CHƯƠNG 5 Ket noi com kho tài liệu miễn phí MỤC LỤC 1MỤC LỤC 2MỞ ĐẦU 3CHƯƠNG 1 3TÌM HIỂU CHUNG VỀ ĂN MÒN 4CHƯƠNG 2 4PHÂN LOẠI ĂN MÒN 42 1 Theo vị trí của quá trình ăn mòn 42 2 Theo hình thái 62 2 Các n[.]
Trang 1MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
MỞ ĐẦU 2
CHƯƠNG 1 3
TÌM HIỂU CHUNG VỀ ĂN MÒN 3
CHƯƠNG 2 4
PHÂN LOẠI ĂN MÒN 4
2.1 Theo vị trí của quá trình ăn mòn 4
2.2 Theo hình thái 4
2.2.Các nguyên nhân gây ăn mòn 6
CHƯƠNG 3 10
CÁC PHƯƠNG PHÁP BẢO VỆ CHỐNG ĂN MÒN 10
3.1 Vật liệu chống ăn mòn 10
3.1.1 Vật liệu phi kim: 10
3.1.2 Hợp kim chống ăn mòn (CRAs): 10
3.1.3 Thép không rỉ martansiric: 10
3.1.4 Thép không rỉ Austenic: 11
3.1.5 Thép không rỉ Duplex: 11
3.1.6 Thép hợp kim cao nickel: 11
3.2 Lớp phủ chống ăn mòn 11
3.2.1 Lớp phủ cho bề mặt ngoài: 12
3.2.2 Lớp phủ tại điểm nối: 14
3.2.3 Lớp phủ bề mặt bên trong của đường ống: 15
3.3 Sử dụng chất ức chế 15
3.3.1 Chất ức chế chủ động: 16
3.3.2 Chất ức chế thụ động: 16
3.3.3 Chất diệt vi sinh 17
3.4 Phương pháp bảo vệ Cathod 17
KẾT LUẬN 20
TÀI LIỆU THAM KHẢO 21
Trang 2MỞ ĐẦU
Nghành khai thác và chế biến dầu khí là một nghành quan trọng trongnền kinh tế quốc dân Việc khai thác và vận chuyển phần lớn dựa vào các hệthống ống dẫn từ ngoài khơi vào đất liền Nó đóng vai trò như mạch máulưu thông cho dàn khai thác và nhà máy chế biến Do đó việc vận hành vàđảm bảo vận hành thông suốt cho hệ thống là một yêu cầu bức thiết Mộtnguyên nhân gây đau đầu các kỹ sư vận hành là sự ăn mòn Việc bảo vệ vàphát hiện hiện tượng ăn mòn là yêu cầu số một
Trong đề tài tiểu luận này nhóm nêu ra những nguyên nhân chủ yếu và cácbiện pháp chống ăn mòn.gồm 3 chương:
Chương 1: Tìm hiểu chung về ăn mòn
Chương 2: Phân loại ăn mòn
Chương 3: Các phương pháp bảo vệ chống ăn mòn
Trang 3CHƯƠNG 1 TÌM HIỂU CHUNG VỀ ĂN MÒN
Trước tiên, chúng ta có thể hiểu ăn mòn kim loại là sự tự phá huỷ kim loại do tác dụng hoá học và điện hoá học của nó với môi trường bên ngoài Hoặc một định nghĩa ăn mòn kim loại là sự phá huỷ tự phát các kim loại gây
ra bởi các quá trình hoá học hoặc điện hoá học xảy ra trên bề mặt kim loại tiếp xúc với môi trường ngoài (vd khí quyển, nước biển, môi trường phản ứng, vv.)
Dạng ăn mòn kim loại phổ biến nhất là gỉ sắt Gỉ sắt (có thành phần
Fe2O3.nH2O) không bền và xốp nên không bảo vệ được sắt khỏi bị ăn mòn Hằng năm khoảng 10% kim loại khai thác được bị ăn mòn, không sử dụng được Có thể chống sự ăn mòn kim loại bằng cách sơn, tráng men, tạo màng bảo vệ, mạ một lớp kim loại khó bị ăn mòn như crom, niken hoặc bằng cách
sử dụng protectơ
Hiện tượng ăn mòn là một loại hư hỏng của hệ thống đường ống, nóchiếm khoảng 20-25% những sai hỏng được ghi nhận, và thường rất nguyhiểm Các biện pháp đo đạc cần được thực hiện thường xuyên để ngăn chặnquá trình ăn mòn hoặc dừng sử dụng khí phát hiện nguy hiểm để tránh thảmhoạ Những hư hỏng do tác động của ngoại lực như hoạt động đào đắp, neogiữ, lắp đặt không đúng hay lỗi vật liệu được đánh giá quan trọng hơn Tuynhiên, hệ thống ống khi bị ăn mòn sẽ giảm khả năng chống chịu lại nhữngngoại lực trên hay làm nghiêm trọng thêm những điểm yếu trong vật liệuhoặc kết cấu Ngăn chặn quá trình ăn mòn cần được quan tâm đến trong toàn
bộ quá trình: từ thiết kế, lắp đặt, thử nghiệm và trong suốt thời gian hoạtđộng Một khi quá trình ăn mòn đã xảy ra, việc giảm thiểu tác động của nólên sự toàn vẹn của hệ thống là rất khó khăn
Thường sự tách biệt giữa dự án và vận hành gây khó khăn cho việckiểm soát ăn mòn Dự án thường cố gắng trong việc tạo ra một hệ thốngđường ống có khả năng làm việc trong khung thời gian và tài chính cầnthiết Như vậy, quá trình vận hành có thể phải nhận một hệ thống không tối
ưu và chi phí chống ăn mòn rất cao Luôn luôn tồn tại một cân bằng giữanguồn vốn và chi phí vận hành, do đó cần phải phân tích cẩn thận để lựachọn phương pháp chống ăn mòn để đạt được cân bằng kinh tế tốt nhất Khókhăn lớn nhất trong việc đánh giá về kinh tế là sự không chắc chắn về tuổithọ và quá trình hoạt động của nó Thông thường chi phí cho việc chống ănmòn chiếm khoảng 10-20% tổng vốn dự án và 0,3-0,5% chi phí vận hành
Trang 4CHƯƠNG 2 PHÂN LOẠI ĂN MÒN 2.1 Theo vị trí của quá trình ăn mòn
Hiện tượng ăn mòn đường ống được chia làm 2 loại là ăn mòn bêntrong và ăn mòn bên ngoài
- Quá trình ăn mòn bên trong phụ thuộc vào việc hoạt động củađường ống, được chia thành những loại sau :
+ Ăn mòn ngọt: Gây ra bởi sự hiện diện của carbondioxide tantrong lưu chất, hay còn gọi là ăn mòn carbonic acid, chủ yếu là ăn mòn cục
- Quá trình ăn mòn bên ngoài chủ yếu là quá trình ăn mòn điện hoá
2.2 Theo hình thái
- Ăn mòn cục bộ: Dạng ăn mòn rất thông thường, nó là quá trình ănmòn diễn ra do những biến đổi của điều kiện môi trường Quá trình này dễkhống chế và ngăn chặn Tuy nhiên có thể khó khăn trong việc xác định vịtrí đo đạc
- Ăn mòn lỗ: Sự khác biệt giữa ăn mòn cục bộ và ăn mòn lỗ đôi khigây nhầm lẫn Ăn mòn lỗ thật sự là do những vị trí ăn mòn cô lập hoàn toàn,phần lớn kim loại xung quang không bị ảnh hưởng Đối với thép carbon,những lỗ này có khuynh hướng lớn lên theo hình bán cầu và vài lỗ chồnglên nhau tạo ra vùng ăn mòn lớn hình vỏ sò Đối với thép hợp kim chống ănmòn, những lỗ này thường có đường kính nhỏ nhưng ăn sâu và thường tạothành cụm
- Dạng Intergranular (nổi sần sùi) rất ít gặp đối với thép carbon trừ khi
có sự không đồng nhất tại những vị trí có mối hàn, thường gây ra dosulphide và nitrate, nhưng loại thép hợp kim rất nhạy cảm với loại ăn mònnày
- Ăn mòn kết hợp với ứng suất gây nứt gãy: một dạng ăn mòn mở
Trang 5rộng rất nguy hiểm, có thể hạn chế và ngăn chặn bằng cách cẩn thận vàđúng đắn trong việc lựa chọn vật liệu, lắp đặt và vận hành Quá trình ăn mòndiễn ra có sự kết hợp của ứng suất xuất hiện và tình trạng đặc biệt của môitrường Thép đường ống có thể bị nứt trong môi trường chua (Hydrogensulphide) hoặc đất có chứa nhiều carbonate Hợp kim chống ăn mòn có thể
bị nứt trong môi trường chloride
- Nổi bọt: xuất hiện trong môi trường chua, do có cấu trúc kim loạikhông đồng nhất trong thép, chủ yếu xảy ra trong các bồn chứa Phản ứng
ăn mòn giải phóng hydrogen nguyên tử và một số có thể xâm nhập vào cấutrúc của thép, sau đó kết hợp tạo thành phân tử khí hydrogen Khí này dokhông thể thoát ra nên tập trung lại tạo nên áp suất cao gây ra những bọtxuất hiện trên bề mặt
- Ăn mòn mỏi: ít xảy ra ở đường ống Bất cứ sự tạo thành ứng suất cótính chu kỳ nào cũng trở nên nguy hiểm nếu có sự hiện diện của tác nhân ănmòn Môi trường có sulphide đặc biệt nguy hiểm đối với loại này
- Ăn mòn ngọt: Lý do chính cần phải đánh giá về ăn mòn trong hệnhiều pha chính là việc vận chuyển khí chưa xử lý, khí ẩm, khí-lỏng với hệthống ống ngoài khơi Đặc biệt với việc phát triển hệ thống mỏ vệ tinh, cácloại khí không được xử lý ngay mà được vận chuyển đến một trung tâm xử
lý riêng, có thể trên bờ hoặc ngoài khơi Do vậy yếu tố cần xem xét ở đây làđường ống có thể làm với loại thép carbon thường hay phải thiết kế với loạivật liệu chống ăn mòn đắt hơn rất nhiều
Ăn mòn ngọt chủ yếu ở dạng ăn mòn lỗ và ăn mòn cục bộ, vị trí đáycủa đường ống chịu ảnh hưởng mạnh nhất Bề mặt kim loại được bao phủbởi một lớp filmsiderite nhưng thường xuyên bị phá vỡ cục bộ, tại những vịtrí lớp film bị phá vỡ quá trình ăn mòn diễn ra nhanh hơn nhiều so vớinhững khu vực có lớp film ổn định
Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình ăn mòn ngọt:
- Lượng nước hiện diện trong dầu, khí
- Diện tích kim loại tiếp xúc với nước
- Hiện diện của H2S
- Hàm lượng muối chlorite (hàm lượng muối lớn làm tăng tốc độ ăn mònnhưng nhanh chóng được bão hoà)
Đối với hệ dầu - nước: Khi tỷ lệ nước trong dầu ít, và vận tốc di chuyển
Trang 6của dầu đủ lớn, nước bị cuốn theo dòng chảy của dầu và không thấm ướt bềmặt thép nên không xảy ra quá trình ăn mòn Khi vận tốc thấp hơn giá trịđịnh mức, nước và dầu tách rời và bắt đầu xảy ra sự ăn mòn.Vận tốc này cóthể ướt tính dựa trên nhiều yếu tố như sức căng bề mặt của dầu và nước, độnhớt… đối với phần lớn loại dầu thô, vận tốc này khoảng 0,8m/s.
Lượng nước giới hạn có thể mang theo dầu trước khi trở thành pha liêntục được ước tính tuỳ theo loại và bản chất của dầu, khoảng 20-30% nướctrong dầu thì không tạo ra quá trình ăn mòn
Đối với hệ khí - lỏng: Trên 600C sự hiện diện của CO2 dẫn đến sự hìnhthành lớp carbonate bảo vệ, ngăn chặn quá trình ăn mòn tiếp diễn, tuy nhiênlớp này dễ bị xói mòn, nếu tốc độ xói mòn thấp, thép sẽ tạo ra lớp carbonatekhác để thay thế Tuy nhiên khi vận tốc xói mòn cao, lớp carbonate thay thếkhông hình thành kịp thời, quá trình ăn mòn xảy ra, hiện tượng nàygọi là ăn mòn - xói mòn (erosion - corrosion)
Từ những kinh nghiệm thực tế, vận tốc dòng chảy có thể đạt đến 20m/s,trên mức này mới bắt đầu nguy hiểm, tuy nhiên còn phụ thuộc vào nhiềuyếu tố gây nhiễu loại như mối hàn, đoạn nối (join), gờ nổi và đoạn cong
2.2.Các nguyên nhân gây ăn mòn
- Ăn mòn do vật rắn trong đường ống: Sự hiện diện của những chấtrắn trong đường ống, đặc biệt là kim lọai, có tác động rất lớn Do nó phá vỡlớp siderite làm quá trình ăn mòn diễn ra nhanh hơn và có thể gây ra thủng
lỗ trong vài tuần, quá trình ăn mòn này gọi là ăn mòn-xói mòn Đối vớidòng chảy cho trước, hư hỏng thấy rõ nhất tại những vị trí cong hay nhữngkhu vực có dòng chảy rối cao Do đó việc kiểm tra mức độ cát trong dòngchảy tại những tốc độ khác nhau là cần thiết Một lượng nhỏ cát khoảng 3-5lb /1000lbs có thể bỏ qua, khi lượng cát lớn hơn mức độ đó cần phải cóbiện pháp giảm thiểu
Đối với đường ống dẫn khí, sự có mặt của cát cũng gây tốc độ ăn mòntăng cao và được tính toán tương tự
- Ăn mòn chua: Ăn mòn chua xuất hiện trong đường ống khi lưu chấtchứa hydrogen sulphide, mức độ của sulphide để đánh giá là chua khôngđược định nghĩa chính xác nhưng thường được chấp nhận khi áp suất riêngphần của nó là 0,05psi (0,34Kpa) Ăn mòn do sulphide gây ra có nhữngdạng sau:
+ Ăn mòn lỗ từ sự lắng đọng của cathod acid rắn
Trang 7+ Ăn mòn lỗ tại những vị trí lớp filmsulphide bị phá vỡ+ Nứt gãy do ứng suất ăn mòn sulphide
+ Nứt gãy - tạo bọt do áp suất hydro
- Ăn mòn điểm: Sulphide rắn hình thành từ phản ứng của lưu chất vớisắt trong quá trình ăn mòn hay phản ứng với những kim loại nặng trong lưuchất, chủ yếu là sắt sulphide, một ít magan sulphide (MnS) và kẽm sulphide,các sulphide rắn này trở thành cực dương so với sắt và hình thành quá trình
ăn mòn điện hoá khi cùng bám trên bề mặt Mỗi phân tử sắt sulphide chỉ cótính chất phá huỷ đối với một khối lượng nhất định kim loại, sau khi hết số
đó chúng trở nên hoạt động Điều này được giải thích một phần dựa trên sựhấp thụ H2 vào mạng tinh thể sulphide, và một phần dựa trên sự hình thànhhydroxyt bọc lớp sulphide
Trong lưu chất chua có nồng độ kim loại nặng thấp, hydrogen sulphidephản ứng với kim loại trên bề mặt hình thành lớp màn sulphide Lớp filmnày có tác dụng ngăn chặn được sự ăn mòn tiếp tục đối với các kim loại bêntrong, tuy nhiên nếu lớp film bị tróc và để lộ kim loại, tại đó sẽ hình thànhmột pin galvanic với cực âm là phần kim loại bị lộ ra, cực dương là toàn bộphần lớp film sulphide, làm tốc độ ăn mòn diễn ra rất nhanh, lớp film mớikhông có khả năng tạo thành
Trong môi truờng chua nhẹ, lớp film được tạo thành từ hỗn hợpsiderite và sắt sulphide, phần % của sắt sulphide trong hỗn hợp tăng dần khinồng độ hydrogen sulphide tăng và đạt 100% khi nồng độ hydrogensulphide đạt 100ppm, và tại nồng độ này các dạng ăn mòn khác như nứt gãy
do hydrogen hay tạo bọt trở nên nghiêm trọng Khi nồng độ sulphide thấp
nó có khả năng làm giảm ăn mòn ngọt do tăng sự dẻo dai của lớp siderite,khả năng bảo vệ này được đánh giá tốt ở nhiệt độ cao, tuy nhiên điều đókhông đáng tin cậy và có thể dẫn đến ăn mòn lỗ Những yếu tố ảnh hưởngđến sự ổn định của lớp film bao gồm nồng độ muối, chu kỳ nhiệt độ và cấutrúc kim loại
Nứt do ứng suất ăn mòn của Hydrogen sulphide: Sulphide stresscorrosion cracking (SSCC) là một dạng nứt do ứng suất ăn mòn SSCC hìnhthành do tác động làm dòn cứng kim loại của hydro, nó kết hợp tác động củaứng suất và môi trường chua lên vật liệu cứng Vấn đề này xảy ra khi acidphản ứng với kim loại giải phóng hydro tại bề mặt kim loại Hydro tạo thànhtheo các bước sau:
Trang 8- Khuếch tán các ion đến bề mặt kim loại
- Ion hydrogen nhận một electron và tạo thành nguyên tử hydrogen
- Nguyên tử hydrogen xâm nhập vào bề mặt
- Sự kết hợp của nguyên tử hydrogen tạo thành phân tử hydro
Những nguyên tử hydrogen xâm nhập vào thép và tập trung tại nhữngchỗ trống trong thép, những chỗ trống này là chỗ khuyết tật của tinh thể kimloại Phần lớn những lỗ trống xuất hiện tại những chỗ có ứng suất cao do sựtrượt lên nhau của những nguyên tử kim loại Hydrogen xâm nhập và làmthép trở nên cứng do ngăn cản quá trình giải tỏa ứng suất
Khi xuất hiện những cong - uốn cục bộ, nếu ứng suất vượt quá giá trịchuẩn, thép trở nên dòn và ứng suất lớn không được giải tỏa theo mạng tinhthể kim loại
Quá trình gãy chia thành hai giai đoạn: giai đoạn bắt đầu và lantruyền rộng, cả hai giai đoạn này đều không định lượng được
Quá trình chuẩn về mức độ của hydrogen sulphide gây ra SSCC làkhoảng 0.05psia (áp suất riêng phần)
Nứt gãy do hydrogen: Đây là một dạng tạo thành bọt, còn gọi là mộtquá trình nứt gãy do hydrogen, nứt bậc thang… Nguyên tử hydrogenkhuyếch tán vào thép và bị hấp phụ bởi mangan sulphide trong thép Tại đónhững nguyên tử hydrogen kết hợp lại tạo thành phân tử, những phân tử nàykhông thể thoát ra ngoài, tập trung lại và gây ra áp suất cao đủ để hình thànhnhững chổ nứt gây ra bên trong thép Những vết nứt nhỏ lớn dần lên và nốilại với nhau thành vết nứt lớn
Một khi quá trình HIC diễn ra, SSCC có thể thâm nhập vảo cấu trúccủa kim loại dẫn đến những vết nứt lớn hơn Đường ống bị ăn mòn dạng nàyvẫn có thể hoạt động đến khi hệ thống đường ống mới thay thế, tuy nhiênhải giảm áp suất hoạt động để giảm thiểu tốc độ ăn mòn
- Ăn mòn do nước trong đường ống: Nước thường được bơm vào
mỏ dầu để bảo đảm áp suất, đồng thời hỗ trợ trong việc hướng dầu đến mỏsản xuất Thành phần ăn mòn chính trong nước biển là oxy, nếu sử dụngnước ngầm thì không có oxy, tuy nhiên có thể có CO2 hoặc H2S và có thểdẫn đến ăn mòn ngọt hay ăn mòn chua như phần trên
Sản phẩm từ quá trình ăn mòn thép thường rất nhiều và có thể bịt kínphần bơm nước vào mỏ, oxy được loại bỏ khỏi nước nhằm giảm thiểu quá
Trang 9trình ăn mòn Nếu mỏ có dư khí có thể loại bỏ khí bằng phương pháp táchkhí (gas stripping) hoặc có thể loại bỏ khí bằng phương pháp cơ học Đốivới quá trình dùng khí tách khí, nước và khí cho chảy ngược chiều nhau.Phương pháp này có hiệu quả cao trong việc loại bỏ oxy nhưng có thể dẫnđến việc acid hoá nước nếu carbondioxyt bị hấp phụ nhiều Trong các biệnpháp loại khí bằng cơ học, nước được bơm vào áp suất chân không, quátrình này ít hiệu quả hơn so với phương pháp tách khí và đòi hỏi sự hỗ trợ
xử lý hoá học (những chất tách oxy như amonium bisulphide NH4HS)
Nước biển thường được tách khí để giảm thiểu oxy, nồng độ mongmuốn từ 5-10ppb, tuy nhiên ở một mức thấp như vậy tốc độ ăn mòn vẫndiễn ra rất nhanh
- Ăn mòn do vi sinh vật: Đường ống dẫn dầu và nước có thể chịu sự ănmòn từ quá trình phát triển của vi khuẩn khử sulphate (SRB: sulphatereducing bacteria) Loại vi khuẩn này phát triển cùng với nhiều loại vikhuẩn khác SRB là một loại vi khuẩn yếm khí, nó tận dụng nguồn acid béo
có trong nước và sử dụng oxy có trong gốc sulphate để oxi hoá các acid béo.Những vi khuẩn này kích thích hoạt động của gốc sulphide và làm tăngcường quá trình ăn mòn sulphide
Trong quá trình phát triển của vi khuẩn, pH môi trường tăng cao
do sulphide kết hợp với nước tạo thành hydrogen sulphide, acid này dichuyển và tạo ra môi trường acid ở nơi khác Do đó mặc dù vi khuẩn pháttriển ở một nơi nhưng có thể gây ra những vấn đề ở nơi khác
- Ăn mòn điện hoá: Ăn mòn điện hóa là một hiện tượng hoá học có liênquan chặt chẽ đến kim loại, quá trình ăn mòn xảy ra trong môi trường điện
ly, tức là có sự hiện diện của nước như nhũ tương dầu, nước muối… Ănmòn điện hoá chỉ xảy ra chủ yếu tại bề mặt bên ngoài của đường ống
Tại khu anot, kim loại sắt (Fe) nhường electron và tan vào trong môitrường điện ly Electron này chuyển đến khu vực cathod, tại đây nó kết hợpvới một tác nhân nào đó, ví dụ như oxy, carbonic, hydrosulphide, acid hữucơ.…
Trang 104OH-CHƯƠNG 3 CÁC PHƯƠNG PHÁP BẢO VỆ CHỐNG ĂN MÒN
Phương pháp bảo vệ chống ăn mòn đường ống bao gồm:
- Sử dụng vật liệu chống ăn mòn
- Sử dụng chất ức chế chống ăn mòn
- Bảo vệ bằng các lớp bao phủ
- Bảo vệ cathod bằng anod hy sinh
Bảo vệ bề mặt bên ngoài thường dùng các phương pháp bao phủ hoặcbảo vệ bằng cathode hay anod, bên trong thì dùng chất ức chế hay bao phủ
3.1 Vật liệu chống ăn mòn
Vật liệu chống ăn mòn bao gồm vật liệu phi kim và các hợp kimchống ăn mòn
3.1.1 Vật liệu phi kim:
Vật liệu phi kim được sử dụng nhiều do hoàn toàn không bị ăn mòn,tuy nhiên ứng dụng còn hạn chế do những nhược điểm về khoảng nhiệt độ
và áp suất hoạt động, khả năng chịu va chạm và rung động kém
Một loại vật liệu phi kim trước đây thường được sử dụng là: GRE(Reinforced Epoxy) một dạng của plastic được gia cường bằng sợi thuỷ tinh,làm đường ống trên bờ với áp suất hoạt động thấp, nhưng hiện nay chủ yếuứng dụng trong cấp thoát nước
3.1.2 Hợp kim chống ăn mòn (CRAs):
CRAs được sử dụng khi thép carbon mangan không phù hợp để sửdụng, lý do chính là do lưu chất vận chuyển quá ăn mòn đối với thép carbonthường cho dù đã có những biện pháp chống ăn mòn khác như sử dụng chất
ức chế hay lớp phủ thông thường
Các CRAs được sử dụng thay thế hoàn toàn hoặc chỉ bao phủ bề mặtống Các loại CRAs thông dụng gồm có: thép không rỉ duplex (duplexstainsless steel), hợp kim nickel, ống thép carbon mangan được phủ thépkhông rỉ austenic và một số loại vật liệu khác như titan và hợp kim của nó.Thép không rỉ được sản xuất trên cơ bản thép carbon bằng cách giảm bớtlượng carbon, thêm vào các nguyên tố không rỉ như nickel, chromium
3.1.3 Thép không rỉ martansiric: