1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đại cương lịch sử Việt Nam - Tập 1, NXB Giáo Dục

22 2,8K 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đại Cương Lịch Sử Việt Nam
Người hướng dẫn PGS. Nguyễn Danh Phiệt
Trường học Trường Đại Học Giáo Dục
Chuyên ngành Lịch sử
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 114 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Báo cáo tốt nghiệp: Đại cương lịch sử Việt Nam - Tập 1, NXB Giáo Dục

Trang 1

A Mở đầu

I Lí do chọn đề tài:

Dân tộc Việt Nam kể từ thời kỳ Hùng Vơng dựng nớc cho đến bây giờ đãtrải qua nhiều thăng trầm lịch sử Qua việc học tập, nghiên cứu đã khẳng định đ-

ợc truyền thống của con ngời Việt Nam là : không chỉ cần cù, chịu khó, bền bỉ,

mà còn rất yêu nớc, có tinh thần chống giặc ngoại xâm, dám hy sinh cả tínhmạng của mình để bảo vệ cho Tổ quốc,…

Trải qua nhiều triều đại với từng giai đoạn lịch sử khác nhau Dù đã cónhiều biến động, nhiều thay đổi, hay đó là sự thành công hoặc thất bại, cũng cóthể là sự chuyển biến từ chế độ này sang chế độ khác nhng dù ở triều đại nàocũng đã có nhiều cống hiến cho lịch sử để đời sau còn lu truyền mãi, ghi nhớ,học tập và phát huy những điều tốt đẹp, có thể ở một nhân vật lịch sử hoặc mộtvấn đề nào đó của lịch sử

Trong lịch sử thời kì trung đại nói riêng và lịch sử của dân tộc nói chung,chúng ta biết rằng có rất nhiều cuộc cải cách lớn của những nhân tài Việt Nam

đã dám đứng ra cầm quyền, lãnh đạo và tổ chức tiến hành Tuỳ vào tình hình củamỗi giai đoạn lịch sử nhng nói chung mỗi khi đất nớc có nhu cầu canh tân đểphát triển thì đồng thời xuất hiện những t tởng cải cách lớn Tiêu biểu của thờitrung đại có cuộc cải cách của Khúc Hạo(907), của Hồ Quý Ly (cuối thế kỷXIV- đầu thế kỷ XV), của Lê Thánh Tông( cuối thế kỷ XV), của Quang Trung– Nguyễn Huệ ( cuối thế kỷ XVIII ), cuộc cải cách hành chính của MinhMạng( nửa đầu thế kỷ XIX) Nh vậy, nghiên cứu về đề tài cải cách này chúng ta

sẽ hiểu biết đợc đầy đủ hơn, sâu sắc hơn về lịch sử Việt Nam thời Trung đại

Cụ thể, vào cuối thế kỷ XIV khi Triều Trần lâm vào tình trạng khủnghoảng, thối nát thì Hồ Quý Ly đã xuất hiện và cứu vớt tình thế đó của đất nớc

Ông đã lên ngôi vua và tiến hành cuộc cải cách toàn diện chỉ trong vòng mộtthời gian ngắn(1400-1407).Tuy rằng cuộc cải cách đã thất bại nhng khi nghiêncứu về Triều Hồ chúng ta phần nào hiểu đợc nhiều hơn về tình hình xã hội lúcbấy giờ, hiểu đợc thân thế của một nhân vật lịch sử tầm cỡ hiếm có trong sử sách

từ cổ chí kim, một nhân cách đặc biệt, một tài năng hơn ngời.Đó chính là HồQuý Ly, ngời đã gây dựng nên nhà Hồ - một triều đại có vị trí khá quan trọngtrong lịch sử nớc nhà Qua đây, khẳng định đợcvai trò vị trí của Hồ Quý Ly đốivới dân tộc

Hơn nữa, nghiên cứu về Hồ Quý Ly, triều Hồ và cuộc cải cách táo bạo của

Hồ Quý Ly đó là một đề tài thú vị đối với rất nhiều nhà sử học và những ngời amhiểu, yêu thích lịch sử dân tộc.Vì vậy, khi tìm hiểu đề tài này sẽ giúp vốn kiếnthức về Hồ Quý Ly của chúng ta đợc hoàn chỉnh hơn, trình độ đánh giá sẽ đợcnâng lên 1 tầm cao mới Chúng ta sẽ rút ra đợc những bài học kinh nghiệm màcuộc cải cách của Hồ Quý Ly đã để lại, từ đó liên hệ đến tình hình lúc bấy giờcủa dân tộc Đảng ta đã vận dụng và không ngừng đổi mới để phát triển đất nớc

Trang 2

ngày càng giàu mạnh hơn.Điều đó đợc khẳng định nhiều lần qua các kì Đại hội

Đảng, đặc biệt bắt đầu từ cuộc đổi mới đất nớc năm 1986

II.Tình hình nghiên cứu đề tài:

Chúng ta cũng biết rằng để nghiên cứu một đề tài cần phải dành tâm huyết

về nó và phải có nhiều thời gian thì mới tìm hiểu đợc sâu sắc hơn, đánh giá đợc

Hồ Quý Ly và cho ra đời các tác phẩm mang cái nhìn bao quát, sâu sắc.Tiêubiểu là Phó Giáo S - Tiến sĩ sử học Nguyễn Danh Phiệt với cuốn “ Hồ Quý Ly”.Các nhà sử học thời trung đại, cận đại, hiện đại cũng đã quan tâm nhiều đến HồQuý Ly, kể cả các tác giả trong và ngoài nớc Đặc biệt khi viết về lịch sử ViệtNam thời Trung đại, dù ở bất cứ một cuốn sách tham khảo nào chúng ta cũngtìm thấy một mục nhỏ, một phần hoặc một khía cạnh nào đó mà các tác giả sửhọc đã dồn hết tâm huyết, lòng đam mê của mình để viết về Hồ Quý Ly

Tuy vậy, phải đến sau khi cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi(1954)thì vấn đề Hồ Quý Ly mới đợc giới sử học nói chung đề cập đến một cách sâusắc, toàn diện Trên các hiệu sách đã có nhiều cuốn sách đợc trng bán nh sách

Quý Ly trên tạp chí”Nghiên cứu lịch sử” (1961); chuyên san “Nghiên cứu lịch sử

số 6” (1990) về “ cải cách của Hồ Quý Ly” Đồng thời, cũng đã có một cuộc hộithảo khoa học về “Hồ Quý Ly và nhà Hồ” do Ban nghiên cứu và biên soạn lịch

sử Thanh Hoá kết hợp với hội khoa học lịch sử Việt Nam tiến hành

Nh vậy, mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau khi nghiên cứu về Hồ Quý

Ly song phần nào đã giúp cho những ngời yêu lịch sử dân tộc, quan tâm đến HồQuý Ly dễ dàng hơn trong việc nghiên cứu, học tập và hiểu biết đợc nhiều hơn

Đó là phải kể đến sự đóng góp công sức của các nhà nghiên cứu sử học, các tạpchí, nhà xuất bản với nội dung sách tơng đối toàn diện, đánh giá khá sâu sắc

III.Mục đích nghiên cứu đề tài

- Giúp sinh viên hiểu biết rõ hơn về tình hình đất nớc cuối thời Trần, về sựthành lập triều Hồ, đặc biệt là về thân thế của Hồ Quý Ly và cuộc cải cách của

ông (1400 - 1407)

- Qua đó để giáo dục lòng yêu nớc, tinh thần dân tộc, đặc biệt là phải biết

kế thừa và phát huy tinh thần truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta cho sinh viên

Trang 3

- Nghiên cứu về đề tài nhằm rèn luyện cho sinh viên tính học tập độc lập,sáng tạo, tự tìm tòi,tự nghiên cứu Đồng thời rèn luyện tính bền bỉ, kiên trì củasinh viên, rèn luyện kỉ năng tra cứu, phân tích và lựa chọn tài liệu.Từ đó viếtthành một bài hoàn chỉnh, có đánh giá và ý kiến của cá nhân.

IV.Phơng pháp nghiên cứu đề tài:

- Phơng pháp luận sử học

V.Bố cục tiểu luận:

Gồm ba phần lớn:Mở đầu, nội dung, kết luận

Trong phần nội dung gồm có:

I Nhận thức luận

II Một vài nét về Hồ Quý Ly và triều Hồ

III Tình hình XHVN vào cuối thế kỉ XIV

IV Cuộc cải cách của Hồ Quý Ly

V Đánh giá về Hồ Quý Ly và nêu nguyên nhân thất bại, kết quả, bài họckinh nghiệm của cuộc cải cách

Vậy, nguyên nhân nào đã dẫn đến điều đó? Chúng ta thử đặt giả thiếtrằng: Nếu trong một xã hội nhất định của lịch sử, tình hình về kinh tế, xã hội,

cao, xã hội đó không có ách áp bức, bóc lột, không có giai cấp thống trị và bị trị,không hề có mâu thuẩn và xung đột thì liệu có xảy ra một chuyển biến nàokhông, sự thay đổi nào không? Còn ngợc lại, trong xã hội đã khủng hoảng trầmtrọng và sâu sắc trên tất cả các mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội thì sẽ thếnào đây? Trong thực tiễn đã chứng minh đợc đây chính là nguyên nhân để hìnhthành nên những nhà t tởng lớn, các ông đã thực hiện cuộc cách mạng, cuộc cảicách và đổi mới tuỳ vào từng giai đoạn lịch sử và hoàn cảnh riêng biệt, cụ thể.Mục đích của các nhà t tởng là nhằm cứu vãn tình thế, khôi phục lại tình hình đất

Trang 4

nớc và phát triển sang một bớc cao hơn, thay đổi hoàn toàn hoặc một bộ phậnnào đó về đời sống, văn hoá đất nớc.

Nếu xảy ra những cuộc khủng hoảng sâu sắc, toàn diện thì yêu cầu phảigiải quyết bằng cách mạng, tức phải dùng đến bạo lực vũ trang và kết hợp với

đấu tranh trên mặt trận chính trị, mặt trận ngoại giao

Còn nếu cuộc khủng hoảng bộ phận thì chỉ cần khắc phục bằng cải cáchhoặc đổi mới

Dù ở hình thức nào, cách mạng, cải cách hay đổi mới thì đều do hành

động của quần chúng nhân dân lao động tiến hành nhằm làm thay đổi xã hội từ

chứng với nhau, tuỳ vào điều kiện lịch sử thì có các cuộc cách mạng nhất địnhphải bùng nổ nhng cũng có những điều kiện lịch sử mà cải cách đổi mới trởthành những hình thức để tiến hành canh tân đất nớc

Cải cách và đổi mới là những bớc chuẩn bị cần thiết để dẫn đến một cuộccách mạng xã hội Ví dụ cuộc cách mạng Duy tân ( Trung Quốc) vào thế kỉ 19

năm 1911( Trung Quốc )

Cải cách, đổi mới là những bớc phát triển tiếp theo để thực hiện các thànhquả của một cuộc cách mạng.Ví dụ: cuộc cải cách ruộng đất ở Việt Nam đã gópphần làm hoàn thành nhiệm vụ dân chủ của cuộc cách mạng tháng 8 - 1945

Tóm lại, cách mạng sẽ nổ ra khi phơng thức sản xuất cũ đã lỗi thời mâuthuẫn với phơng thức sản xuất mới tiến bộ đã đến độ chín muồi, khủng hoảng xãhội đã diễn ra toàn diện trên mọi lĩnh vực yêu cầu cần phải giải quyết thì hành

động quyết tâm và triệt để của quần chúng nhân dân sẽ dẫn đến bớc phát triểnnhảy vọt của xã hội Đây đợc gọi là cuộc cách mạng.Thời gian ngắn hay dài còntuỳ thuộc vào tình hình chiến trận.Gồm có nhiều cuộc cách mạng: cách mạng tsản, cách mạng giải phóng đân tộc, cách mạng xã hội chủ nghĩa…

Còn cải cách khác với cách mạng là không đòi hỏi phải tiến hành mộtcách khẩn trơng, toàn diện và triệt để nh cách mạng và đặc biệt là loại trừ khảnăng bạo lực vũ trang

Cách mạng và cải cách thuộc phạm trù lịch sử vì nó diễn ra trong cùngmột không gian ( một khu vực, một đất nớc), và có mối liên kết giữa quákhứ ,hiện tại và tơng lai.Đó là mốc mở đầu của lịch sử

Đổi mới thuộc phạm trù nhận thức vì đợc tiến hành bằng hành động củacon ngời dựa trên sự kế thừa và tiếp thu những nét tiến bộ của quá khứ để lại

Trên thực tế cho biết, đã có nhiều cuộc cách mạng nổ ra: Bắt 1609) từ cách mạng Hà Lan báo hiệu cho một thời đại mới - thời đại của cáchmạng t sản, tiếp sau đó là cuộc cách mạng t sản Anh (1640 -1688) ; cách mạng t

mạng tháng mời Nga trở đi, trên thế giới đã có nhiều cuộc cách mạng giải

Trang 5

Còn về cải cách: Từ thời Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh có thể cải cách

đổi mới đất nớc

Lịch sử của những thời kì đáng ghi nhớ đó dù đã cách đây lâu lắm rồi,những cuộc cách mạng, cải cách, đổi mới đó có thể thành công hay thất bại , nh-

ng đã để lại trong kho tàng lịch sử thế giới những ý nghĩa sâu sắc, những bài họckinh nghiệm quý giá mà thế hệ sau cần phải khắc ghi, tiếp thu và phát huy đểxây dựng đất nớc ngày càng tiến bộ , giàu mạnh,xã hội ngày càng công bằng,dân chủ, văn minh

II.Một vài nét về Hồ Quý Ly và Triều Hồ:

họ Hồ làm chủ miền đất này Đến đời thứ 12 của họ Hồ là Hồ Liêm đã di c ravùng Đại Lại ( Thanh Hoá ) làm con nuôi của quan Tuyên Uý Lê Huấn nên ông

đã mang họ Lê Vì thế sử củ còn gọi Hồ Quý Ly là Lê Quý Ly, ông là cháu 4 đờicủa Hồ Liêm

Thuở nhỏ, Hồ Quý Ly theo học võ nghệ với S Tề S tề là một ngời họNguyễn, có con trai là Nguyễn Đa Phơng rất giỏi võ nghệ Sau cả quá trình học

võ và sống cùng nhau, Hồ Quý Ly và Nguyễn Đa Phơng đã kết nghĩa anh em

Hồ Quý Ly có hai ngời cô đều là vợ của vua Trần Minh Tông và là mẹ của

ba vua Trần Hiến Tông, Trần Nghệ Tông và Trần Duệ Tông Nhờ đó ông đợcvua Trần Nghệ Tông rất tin yêu Vào năm 1371, Hồ Quý Ly đợc vua Trần NghệTông phong tớc Trung tuyên quốc thợng hầu, chức khu mật viện đại sứ Năm

1375, ông đợc Thợng Hoàng Trần Nghệ Tông và vua Trần Duệ Tông thăng chứctham mu quân sự Năm 1379, đợc Thợng Hoàng Trần Nghệ Tông và vua TrầnPhế Đế thăng chức Tiểu t không kiêm khu mật viện đại sứ Năm 1380, đợcthăng chức Nguyên Nhung , quản việc Hải Tây Đô thống chế Năm 1387, ônggiữ chức Đồng bình chơng sự ( là thành viên cơ quan tối cao của nhà nớc ) Năm

1395, đợc thăng Tớc Tuyên Trung vệ quốc Đại Vơng Năm 1397, ông đã ép vuaTrần Thuận Tông phải nhờng ngôi cho Trần Thiếu Đế lúc đó mới 3 tuổi Năm

1399, Hồ Quý Ly cho ngời giết vua Trần Thuận Tông, sau đó giết thêm 370 ngời

mà Hồ Quý Ly cho là thuộc phe đối nghịch với mình, bao gồm các tớng nh :

Quốc tổ Chơng Hoàng

1 "Toàn thư" - năm 1405: "Quý Ly thấy mỡnh tuổi đó 70 "

Sđd - trang 212 - Tớnh ra 1405 - 70 + 1 = 1336.

Trang 6

Năm 1400, ông đã truất ngôi vua Trần Thiếu Đế ( là cháu ngoại của HồQuý Ly ), tự lập làm vua và đặt Quốc hiệu mới là Đại Ngu, lấy niên hiệu làThánh Nguyên Từ đây nhà Hồ đợc thành lập

Nh vậy, chúng ta đã biết đợc gốc tích, thân thế của Hồ Quý Ly, cũng nhquá trình thăng chức tớc của ông theo tiến trình của thời gian

2.Triều Hồ (1400 - 1407):

Hồ Quý Ly là một nhân vật lịch sử mà hiếm có ai sánh đợc với ông từ cổchí kim Về đờng danh vọng , từng bớc ông tiến lên nắm giữ những chức vụ quantrọng trên lĩnh vực chính trị và quân sự Tuy con đờng đi đó của ông đợc xây đắpphần lớn bằng các thủ đoạn độc ác, tàn nhẫn, dựa vào quyền lực, đồng thời đổilấy cả tính mạng xơng máu của bao nhiêu con ngời, kể cả những ngời thân thíchmáu mủ ruột rà nh đứa cháu ngoại là Trần Thiếu Đế Sách “Đaị Việt Sử kí toànth” đã viết :”Đời Trần Nghệ Tông (1370 - 1372 - ND), từ chức Chi hậu tứ cụcchánh trởng , thăng lên Khu mật Viện đại sứ, lên Tiểu t không, tiến phong Đồngbình chơng sự, sau liên tiếp gia phong tới Phụ chính Thái s nhiếp chính, Khâm

Đức Hng Liệt Đại Vơng, Quốc tổ chơng hoàng , rồi thay nhà Trần đặt quốc hiệumới là Đại Ngu, trở lại họ Hồ cha đầy một năm thì truyền ngôi cho con là HánThơng ”

Nh vậy, triều Hồ trải qua 2 đời vua là Hồ Quý Ly và Hồ Hán Thơng Vàonăm 1399, sau khi đợc cha truyền ngôi Hồ Hán Thơng đã tự xng là Nhiếp tháiPhó Còn Hồ Quý Ly từ năm 1401 trở thành Thái Thợng Hoàng ) Năm 1407,nhà Minh tiến quân vào xâm lợc nớc ta Đây có thể nói là một trong những thờikì bi thơng , đen tối nhất của lịch sử dân tộc Việt Nam Quân Minh đã tìm đủmọi cách tàn nhẫn để đàn áp và bóc lột nhân dân ta dến tận cùng của sự tàn bạo

và thậm tệ Nhiều nhà văn , nhà sử học thời kì này đã dùng cây bút của mình đểlên án sâu sắc, vạch trần tội ác của quân xâm lợc Đồng thời, các ông cũng đã vẽnên một khung cảnh hiện thực đau thơng của dân tộc ta, ca ngợi tinh thần đấutranh bất khuất của những ngời con đất Việt đã ngả xuống để cứu dân cứu nớc.Nguyễn Trãi là một tiêu biểu với tác phẩm “Bình ngô đại cáo” bất tử Trong đó

có đoạn :

”N

… ớng dân đen trên ngọn lửa hung tàn,

Vùi con đỏ xuống dới hầm tai vạ,

Dối trời lừa ngời, mu gian đủ muôn ngàn kế,

Cậy binh gây hấn, tội ác cha ngot 20 năm”

Cuộc kháng chiến do nhà hồ lãnh đạo đã bị thất bại , thợng hoàng Hồ Quý

Ly , vua Hồ Hán Thơng và một loạt các đại thần của nhà Hồ đã bị nhà Minh bắt

về Trung Quốc làm tù binh Đến đây, nớc ta đã bị nhà Minh đô hộ trong vòng

20 năm (1407 - 1427) Tuy nhà Hồ chỉ tồn tại đợc vẻn vẹn cha đầy 7 năm (1400

- 1407) nhng lại là triều đại có lắm chuyện đáng lu tâm Chúng ta phải thấy đợcnhững thành tựu mà nhà Hồ đã đạt đợc qua cuộc cải cách của Hồ Quý Ly về tất

Trang 7

cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Qua đó để rút ra những hậu quả , nguyênnhân thất bại và bài học kinh nghiệm quý giá

III Tình hình xã hội Việt Nam vào cuối thế kỷ XIV :

Xã hội Đại Việt sau một thời kỳ phát triển phồn vinh từ thế kỷ XI thì

đến nửa sau thế kỷ XIV tức cuối đời Trần đã lâm vào một cuộc khủng hoảng khásâu sắc, trì trệ trên tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội Cụ thể :

1. Sự sa đoạ của tầng lớp quý tộc cầm quyền :

Tầng lớp quý tộc cầm quyền , họ là những ngời đứng đầu của mộtnớc , đáng ra họ phải hoàn thành nhiệm vụ chăm lo cho đời sống nhân dân, củng

cố và xây dựng đất nớc ngày càng phát triển Vậy mà ngợc lại , trong vơng triềuTrần , từ Trần Dụ Tông (1341 - 1369) trở đi ngày càng đi vào con đờng suy thoái.Vua quan đua nhau ăn chơi hởng lạc, không còn chăm lo đến đời sống nhân dân

nh trớc

Vua Trần Dụ Tông sai ngời “đào hồ lớn ở vờn ngự nơi hậu cung ,trong hồ chất đá làm núi , bên bờ hồ trồng thông , trúc và nhiều thứ cây khác,thêm vào đấy nào là cỏ lạ , hoa thơm , muông kỳ , chim quý Bốn mặt khaithông cho nớc sông vào Lại đào hồ khác, bắt dân chở nớc mặn chứa vào hồ đểnuôi cá , các hải sản Bắt ngời Hoả Châu chở cá sấu thả vào đấy Lại làm dãy

không lúc nào ngớt việc” Nhà vua còn “ buông tuồng vô độ , tính nghiện r ợu ,thờng sai các quan vào uống rợu cùng Ngời nào uống đợc nhiều thì đợc ban th-ởng Bùi Khoan đã dùng kế giả vờ uống hết trăm thùng rợu , đợc thởng tớc hai t

“ Cũng trong ” Khâm Định Việt Sử thông giám Cơng mục “, tập 1 , trang

638 639, Nhà xuất bản Giáo Dục Hà Nội ,1998 , nhận xét của Quốc sử quántriều Nguyễn về Dụ Tông :”Nghiện rợu, mê đàn hát , xa xỉ , làm cung điệnnguy nga , tờng vách chạm trổ , lãng phí tiền của, hoang dâm chơi bời , món gì

Dụ Tông cũng mắc Cơ nghiệp nhà Trần sao khỏi suy đợc “ Từ thực tế trì trệ nhvậy của một ông vua cũng quá đủ để cảnh báo rằng một triều đình thối nát sắpsuy sụp

Bọn quý tộc , quan lại cũng bắt quân dân xây dựng dinh thự , chùachiền , hát xớng , chơi bời phóng túng Những kẻ bất tài nhng khéo theo chiềugió , nịnh bợ đều đợc thăng quan tiến chức , làm cho kỉ cơng triều chính rốiloạn Việc Chu Văn An – quan T Nghiệp Quốc tử giám dâng sớ xin chém bảytên nịnh thần không đợc đã trả ấn từ quan là một bằng chứng

Trong nội bộ tầng lớp quý tộc cầm quyền chia bè phái , mâu thuẫn ,giết hạilẫn nhau để tranh dành địa vị , quyền lực ngày càng khốc liệt Điển hình là vụmột số quý tộc đại thần nhà Trần nh Thái Bảo Trần Nguyên Hàng , Thợng tớngquân Trần Khát Chân mu giết Hồ Quý Ly nhng không thành công , cuối cùng bị

Hồ Quý Ly giết chết cùng với hơn 370 quan lại quý tộc khác Cuộc thanh trừnglẫn nhau diễn ra “hết năm này qua năm khác”( “Cơng mục” – sđd , tập 1, tr 705 Cuộc thanh Trừng này diễn ra vào năm 1399 )

Trang 8

Trên đây là hiện thực của cuộc ăn chơi sa đoạ, đời sống hởng lạc,thoái hoá của giới quý tộc cầm quyền trong vơng triều Trần, từ vua cho đến quan

đợc tình thế , kết cục cuối cùng triều Trần đã sụp đổ và nhờng vị trí đó cho mộtvơng triều mới lên thay thế

2 Đời sống cực khổ và phong trào khởi nghĩa của nhân dân:

Hậu quả của những cuộc ăn chơi sa đoạ, hởng lạc, không chăm lo

đến việc phát triển đất nớc của giới vua quan, quý tộc đã làm cho cuộc sống củanhân dân trăm họ lầm than , khổ cực Để tiến hành các cuộc “chinh phạt” các n-

ớc Ai Lao , Champa , triều Trần đã ra sức huy động sức ngời , sức của của nhândân , buộc nông dân nghèo phải bỏ ruộng đồng Đồng thời, từ đầu thế kỷ XIV,

do mất mùa đói kém, nông dân đã phải bán vợ đợ con, bán mình làm nô tỳ chocác quý tộc, địa chủ giàu có Lợi dụng tình trạng khốn cùng đó của nông dân,bọn chúng đã xâm chiếm hoặc mua rẻ ruộng đất, mở rộng điền trang, tăng thêm

số ngời làm Nhiều nhà chùa cũng trở thành chủ đất lớn với rất nhiều điền nô Đời sống của nhân dân càng trở nên đói kém không chỉ vì bị bóclột, bị chiến tranh mà còn phải hứng chịu những trận thiên tai hoành hành Donhà nớc không còn sức quan tâm đến sản xuất nông nghiệp, sửa đắp và bảo vệcác công trình thuỷ lợi, đê điều Cho nên , trong nửa sau thế kỷ XIV đã có 9 lần

đê vỡ, lụt lớn, 11 lần hạn hán Cụ thể, có những năm vừa lũ lụt vừa hạn hán nh :

cho đến năm 1379 đã có hơn 10 nạn đói lớn, ngân quỹ trống rỗng, nhà nớc nhiềulần cho nhà giàu nộp tiền, thóc để nhận quan tớc nhng không giải quyết nổi nạn

đói và thiếu thốn Đời sống điêu đứng của ngời dân đợc phản ánh rất rõ qua mấycâu thơ của tớng quốc triều Trần Trần Nguyên Đán:

Dịch nghĩa: “Năm nay hè hạn, thu nớc to,

Mạ thối lúa khô hại biết bao

Đọc sách triệu trang mà bất lực

Bạc đầu xin phụ nổi thơng dân ”

Còn trong bức th của Thái học sinh Nguyễn Phi Khanh gửi cha,viết:

”Ruộng lúa ngàn dặm đỏ nh cháy

Đồng quê than vãn trông vào đâu

L

… ới chài quan lại còn vơ vét

Máu thịt nhân dân cạn nửa rồi.”

Có “áp bức thì có đấu tranh”, “tức nớc thì vỡ bờ”, khi cụôc sống của ngờidân đã đến mức bần cùng, không còn con đờng nào khác là họ phải vùng dậy

đấu tranh Đây cũng chính là nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn xã hội sâu sắc vàphong trào khởi nghĩa nông dân cuối thế kỷ XIV Năm 1343, do đại hạn, mấtmùa, dân nghèo đã nổi dậy khắp nơi Năm 1344, khởi nghĩa của Ngô Bệ nổ ra ở

Trang 9

Yên Phụ ( Hải Dơng ) đánh phá nhà của bọn địa chủ, quan lại Cuộc khởi nghĩa

đã bị đàn áp nhng 14 năm sau, năm 1357 – 1358 nghĩa quân của Ngô Bệ lạibùng lên ở Yên Phụ, Yết Bảng với khẩu hiệu “chấn cú dân nghèo”, chống lạiquân triều đình Nghĩa quân làm chủ cả một vùng rông lớn thuộc huyện Chí Linh( Hải Dơng ), chiến đấu cho đến năm 1360 mới bị dập tắt Năm 1354, khởi nghĩacủa một ngời tên Tề tự xng là cháu ngoại của Trần Hng Đạo đánh vào vùng LạngGiang ( Bắc Giang ) Năm 1379, cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Thanh ở ThanhHoá Đầu năm 1390, nhà s Phạm S Ôn phất cờ khởi nghĩa ở Quốc Oai ( HàTây) Năm 1399, cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Nhữ Cái nổ ra ở vùng Sơn Tây,

đấu tranh rất đông đảo, chủ yếu là nông dân nghèo, nông nô, nô tỳ trong các

điền trang của vơng hầu, quý tộc Trần Các cuộc khởi nghĩa mặc dù bị đàn áp

đẫm máu nhng phần nào nói lên đợc tinh thần chiến đấu, sức kháng cự của nhândân là rất mãnh liệt Điều đó cũng đồng nghĩa với việc chứng tỏ từ cuối thế kỷXIV, xã hội Việt Nam đã bớc vào cuộc khủng hoảng, suy thoái của vơng triềuthống trị, những mâu thuẫn sâu sắc trong chế đọ ruộng đất và nông nghiệp đơngthời

3.Sự bất lực của triều Trần trớc các cuộc xâm lợc,yêu sách của nớc ngoài:

Từ đầu những năm 60 của thế kỷ XIV, nớc Champa hùng mạnh thờngxuyên đem quân lên đánh phá các vùng biên giới phía Nam Đại Việt và cũng đã

có vài ba lần tiến quân đánh phá kinh thành Thăng Long , vua Trần phải đi lánhnạn Quân Champa đã cuớp phá nhà cửa , kho tàng , đốt cung điện rôì rút về Cũng đã có nhiều lần nhà Trần đem quân chống lại quân Champa nhng không ítlần bị thất bại Cụ thể: vào năm 1376, nhân dân Champa đánh ra Hoá Châu, TrầnNghệ Tông cùng con là Trần Thuận Tông kéo đại quân đánh vào Champa Quândân Nghệ An, Tân Bình, Thuận Châu, Hoá Châu đợc lệnh chuyên chở lơng thực

đi theo Vua Chế Bồng Nga của Champa đã trá hàng và dụ cho quân Trần vào

đến kinh đô thành Trà Bàn rồi phục kích tiêu diệt nhanh chóng Kết cục vua TrầnDuệ Tông tử trận, Ngự câu Vơng Húc đầu hàng Năm 1378, quân của Hồ Quý

Ly đã đánh bại quân Champa khi chúng đánh ra Nghệ An Năm 1383, trong quátrình chiến đấu đã bị thua trận, tớng Lê Mật Ôn bị chết, vua Trần Nghệ Tôngphải rời kinh thành lên Đông Ngàn (Bắc Ninh), chỉ còn tớng Nguyễn Đa Phơng

ở lại trấn giữ Riêng trận đánh tháng 10/1389 do Hồ Quý Ly chỉ huy khi quânChampa đánh ra Thanh Hoá đã bị thua , hơn 70 tớng bị chết Nh vậy, cuộc chiếntranh với Champa vừa nói lên sự suy yếu của nhà Trần vừa gây thêm nhiều khókhăn cho triều đình và nhân dân đơng thời Cuộc khủng hoảng xã hội càng thêmtrầm trọng

Lợi dụng sự suy yếu của nhà Trần, vào năm 1384, quân Minh đã kéo quânvào đánh Vân Nam, bắt nhà Trần phải cung cấp lơng thực cho chúng Vua Trầnbuộc phải cho ngời vận chuyển 5000 thạch lơng lên nộp Năm 1388, nhà Minhsai sứ sang đòi ta nộp các thứ quả ngon vật lạ và mợn đờng đi đánh Champabằng cách bắt nhà Trần nộp 50 thớt voi Năm 1395, nhà Minh bắt ta nộp 50 convoi, 50 vạn hộc lơng Tất cả những đòi hỏi nhằm thực hiện âm mu xâm lợc của

Trang 10

nhà Minh diễn ra liên tục cho đến đầu thế kỷ XV.Trớc tình hình nh vậy, triềuTrần đành bất lực, không còn đủ khả năng để tổ chức, lãnh đạo nhân dân khángchiến chống lại giặc ngoại xâm Vì thế, nớc ta đã rơi vào tay nhà Minh, chịu sự

đàn áp dã man của bọn cớp nớc

Tóm lại, xã hội Đại Việt cuối thế kỷ XIV đang lâm vào một cuộc khủnghoảng sâu sắc, chính quyền thì suy yếu, bọn nịnh thần chuyên quyền, dòng họthống trị phân tán, sa đoạ, kinh tế nhà nớc sa sút nghiêm trọng Tất cả những

điều đó đã dẫn đến lục đục trong nội bộ nh chia thành phe phái, còn nông dân thìnổi dậy khởi nghĩa khắp nơi Trong lúc đó lại bị sự chống phá của Champa và

âm mu xâm lợc của giặc ngoại xâm nhà Minh (Trung Quốc) Hậu quả là đờisống của nhân dân ngày càng khổ cực, còn triêù chính thì rối ren, tài chinh kiệtquệ Đây chính là những tiền đề dẫn đến cuộc cải cách cuả Hồ Quý Ly nhằm cứuvớt tình hình đang bị khủng hoảng

4.Thiết chế chính trị thời Trần :

Theo ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu lịch sử Việt Nam cổ, trung đại thìchế độ phong kiến Việt Nam bớc vào quá trình phong kiến hoá từ thế kỷ X Quátrình đó đã diễn ra liên tục từ thế kỷ X, đợc đẩy mạnh từ thế kỷ XI – XIV dớithời Lý – Trần và đợc xác lập vào nửa cuối thế kỷ XV, sau cải cách của LêThánh Tông

Đặc điểm của chế độ quân chủ thời Lý – Trần là chế độ quân chủ qúy tộc

và đa đến sự phát triển mạnh mẽ quan hệ bóc lột nông nô, nô tỳ trong xã hội.Vào nửa cuối thế kỷ XIV, sau một thời gian phát huy đợc mặt tích cực đối với sựphát triển kinh tế, ổn định xã hội thì vào cuối thời Trần, quan hệ bóc lột đó đăbộc lộ mặt tiêu cực, làm cho đời sống của nhân dân hết sức khổ cực, từ đó dẫn

đến mâu thuẩn xã hội sâu sắc và nổ ra phong trào nông dân khởi nghĩa rầm rộkhắp đất nớc Điều đó chứng tỏ thiết chế chính trị quân chủ quý tộc và và quan

hệ bóc lột nông nô, nô tỳ vào cuối thế kỷ XIV đã lâm vào tình trạng khủnghoảng, kìm hãm sự tiến hoá của xã hội Đại Việt, làm cho quá trình phong kiếnhoá trong xã hội tiến tới xác lập một thể chế quân chủ quan liêu chuyên chế, mộtnhà nớc phong kiến trung ơng tập quyền thống nhất và mạnh, một quan hệ sảnxuất địa chủ, nông dân lệ thuộc thống trị trong nền kinh tế bị cản trở

Vì vậy, đất nớc muốn vợt qua cuộc khủng hoảng cuối thế kỷ XIV, đòi hỏiphải cải cách Muốn vậy phải có một nhà nớc trung ơng tập quyền vững mạnh,

có đủ khả năng thực hiện cuộc cải cách, lãnh đạo dân tộc đánh thắng giặc ngoạixâm.Yêu cầu trớc tiên là phải gạt bỏ những quý tộc thời Trần bảo thủ ra khỏi bộmáy điều hành đất nớc, xoá bỏ kinh tế điền trang, giải phóng sức lao động củanông nô, nô tỳ Một bộ phận trong quan hệ sản xuất phong kiến lúc bấy giờ đãtrở nên lạc hậu, xoá bỏ nền quân chủ quý tộc không còn phù hợp với xu thế pháttriển của đất nớc, xây dựng một nhà nớc quân chủ quan liêu với quan hệ sản xuất

địa chủ tá điền chiếm địa vị và u thế trong xã hội

Từ giữa thế kỷ XIV đã xuất hiện t tởng cải cách trong một số quan liêu –nho sĩ mà đại diện là Lê Quát, Phạm S Mạnh đòi hỏi thay đổi thiết chế chính trị

Trang 11

theo mô hình chế độ quân chủ quan liêu của Nho giáo nhng đã bị các vua Trần

Dụ Tông (1341 – 1369) và Trần Nghệ Tông (1370 – 1372) bác bỏ

Cuộc đấu tranh giữa hai khuynh hớng t tởng và giữa hai thế lực đã diễn ralúc âm thầm, lúc quyết liệt liên tục suốt 30 năm (1371 – 1400) Đó là khuynhhớng bảo thủ quân chủ quý tộc của tầng lớp quý tộc tôn thất nhà Trần và khuynhhớng dân chủ tập trung quan liêu nho sĩ mà đại diện là Hồ Quý Ly.Cuối cùng,khuynh hớng dân chủ tập trung quan liêu của lực lợng quan liêu nho sĩ do HồQuý Ly tiến hành đã thực hiện một cuộc cải cách trên tất cả các mặt của đờisống kinh tế – xã hội Mặc dù cuộc cải cách đã thành công một cách hạn chếsong nó đã góp phần vào việc giải quyết tình trạng đất nớc cuối triều Trần, thấy

đợc vai trò của Hồ Quý Ly và rút ra nhiều bài học kinh nghiệm sâu sắc chonhững cuộc cải cách sau này

IV.Cuộc cải cách của Hồ Quý Ly:

Sau khi lên làm vua, Hồ Quý Ly đã tiến hành một cuộc cải cách đất nớctrên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội:

1.Cải cách về chính trị, quân sự, và luật pháp:

a) Về chính trị:

Từ năm 1375, Hồ Quý Ly đã đề nghị xoá bỏ chế độ lấy ngời tôn thất làmcác chức chỉ huy quân sự cao cấp, định lại số quân, đa lực lợng trẻ vào:”chọn cácquan viên, ngời nào có tài năng, luyện tập võ nghệ, thông hiểu thao lợc thì không

cứ là tôn thất, đều cho làm tớng coi quân”.Năm 1378, trong số 16 chỉ huy các

đạo quân ở trung ơng, thì 12 ngời không phải là tôn thất nhà Trần Hồ Quý Ly đãloại bỏ dần tầng lớp quý tộc tôn thất nhà Trần khỏi bộ máy chính quyền trung -

ơng, thay thế dần bằng tầng lớp nho sĩ trí thức có t tởng cải cách Đa Nguyễn ĐaPhơng làm tớng quân, Phạm Cự Luận làm Đô sự rồi thăng đến chức Thiêm ThKhu mật viện sứ, tâu với Thợng Hoàng Nghệ Tông giết Trần Phế Đế (1388), giếtTrang Định vơng Ngạc giữ chức Thái uý (1391) và lần lợt, chỉ trừ các quan lại, t-ớng lĩnh cao cấp khác là quý tộc tôn thất nhà Trần: Trần Ngọc Cơ, Trần Ngọc

Năm 1397, Hồ Quý Ly cho đổi trấn Thanh Hoá làm trấn Thanh Đô, trấn

định cơ chế làm việc :”lộ coi phủ, phủ coi châu, châu coi huyện Phàm nhữngviệc hộ tịch, tiền thóc, kiện tụng đều làm gộp một sổ của hộ, đến cuối năm báolên sảnh để làm bằng mà kiểm xét”.Khu vực quanh kinh thành Thăng Long đợc

đổi gọi là Đông Đô lộ do phủ cai quản.Sau đó Hồ Quý Ly dời đô vào An Tôn( Tây Đô ) Chế độ Thái Thợng hoàng tạm bãi bỏ nhng đến khi nhà Hồ thành lập,năm 1401, Hồ Quý Ly nhờng ngôi cho con là Hồ Hán Thơng và tự xng la TháiThợng Hoàng

Nh vậy, từ tháng 02/1400 nhà Trần hoàn toàn bị sụp đổ, chính quyềnchuyển sang tay họ Hồ Hồ Quý Ly đã đặt lệ cử quan ở Tam Quán và Nội nhân

đi vê các lộ thăm hỏi cuộc sống của nhân dân và tình hình quan lại để thăng,giáng Năm 1402, nhà Hồ xuất quân đánh Champa, vua Champa sợ hãi dâng nộp

Ngày đăng: 20/12/2012, 10:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w