấp hành chính sách pháp luật về thuế của người nộp thuế Đồng thời, Cục trưởng cũng quản lý hoạt động thu thuế của tổ chức và cá nhân, bao gồm cả các tổ chức được ủy nhiệm thu thuế theo thẩm quyền.
Tổ chức kiểm tra nhằm đảm bảo việc chấp hành nhiệm vụ, công vụ của các cơ quan thuế và công chức thuế thuộc thẩm quyền quản lý của Cục trưởng Cục Thuế, góp phần nâng cao hiệu quả và tính chuyên nghiệp trong công tác thuế.
Giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến thuế, đảm bảo quyền lợi của người nộp thuế qua việc xử lý các vấn đề về trách nhiệm công vụ của cơ quan thuế và công chức thuế theo quy định của pháp luật Cục trưởng Cục Thuế có trách nhiệm quản lý và chỉ đạo việc xử lý các vụ việc liên quan, đồng thời, xử lý các vi phạm hành chính về thuế để thực thi đúng quy định pháp luật Ngoài ra, công tác lập hồ sơ và đề nghị các cơ quan có thẩm quyền khởi tố các tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về thuế đảm bảo sự nghiêm minh và công bằng trong hệ thống thuế.
Cục Thuế chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện thống kê, kế toán thuế và quản lý biên lai, ấn chỉ thuế, nhằm đảm bảo chính xác và minh bạch trong quản lý thuế Đồng thời, Cục Thuế lập các báo cáo về tình hình kết quả thu thuế để phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của cơ quan cấp trên, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và các cơ quan liên quan Công tác tổng kết, đánh giá tình hình và kết quả công tác của Cục Thuế giúp nâng cao hiệu quả quản lý thuế và thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương.
Đề xuất với Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế các vấn đề vướng mắc cần sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật về thuế và các quy định nội bộ của Tổng cục Thuế liên quan đến chuyên môn nghiệp vụ Ngoài ra, cần kịp thời báo cáo những vấn đề phát sinh vượt quá thẩm quyền giải quyết của Cục Thuế để đảm bảo quá trình quản lý thuế diễn ra hiệu quả và nhanh chóng.
Quyết định hoặc đề nghị cấp có thẩm quyền quyết định miễn, giảm thuế, hoàn thuế, gia hạn nộp hồ sơ khai thuế, gia hạn nộp thuế, xóa nợ tiền thuế và tiền phạt, cũng như miễn xử phạt tiền thuế theo quy định của pháp luật nhằm hỗ trợ doanh nghiệp và người nộp thuế vượt qua khó khăn tài chính.
Các tổ chức, cá nhân liên quan có trách nhiệm cung cấp thông tin chính xác và kịp thời theo yêu cầu của người nộp thuế và cơ quan Nhà nước để hỗ trợ công tác quản lý thuế Cơ quan có thẩm quyền sẽ xử lý các trường hợp không hợp tác, không thực hiện trách nhiệm phối hợp với cơ quan thuế nhằm thu đúng, đủ ngân sách nhà nước Việc phối hợp chặt chẽ giữa các bên là yếu tố then chốt để nâng cao hiệu quả thu thuế và đảm bảo nguồn lực cho phát triển kinh tế.
Sau khi quyết định thuế được ấn định, cơ quan chức năng tiến hành các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế theo quy định của pháp luật Đồng thời, thông báo về các biện pháp này sẽ được phát trên các phương tiện thông tin đại chúng để công khai và nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế vi phạm.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÈ KIỂM SOÁT NỘI BỘ QUY TRÌNH KIỂM TRA THUẾ
Những vấn đề chung về kiểm soát nội bộ
2.1.1 Khái quát lịch sử phát triển kiểm soát nội bộ
Trong những năm cuối thế kỷ 19, nhu cầu xác định độ tin cậy của tình hình tài chính của các ngân hàng ngày càng tăng đã thúc đẩy sự ra đời của các công ty kiểm toán độc lập Các công ty này được thành lập nhằm cung cấp những chuyên gia có năng lực và tính độc lập để xác nhận tính trung thực và hợp lý của các thông tin trên BCTC, góp phần nâng cao sự tin cậy và minh bạch trong báo cáo tài chính.
Thuật ngữ “Kiểm soát nội bộ” chính thức xuất hiện từ năm 1929 trong một Công bố của Cục Dự trữ liên bang Hoa Kỳ (Federal Reserve Bulletin), định nghĩa là một công cụ nhằm bảo vệ tiền tệ, các tài sản khác và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Sau công bố này, cùng với nhiều thất bại trong các cuộc kiểm toán về đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ, nghiên cứu về kiểm soát nội bộ ngày càng trở nên được chú trọng hơn, góp phần nâng cao tính minh bạch và độ tin cậy trong quản lý doanh nghiệp.
Trong giai đoạn từ 1949 đến 1973, AICPA cùng Ủy ban thủ tục kiểm toán đã liên tục mở rộng khái niệm về kiểm soát nội bộ (KSNB) và đưa ra các báo cáo nhằm phát triển chuẩn mực kiểm toán thay thế cho các Báo cáo về thủ tục kiểm toán Tuy nhiên, KSNB chủ yếu vẫn chỉ là công cụ hỗ trợ cho kiểm toán viên trong quá trình kiểm toán báo cáo tài chính (BCTC), chưa thực sự trở thành nền tảng lý luận vững chắc hay một chuẩn mực về hệ thống kiểm soát nội bộ.
Trong những thập niên 70-80, sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế Hoa Kỳ đã vô tình gây ra tình trạng gian lận ngày càng gia tăng, gây thiệt hại lớn cho nền kinh tế quốc gia Xuất phát từ vụ bê bối Watergate và các hoạt động vận động tranh cử trái phép cùng rửa tiền liên quan đến chính phủ nước ngoài, Hạ viện Hoa Kỳ đã ban hành Luật chống hối lộ nước ngoài (Foreign Corrupt Practices Act) năm 1997, đánh dấu lần đầu tiên pháp luật Mỹ đề cập chính thức đến kiểm soát sổ sách kế toán (KSNB) Tuy nhiên, vấn đề KSNB trong luật này vẫn chưa hoàn chỉnh, gây tranh cãi về tính đầy đủ và hiệu quả của các tiêu chuẩn áp dụng cho các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán.
Cuối cùng, các tranh luận về vấn đề này đã dẫn đến việc thành lập Ủy ban của các tổ chức tài trợ, gọi là Ủy ban Treadway - COSO (Committee of Sponsoring Organizations of the Treadway Commission) Ủy ban này được hình thành nhằm thúc đẩy các tiêu chuẩn về kiểm soát nội bộ và quản trị doanh nghiệp Đồng thời, tổ chức này hoạt động dưới sự bảo trợ của năm tổ chức nghề nghiệp kế toán hàng đầu của Hoa Kỳ, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác kiểm toán và kiểm soát tài chính doanh nghiệp.
Hiệp hội Kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA)
Hiệp hội Kế toán Hoa Kỳ (AAA - American Accounting Association)
Hiệp hội Quản trị viên tài chính (FEI - Financial Executives Institute)
Hiệp hội Kế toán viên quản trị (IMA - Institute of Management Accountants
Hiệp hội Kiểm toán viên nội bộ (YOLA - Institute of Internal Auditors) đã đưa Khuôn mẫu lý thuyết chuẩn về KSNB thông qua Báo cáo COSO (1992) Đây được xem
Báo cáo này là tài liệu đầu tiên trên thế giới nghiên cứu một cách đầy đủ và có hệ thống về KSNB, làm nền tảng cho các nghiên cứu chuẩn mực KSNB sau này Điểm mới của báo cáo là COSO đã chính thức sử dụng thuật ngữ KSNB thay thế cho kiểm soát nội bộ trong lĩnh vực kế toán như trước đây Báo cáo cũng xác định rõ năm thành phần cấu thành của KSNB gồm môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát, cùng các tiêu chí cụ thể để đánh giá hệ thống này Đồng thời, nó cung cấp một tầm nhìn rộng hơn khi KSNB không chỉ liên quan đến báo cáo tài chính mà còn mở rộng ra các hoạt động và tuân thủ tổ chức.
Báo cáo COSO cung cấp khung lý thuyết cơ bản để các nhà nghiên cứu phát triển và hoàn thiện các mô hình kiểm soát nội bộ phù hợp với điều kiện và môi trường kinh doanh cụ thể Khi nói về kiểm soát nội bộ, các nhà quản lý sẽ tập trung vào vai trò và các thành phần của hệ thống này, từ đó thiết kế và vận hành để nâng cao hiệu quả hoạt động tổ chức.
2.1.2 Định nghĩa về kiểm soát nội bộ
Tới thời điểm hiện tại, định nghĩa về KSNB được chấp nhận rộng rãi nhất là định nghĩa của tổ chức COSO (Committee of Sponsoring Organizations):
KSNB là quá trình do Hội đồng quản trị, người quản lý và nhân viên điều hành thực hiện nhằm đảm bảo mục tiêu hoạt động, báo cáo và tuân thủ các quy định pháp luật Theo Báo cáo 2013 của COSO, KSNB cung cấp một sự đảm bảo hợp lý về việc đạt được các mục tiêu này, giúp nâng cao hiệu quả quản trị doanh nghiệp Định nghĩa này nhấn mạnh tầm quan trọng của sự phối hợp giữa các bên liên quan và các khái niệm cốt lõi như kiểm soát nội bộ, báo cáo chính xác và tuân thủ pháp luật.
KSNB được thiết lập để đạt được các mục tiêu
Báo cáo 2013 của COSO đặt ra 3 nhóm mục tiêu giúp cho phép tổ chức có thể tập trung cho từng khía cạnh riêng lẻ của KSNB:
“Mục tiêu hoạt động nhằm nhấn mạnh đến sự hữu hiệu và hiệu quả của việc sử dụng nguồn lực”
Mục tiêu của báo cáo, bao gồm báo cáo tài chính và phi tài chính cho đối tượng bên trong và bên ngoài, là đảm bảo tính trung thực và đáng tin cậy của thông tin Việc này giúp nâng cao sự tin tưởng của các bên liên quan và thể hiện rõ cam kết của đơn vị với chuẩn mực kế toán, báo cáo minh bạch Bằng cách tập trung vào tính chính xác và minh bạch của báo cáo, doanh nghiệp hướng đến củng cố uy tín và thúc đẩy sự phát triển bền vững.
“Mục tiêu tuân thủ liên quan đến việc nhấn mạnh đến sự tuân thủ pháp luật và các quy định”
Kiểm soát nội bộ (KSNB) là một quá trình quan trọng giúp doanh nghiệp đảm bảo hoạt động hiệu quả và đạt được mục tiêu đề ra Quá trình này bao gồm lập kế hoạch, thực hiện và giám sát các hoạt động của đơn vị, nhằm kiểm soát rủi ro, tăng cường tính minh bạch và nâng cao hiệu suất làm việc Việc kiểm soát nội bộ giúp doanh nghiệp duy trì tính kiểm soát và đảm bảo tuân thủ các quy định, chính sách nội bộ.
KSNB không phải là một sự kiện riêng lẻ mà là một chuỗi các hoạt động liên kết chặt chẽ với hoạt động của đơn vị, góp phần vào mọi bộ phận và là nền tảng trong các hoạt động hàng ngày Khi KSNB trở thành một phần không thể tách rời của hoạt động của đơn vị, nó sẽ phát huy tính hiệu quả và lợi ích tối đa, nâng cao năng lực quản lý và kiểm soát nội bộ Việc tích hợp KSNB vào tất cả các hoạt động của đơn vị giúp xây dựng môi trường kiểm soát chặt chẽ, đảm bảo tính minh bạch và phòng ngừa rủi ro hiệu quả hơn.
Hệ thống KSNB chịu ảnh hưởng trực tiếp từ con người, vì nó được thiết kế và vận hành bởi các nhân viên trong tổ chức Chính con người đóng vai trò quyết định trong việc đặt mục tiêu, xác lập các biện pháp kiểm soát và thực thi các biện pháp này để đảm bảo hiệu quả của hệ thống.
Để hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) hoạt động hiệu quả, từng thành viên trong tổ chức phải nắm rõ trách nhiệm và quyền hạn của mình, đảm bảo được giới hạn phù hợp Hiểu rõ quyền hạn giúp tránh sự lấn quyền và nâng cao hiệu quả kiểm soát nội bộ Ngoài ra, các thành viên cần nhận thức rõ mối liên hệ giữa trách nhiệm cá nhân và mục tiêu chung của tổ chức để thúc đẩy hoạt động phối hợp nhịp nhàng Việc này góp phần xây dựng một hệ thống kiểm soát nội bộ vững chắc, góp phần giảm thiểu rủi ro và nâng cao tính minh bạch trong hoạt động của đơn vị.
10 liên kết giữa nhiệm vụ, trách nhiệm của bản thân và của các thành viên khác trong đơn vị đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hoạt động hiệu quả Việc truyền đạt rõ ràng các nhiệm vụ và trách nhiệm giúp đảm bảo mọi người hiểu rõ vai trò của mình, từ đó phối hợp tốt hơn để đạt được mục tiêu chung của đơn vị Áp dụng cách thức thực hiện nhiệm vụ linh hoạt nhưng thống nhất sẽ nâng cao năng suất làm việc và góp phần xây dựng môi trường làm việc chuyên nghiệp, hiệu quả.
KSNB có khả năng cung cấp sự đảm bảo hợp lý dựa trên các hạn chế tiềm tàng trong quá trình thiết kế và vận hành hệ thống Nguyên tắc quản lý chi phí không vượt quá lợi ích mong đợi từ quá trình kiểm soát khiến hệ thống chỉ đảm bảo mức độ phù hợp trong việc đạt được mục tiêu của đơn vị Tuy nhiên, KSNB không thể cung cấp sự đảm bảo tuyệt đối hoặc một hệ thống hoàn hảo.
Kiểm soát nội bộ tại đơn vị hành chính sự nghiệp (INTOSAI)
2.2.1 Khái quát về kiểm soát nội bộ tại đơn vị hành chính sự nghiệp
Hướng dẫn của Tổ chức quốc tế các cơ quan kiểm toán tối cao INTOSAI (1992) về chuẩn mực kiểm soát nội bộ nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thiết kế, thực hiện và đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ nhằm nâng cao hiệu quả công tác kiểm toán Tài liệu này thể hiện rõ nhìn nhận về vai trò của chuẩn mực trong việc hướng dẫn các cơ quan kiểm toán tối cao thúc đẩy sự phù hợp và chất lượng của kiểm soát nội bộ trong tổ chức Việc đẩy mạnh việc áp dụng chuẩn mực kiểm soát nội bộ giúp tăng cường khả năng phát hiện và phòng ngừa rủi ro, đồng thời đảm bảo tính minh bạch và đúng đắn của hoạt động kiểm toán.
Các nguồn lực trong khu vực công thường đại diện cho tiền tệ công và mục đích sử dụng nhằm phục vụ lợi ích công Việc bảo vệ nguồn lực này cần được nhấn mạnh do tính chất đặc thù và tầm quan trọng của chúng Kế toán ngân sách dựa trên tiền mặt vẫn phổ biến trong khu vực công, nhưng không đảm bảo đầy đủ cho việc thu mua, sử dụng và phân bổ tài nguyên Nhiều tổ chức công việc không thường xuyên cập nhật hồ sơ tài sản, dễ dẫn đến rủi ro mất mát tài sản Do đó, bảo vệ nguồn lực trở thành mục tiêu then chốt trong kiểm soát nội bộ (KSNB) của khu vực công, nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và tránh tổn thất tài sản nhà nước.
Mục tiêu của Ủy ban Tổ Chức Các Cơ Quan Kiểm Toán Tối Cao Quốc Tế là xây dựng hướng dẫn giúp thành lập và duy trì hiệu quả kiểm soát nội bộ trong khu vực công Quản lý nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc áp dụng các hướng dẫn này để nâng cao chất lượng kiểm soát nội bộ trong các đơn vị của mình.
Từ những thập niên 90, việc ứng xử đạo đức và phòng ngừa gian lận, tham nhũng trong khu vực công đã đóng vai trò quan trọng cho các mục tiêu của kiểm soát nội bộ (KSNB) Công chức nên phục vụ lợi ích công cộng một cách công bằng và quản lý nguồn lực đúng đắn, đảm bảo phân minh trong đối xử với công dân Việc công bố hệ thống quy tắc đạo đức công là điều kiện tiên quyết để củng cố lòng tin của công chúng và góp phần quản lý bộ máy nhà nước hiệu quả.
Năm 2001, Văn bản INCOSAI lần thứ 17 tại Seoul nhận thấy cần thiết phải cập nhật Hướng dẫn ban hành năm 1992 về chuẩn mực kiểm soát nội bộ (KSNB) INCOSAI đã quyết định nâng cấp Hướng dẫn INTOSAI 1992 nhằm phản ánh sự phát triển của lĩnh vực KSNB và thực hiện các sửa đổi dựa trên cơ sở lý luận của Khung tích hợp COSO (COSO Integrated Framework for Internal Control).
Mặc dù các vấn đề về giá trị của hành vi đạo đức vẫn còn chưa rõ ràng, nhưng với nhu cầu sử dụng hệ thống thông tin ngày càng tăng trong các tổ chức công, hoạt động kiểm soát công nghệ thông tin trở nên vô cùng quan trọng để đảm bảo an toàn và hiệu quả hoạt động.
Một số khuyến nghị đề xuất rằng hướng dẫn cần làm rõ giá trị đạo đức và bổ sung quy định cho bộ nguyên tắc chung về các hoạt động kiểm soát liên quan đến xử lý thông tin Các hướng dẫn sửa đổi của INTOSAI sau này đã kế thừa định nghĩa của COSO và hướng dẫn năm 1992, đồng thời tích hợp thêm các khuyến nghị về đạo đức trong hoạt động Ngoài ra, các khía cạnh đạo đức cũng đã được đưa vào và việc giải thích các khái niệm mới liên quan đến Kiểm soát Nội bộ (KSNB) trở nên đơn giản hơn.
Theo INTOSAI 2001, kiểm soát nội bộ là một quá trình tích hợp do nhà quản lý và nhân viên thực hiện nhằm đánh giá rủi ro và cung cấp sự đảm bảo hợp lý để đạt các mục tiêu chung của đơn vị trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.
Kiểm soát nội bộ được định nghĩa bởi INTOSAI năm 1992 là cơ cấu của một tổ chức, bao gồm nhận thức, phương pháp, quy trình và các biện pháp của người lãnh đạo nhằm đảm bảo tính hợp lý để đạt được các mục tiêu của tổ chức.
Kiểm soát nội bộ theo khoản 1, điều 39 Luật Kế toán 2015 là quá trình thiết lập và tổ chức thực hiện các cơ chế, chính sách, quy trình nội bộ phù hợp với pháp luật để đảm bảo phòng ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời rủi ro Mục tiêu của kiểm soát nội bộ là nâng cao hiệu quả quản lý tài chính, giảm thiểu rủi ro và đảm bảo việc thực hiện các yêu cầu kế toán đúng quy định Việc xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ chặt chẽ giúp đơn vị kế toán vận hành minh bạch, an toàn và phù hợp với pháp luật hiện hành.
2.2.2 Ý nghĩa kiểm soát nội bộ trong đơn vị hành chính sự nghiệp
Thực hiện hoạt động một cách trật tự, tuân theo nguyên tắc đạo đức, có tính kinh tế cao, đạt được sự hữu hiệu và hiệu quả
Có trách nhiệm cung cấp thông tin đáng tin cậy
Tuân thủ pháp luật và các quy định được ban hành
Bảo vệ tài sản của đơn vị và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực, đặc biệt là nhân tố con người, là yếu tố hàng đầu để đảm bảo hoạt động bền vững và phát triển Ngăn ngừa và phát hiện kịp thời các hành vi lãng phí, hư hỏng, gian lận hoặc sử dụng tài sản không đúng mục đích, chức năng, thẩm quyền nhằm duy trì sự minh bạch và hiệu quả trong quản lý tài chính Việc kiểm soát chặt chẽ giúp đảm bảo tài sản được sử dụng đúng cách, nâng cao hiệu quả hoạt động và góp phần thúc đẩy sự phát triển của tổ chức.
2.2.2.2 Các yếu tố kiểm soát nội bộ theo INTOSAI a Môi trường kiểm soát
Môi trường kiểm soát đóng vai trò nền tảng quan trọng trong hệ thống kiểm soát nội bộ của tổ chức Nó thiết lập nền tảng cho sự kỷ cương, cấu trúc tổ chức và tạo nên nét đặc trưng riêng cho doanh nghiệp Môi trường kiểm soát ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và hiệu quả của hoạt động kiểm soát nội bộ, góp phần nâng cao độ tin cậy của hệ thống quản lý nội bộ trong tổ chức.
Các nhân tố thuộc môi trường kiểm soát bao gồm:
Liêm chính và giá trị đạo đức
Tính chính trực bắt nguồn từ cá nhân và sự chuyên nghiệp của mỗi người trong tổ chức, đóng vai trò quyết định trong việc thiết lập các chuẩn mực hành xử dựa trên giá trị đạo đức Nhà quản lý và nhân viên cần thể hiện thái độ tích cực và khuyến khích kiểm soát nội bộ liên tục tại mọi thời điểm trong toàn bộ tổ chức Sự nhất quán trong việc duy trì các nguyên tắc chính trực sẽ nâng cao uy tín và hiệu quả hoạt động của tổ chức.
Trong mọi tổ chức, cá nhân cần thể hiện tính chính trực và giá trị đạo đức cao và đây là yếu tố cốt lõi nhằm xây dựng hình ảnh uy tín trước công chúng Các nhà quản lý và nhân viên phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định pháp luật và chuẩn mực đạo đức trong mọi hoạt động, thể hiện sự trung thực và trách nhiệm Đối với các tổ chức công, việc duy trì và thể hiện sự liêm chính cùng giá trị đạo đức không chỉ là trách nhiệm cá nhân mà còn phản ánh giá trị cốt lõi của tổ chức, góp phần xây dựng niềm tin của cộng đồng Ngoài ra, các hoạt động của tổ chức cần phù hợp với tiêu chuẩn đạo đức, thực hiện theo trình tự rõ ràng, đạt hiệu quả về mặt kinh tế và đảm bảo hiệu lực trong quản lý và vận hành.
Cam kết về năng lực
Năng lực nhân viên gồm trình độ chuyên môn và kỹ năng cần thiết, đảm bảo công việc được thực hiện đúng kỷ cương, trung thực, tiết kiệm và hiệu quả Đồng thời, họ cần có nhận thức đúng đắn về vai trò của mình trong việc xây dựng và duy trì hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB).
Kiểm soát nội bộ quy trình kiểm tra thuế GTGT tại trụ sở cơ quan thuế
2.3.1 Tổng quan về công tác kiểm tra thuế
Thuế giá trị gia tăng (VAT) theo quy định của Luật thuế giá trị gia tăng là loại thuế gián thu đánh trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng Mức thuế này được nộp vào ngân sách Nhà nước dựa trên mức độ tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ, góp phần thúc đẩy nguồn thu ngân sách hiệu quả và minh bạch.
Theo Luật thuế giá trị gia tăng của Việt Nam, mức thuế suất GTGT gồm bốn loại: 0%, 5%, 10% và 20%, áp dụng cho các nhóm hàng hóa và dịch vụ khác nhau Mức thuế 0% dành cho hàng hóa xuất khẩu, giúp thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam Mức thuế 20% áp dụng cho các mặt hàng như vàng, đá quý và dịch vụ môi giới, phản ánh các lĩnh vực có giá trị cao và đặc thù Đối tượng chịu thuế GTGT bao gồm hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng trong nước, bao gồm cả hàng mua từ tổ chức, cá nhân nước ngoài Quy định này nhằm điều chỉnh hoạt động thương mại, đảm bảo công bằng thuế và gia tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước.
Người chịu thuế GTGT là người tiêu dùng cuối cùng tại Việt Nam, mua hàng hóa, dịch vụ đã gồm thuế GTGT Đối tượng kê khai và nộp thuế gồm các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT trong nước và cả tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa, mua dịch vụ từ nước ngoài chịu thuế GTGT.
Phương pháp tính thuế GTGT theo hai phương pháp a Phương pháp khấu trừ thuế:
“Số thuế giá trị gia tăng phải nộp bằng (=) thuế giá trị gia tăng đầu ra trừ (-) thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ”
Thuế giá trị gia tăng đầu ra được tính bằng tổng giá trị tính thuế của hàng hóa, dịch vụ chịu thuế bán ra nhân với thuế suất thuế giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ đó.
Thuế GTGT đầu vào được khấu trừ: “bằng (=) tổng (∑) số thuế GTGT ghi trên hóa đơn
Chính sách mua hàng hóa, dịch vụ (bao gồm cả tài sản cố định) và chứng từ nộp thuế giá trị gia tăng (GTGT) của hàng hóa nhập khẩu phải tuân thủ quy định tại Thông tư số 26/2015/TT-BTC ngày 27/02/2015 của Bộ Tài chính, hướng dẫn về thuế GTGT và quản lý thuế Phương pháp tính thuế GTGT có thể áp dụng theo phương pháp trực tiếp trên giá trị gia tăng, đặc biệt đối với hoạt động mua bán vàng, bạc, đá quý.
Thuế giá trị gia tăng (VAT) phải nộp bằng giá trị gia tăng của hàng hoá, dịch vụ chịu thuế, nhân với thuế suất VAT của loại hàng hoá hoặc dịch vụ đó Đây là công thức tính thuế VAT dựa trên giá trị gia tăng thực tế phát sinh trong quá trình sản xuất, kinh doanh Việc xác định chính xác số thuế VAT cần nộp là yếu tố quan trọng giúp doanh nghiệp tuân thủ đúng quy định pháp luật về thuế Thuế VAT góp phần tạo nguồn thu ổn định cho ngân sách nhà nước và thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững.
Phương pháp trực tiếp trên doanh thu phù hợp với các doanh nghiệp, hợp tác xã có doanh thu hàng năm dưới một tỷ đồng, trừ các trường hợp đã đăng ký tự nguyện áp dụng phương pháp khấu trừ thuế Đối tượng áp dụng còn bao gồm cá nhân, hộ kinh doanh, tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh không có cơ sở thường trú tại Việt Nam nhưng có doanh thu phát sinh tại Việt Nam, cũng như các tổ chức chưa thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, hóa đơn và chứng từ theo quy định pháp luật.
Công thức xác định số thuế GTGT phải nộp bằng (=) Tỷ lệ (%) nhân (x) Doanh thu
Theo Luật Quản lý thuế số 2019:
Kiểm tra thuế là hoạt động phân tích liên tục thông tin và dữ liệu trong hồ sơ thuế để đánh giá tính chính xác và đầy đủ của các chứng từ, qua đó đảm bảo người nộp thuế tuân thủ pháp luật về thuế Hoạt động này cũng nhằm xác minh và thu thập chứng cứ để phát hiện hành vi vi phạm pháp luật về thuế, tăng cường công tác quản lý và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người nộp thuế.
Kiểm tra thuế là chức năng thiết yếu của cơ quan Thuế nhằm phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về Thuế Nó còn giúp phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật về Thuế để kiến nghị Nhà nước các biện pháp khắc phục Hoạt động kiểm tra thuế góp phần nâng cao hiệu quả, hiệu lực của quản lý thuế, bảo vệ lợi ích của Nhà nước cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và cá nhân người nộp thuế.
Chủ thể kiểm tra thuế là các cơ quan quản lý thuế, bao gồm Tổng cục Thuế, Cục Thuế và các Chi cục Thuế, theo quy định tại khoản 2, Điều 2 của Luật Quản lý thuế 2019.
Nội dung kiểm tra thuế (thuế GTGT): “là việc chấp hành luật, pháp lệnh, các chính sách thuế
Kiểm tra việc chấp hành các luật thuế và thực hiện nghiệp vụ quản lý thu thuế của các cơ quan thuế các cấp cùng viên chức ngành thuế là trách nhiệm quan trọng của cơ quan chức năng Đồng thời, việc xem xét và giải quyết các khiếu nại, tố cáo về thuế của công dân và các tổ chức kinh tế được thực hiện nhằm đảm bảo công bằng và minh bạch trong hệ thống thuế Các hoạt động này đều nhằm bảo vệ quyền lợi của mọi đối tượng thuộc mọi thành phần kinh tế, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý thuế.
Phương pháp kiểm tra thuế bao gồm các bước quan sát, yêu cầu cung cấp thông tin, phân tích và xác minh nhằm đảm bảo tính chính xác của các khoản mục mà người nộp thuế đã kê khai Quy trình kiểm tra thuế giá trị gia tăng (GTGT) của doanh nghiệp tại trụ sở cơ quan thuế được thực hiện một cách bài bản để đảm bảo tính minh bạch và đúng quy định của pháp luật thuế.
Sơ đồ 2.2: Sơ đồ Quy trình kiểm tra thuế GTGT tại trụ sở cơ quan thuế
2.3.3 Các rủi ro trong việc kiểm tra thuế GTGT của doanh nghiệp tại trụ sở cơ quan thuế
Các rủi ro bên trong thường gắn liền với việc thực hiện quy trình kiểm tra thuế của công chức thuế như:
Việc thiếu sót chữ ký trên một vài các biên bản trong hồ sơ kiểm tra; hay việc lập trùng các
Bên cạnh đó việc lập biên bản chưa đúng theo mẫu quy định cũng thường hay xảy ra trong quy trình thực hiện kiểm tra thuế
Một bộ phận công chức thuế vi phạm đạo đức nghề nghiệp, cố tình bỏ bớt bước trong quy trình kiểm tra gây ra tổn thất về thuế
2.3.3.2 Rủi ro bên ngoài Đối với các rủi ro bên ngoài phổ biến nhất thường xuất phát từ người nộp thuế Một số hành vi được doanh nghiệp thực hiện nhằm trốn, gian lận thuế thường gặp như sau:
Một số doanh nghiệp cố tình khai sai số thuế phải nộp và số thuế khấu trừ chuyển kỳ sau, gây ra tình trạng thiếu hụt số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn Họ thường không tự giác kê khai bổ sung hoặc điều chỉnh các tờ khai thuế GTGT đã nộp trước đó, ảnh hưởng đến việc quản lý và hoàn thiện nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp Việc này làm gia tăng rủi ro bị xử phạt và ảnh hưởng đến công tác kế toán, kiểm toán của doanh nghiệp.
Hành vi không tự giác kê khai hoặc nộp tờ khai thuế sau 90 ngày kể từ ngày hết hạn theo quy định có thể bị xử lý nghiêm Ngoài ra, việc kê khai sai các chỉ tiêu trên tờ khai thuế GTGT cũng gây ảnh hưởng đến quá trình xác minh và kiểm tra của cơ quan thuế Việc chậm trễ hoặc sai sót trong kê khai thuế không chỉ làm tăng khả năng bị xử phạt mà còn ảnh hưởng đến uy tín của doanh nghiệp Do đó, doanh nghiệp cần thực hiện nghĩa vụ khai thuế đúng thời hạn và chính xác để tránh các rủi ro pháp lý và giữ vững hoạt động kinh doanh ổn định.
2.3.4 Các hoạt động kiểm soát rủi ro trong việc kiểm tra thuế GTGT của doanh nghiệp tại trụ sở cơ quan thuế
2.3.4.1 Hoạt động kiểm soát rủi ro đối với rủi ro bên ngoài