1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ảnh hưởng của dạng thức ăn (lỏng và khô) và kiểu chuồng (kín và hở) đến tốc độ sinh trưởng của lợn thịt doc

11 862 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 215,99 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ẢNH HƯỞNG CỦA DẠNG THỨC ĂN LỎNG VÀ KHÔ VÀ KIỂU CHUỒNG KÍN VÀ HỞ ĐẾN TỐC ĐỘ SINH TRƯỞNG CỦA LỢN THỊT Nguyễn Ngọc Phục1, Nguyễn Quế Côi1, Phan Xuân Hảo2 Nguyễn Hữu Xa1, Lê Văn Sáng1, Nguy

Trang 1

ẢNH HƯỞNG CỦA DẠNG THỨC ĂN (LỎNG VÀ KHÔ) VÀ KIỂU CHUỒNG (KÍN

VÀ HỞ) ĐẾN TỐC ĐỘ SINH TRƯỞNG CỦA LỢN THỊT

Nguyễn Ngọc Phục1, Nguyễn Quế Côi1, Phan Xuân Hảo2 Nguyễn Hữu Xa1,

Lê Văn Sáng1, Nguyễn Thị Bình1và Trần Thị Huyền1

1 Trung tâm nghiên cứu lợn Thuỵ Phương, 2 Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội

Tác giả liên hệ: Nguyễn Ngọc Phục, Trung tâm nghiên cứu lợn Thụy Phương Tel: 0983.052.811; Fax: (04) 38.3741.0025; E-mail: phuc.vcn@gmail.com

ABSTRACT Effects of feeding types (liquid and dry) and housing types (close and open) on growth performance of

commercial fattening pigs

465 pigs were allocated in the experiment to evaluate the effects of two feeding types (liquid and dry) and two housing types (close and open) through 4 seasons on growth of commercial fetttening pigs Liquid feed increased the average daily gain (ADG) of pigs in post-weaning and fattening periods by 5,54% and 1,88%, respectively The pigs fed liquid feed had feed conversion rates (FCR) lower by 5,05% compared to those fed dry feed Close housing was showed to improve the growth of commercial pigs by increasing ADG of pigs by 6,05% in post-weaning and by 6,29% in fattening periods, and decreasing their FCR of fattening pigs by 5,44% as well Seasons had different effects on the pigs, wherein the pigs had the highest ADG in Autumn and lowest ADG in Winter in both post-weaning and fattening periods Seasons had no affects on feed efficiency of weaned pigs but increased the feed intake of fattening pigs in Autumn

Key words: fattening pigs, feeding types, housing types, growth performance.

ĐẶT VẤN ĐỀ Nuôi lợn bằng dạng thức ăn lỏng (TAL) đã được các nghiên cứu cho rằng có tác động đến các chỉ tiêu sản xuất và tình trạng sức khoẻ của lợn, đặc biệt ảnh hưởng đến chất lượng và mức độ

an toàn của thịt lợn (Brooks và cs., 1996; Jensen và Mikkelsen, 1998; Kim và cs., 2001; Choct

và cs 2004); đồng thời cũng có các công trình cho kết quả ngược lại (Lawlor và cs., 2002) Trên thế giới đã có một số công trình nghiên cứu ảnh hưởng của chuồng kín, chuồng hở hay ngoài trời, hoặc kết hợp đến năng suất chăn nuôi lợn và chất lượng thịt lợn (Gentry và cs., 2002a; Strudsholm và Hermansen., 2005; Oksbjerg và cs., 2005, Strudsholm và Hermansen., 2005; Guy và cs., 2002) Các nghiên cứu cho rằng chuồng kín, chăn thả hay bán chăn thả có ảnh hưởng đến năng suất cũng như chất lượng lợn nuôi đến giết mổ

Các công trình nghiên cứu trong nước về cách thức nuôi dưỡng tuy phong phú nhưng chưa có công trình nào so sánh đánh giá ảnh hưởng của thức ăn khô (TAK) và TAL trong chăn nuôi lợn ngoại công nghiệp Tương tự như vậy, chưa có các công trình nghiên cứu trong nước về ảnh hưởng của chuồng kín và chuồng hở đến năng suất và chất lượng lợn thịt mặc dù hệ thống chăn nuôi công nghiệp đối với lợn ngoại ở nước ta đã có nhiều trại gia công của công ty CP thiết kế xây dựng theo kiểu chuồng kín

Đề tài nhằm mục tiêu đánh giá ảnh hưởng của 2 dạng thức ăn (TAK và TAL) và 2 kiểu chuồng nuôi (chuồng kín và chuồng hở) đến sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của lợn thương phẩm trong chăn nuôi công nghiệp

VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Gia súc và sơ đồ bố trí thí nghiệm

465 lợn thương phẩm, sau cai sữa (23 - 25 ngày tuổi), là con lai từ lợn VCN22 và đực cuối cùng Maxter 14 (France Hybrid) được bố trí vào thí nghiệm như Bảng 1

Trang 2

Thí nghiệm tiến hành làm 4 mùa Xuân, Hè, Thu, Đông

Chuồng trại thí nghiệm

Chuồng kín, có tường bao quanh và cửa sổ có tấm kính chiếu sáng Hệ thống quạt hút và phun nước (cooling pad) đặt ở đầu chuồng Chuồng cai sữa có sàn nhựa đặt trên nền cách mặt đất 0,4m, có máng ăn và vòi uống tự động Chuồng nuôi vỗ béo (VB) lợn thịt có ô 15 m2, nuôi với mật độ 0,75m2/con Hệ thống quạt chạy liên tục để thông gió, tuy nhiên, hệ thống phun nước làm mát chỉ họat động vào mùa nóng Chuồng lợn VB có nền chuồng xi-măng, rãnh nước rộng 0,5m sâu 15cm dọc theo cuối mỗi ô chuồng cho lợn tắm và thải phân Nước thải được xả ngày một lần, vòi uống tự động Chuồng hở có sàn nền và hệ thống cung cấp thức ăn nước uống tương tự chuồng kín mô tả ở trên Điểm khác là thông gió tự nhiên do hai bên hành lang có bạt che kéo lên hạ xuống dễ dàng

Thức ăn và nuôi dưỡng

Thức ăn cho lợn thí nghiệm là thức ăn viên có thành phần dinh dưỡng trình bày tại Bảng 2

Lô TAK: TA cho vào máng ăn không pha trộn nước, lợn ăn khô từ ngày cai sữa đến kết thúc thí nghiệm (95 kg), ăn tự do bằng máng ăn bán tự động

Lô TAL: Thức ăn được trộn khuấy đều với nước trong xô theo tỉ lệ 3:1 (Nước : TA) ngay trước khi cho ăn, cho ăn 4 lần/ngày (sáng, trưa, chiều và tối) với sức ăn tối đa mỗi lần

Bảng 1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm

Các đợt thí nghiệm

Theo dõi các chỉ tiêu thí nghiệm

Sinh trưởng: Lợn thí nghiệm được cân tại các thời điểm bắt đầu thí nghiệm (cai sữa 23-25 ngày), khi kết thúc giai đoạn 60 ngày tuổi bắt đầu vỗ béo (22-23 kg), thời điểm kết thúc vỗ béo (khoảng 95 kg)

Hiệu quả sử dụng thức ăn gồm: lượng thức ăn thu nhận bình quân/ngày (TATN, g/ngày), tiêu tốn thức ăn/kg tăng trọng (TTTA, kg/kg)

Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu tiến hành từ 2008-2009 tại Ninh Bình và Hà Nội

Xử lý số liệu

Số liệu về sinh trưởng được phân tích ANCOVA với đồng biến là khối lượng bắt đầu thí nghiệm (khối lượng cai sữa), số liệu thức ăn được phân tích ANOVA Áp dụng mô hình tuyến tính tổng hợp (GLM) gồm giá trị trung bình các tính trạng, ảnh hưởng của kiểu chuồng, dạng

Trang 3

TA, mùa, và tương tác chuồng với mùa Các tương tác khác chuồng với TA, chuồng với mùa,

TA với mùa, chuồng với TA với mùa không sai khác đối với tất cả các tính trạng (P>0,05) nên loại khỏi mô hình Các giá trị trung bình được so sánh bằng phương pháp Turky trên phần mềm Minitab 15 (2007) Kết quả trình bày gồm các giá trị trung bình bình phương nhỏ nhất (LSM) và sai số chuẩn (SEM)

Bảng 2 Khẩu phần thức ăn cho lợn thí nghiệm

Lợn sau cai sữa (5-25 kg)

Lợn vỗ béo (25-xuất chuồng)

Tên nguyên liệu

Khối lượng (kg) Khối lượng (kg)

Thành phần dinh dưỡng

Trang 4

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố thí nghiệm

Kết quả trình bày tại Bảng 3 cho thấy kiểu chuồng nuôi ảnh hưởng rõ rệt đến khối lượng 60 ngày tuổi (P<0,001), khối lượng tăng sau cai sữa (SCS) (P<0,001), tăng trọng bình quân (TTBQ) giai đoạn SCS (P<0,001), giai đoạn vỗ béo (VB) (P<0,001), đến lượng thức ăn (TA) thu nhận (TATN) trong ngày vỗ béo và tiêu tốn thức ăn (TTTA) cho 1 kg tăng trọng giai đoạn

VB (P<0,05) Tuy nhiên, kiểu chuồng không ảnh hưởng đến khối lượng kết thúc và khối lượng tăng trong giai đoạn VB, TATN sau SCS và TTTA giai đoạn SCS (P>0,05)

Dạng thức ăn ảnh hưởng đến tất cả các chỉ tiêu tăng trọng giai đoạn SCS cũng như VB với mức sác xuất p<0,05 và P<0,001, nhưng không ảnh hưởng đến TTTA và TATN sau SCS (P>0,05) Yếu tố mùa có ảnh hưởng rõ rệt đến hầu hết các chỉ tiêu giai đoạn CSC và VB với sác xuất P<0,01 và P<0,001, trừ khối lượng kết thúc và tăng trọng giai đoạn VB (P>0,05) Các chỉ tiêu về TA như TATN/ngày và TTTA/kg tăng trọng ở giai đoạn VB cũng chịu ảnh hưởng bởi yếu tố mùa (P<0,01 và P<0,05), trong khi đó hai chỉ tiêu này ở giai đoạn SCS không chịu tác động này (P>0,05) Khi nghiên cứu ảnh hưởng tương tác giữa các yếu tố có chỉ tiêu TTBQ giai đoạn VB chịu tác động bởi tương tác giữa kiểu chuồng nuôi và mùa vụ (P<0,01), còn lại các yếu tố khác đều không có tác động tương tác đối với tất cả các chỉ tiêu còn lại (P>0,05)

Bảng 3 Mức ảnh hưởng các yếu tố đến sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn

Các ảnh hưởng tương tác

chuồng

Dạng

TA Mùa Chuồng

x TA

Chuồng x Mùa

Mùa

x TA

Chuồng x

TA x Mùa Tốc độ sinh trưởng

Hiệu quả sử dụng thức ăn

*** P<0,001; P<0,01; **; *P<0,05; NS: P>0,05

Ảnh hưởng của kiểu chuồng

Kiểu chuồng có ảnh hưởng rõ rệt đến sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của lợn thí nghiệm cả hai giai đoạn SCS và VB (Bảng 4) Ở giai đoạn SCS, khối lượng lợn tại thời điểm

Trang 5

60 ngày tuổi ở lô chuồng kín (22,04 kg/con) cao hơn lô chuồng hở (21,35 kg/con), tương ứng 3,23% (P<0,001) Tốc độ TTBQ của lợn con sau cai sữa trong chuồng kín cao hơn chuồng hở 6,05% (386,22 g/ngày so với 364,17 g/ngày, P<0,001) Ở giai đoạn VB, lợn thương phẩm cũng chịu ảnh hưởng đáng kể của các yếu tố chuồng trại trong đó lợn nuôi chuồng kín có TTBQ (837,25 g/ngày) cao hơn lợn nuôi chuồng hở (787,69 g/ngày), tương ứng 6,29 % (P<0,001)

Hiệu quả sử dụng thức ăn của lợn giai đoạn VB cũng khác nhau tuỳ theo kiểu chuồng trại Lợn nuôi chuồng kín có lượng thức ăn thu nhận/ngày cao hơn chuồng hở 0,11 kg (5,23%), đạt mức tiêu tốn thức ăn/ kg tăng trọng cũng thấp hơn 0,14kg (5,11%) Tuy nhiên, tác động này không thấy xảy ra đối với lợn con giai đoạn SCS và có thể do điều kiện nhiệt độ và độ ẩm của chuồng hở nuôi lợn con sau cai sữa được kiểm soát tốt do có trang bị bạt che, đèn sưởi và sàn nhựa

Các tác giả khác nghiên cứu về ảnh hưởng của kiểu chuồng đến sinh trưởng của lợn con giai đoạn SCS cho thấy lợn con nuôi trong chuồng kín sinh trưởng tốt hơn so với nuôi chuồng hở Theo Larson và cs (2003), trong điều kiện chuồng kín lợn con giai đoạn SCS lớn nhanh và đạt mức TTBQ/ngày cao hơn 3% so với lô đối chứng nuôi trong chuồng hở Đặc biệt, mức tăng cao hơn chủ yếu diễn ra trong tuần đầu và tuần thứ hai SCS với mức tăng của lô nuôi chuồng kín cao hơn tương ứng 29,82% và 19,82% Như vậy kết quả về TTBQ/ngày trong thí nghiệm của chúng tôi tương tự như kết quả trên, và có thể khẳng định chuồng kín có tác dụng tích cực đối với sinh trưởng của lợn con, đặc biệt trong 2 tuần đầu sau cai sữa

Bảng 4 Ảnh hưởng của kiểu chuồng đến sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn

Tốc độ sinh trưởng

Sử dụng thức ăn

Các giá trị cùng dòng không mang cùng chữ cái khác nhau có ý nghĩa; ***: P<0,001; *: P<0,05

Mức tiêu thụ và sử dụng thức ăn của lợn con SCS trong nghiên cứu của Larson và cs (2003) tăng lên trong điều kiện chuồng kín, trong đó lượng TATN của lô chuồng kín tăng 23% trong hai tuần đầu và 7% trong cả 5 tuần thí nghiệm do điều kiện chuồng kín phù hợp và thuận lợi

Trang 6

hơn cho lợn con SCS so với chuồng hở Tuy nhiên, trong kết quả nghiên cứu của chúng tôi không thấy có sự khác nhau giữa hai kiểu chuồng có thể do chuồng hở được che chắn kỹ, có

lò sưởi và chăm sóc đặc biệt nên điều kiện tiểu khí hậu không khác nhiều so với chuồng kín, đặc biệt những ngày đầu SCS

Mùa vụ là yếu tố quan trọng tác động đến chăn nuôi lợn, đặc biệt lợn con Kết quả thí nghiệm của chúng tôi cho thấy mùa vụ có ảnh hưởng đến sinh trưởng tương tự như các thí nghiệm khác Trong thí nghiệm của Larson và cs (2003), mùa vụ có ảnh hưởng rất lớn đến TTBQ và TATN của lợn con SCS và phụ thuộc vào kiểu chuồng nuôi Trong mùa đông và mùa xuân lợn nuôi ở chuồng hở ăn ít hơn 6-9% và chậm lớn hơn 5-7% so với chuồng kín, trong khi lợn

ở hai chuồng nuôi mùa hè có tốc độ lớn nhanh như nhau Trong thí nghiệm của các tác giả này tại Canada, mùa hè không khác nghiệt và tương tự như mùa thu của Việt Nam Như vậy, trong điều kiện thời tiết thuận lợi, lợn con SCS có khả năng sinh trưởng tốt nhất

Đối với giai đoạn VB, các nghiên cứu cho thấy kiểu chuồng trại có ảnh hưởng lớn đến khả năng sử dụng TA cũng như tốc độ tăng trọng của lợn VB Kết quả của chúng tôi cho thấy ảnh hưởng rõ rệt của kiểu chuồng đến khả năng tăng trọng của lợn vỗ béo trong đó lợn nuôi chuồng kín-mùa thu đạt mức TTBQ giai đoạn vỗ béo cao hơn các mùa khác và chuồng hở-mùa đông và hở-mùa hè Nhiều nghiên cứu cũng cho thấy, trong điều kiện chuồng kín có hệ thống thông gió và kiểm soát được tiểu khí hậu, lợn vỗ béo lớn nhanh hơn, đặc biệt ở những nơi có khí hậu khắc nghiệt Enfalt và cs (1997) cho biết lợn nuôi chuồng kín có TTBQ ngày cao hơn chuồng hở vào mùa đông, trong khi đó theo Sather và cs (1997) thì chuồng kín cải thiện được TTBQ của lợn VB cả mùa đông cũng như mùa hè Lally và Edwards (1999) cho biết lợn nuôi VB chuồng kín có lượng TATN cao hơn 2,1%, tổng khối lượng toàn kỳ tăng 4,25%, TTBQ cao hơn 6,04% và thời gian nuôi ngắn hơn 2,3 ngày so với chuồng hở

Những nghiên cứu gần đây cũng khẳng định rằng chuồng kín có tác dụng rất tốt cho tăng trọng và sử dụng thức ăn của lợn vỗ béo Strudsholm và Hermansen (2005) cũng cho biết lợn nuôi chuồng hở, thông thoáng tự nhiên tăng trọng chậm hơn so với nuôi trong chuồng kín khoảng 4% và hiệu quả sử dụng TA kém hơn 12%

Kết quả của chúng tôi trái với kết quả của Lebret và cs (2006) Các tác giả này cho thấy lợn nuôi ở chuồng hở có tốc độ lớn nhanh hơn 10%, TNTA nhiều hơn 0,23 kg/ngày, đạt khối lượng xuất chuồng cao hơn 7 kg so với lợn nuôi chuồng kín Trong nghiên cứu của Gentry và

cs (2002a) cũng công bố kết quả lợn nuôi trong chuồng kín tăng trọng thấp hơn so với nuôi ở chuồng hở 12,35% vào mùa hè và không khác nhau vào mùa đông Hơn nữa Gentry và cs (2002b) còn cho thấy tăng trọng của lợn giai đoạn 25 kg đến kết thúc không bị tác động của môi trường nuôi (chuồng kín hay chuồng hở) ở giai đoạn VB mà phục thuộc vào môi trường nuôi từ sơ sinh và giai đoạn sau cai sữa, trong đó lợn có giai đoạn sơ sinh đến cai sữa nuôi chuồng kín phát triển kém hơn so với lô nuôi chuồng hở Nguyên nhân của sự khác nhau nói trên có thể do điều kiện khí hậu ở các thí nghiệm trên khác nhiều và không khắc nghiệt, đặc biệt vào mùa hè như ở Việt Nam

Ảnh hưởng của dạng thức ăn

Ảnh hưởng của dạng TAL và TAK được trình bày tại Bảng 5 Ở đây có ảnh hưởng rõ rệt của dạng thức ăn đến tốc độ sinh trưởng của lợn thí nghiệm cả hai giai đoạn SCS và VB Lợn nuôi bằng TAL đạt khối lượng ở 60 ngày tuổi cao hơn lô ăn TAK (22,13 và 21,26 kg/con, P<0,001), tương đương 4% và đạt TTBQ (385,7 g/ngày) cao hơn 5,54% (P<0,001) so với TTBQ của lợn nuôi bằng TAK (364,51 g/ngày) Đối với giai đoạn vỗ béo, ảnh hưởng của

Trang 7

mức độ thấp hơn so với giai đoạn sau cai sữa Lô TAL đạt TTBQ cao hơn lô TAK khoảng 1,88% (804,76 so với 820,17 g/ngày, P<0,01)

Hiệu quả sử dụng thức ăn của lợn thí nghiệm trình bày tại Bảng 5 Ở giai đoạn SCS, lượng TATN và TTTA của hai lô đều không có sự sai khác đáng kể (P>0,05) Trái lại, ở giai đoạn

VB, TAL đã làm tăng rõ rệt lượng TATN hàng ngày từ 2,09 kg/ngày lên 2,30 kg/ngày, tương ứng 11,33% (P<0,001), đồng thời giảm đáng kể (5,05%) lượng TTTA cho tăng trọng (2,72 kg/kg so với 2,59 kg/kg, P<0,01) so với TAK

Đối với lợn con giai đoạn sau cai sữa, các kết quả nghiên cứu khác cho biết TAL làm tăng mức TATN cũng như TTBQ Trong kết quả của Jensen và Mikkelsen (1998) lợn con SCS nuôi bằng TAL có TTBQ cao hơn 12,3% so với TAK Tương tự, Partridge và cs (1992) và Lawlor và cs (2002) cũng cho kết quả TAL làm tăng lượng TATN đối với lợn con SCS Ngoài ra, thức ăn lỏng lên men còn tăng khả năng tăng trọng đến 13,4% so với thức ăn dạng lỏng không lên men (Jensen và Mikkelsen, 1998) Trong thí nghiệm của Han và cs (2006), mức TTBQ/ngày của lợn con sau cai sữa nuôi TAL đạt từ 4,8% - 9,7%, cao hơn so với lợn nuôi bằng TAK, tuỳ theo thời gian sử dụng TAL 10 hay 20 ngày liên tục sau cai sữa Kết quả nghiên cứu của Kim và cs (2001) cũng cho thấy nuôi lợn con trong 2 tuần đầu sau cai sữa bằng thức ăn dạng lỏng đạt mức TTBQ/ngày và tăng trọng/tiêu tốn TA cao hơn so với nhóm nuôi bằng thức ăn khô (tương ứng 44% và 22%)

Bảng 5 Ảnh hưởng của dạng thức ăn đến sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn

(n=231)

TA lỏng

Tốc độ sinh trưởng

Sử dụng thức ăn

Các giá trị cùng dòng không mang cùng chữ cái khác nhau có ý nghĩa; ***: P<0,001; **: P<0,01; *: P<0,05 Như vậy kết quả của thí nghiệm của chúng tôi có mức TTBQ phù hợp với kết quả của các tác giả trên và khẳng định TAL làm tăng tốc độ sinh trưởng ở lợn con sau cai sữa, mặc dù mức độ cải thiện TTBQ của lợn trong thí nghiệm này còn thấp hơn so với các nghiên cứu trên Trái lại, thí nghiệm của Lawlor và cs (2002) lại cho thấy TAL làm giảm TTBQ/ngày tới 15% so

Trang 8

với TAK Ngoài ra, thí nghiệm của chúng tôi cho thấy lượng TATN không bị ảnh hưởng bởi dạng TAL hay TAK

Ảnh hưởng tích cực của TAL đến tốc độ sinh trưởng của lợn SCS chủ yếu do tăng lượng thức

ăn tiêu thụ/ngày Các thí nghiệm trên cho kết quả lượng TATN của nhóm TAL tăng 18% (Kim và cs 2001) hay 6-14% (Han và CS, 2000) Trái với kết quả trên, trong thí nghiệm của chúng tôi cho kết quả lượng TATN của lô TAL có xu hướng thấp hơn lô TAK (0,49 và 0,54 g/ngày) nhưng kết quả phân tích thông kê cho thấy mức sai khác không đủ độ tin cậy (P>0,05) Nguyên nhân khác nhau trên có thể do việc ung cấp thức cho lô TAL theo bữa hàng ngày chưa đáp ứng đủ nhu cầu ăn thực tế của lợn thí nghiệm, trong khi lợn của lô TAK được

ăn tự do nên có khả năng ăn được nhiều hơn

Khả năng tăng trọng cao của lợn SCS nuôi bằng TAL được các nghiên cứu kết luận là do lượng TATN hàng ngày tăng giúp duy trì sự thăng bằng trong hệ tiêu hoá, đặc biệt là bảo vệ được lớp lông nhung phủ niêm mạc ruột (villi) (Deprez và cs., 1987; Pluske và cs., 1996) Nhờ đó khả năng tiêu hoá của lợn con SCS không bị rối loạn, đồng thời làm tăng khả năng tiêu hoá, hạn chế quá trình chậm lớn thường thấy những ngày đầu sau cai sữa

Ngoài ra, kết quả tăng trọng cao do TAL ở các thí nghiệm khác trích dẫn trên còn do TAL được pha trộn và sử dụng trong 24h nên thường xảy ra hiện tượng lên men trong TAL Mikkelsen và Jensen (2000) đã phát hiện thấy sự phát triển rất nhanh của hệ vi sinh vật trong TAL trong vòng 24 giờ sau khi pha trộn với nước Trong thí nghiệm của chúng tôi, TAL được trộn và cho ăn ngay nên có thể không tận dụng được ưu điểm lên men tự nhiên này của TAL lỏng, do đó mức TTBQ/ngày của lợn giai đoạn SCS thấp hơn so với các thí nghiệm nêu trên Đối với giai đoạn VB, kết quả của chúng tôi tương đương với một số nghiên cứu khác, trong

đó đều cho thấy ưu điểm về năng suất của lợn VB bằng TAL Trong thí nghiệm của Kim và

cs (2001), lợn nuôi bằng TAL đạt TTBQ cao hơn và số ngày nuôi đạt 120 kg cũng ngắn hơn

so với lợn nuôi TAK (150,9 so với 154,6 ngày) Một nghiên cứu khác của Choct và cs (2004) cũng cho thấy khi cho thức ăn vào nước, hiệu quả sử dụng thức ăn tăng lên tới 22% và năng lượng tiêu hoá lên 0,9-1.5 MJ/kg Hust và cs (2008) mới đây cũng khẳng định TAL nuôi lợn giai đoạn VB (45-90 kg) đã cho mức TTBQ cao hơn 15,9% so với TAK, tuy nhiên nghiên cứu của các tác giả này không cho thấy sự khác nhau về mức TTTA

Trái lại với các kết quả trên, Lawlor và cs (2002) cho biết khối lượng lợn VB đến kết thúc của lô TAL thấp hơn 1,97% và lượng TATN cũng thấp hơn 2,15% so với lô TAK nhưng TTBQ và TTTA lại không bị ảnh hưởng bởi dạng thức ăn Trong thí nghiệm tương tự khác (Lawlor và CS, 2002) cũng không thấy có ảnh hưởng của dạng TAL và TAK đến TATN, TTTA và TTBQ

Ảnh hưởng của mùa

Ảnh hưởng của mùa đến sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của lợn thương phẩm được trình tại Bảng 6 Kết quả nghiên cứu cho thấy ảnh hưởng rõ rệt của mùa vụ đến khối lượng lợn 60 ngày tuổi Lợn nuôi mùa thu (22,31kg) có khối lượng cao hơn (P<0,01) mùa hè (21,55 kg) và mùa xuân (21,27 kg), trong khi đó khối lượng lợn mùa đông (21,65kg) không có sự sai khác so với các mùa khác trong năm (P>0,05)

Tương tự, khối lượng tăng giai đoạn SCS cao nhất trong mùa thu (16,07kg, P<0,01), đồng thời mức TTBQ/ngày mùa thu (392,24 g/ngày) cũng cao (P<0,001) hơn mùa hè (375,78 g/ngày) và mùa đông (350,12 g/ngày) và tương đương (P>0,05) mùa xuân (382,44 g/ngày) TTBQ trong mùa đông ở mức thấp nhất (350,12 g/ngày, P<0,001) so với các mùa còn lại, mặc

Trang 9

dù khối lượng kết thúc giai đoạn và mức tăng trọng của mùa đông tương đương các mùa khác Nguyên nhân là do thời gian nuôi mùa đông giai đoạn này dài nhất (44 ngày) nhằm để lợn con khoẻ hơn khi chuyển chuồng, trong khi thời gian nuôi vào mùa hè và mùa xuân ngắn hơn

(39-42 ngày)

Ở giai đoạn VB, mùa vụ cũng tiếp tục ảnh hưởng rõ rệt đến sinh trưởng của lợn, trong đó TTBQ của lợn nuôi mùa thu đạt mức cao nhất (837,45g/ngày), mùa đông -thấp nhất (792,67 g/ngày) với mức P<0,001 TTBQ ở mùa xuân và mùa hè tương đương nhau (803,63 và 816,13 g/ngày, P>0,05), thấp hơn mùa thu và cao hơn mùa đông (P<0,001)

Bảng 6 Ảnh hưởng mùa vụ đến sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn

(n=116)

Hè (n=120)

Thu (n=115)

Đông (n=116) SEM Tốc độ sinh trưởng

Khối lượng 60 ngày tuổi (kg/con) ** 21,55a 21,27a 22,31b 21,65ab 0,20

Khối lượng tăng SCS (kg/con) ** 15,30a 15,03a 16,07b 15,41ab 0,20

TTBQ giai đoạn SCS (g/ngày) *** 382,44ab 375,78a 392,43b 350,12c 4,86 TTBQ giai đoạn VB (g/ngày) *** 803,63a 816,13a 837,45b 792,67c 5,08

Sử dụng thức ăn

Các giá trị cùng dòng không mang cùng chữ khác nhau có ý nghĩa; ***:P<0,001; **:P<0,01; *:P<0,05

Về hiệu quả sử dụng thức ăn, ở giai đoạn SCS thí nghiệm không thấy ảnh hưởng của mùa vụ đến TATN cũng như TTTA (P>0,05) Cả bốn mùa, lợn con giai đoạn SCS có lượng TATN dao động trong khoảng 0,47-0,53 kg/ngày và mức TNTĂ trong khoảng 1,47-1,53 kg/kg

Ở giai đoạn vỗ béo, ảnh hưởng của mùa vụ thể hiện rõ rệt ở lượng TATN Trong mùa thu lợn

ăn nhiều thức ăn hơn so với mùa hè và mùa đông (2,32kg/con/ngày so với 2,12 kg/con/ngày

và 2,05kg/con/ngày, P<0,001) nhưng tương đương với mùa xuân (2,28) Lượng TATN của mùa xuân có xu hướng cao hơn mùa hè (2,28 và 2,12 kg/ngày) Ngoài ra, TATN của mùa hè

và mùa đông tương đương nhau

Đối với mức TTTA, lợn nuôi trong mùa thu có xu hướng có mức TTTA thấp nhất (2,54 kg/kg), tuy nhiên không có sự sai khác (P>0,05) khi so với mùa đông (2,8 kg/kg) và chưa đủ

độ tin cậy có ý nghĩa khi so sánh với mùa xuân (2,62 kg/kg và 2,65 kg/kg, P>0,05) Mức độ giảm về TTTA của mùa thu so với các mùa khác như vậy dao động 0,08-0,26 kg/kg tăng trọng

Trang 10

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ Kết luận

Dạng thức ăn lỏng có tác động tích cực đến sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn ở lợn sau cai sữa cũng như vỗ béo: lợn con sau cai sữa và lợn vỗ béo nuôi bằng TAL đều có tăng trọng bình quân/ngày cao hơn, tương ứng 5,54% và 1,88%, và lợn vỗ béo có hệ số chuyển hoá thức

ăn thấp hơn 5,05% so với lợn nuôi bằng TAK

Chuồng kín ảnh hưởng tốt hơn đến một số chỉ tiêu sinh trưởng của lợn thương phẩm so với nuôi chuồng hở, trong đó lợn con sau cai sữa có mức tăng trọng bình quân/ngày cao hơn 6,05%, lợn vỗ béo có tăng trọng bình quân/ngày cao hơn 6,29% và hệ số chuyển hoá thức ăn thấp hơn 5,44%

Mùa ảnh hưởng đến sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của lợn, trong đó lợn nuôi mùa thu có TTBQ/ngày cao nhất và mùa đông - thấp nhất ở cả giai đoạn sau CS (392,43 g/ngày và 350,12 g/ngày) cũng như VB (837,45g/ngày và 792,67 g/ngày), đồng thời mùa không ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng TA ở giai đoạn SCS nhưng mùa thu làm tăng lượng TATN/ngày

ở giai đoạn VB

Đề nghị

Áp dụng kỹ thuật nuôi chuồng kín trong chăn nuôi lợn con sau cai sữa và thương phẩm trong sản xuất

Tiếp tục mở rộng nghiên cứu ảnh hưởng của TAL đến năng suất sinh sản của lợn nái nuôi con, lợn con sau cai sữa và lợn thịt với tỉ lệ trộn nước khác nhau

TÀI LIỆU THAM KHẢO Brooks, P.H., T.M Geary, D.T Morgan & A Campbell (1996) New developments in liquid feeding Pig J 36: 43-64

Choct, M., E.A.D Selby, D.J Cadogan & R.G Campbell (2004) Effects of particle size, processing, and dry or liquid feeding on performance of piglets Australian Journal of Agricultural Research 55:237-245 Deprez, P., P Deroose, C van den Hende, E Muylle and W Oyaert (1987) Liquid versus dry feeding in weaned piglets:the influence on small intestine morphology J Vet Med 34: 254-259

Enfalt, A.C., K Lundstrom, I Hansson, N Lundeheim & P.E Nystrom (1997) Effects of outdoor rearing and sire breed (Duroc or Yorkshire) on carcass composition and sensory and technological meat quality Meat Sci 45: 1-15

Gentry, J.G., J.J Mcglone, J.R Blanton & M.F Miller (2002a) Alternative Housing Systems For Pigs:Influences On Growth, Composition and Pork Quality J Anim Sci 80: 1781-1790

Gentry, J.G., J.J McGlone, M.F Miller, & J.R Blanton (2002b) Diverse birth and rearing environment effects

on pig growth and meat quality J Anim Sci 80:1707–1715

Gustafson, G & S Stern (2003) Two strategies for meeting energy demand of growing pigs on pasture Livest Prod Sci 80: 167-174

Guy, J.H., P Rowlinson, J.P Chadwick, & M Ellis (2002) Growth performance and carcass characteristics of two genotypes of growth-finishing pig in different housing system Anim Sci 74: 493-502

Han, Y.K., P.A Thacker & J.S Yang (2006) Effects of the duration of liquid feeding on performance and nutrient digestibility in weaned pigs Asian-Aust J Anim Sci 19: 396-401

Hurst, D., L Clarke & I J Lean (2008) Effect of liquid feeding at different water-to-feed ratios on the growth performance of growing-finishing pigs Animal 2: 1297-1302

Ngày đăng: 03/04/2014, 19:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm - Ảnh hưởng của dạng thức ăn (lỏng và khô) và kiểu chuồng (kín và hở) đến tốc độ sinh trưởng của lợn thịt doc
Bảng 1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm (Trang 2)
Bảng 2. Khẩu phần thức ăn cho lợn thí nghiệm - Ảnh hưởng của dạng thức ăn (lỏng và khô) và kiểu chuồng (kín và hở) đến tốc độ sinh trưởng của lợn thịt doc
Bảng 2. Khẩu phần thức ăn cho lợn thí nghiệm (Trang 3)
Bảng 3. Mức ảnh hưởng các yếu tố đến sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn - Ảnh hưởng của dạng thức ăn (lỏng và khô) và kiểu chuồng (kín và hở) đến tốc độ sinh trưởng của lợn thịt doc
Bảng 3. Mức ảnh hưởng các yếu tố đến sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn (Trang 4)
Bảng 4. Ảnh hưởng của kiểu chuồng đến sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn - Ảnh hưởng của dạng thức ăn (lỏng và khô) và kiểu chuồng (kín và hở) đến tốc độ sinh trưởng của lợn thịt doc
Bảng 4. Ảnh hưởng của kiểu chuồng đến sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn (Trang 5)
Bảng 5. Ảnh hưởng của dạng thức ăn đến sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn - Ảnh hưởng của dạng thức ăn (lỏng và khô) và kiểu chuồng (kín và hở) đến tốc độ sinh trưởng của lợn thịt doc
Bảng 5. Ảnh hưởng của dạng thức ăn đến sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn (Trang 7)
Bảng 6. Ảnh hưởng mùa vụ đến sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn - Ảnh hưởng của dạng thức ăn (lỏng và khô) và kiểu chuồng (kín và hở) đến tốc độ sinh trưởng của lợn thịt doc
Bảng 6. Ảnh hưởng mùa vụ đến sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn (Trang 9)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm