Luận án tiến sĩ năm 2013 Đề tài: Nghiên cứu phương pháp xác lập giá xây dựng tổng hợp xây dựng công trình giao thông đường bộ trong điều kiện Việt Nam Định dạng file word MỞ ĐẦU 1. Giới thiệu về công trình nghiên cứu Đề tài “nghiên cứu phương pháp xác lập giá xây dựng tổng hợp xây dựng công trình giao thông đường bộ trong điều kiện Việt Nam” nghiên cứu cơ sở lý luận hình thành giá xây dựng công trình, các phương pháp xác lập giá xây dựng tổng hợp (trước khi Nghị định 99/2007/NĐ-CP và Nghị định 112/2009/NĐ-CP ban hành gọi là đơn giá tổng hợp) đang sử dụng hiện nay, phân tích đánh giá những tồn tại trong lập giá xây dựng tổng hợp xây dựng công trình giao thông đường bộ, từ đó bổ sung, hoàn thiện phương pháp xác lập giá xây dựng tổng hợp phù hợp với điều kiện thực tế của ngành giao thông đó là bổ sung sự ảnh hưởng của các yếu tố về địa hình, địa chất, điều kiện thi công ., sự biến động giá (chỉ số giá) để xây dựng “Bộ giá xây dựng tổng hợp xây dựng công trình giao thông đường bộ” cho từng vùng miền trong cả nước (63 tỉnh, thành phố), với các điều kiện địa hình, địa chất, điều kiện thi công khác nhau. Đề tài thiết lập các chương trình phần mềm tin học xác lập giá xây dựng tổng hợp và tra cứu giá xây dựng tổng hợp để sử dụng thuận tiện và nhanh chóng. 2. Lý do lựa chọn đề tài Một trong những lĩnh vực của cơ sở hạ tầng đang được Nhà nước ưu tiên đầu tư và phát triển hiện nay là giao thông vận tải, đặc biệt là kết cấu hạ tầng giao thông trong đó công trình giao thông đường bộ chiếm tỷ trọng đầu tư lớn nhất (khoảng 80-90%). Do giao thông vận tải đóng góp vai trò tích cực trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; mặt khác, do cơ sở vật chất của ngành đang bị xuống cấp một cách nghiêm trọng, nên đầu tư cho GTVT là một yêu cầu thiết yếu đối với nước ta hiện nay. Trong những năm qua, kết cấu hạ tầng giao thông không ngừng phát triển, nhiều công nghệ mới được áp dụng trong xây dựng công trình giao thông làm rút ngắn thời gian xây dựng và chất lượng được nâng cao. Bên cạnh đó, công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng công trình còn gặp nhiều khó khăn do chế độ chính sách, giá cả luôn thay đổi. Để giúp cho các cơ quan chức năng của Nhà nước quản lý một cách có hiệu quả chi phí đầu tư xây dựng công trình, ngoài hệ thống định mức dự toán xây dựng công trình do Nhà nước (Bộ Xây dựng) công bố, ngành GTVT còn cần có một hệ thống giá xây dựng tổng hợp của ngành phù hợp điều kiện khác nhau của từng vùng. Giá xây dựng tổng hợp là cơ sở để xác định nhu cầu vốn cho công tác lập chiến lược, quy hoạch, xây dựng kế hoạch phát triển kết cấu hạ tầng giao thông, quản lý tốt công tác xây dựng cơ bản, sử dụng một cách có hiệu quả vốn đầu tư. Đối với công trình giao thông đường bộ, việc xác lập giá xây dựng tổng hợp còn một số vấn đề cần phải hoàn thiện, trong đó có vấn đề vận dụng phương pháp chung để xác lập giá xây dựng tổng hợp xây dựng công trình giao thông đường bộ theo các điều kiện cụ thể của từng vùng trong cả nước (điều kiện địa hình, địa chất, thủy văn ). Xuất phát từ thực tế trên, đề tài “nghiên cứu phương pháp xác lập giá xây dựng tổng hợp xây dựng công trình giao thông đường bộ trong điều kiện Việt Nam” sẽ phần nào giải quyết được những vấn đề đã và đang đặt ra và mang tính cấp thiết đối với quản lý đầu tư xây dựng trong giai đoạn hiện nay ở nước ta. 3. Mục đích nghiên cứu của luận án Mục đích nghiên cứu của luận án là hoàn thiện phương pháp, xác lập giá xây dựng tổng hợp xây dựng công trình giao thông đường bộ cho từng vùng miền (63 tỉnh, thành phố) trong điều kiện Việt Nam. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu của luận án Luận án lấy sự hình thành giá xây dựng tổng hợp xây dựng công trình giao thông đường bộ (tính cho 1 đơn vị chiều dài đường bộ) làm đối tượng nghiên cứu nhằm hoàn thiện phương pháp và lập (xây dựng) giá xây dựng tổng hợp xây dựng công trình giao thông đường bộ phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam. 4.2. Phạm vi nghiên cứu của luận án Hệ thống giao thông đường bộ Việt Nam bao gồm cầu, đường các cấp: đường cao tốc, đường cấp I đến cấp VI (hệ thống đường quốc lộ, đường tỉnh chủ yếu là đường cao tốc, đường cấp I đến cấp V), đường giao thông nông thôn (A, B). Xây dựng công trình đường bộ có xây dựng mới, cải tạo nâng cấp, bao gồm các hạng mục công tác như nền, mặt đường, cống, tường chắn, ta luy Trong những hạng mục công tác trên có những hạng mục cố định (nền, mặt đường), có những hạng mục thay đổi tùy thuộc vào địa hình, điều kiện tự nhiên như: cống, tường chắn, ta luy (chiếm tỷ trọng nhỏ trong chi phí đầu tư xây dựng đường bộ). Tuy nhiên với khả năng thực tế cũng như mục tiêu của đề tài, phạm vi nghiên cứu của luận án được giới hạn trong xây dựng mới công trình đường bộ (gồm nền và mặt) cho đường từ cấp I đến cấp V 5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài Luận án đã đưa ra cách tiếp cận, cách nhìn tổng thể, toàn diện, đồng thời làm sáng tỏ một số vấn đề có ý nghĩa cả về khoa học và thực tiễn về phương pháp xác lập giá xây dựng tổng hợp XDCT giao thông đường bộ ở Việt Nam. Cụ thể là: Thứ nhất, góp phần hoàn thiện và làm phong phú thêm hệ thống lý luận về sự hình thành giá xây dựng trong nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước. Làm sáng tỏ một số vấn đề về giá xây dựng công trình, phương pháp xác lập giá xây dựng tổng hợp công trình đường bộ ở nước ta cũng như bài học kinh nghiệm xây dựng đơn giá của một số nước trên thế giới. Thứ hai, điều tra, phân tích, đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến xây dựng công trình giao thông đường bộ tại các vùng của Việt Nam, từ đó thấy được sự ảnh hưởng của các yếu tố này đến xác lập giá xây dựng tổng hợp xây dựng công trình đường bộ. Luận án cũng đã phân tích đánh giá thực trạng việc lập và quản lý chi phí trong XDCT giao thông đường bộ, chỉ ra những thuận lợi, khó khăn trong xây dựng đơn giá. Qua đó, thấy được một số vấn đề mà ngành giao thông cần có giải pháp hoàn thiện. Đó là hệ thống định mức trong ngành giao thông (do Bộ Xây dựng công bố) thiếu nhiều hạng mục công tác cần được xây dựng mới, bổ sung sửa đổi, cần có giá xây dựng tổng hợp XDCT giao thông đường bộ phù hợp với điều kiện thực tế của ngành. Thứ ba, bổ sung một số vấn đề khắc phục những tồn tại của phương pháp chung xác lập giá xây dựng tổng hợp do Bộ Xây dựng ban hành nhằm hoàn thiện phương pháp xác lập giá xây dựng tổng hợp, tác giả luận án bổ sung một số công việc quan trọng trong trình tự lập đơn giả tổng hợp xây dựng công trình giao thông đường bộ. Đó là: (i) Nghiên cứu lựa chọn thiết kế điển hình; (ii) Bổ sung ảnh hưởng của các yếu tố về địa hình, địa chất, điều kiện thi công .; (iii) Nghiên cứu biến động giá (chỉ số giá). Thiết lập các chương trình phần mềm tin học để xây dựng “Bộ giá xây dựng tổng hợp XDCT giao thông đường bộ” cho từng vùng miền trong cả nước (63 tỉnh, thành phố), với các điều kiện địa hình, địa chất, điều kiện thi công khác nhau, phục vụ cho các cơ quan quản lý nhà nước, ngành GTVT và các doanh nghiệp làm cơ sở để xây dựng chiến lược, quy hoạch phát triển đường bộ Việt Nam, để lập kế hoạch vốn (tùy theo điều kiện địa hình địa chất cụ thể sẽ bổ sung thêm chi phí xây dựng cống, tường chắn, ta luy ) và quản lý chi phí đầu tư XDCT nhằm nâng cao hiệu quả VĐT. TỔNG QUAN VỀ “NGHIÊN CỨU PHƯƠNG PHÁP XÁC LẬP GIÁ XÂY DỰNG TỔNG HỢP XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TRONG ĐIỀU KIỆN VIỆT NAM” 1. Phân tích, đánh giá các công trình nghiên cứu đã được công bố trong và ngoài nước a. Các công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước Phương pháp xác lập giá xây dựng tổng hợp là vấn đề đã được khá nhiều tác giả nghiên cứu và đã đạt được một mức hoàn thiện nhất định. Về phương diện lý luận, từ lâu nhiều chương trình giảng dạy đại học đã đưa học phần Định mức - Dự toán vào giảng dạy [6], [16] trong đó đề cập đến nguyên lý chung xây dựng định mức kỹ thuật và phương pháp lập dự toán công trình. Phần nghiên cứu về giá tổng hợp còn chưa được đề cập đầy đủ. Các tác giả khác khi trình bày những vấn đề về kinh tế xây dựng [12], [13] cũng dành một phần của giáo trình nói về nguyên lý định giá trong xây dựng, trong đó có đề cập đến phương pháp xác lập giá xây dựng tổng hợp như là một trong những phương pháp quan trọng trong xác định tổng mức đầu tư. Tuy nhiên, vì trong khuôn khổ của một giáo trình nên phương pháp xác lập giá xây dựng tổng hợp được đề cập vẫn chỉ dừng ở phương pháp mẫu chung, việc nghiên cứu chi tiết các nhân tố hình thành giá và điều kiện kinh tế kỹ thuật xây dựng công trình tác động đến giá xây dựng tổng hợp (còn nhiều nội dung) chưa được đề cập đến đầy đủ. Đã có những luận án và đề tài nghiên cứu khoa học nghiên cứu về vấn đề hình thành giá trong xây dựng [15], [28], [21], [20], [14], [26], [27], [ 22] Các đề tài, luận án này là những công trình nghiên cứu chuyên sâu về định giá, trong đó có giá xây dựng tổng hợp trong xây dựng, có giá trị quan trọng đối với phương pháp hình thành giá trong xây dựng nói chung và đối với phương pháp xác lập giá xây dựng tổng hợp nói riêng. Tuy nhiên, trong các nghiên cứu trước hoặc là chỉ đề cập đến giá xây dựng tổng hợp của một sản phẩm cụ thể [14], hoặc là còn chưa tính đến đầy đủ những yếu tố liên quan điều kiện tự nhiên – kỹ thuật nơi công trình giao thông đi qua [21], [22]. Sự biến động giá trong kinh tế thị trường được thể hiện như thế nào trong giá tổng hợp thì hầu như còn chưa được đề cập đúng mức. Về phương diện quản lý nhà nước, các văn bản pháp quy của Chính phủ, của các Bộ quản lý ngành hoặc các tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ định giá xây dựng của Bộ TÀI LIỆU THAM KHẢO Tiếng Việt 1. Bộ Tài Chính, Thông tư số 32/2007/TT-BTC ngày 9/4/2007. 2. Bộ Xây dựng, Định mức dự toán xây dựng công trình - Phần Xây dựng (Công văn số 1776/BXD-VP ngày 16/8/2007). 3. Bộ Xây dựng, Thông tư số 04/2010/TT-BXD ngày 26/5/2010 hướng dẫn lập và quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình. 4. Bộ Xây dựng, Thông tư số 06/2010/TT-BXD ngày 26/5/2010 hướng dẫn phương pháp xây dựng giá ca máy và thiết bị thi công xây dựng công trình. 5. Bộ Xây dựng, Thông tư số 02/2011/TT-BXD ngày 22/2/2011 hướng dẫn xác định và công bố chỉ số giá xây dựng công trình. 6. Nguyễn Tài Cảnh (chủ biên) – Lê Thanh Lan (2007), Định mức kỹ thuật và Định giá sản phẩm trong xây dựng, NXB Giao thông vận tải, Hà Nội. 7. Chính phủ, Nghị định số 16/2005/NĐ-CP ban hành ngày 07/02/2005 về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình 8. Chính phủ, Nghị định số 112/2005/NĐ-CP ban hành ngày 29/9/2006 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 16/2005/NĐ-CP về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình 9. Chính phủ, Nghị định số 99/2007/NĐ-CP ban hành ngày 13/6/2007 về quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình. 10. Chính phủ, Nghị định số 112/2009/NĐ-CP ban hành ngày 14/12/2009 về quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình. 11. Nguyễn Quang Chiêu, Dương Ngọc Hải (2007), Thiết kế và tính toán các kết cấu mặt đường, NXB Xây dựng, Hà Nội. 12. Nghiêm Văn Dĩnh (2010), Giáo trình quản lý đầu tư và xây dựng giao thông, Trường Đại học Giao thông vận tải, Hà Nội. 13. Nghiêm Văn Dĩnh (chủ biên) và tập thể tác giả (2006), Kinh tế xây dựng công trình giao thông, NXB Giao thông vận tải, Hà Nội. 14. Nghiêm Văn Dĩnh (1991), Xây dựng giá xây dựng tổng hợp sản phẩm bê tông cốt thép, Trường Đại học Giao thông vận tải, Hà Nội. 15. Đặng Văn Dựa (2001), Nghiên cứu hoàn thiện phương pháp xác định giá trị dự toán, giá dự thầu và giá trúng thầu xây lắp các công trình xây dựng sử dụng vốn Nhà nước trên cơ sở thiết kế chi tiết, Luận án tiến sỹ kinh tế, Trường Đại học Xây dựng, Hà Nội. 16. Trần Thị Bạch Điệp (2006), Giáo trình định giá sản phẩm xây dựng, NXB Xây dựng, Hà Nội . 17. Bùi Anh Định, Nguyễn Sỹ Ngọc (2003), Nền và móng công trình cầu đường, NXB Giao thông vận tải, Hà Nội. 18 Doãn Hoa (2001), Thi công đường ô tô, NXB Xây dựng, Hà Nội. 19. Bùi Mạnh Hùng (chủ biên), Nguyễn Tuyết Dung, Nguyễn Thị Mai (2010), Giáo trình kinh tế xây dựng, NXB xây dựng, Hà Nội. 20. Nguyễn Công Khối (2002), Nghiên cứu hoàn thiện một số vấn đề về định giá trong xây dựng ở các công trình sử dụng vốn Nhà nước, Luận án tiến sỹ kinh tế, Trường Đại học Xây dựng, Hà Nội. 21. Trần Hồng Mai (2001), Nghiên cứu một số giải pháp nâng cao chất lượng quản lý giá xây dựng trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam, Luận án tiến sỹ kinh tế, Trường Đại học xây dựng, Hà Nội. 22. Trần Hồng Mai và nhóm tác giả (2010), Nghiên cứu phương pháp lập giá xây dựng công trình phù hợp với nền kinh tế thị trường, Đề tài NCKH, Viện Kinh tế Xây dựng – Bộ Xây dựng, Hà Nội. 23. Tiêu chuẩn thiết kế đường ô tô (2007), NXB Giao thông vận tải, Hà Nội. 24. Nguyễn Văn Thất (2010), Kinh tế xây dựng, NXB xây dựng, Hà Nội. 25. Lý Huy Tuấn (chủ biên) và tập thể tác giả (2009), Nghiệp vụ định giá xây dựng công trình giao thông, NXB Giao thông vận tải, Hà Nội.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Giới thiệu về công trình nghiên cứu
Đề tài “nghiên cứu phương pháp xác lập giá xây dựng tổng hợp xây dựng công trình giao thông đường bộ trong điều kiện Việt Nam” nghiên cứu cơ sở lý luận
hình thành giá xây dựng công trình, các phương pháp xác lập giá xây dựng tổng hợp
(trước khi Nghị định 99/2007/NĐ-CP và Nghị định 112/2009/NĐ-CP ban hành gọi
là đơn giá tổng hợp) đang sử dụng hiện nay, phân tích đánh giá những tồn tại trong
lập giá xây dựng tổng hợp xây dựng công trình giao thông đường bộ, từ đó bổ sung,hoàn thiện phương pháp xác lập giá xây dựng tổng hợp phù hợp với điều kiện thực tếcủa ngành giao thông đó là bổ sung sự ảnh hưởng của các yếu tố về địa hình, địa chất,
điều kiện thi công , sự biến động giá (chỉ số giá) để xây dựng “Bộ giá xây dựng tổng hợp xây dựng công trình giao thông đường bộ” cho từng vùng miền trong cả nước
(63 tỉnh, thành phố), với các điều kiện địa hình, địa chất, điều kiện thi công khác nhau
Đề tài thiết lập các chương trình phần mềm tin học xác lập giá xây dựng tổng hợp vàtra cứu giá xây dựng tổng hợp để sử dụng thuận tiện và nhanh chóng
2 Lý do lựa chọn đề tài
Một trong những lĩnh vực của cơ sở hạ tầng đang được Nhà nước ưu tiên đầu tư
và phát triển hiện nay là giao thông vận tải, đặc biệt là kết cấu hạ tầng giao thông trong
đó công trình giao thông đường bộ chiếm tỷ trọng đầu tư lớn nhất (khoảng 80-90%)
Do giao thông vận tải đóng góp vai trò tích cực trong quá trình công nghiệp hoá, hiệnđại hoá đất nước; mặt khác, do cơ sở vật chất của ngành đang bị xuống cấp một cáchnghiêm trọng, nên đầu tư cho GTVT là một yêu cầu thiết yếu đối với nước ta hiện nay
Trong những năm qua, kết cấu hạ tầng giao thông không ngừng phát triển,nhiều công nghệ mới được áp dụng trong xây dựng công trình giao thông làm rút ngắnthời gian xây dựng và chất lượng được nâng cao Bên cạnh đó, công tác quản lý vốnđầu tư xây dựng công trình còn gặp nhiều khó khăn do chế độ chính sách, giá cả…luôn thay đổi Để giúp cho các cơ quan chức năng của Nhà nước quản lý một cách cóhiệu quả chi phí đầu tư xây dựng công trình, ngoài hệ thống định mức dự toán xâydựng công trình do Nhà nước (Bộ Xây dựng) công bố, ngành GTVT còn cần có một
hệ thống giá xây dựng tổng hợp của ngành phù hợp điều kiện khác nhau của từngvùng Giá xây dựng tổng hợp là cơ sở để xác định nhu cầu vốn cho công tác lập chiến
Trang 2lược, quy hoạch, xây dựng kế hoạch phát triển kết cấu hạ tầng giao thông, quản lý tốtcông tác xây dựng cơ bản, sử dụng một cách có hiệu quả vốn đầu tư
Đối với công trình giao thông đường bộ, việc xác lập giá xây dựng tổng hợpcòn một số vấn đề cần phải hoàn thiện, trong đó có vấn đề vận dụng phương phápchung để xác lập giá xây dựng tổng hợp xây dựng công trình giao thông đường bộ
theo các điều kiện cụ thể của từng vùng trong cả nước (điều kiện địa hình, địa chất, thủy văn…) Xuất phát từ thực tế trên, đề tài “nghiên cứu phương pháp xác lập giá xây dựng tổng hợp xây dựng công trình giao thông đường bộ trong điều kiện Việt Nam” sẽ phần nào giải quyết được những vấn đề đã và đang đặt ra và mang tính cấp
thiết đối với quản lý đầu tư xây dựng trong giai đoạn hiện nay ở nước ta
3 Mục đích nghiên cứu của luận án
Mục đích nghiên cứu của luận án là hoàn thiện phương pháp, xác lập giá xâydựng tổng hợp xây dựng công trình giao thông đường bộ cho từng vùng miền (63 tỉnh,thành phố) trong điều kiện Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu của luận án
Luận án lấy sự hình thành giá xây dựng tổng hợp xây dựng công trình giaothông đường bộ (tính cho 1 đơn vị chiều dài đường bộ) làm đối tượng nghiên cứunhằm hoàn thiện phương pháp và lập (xây dựng) giá xây dựng tổng hợp xây dựngcông trình giao thông đường bộ phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam
4.2 Phạm vi nghiên cứu của luận án
Hệ thống giao thông đường bộ Việt Nam bao gồm cầu, đường các cấp: đườngcao tốc, đường cấp I đến cấp VI (hệ thống đường quốc lộ, đường tỉnh chủ yếu làđường cao tốc, đường cấp I đến cấp V), đường giao thông nông thôn (A, B) Xây dựngcông trình đường bộ có xây dựng mới, cải tạo nâng cấp, bao gồm các hạng mục côngtác như nền, mặt đường, cống, tường chắn, ta luy… Trong những hạng mục công táctrên có những hạng mục cố định (nền, mặt đường), có những hạng mục thay đổi tùythuộc vào địa hình, điều kiện tự nhiên như: cống, tường chắn, ta luy…(chiếm tỷ trọngnhỏ trong chi phí đầu tư xây dựng đường bộ) Tuy nhiên với khả năng thực tế cũng
như mục tiêu của đề tài, phạm vi nghiên cứu của luận án được giới hạn trong xây dựng mới công trình đường bộ (gồm nền và mặt) cho đường từ cấp I đến cấp V
Trang 35 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Luận án đã đưa ra cách tiếp cận, cách nhìn tổng thể, toàn diện, đồng thời làmsáng tỏ một số vấn đề có ý nghĩa cả về khoa học và thực tiễn về phương pháp xác lậpgiá xây dựng tổng hợp XDCT giao thông đường bộ ở Việt Nam Cụ thể là:
Thứ nhất, góp phần hoàn thiện và làm phong phú thêm hệ thống lý luận về sự
hình thành giá xây dựng trong nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước.Làm sáng tỏ một số vấn đề về giá xây dựng công trình, phương pháp xác lập giá xâydựng tổng hợp công trình đường bộ ở nước ta cũng như bài học kinh nghiệm xây dựngđơn giá của một số nước trên thế giới
Thứ hai, điều tra, phân tích, đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến xây dựng công
trình giao thông đường bộ tại các vùng của Việt Nam, từ đó thấy được sự ảnh hưởngcủa các yếu tố này đến xác lập giá xây dựng tổng hợp xây dựng công trình đường bộ
Luận án cũng đã phân tích đánh giá thực trạng việc lập và quản lý chi phí trongXDCT giao thông đường bộ, chỉ ra những thuận lợi, khó khăn trong xây dựng đơn giá.Qua đó, thấy được một số vấn đề mà ngành giao thông cần có giải pháp hoàn thiện Đó
là hệ thống định mức trong ngành giao thông (do Bộ Xây dựng công bố) thiếu nhiềuhạng mục công tác cần được xây dựng mới, bổ sung sửa đổi, cần có giá xây dựng tổnghợp XDCT giao thông đường bộ phù hợp với điều kiện thực tế của ngành
Thứ ba, bổ sung một số vấn đề khắc phục những tồn tại của phương pháp chung
xác lập giá xây dựng tổng hợp do Bộ Xây dựng ban hành nhằm hoàn thiện phươngpháp xác lập giá xây dựng tổng hợp, tác giả luận án bổ sung một số công việc quantrọng trong trình tự lập đơn giả tổng hợp xây dựng công trình giao thông đường bộ Đólà: (i) Nghiên cứu lựa chọn thiết kế điển hình; (ii) Bổ sung ảnh hưởng của các yếu tố
về địa hình, địa chất, điều kiện thi công ; (iii) Nghiên cứu biến động giá (chỉ số giá)
Thiết lập các chương trình phần mềm tin học để xây dựng “Bộ giá xây dựng tổng hợp XDCT giao thông đường bộ” cho từng vùng miền trong cả nước (63 tỉnh,
thành phố), với các điều kiện địa hình, địa chất, điều kiện thi công khác nhau, phục vụcho các cơ quan quản lý nhà nước, ngành GTVT và các doanh nghiệp làm cơ sở đểxây dựng chiến lược, quy hoạch phát triển đường bộ Việt Nam, để lập kế hoạch vốn(tùy theo điều kiện địa hình địa chất cụ thể sẽ bổ sung thêm chi phí xây dựng cống,tường chắn, ta luy…) và quản lý chi phí đầu tư XDCT nhằm nâng cao hiệu quả VĐT
Trang 4TỔNG QUAN VỀ
“NGHIÊN CỨU PHƯƠNG PHÁP XÁC LẬP GIÁ XÂY DỰNG TỔNG HỢP
XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ
TRONG ĐIỀU KIỆN VIỆT NAM”
1 Phân tích, đánh giá các công trình nghiên cứu đã được công bố trong và ngoài nước
a Các công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước
Phương pháp xác lập giá xây dựng tổng hợp là vấn đề đã được khá nhiều tác giảnghiên cứu và đã đạt được một mức hoàn thiện nhất định Về phương diện lý luận, từlâu nhiều chương trình giảng dạy đại học đã đưa học phần Định mức - Dự toán vàogiảng dạy [6], [16] trong đó đề cập đến nguyên lý chung xây dựng định mức kỹ thuật
và phương pháp lập dự toán công trình Phần nghiên cứu về giá tổng hợp còn chưađược đề cập đầy đủ Các tác giả khác khi trình bày những vấn đề về kinh tế xây dựng
[12], [13]… cũng dành một phần của giáo trình nói về nguyên lý định giá trong xâydựng, trong đó có đề cập đến phương pháp xác lập giá xây dựng tổng hợp như là mộttrong những phương pháp quan trọng trong xác định tổng mức đầu tư Tuy nhiên, vìtrong khuôn khổ của một giáo trình nên phương pháp xác lập giá xây dựng tổng hợpđược đề cập vẫn chỉ dừng ở phương pháp mẫu chung, việc nghiên cứu chi tiết cácnhân tố hình thành giá và điều kiện kinh tế kỹ thuật xây dựng công trình tác động đếngiá xây dựng tổng hợp (còn nhiều nội dung)chưa được đề cập đến đầy đủ
Đã có những luận án và đề tài nghiên cứu khoa học nghiên cứu về vấn đề hìnhthành giá trong xây dựng [15], [28], [21], [20], [14], [26], [27], [ 22]… Các đề tài, luận
án này là những công trình nghiên cứu chuyên sâu về định giá, trong đó có giá xâydựng tổng hợp trong xây dựng, có giá trị quan trọng đối với phương pháp hình thànhgiá trong xây dựng nói chung và đối với phương pháp xác lập giá xây dựng tổng hợpnói riêng Tuy nhiên, trong các nghiên cứu trước hoặc là chỉ đề cập đến giá xây dựngtổng hợp của một sản phẩm cụ thể [14], hoặc là còn chưa tính đến đầy đủ những yếu tốliên quan điều kiện tự nhiên – kỹ thuật nơi công trình giao thông đi qua [21], [22] Sựbiến động giá trong kinh tế thị trường được thể hiện như thế nào trong giá tổng hợp thìhầu như còn chưa được đề cập đúng mức
Về phương diện quản lý nhà nước, các văn bản pháp quy của Chính phủ, củacác Bộ quản lý ngành hoặc các tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ định giá xây dựng của Bộ
Trang 5Xây dựng và Bộ Giao thông vận tải đều đã đề cập đến và có hướng dẫn phương phápchung xác lập giá xây dựng tổng hợp xây dựng công trình [10], [3], [4]…Tuy nhiên,những yếu tố liên quan đến điều kiện cụ thể về địa hình, địa chất, khí hậu, thủy văncủa từng vùng miền nơi công trình giao thông đi qua đều chưa được tính đến đầy đủ.
Trong thực tiễn quản lý hoạt động đầu tư xây dựng công trình giao thông, việc
lập TMĐT còn nhiều khó khăn do thiếu giá xây dựng tổng hợp, kết quả tính toán
thiếu chính xác, TMĐT bị điều chỉnh, làm cho hiệu quả đầu tư bị ảnh hưởng
Tất cả những trình bày ở trên cho thấy việc xác lập giá xây dựng tổng hợp cònnhiều vấn đề phải giải quyết cả về phương pháp lẫn kỹ thuật tính toán xác lập giá xâydựng tổng hợp phù hợp với điều kiện thực tế
b Các công trình nghiên cứu của tác giả ngoài nước
Trên thế giới có nhiều tài liệu hướng dẫn phương pháp lập giá xây dựng (dựtoán) như [29], [31], [32], [33], [34], [37]
Về phương pháp lập dự toán, theo [37]: có bốn phương pháp lập dự toán cơbản Những phương pháp này có thể được gọi với những cái tên khác nhau và mỗiphương pháp có một vị trí của nó trong quá trình lập dự toán công trình và được thựchiện liên quan đến lượng thông tin thiết kế sẵn có Tiến trình thực hiện dự án trải quanhững giai đoạn thiết kế khác nhau (từ thiết kế sơ bộ tới thiết kế chi tiết và soạn thảocác tài liệu hợp đồng), phương pháp lập dự toán thay đổi và mức độ chính xác của dựtoán tăng lên tương ứng theo từng giai đoạn đó:
i Phương pháp lập dự toán theo khái toán: Lập khái toán là các phác thảo rờirạc giống như sự phỏng đoán có khoa học Nó cũng được xem như một bản “dự toánthô”, đây thường là kết quả được xác định giữa nhà thầu (hoặc người thực hiện) vàkhách hàng (chủ đầu tư) qua sự gặp gỡ và hoàn thành trong thời gian rất ngắn qua traođổi Mức độ chính xác là ± 20%
ii Phương pháp lập dự toán theo diện tích (fút vuông) và thể tích (fút khối):Phương pháp lập dự toán này thường hữu ích nhất khi quy mô đặt ra và kế hoạch xâydựng công trình đã biết Lượng thông tin cần phải cung cấp cho phương pháp nàykhông nhiều Sử dụng phương pháp lập dự toán này cho phép người thiết kế và ngườilập dự toán điều chỉnh các kết cấu phù hợp với mục đích sử dụng của công trình (bệnhviện, nhà máy, trường học, nhà ở), kiểu móng (móng bè, móng băng hoặc móng cọc),
Trang 6các kết cấu bên trên (kết cấu thép, bê tông hoặc bê tông cốt thép) để đạt tới mức chiphí gần với giá trị cuối cùng Độ chính xác của phương pháp lập dự toán này là ±15%.
iii Phương pháp lập dự toán theo hệ thống giá xây dựng tổng hợp: Phươngpháp lập dự toán theo hệ thống giá xây dựng tổng hợp được sử dụng tốt nhất như mộtcông cụ tài chính trong những giai đoạn lập kế hoạch của một dự án Mức độ chínhxác là ±10%
“Đơn giá xây dựng tổng hợp là một tổ hợp các chi phí tính cho một nhóm cácloại công tác xây lắp hoặc các công việc quy vào một danh mục đơn giá để tính giáxây dựng Đơn giá xây dựng tổng hợp là tổng của các đơn giá xây dựng chi tiết củanhóm công tác xây lắp đó" [31, tr.7]
“Đơn giá xây dựng tổng hợp để xác định giá xây dựng cho các giải pháp thiết
kế khác nhau, nó cho phép nhanh chóng tìm ra được mức chênh lệch chi phí giữa cácgiải pháp thiết kế, qua đó Chủ đầu tư cũng nắm được mức vốn cần thiết cho công trìnhtrước khi thiết kế bản vẽ thi công công trình” [37, tr.5]
iv Phương pháp lập dự toán theo đơn giá chi tiết: bản vẽ thi công và các chỉdẫn kỹ thuật hoàn chỉnh là rất cần thiết để hoàn thành một bản dự toán Phương phápnày đạt được độ chính xác cao nhất trong bốn phương pháp kể trên nhưng cũng tiêutốn nhiều thời gian nhất Được sử dụng chủ yếu cho mục đích đấu thầu, độ chính xácđạt tới ±5%
Ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển có 2 hệ thống giá xây dựng tùytheo chính sách của mỗi nước mà họ sử dụng hệ thống giá xây dựng theo hệ tiêuchuẩn Anh hoặc hệ thống giá xây dựng theo hệ tiêu chuẩn Mỹ để lập giá xây dựngtrong các giai đoạn của quá trình đầu tư (do các tổ chức khác nhau biên soạn) Tuynhiên xác định giá xây dựng tổng hợp của 2 hệ thống giá theo tiêu chuẩn Anh, Mỹ đềugiống nhau đó là:
Về cơ sở xác định: đều xác định theo một nhóm công tác xây lắp phù hợp vớidanh mục đơn giá cần tính toán được tổng hợp từ đơn giá chi tiết (lập theo định mức
dự toán chi tiết)
Về nội dung: bao gồm các chi phí vật liệu, nhân công, máy thi công
Theo [32], giá xây dựng xác định dựa vào "Phương pháp tiêu chuẩn tiên lượng
các công trình xây dựng”, gọi tắt là SMM (Standar Method of Measurement of
Trang 7Building Woks) do "Hội khoa học trắc lượng Hoàng gia" tổ chức biên soạn, được các
tổ chức có liên quan đổng tình thừa nhận và sử dụng rộng rãi trong toàn nước Anh vàcác nước khác theo hê tiêu chuẩn Anh
Ở bước thiết kế kỹ thuật cho từng hạng mục công trình theo [29] ở Anh, việcxác định giá xây dựng chủ yếu dựa vào bảng giá tính cho từng bộ phận kết cấu củacông trình hay còn gọi là đơn giá xây dựng tổng hợp (Assembly), nó được xác địnhtrên cơ sở của SMM và phù họp với từng nhóm bộ phận kết cấu của công trình (như:phần móng (Foundations), kết cấu hạ tầng phía dưới công trình (Substructures), phầnthân (Superstructures) , các công việc phục vụ hiện trường (Site work))
Ở Mỹ, một trong số các Công ty tư vấn giá xây dựng ở Mỹ là Công ty Means
(R.s Means company, inc) thực hiện việc cung cấp các thông tin, dữ liệu, bảng giá làm
cơ sở xác định giá xây dựng gồm: Đơn giá tính theo fút vuông và fút khối (.S.F & CFUnit prices); Đơn giá xây dựng tổng họp (Assembly); Đơn giá xây dựng chi tiết (Unitprices) Ngoài ra còn có chi phí đơn vị (Unit cost) và những khoản mục chi phí khácđược tính trong giá xây dựng (chi phí thầu phụ, phụ phí, lợi nhuận ), các loại chi phínày được nhà thầu xác định cho mình hoặc do tổ chức tư vấn quản lý giá xây dụng xácđinh cho chủ đầu tư, nó được sử dụng để tính chi phí ở giai đoạn xây dựng công trình
Ở Trung Quốc theo [21], [22] thì mỗi giai đoạn của quá trình đầu tư, đơn giáxây dựng có một chức năng và được gọi theo các tên khác nhau Đơn giá xây dựngtổng hợp được sử dụng để xác định giá xây dựng ở giai đoạn thiết kế kỹ thuật Đơn giáxây dựng tổng hợp bao gồm đầy đủ các yếu tố chi phí vật liệu, nhân công, máy, chi phítrực tiếp khác, chi phí hiện trường + chi phí gián tiếp, và lợi nhuận kế hoạch, được xácđịnh trên cơ sở định mức khái toán, bảng giá vật liệu, bảng giá tiền lương ngày công,bảng giá ca máy và các chi phí tính theo tỉ lệ phần trăm (trực tiếp khác, định mức chiphí hiện trường, định mức chi phí gián tiếp, lợi nhuận kế hoạch)
Qua phân tích nêu trên rút ra một số nhận xét sau:
- Ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, giá xây dựng được hình
thành và có tên gọi khác nhau trong quá trình đầu tư xây dựng, tương ứng có bốnphương pháp lập dự toán cơ bản, những phương pháp này có thể được gọi với nhữngcái tên khác nhau theo các giai đoạn của quá trình đầu tư xây dựng, mức độ chính xáccủa các phương pháp cũng tăng theo quá tình đầu tư xây dựng
Trang 8- Đơn giá xây dựng tổng hợp được xác định theo một nhóm công tác xây lắp
(bộ phận kết cấu công trình) phù hợp với danh mục đơn giá cần tính toán được tổng hợp từ đơn giá xây dựng chi tiết (lập theo định mức dự toán chi tiết) và bao gồm ba
yếu tố chi phí vật liệu, chi phí nhân công và chi phí máy thi công
- Hiện nay ở nước ta hệ thống định mức tổng hợp cũ đã lạc hậu không còn phù
hợp Để xác lập giá xây dựng tổng hợp cần phải bổ sung, sửa đổi, xây dựng mới hệthống định mức tổng hợp phù hợp với sự tiến bộ của khoa học công nghệ, việc nàykhó khăn và và đòi hỏi kinh phí rất lớn Vì vậy vấn đề đặt ra là vận dụng phương pháplập giá xây dựng tổng hợp theo hệ tiêu chuẩn Anh, Mỹ vào điều kiện nước ta nóichung và ngành GTVT nói riêng sao cho phù hợp
2 Những tồn tại của các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
* Về mặt lý thuyết
- Phương pháp xác lập giá xây dựng tổng hợp dựa trên cơ sở định mức dự toántổng hợp không phù hợp vì định mức dự toán tổng hợp được ban hành trước đây quálạc hậu, Sử dụng phương pháp này cần phải sửa đổi bổ sung, xây dựng mới định mức dựtoán tổng hợp phù hợp với công nghệ hiện nay là rất khó khăn Hiện nay trong ngành GTVTkhông có định mức dự toán này
- Xác lập giá xây dựng tổng hợp được tổng hợp trên cơ sở đơn giá chi tiết chomột nhóm danh mục công tác xây lắp áp dụng phù hợp với các công trình xây dựng cóthiết kế mẫu như nhà ở, bệnh viện, trường học…Đối với công trình giao thông đường
bộ để xác lập giá xây dựng tổng hợp cần phải có thiết kế điển hình cho từng cấpđường
- Giá xây dựng tổng hợp hiện nay được lập cho một nhóm loại công tác xâydựng, đơn vị kết cấu, bộ phận của công trình, chưa mang tính tổng hợp cao (như suấtvốn đầu tư)
* Về mặt thực tế
- Phương pháp xác lập giá xây dựng tổng hợp chưa phản ánh được ảnh hưởngcủa điều kiện tự nhiên về địa hình, địa chất, khí hậu, thủy văn tác động đến xây dựngcông trình giao thông đường bộ, đó là tác động đến lựa chọn giải pháp thiết kế kỹthuật, tổ chức thi công và từ đó liên quan đến chi phí đầu tư xây dựng công trình Khilập giá xây dựng tổng hợp phải phản ánh được yếu tố này
Trang 9- Phương pháp xác lập giá xây dựng tổng hợp chưa phản ánh được đặc thù củatừng vùng miền trong cả nước khi có đường bộ đi qua
- Phương pháp xác lập giá xây dựng tổng hợp chưa phản ánh được yếu tố biếnđộng giá theo thời gian (công trình giao thông đường bộ có thời gian thi công dài)
Tất cả những trình bày ở trên cho thấy việc xác lập giá xây dựng tổng hợp cònnhiều vấn đề phải giải quyết cả về phương pháp lẫn kỹ thuật tính toán xác lập giá xâydựng tổng hợp phù hợp với điều kiện thực tế
Riêng đối với công trình giao thông đường bộ, việc xác lập giá xây dựng tổnghợp vẫn còn một số vấn đề cần phải hoàn thiện, trong đó có vấn đề vận dụng phươngpháp chung để xác lập giá xây dựng tổng hợp xây dựng công trình giao thông đường
bộ theo các điều kiện cụ thể của từng vùng trong cả nước (điều kiện địa hình, địa chất, thủy văn…)
Xuất phát từ thực tế trên, đề tài “Nghiên cứu phương pháp xác lập giá xây dựng tổng hợp xây dựng công trình giao thông đường bộ trong điều kiện Việt Nam”
sẽ phần nào giải quyết được những vấn đề đã và đang đặt ra và mang tính cấp thiết đốivới quản lý đầu tư xây dựng trong giai đoạn hiện nay ở nước ta
3 Mục tiêu của đề tài
Trên cơ sở hệ thống hóa lý luận về hình thành giá trong xây dựng, làm rõ một
số vấn đề còn tồn tại trong xây dựng giá, phương pháp lập giá xây dựng tổng hợp côngtrình (theo Thông tư 04/2011/TT-BXD ngày 26/5/2010 của BXD), tiến hành nghiêncứu bổ sung sự ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, địa hình, địa chất để đưa các yếu tố
đó vào xây dựng “Bộ giá xây dựng tổng hợp xây dựng công trình giao thông đườngbộ” cho các khu vực trong cả nước và phù hợp với đặc thù của ngành giao thông, làm
cơ sở cho việc lập và quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình, giúp cho các cơ quanchức năng của Nhà nước quản lý tốt công tác xây dựng cơ bản, sử dụng một cách cóhiệu quả vốn đầu tư
4 Nội dung và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nội dung nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu các nội dung sau:
- Tổng quan về “Nghiên cứu xác lập giá xây dựng tổng hợp xây dựng công trình
giao thông đường bộ trong điều kiện Việt Nam”
Trang 10- Lý luận chung về giá xây dựng công trình và giá xây dựng tổng hợp xây dựng
công trình giao thông đường bộ
- Thực trạng lập giá xây dựng tổng hợp xây dựng công trình giao thông đường bộ
Việt Nam
- Lập giá xây dựng tổng hợp xây dựng công trình giao thông đường bộ trong điều
kiện Việt Nam
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận chung của phép duy vật biện chứng và duy vậtlịch sử, luận án đã sử dụng kết hợp các phương pháp kỹ thuật cụ thể như: phương phápđiều tra thống kê, phân tích, tổng hợp, mô hình hóa để nghiên cứu Đồng thời, việctham khảo ý kiến của các chuyên gia, các nhà quản lý cũng được sử dụng như mộtphương pháp nghiên cứu Phần mềm tin học được sử dụng như là một công cụ hữuhiệu trong xử lý kết quả nghiên cứu
Đặc biệt thông qua các đề tài NCKH trọng điểm cấp Bộ và đề tài NCKH cấp Bộ
do tác giả chủ trì, tác giả đã có những nghiên cứu cụ thể những điều kiện kỹ thuật côngtrình, điều kiện địa hình, địa chất trên các vùng miền khác nhau của đất nước: vùngĐồng bằng sông Cửu Long, khu vực phía Bắc (bao gồm vùng Tây Bắc, Đông Bắc,Đồng bằng sông Hồng), khu vực miền Trung (vùng Bắc Trung Bộ,vùng duyên hảiNam Trung Bộ), khu vực Đông Nam Bộ và Tây Nguyên và đưa các yếu tố đó vào đểnghiên cứu xây dựng “Bộ giá xây dựng tổng hợp xây dựng công trình giao thôngđường bộ” cho từng vùng trong cả nước
Trang 11Chương I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIÁ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH VÀ GIÁ XÂY DỰNG TỔNG HỢP XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ
1.1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ HÌNH THÀNH GIÁ TRONG XÂY DỰNG
1.1.1 Bản chất và đặc điểm của giá sản phẩm xây dựng [12]
a Bản chất giá sản phẩm xây dựng và các mối quan hệ ràng buộc
Nền kinh tế nước ta có bước chuyển biến tích cực từ cơ chế kinh tế kế hoạchhóa tập trung với một thành phần kinh tế sang kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhànước với nhiều thành phần kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Cơ chế định giá và quản lý giá đang chuyển từ hệ thống định giá mang tínhhành chính, chủ quan, bao cấp sang định giá sang hệ thống định giá thị trường màtrong đó coi giá cả là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa được sản xuất ra vàtiêu thụ trên thị trường, là kết quả tổng hợp của các mối quan hệ hàng hóa – tiền tệ,quan hệ tích lũy – tiêu dùng dưới tác động đồng thời của các quy luật kế hoạch, cungcầu, giá trị, cạnh tranh trên thị trường mở trong phạm vi cả nước và quốc tế
Cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước đòi hỏi giá sản phẩm được hìnhthành sao cho vừa phải bao gồm đầy đủ các chi phí xã hội cần thiết để tạo nên sảnphẩm hàng hóa vừa phải tuân theo quy luật cung cầu, quy luật giá trị, quy luật cạnhtranh lại vừa phải chịu sự điều tiết của Nhà nước thông qua các công cụ quản lý vàcác quan hệ kinh tế khác để phục vụ cho lãnh đạo, quản lý nền kinh tế quốc dân Bảnchất của giá sản phẩm xây dựng cũng được hình thành như giá sản phẩm nêu trên
Giá sản phẩm xây dựng chịu ảnh hưởng bởi các mối quan hệ ràng buộc sau:
G = F(X1, X2,X3) (1.1)Trong đó:
G: giá xây dựng
X1: các quy luật tác động
X2: Sự quản lý của Nhà nước
X3: Các nhân tố ảnh hưởng tới chi phí cấu thành
Các mối quan hệ ràng buộc hình thành giá sản phẩm xây dựng được thể hiện tại
sơ đồ 1.1 dưới đây:
Trang 12Sơ đồ 1.1: Các mối quan hệ ràng buộc hình thành giá SPXD [12, tr.134]
Sự tác động của các quy luật đến giá xây dựng
Giá xây dựng cũng có những đặc tính chung của giá cả như các loại hàng hoákhác và cũng bị ảnh hưởng của quy luật kinh tế cơ bản của kinh tế thị trường đó là:
quy luật giá trị, quy luật lưu thông tiền tệ, quy luật cung - cầu, quy luật cạnh tranh
Sự quản lý của Nhà nước
Trong xây dựng kết cấu hạ tầng nói chung, ngành giao thông nói riêng đòi hỏi vốnđầu tư lớn, thời gian hoàn vốn dài (từ 30-50 năm) lợi nhuận thấp, chịu rủi ro cao, các nhàđầu tư không mặn mà trong lĩnh vực này Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông chủyếu sử dụng vốn ngân sách Nhà nước (bao gồm cả vốn ODA) vì vậy, Nhà nước phải quản
lý chi phí đầu tư xây dựng thông qua hệ thống pháp luật, cơ chế chính sách, quy hoạch, kếhoạch, thẩm định, phê duyệt, định mức đơn giá (chi phí đầu tư)
Các nhân tố ảnh hưởng tới chi phí cấu thành
Giá của sản phẩm xây dựng
Các nhân tố ảnh hưởng tới chi phí cấu thành dựng
Các quy luật tác động
Sự quản
lý của Nhà nước
- Quy mô, kết cấu công trình
- Tiêu chuẩn kỹ thuật
- Điều kiện tự nhiên: địa hình, địa chất, thuỷ văn
- Điều kiện địa phương nơi thi công
Trang 13- Quy mô kết cấu công trình: hao phí vật liệu, nhân công, máy phụ thuộc vào quy
mô kết cấu công trình Nếu công trình có quy mô kết cấu lớn, chi phí xây dựng cao
và ngược lại
- Tiêu chuẩn kỹ thuật: công trình đòi hỏi kỹ thuật càng cao chi phí xây dựng sẽ lớn.
- Điều kiện tự nhiên: địa hình địa chất, khí hậu, thuỷ văn…thuận lợi chi phí xây
dựng giảm
- Điều kiện địa phương nơi xây dựng công trình: kinh tế-xã hội, điều kiện thi công,
tình hình khai thác vật liệu tại chỗ thuận lợi làm giảm chi phí xây dựng công trình
- Các yếu tố khác
b Đặc điểm của giá xây dựng
Mỗi loại hàng hoá được sản xuất ra với một mức giá nhất định tương ứng với các chiphí sản xuất và các yếu tố trên thị trường Sản phẩm hàng hoá phụ thuộc vào hàng loạt cácyếu tố mà quan trọng nhất là các yếu tố tính chất hàng hoá, công nghệ sản xuất và thị trườngnơi tiêu thụ nó Cũng như vậy, sản phẩm xây dựng phụ thuộc vào quá trình sản xuất xâydựng và đặc điểm của chính bản thân sản phẩm đó, vì vậy mà giá của sản phẩm xây dựngmang những đặc điểm riêng của mình Các đặc điểm chủ yếu bao gồm:
Một là: giá của sản phẩm xây dựng mang tính riêng biệt, đơn chiếc Điều đó là do tính
đơn chiếc của sản phẩm xây dựng quyết định Chính tính đơn chiếc của sản phẩm xây dựnglàm cho khối lượng thực hiện và phương thức thực hiện chúng khác nhau, ngay cả khi xâydựng theo thiết kế mẫu cũng đòi hỏi những sự thay đổi về khối lượng công tác do liên quanđến các điều kiện cụ thể về địa hình, địa chất, khí hậu, thuỷ văn nơi xây dựng nền móngcông trình khác nhau gây nên Đặc điểm này đòi hỏi phải có phương pháp định giá riêng phùhợp với từng giai đoạn của quá trình đầu tư và xây dựng, phản ánh được kết cấu khối lượngcông trình, phản ánh được chi phí sản xuất tại địa phương nơi xây dựng công trình
Hai là: giá của sản phẩm xây dựng mang tính tổ hợp các chi phí cho xây dựng từng
bộ phận công trình, được hình thành từ giá xây dựng từng bộ phận công trình và tổng hợp lạitheo cơ cấu chi phí của vốn đầu tư
Tính tổ hợp của sản phẩm xây dựng là do tính phức tạp về quy mô của kết cấu côngtrình và chủng loại công tác xây lắp quyết định Không thể có ngay giá sản phẩm xây dựngbằng cách tính đơn giản, mà phải có phương pháp tính riêng gọi là phương pháp lập dự toán.Thông qua cơ chế đấu thầu giá của sản phẩm xây dựng được xác định khách quan theo quyluật của thị trường
Trang 14Cơ sở để lập dự toán là khối lượng công tác được xác định theo thiết kế và đơn giáxây dựng công trình Đơn giá xây dựng công trình được lập cho từng công trình cụ thể dựatrên cơ sở định mức hao phí vật liệu, nhân công và máy thi công để hoàn thành một đơn vịkhối lượng công tác xây lắp và bảng giá vật liệu, giá cước vận chuyển, giá ca máy, tiền lươngcủa công nhân xây lắp Nếu các bảng giá này được tính phù hợp với mức giá trên thị trườngthì giá sản phẩm xây dựng được xác định bằng phương pháp lập dự toán cũng mang tính chấtnhư giá thị trường.
Chất lượng của tài liệu dự toán xác định giá trị sản phẩm xây dựng công trình phụthuộc vào hai yếu tố:
- Việc xác định đúng đắn các công tác xây lắp cần thiết để sản xuất sản phẩm xâydựng
- Việc xác định có luận chứng kinh tế giá trị dự toán đơn vị của các loại công tác kếtcấu xây lắp khác nhau
Đặc điểm này đòi hỏi phải xây dựng một hệ thống định mức khoa học và phải có hệ thống giá xây dựng công trình xác thực.
Ba là: giá sản phẩm xây dựng được hình thành từng bước và được tính nhiều lần theo
từng giai đoạn của quá trình đầu tư xây dựng và phục vụ cho quản lý các giai đoạn đó vớiràng buộc chung là giá lần tính sau phải sâu hơn, chi tiết hơn lần tính trước và không đượcvượt quá tổng mức đầu tư (với dự án sử dụng 30% vốn ngân sách Nhà nước trở lên), đảmbảo giữa các lần tính có sự kết nối và bổ sung cho nhau
1.1.2 Nguyên tắc định giá và cơ chế quản lý giá sản phẩm xây dựng [12]
Công tác định giá và quản lý xây dựng ở một nền kinh tế mở như Việt Namhiện nay có nhiều phức tạp và khó khăn, một mặt phải thoả mãn mục tiêu góp phầnnâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn vốn đầu tư xây dựng, chống lãng phí thất thoátphân định rõ trách nhiệm các bên hữu quan, một mặt phải phù hợp với thông lệ quốc tế
ở lĩnh vực này giúp cho quá trình hội nhập thành công thu hút được nhiều nhà đầu tưvào lĩnh vực phát triển cơ sở hạ tầng giao thông vận tải
a Nguyên tắc và cơ chế chung
* Nguyên tắc
Nguyên tắc chung đối với việc lập và quản lý giá sản phẩm xây dựng là:
- Phải xuất phát từ chủ trương đường lối phát triển kinh tế của Đảng và Nhà
nước, các quy phạm pháp luật hiện hành
Trang 15- Tuân thủ theo các quy luật khách quan của nền kinh tế hỗn hợp vận hành theo
cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước: quy luật giá trị, quy luật cungcầu, quy luật cạnh tranh, quy luật lưu thông tiền tệ…
- Phù hợp với đặc điểm kinh tế – kỹ thuật của sản phẩm và quá trình sản xuất xây
dựng cũng như các điều kiện tự nhiên, trình độ phát triển kinh tế của đất nước
- Tính đúng tính đủ chi phí sản xuất trên cơ sở bảo đảm thực hiện các chế độ
chính sách quy định của Nhà nước (như tiêu chuẩn, định mức, chính sách vềtiền lương, giá cả, giá cước vận tải, phí, thuế, chính sách xã hội…)
Như trên đã trình bày, giá là sự biểu hiện bằng tiền các chi phí tạo nên sảnphẩm Giá sản phẩm xây dựng được tính nhiều lần và biểu thị qua các chỉ tiêu: tổngmức đầu tư, dự toán xây dựng công trình, giá trị thanh toán, quyết toán vốn đầu tư…
mà ngày nay được gọi chung là chi phí đầu tư xây dựng công trình [12]
* Cơ chế chi phối ở đây là mỗi dự án đầu tư xây dựng công trình phải được xác định
chi phí riêng, phù hợp với đặc điểm, tính chất kĩ thuật và yêu cầu công nghệ của quátrình xây dựng, phù hợp với giai đoạn đầu tư xây dựng công trình, các bước thiết kế vàcác quy định của Nhà nước
Việc lập và quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình phải đảm bảo mục tiêu
và hiệu quả của dự án đầu tư xây dựng, đồng thời đảm bảo tính khả thi của dự án đầu
tư XDCT, đảm bảo tính đúng, tính đủ, hợp lý, phù hợp với yêu cầu thực tế của thịtrường nhưng lại phải đơn giản, rõ ràng và dễ thực hiện
Khối lượng công việc của công trình, hệ thống định mức, chỉ tiêu kinh tế - kĩthuật, các chế độ chính sách của Nhà nước và những yếu tố khách quan của thị trường
có liên quan đến công trình phải được coi là căn cứ khoa học, khách quan và mangtính bắt buộc phải tính đến khi lập chi phí dự án đầu tư xây dựng công trình
Công tác “lập và quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình, bao gồm: tổngmức đầu tư XDCT (gọi tắt là TMĐT), dự toán xây dựng công trình (DT công trình),định mức xây dựng và giá xây dựng công trình” được hướng dẫn tại [3]
b Quản lý nhà nước đối với giá xây dựng
Lý luận kinh tế học và thực tiễn điều hành nền kinh tế các nước đều khẳng định
mô hình kinh tế hỗn hợp mà nội dung chính là vận động theo cơ chế thị trường có sựquản lý của Nhà nước là mô hình thích hợp nhất hiện nay Vai trò của Nhà nước trong
Trang 16mô hình này là thực hiện sự điều tiết vĩ mô bằng các công cụ pháp luật, chính sáchkinh tế…
Vai trò và khả năng kinh tế của Nhà nước đối với quá trình lập và quản lý giáxây dựng là khách quan và đặc biệt cần thiết bởi đặc điểm và tính chất riêng biệt vềkinh tế – kĩ thuật, về quan hệ mua – bán, về quan hệ cung cầu của SPXD
Đối với xây dựng công trình giao thông, vốn đầu tư chủ yếu do ngân sách Nhànước cấp (kể cả vốn vay ODA), vì vậy việc quản lý nhà nước về giá xây dựng là yêucầu cần thiết
Nội dung QLNN về giá xây dựng được thể hiện qua sơ đồ 1.2 sau:
Sơ đồ 1.2: Quản lý Nhà nước đối với giá xây dựng [12, tr.140]
Để phù hợp với yêu cầu quản lý chi phí đầu tư xây dựng theo các giai đoạn củaquá trình đầu tư xây dựng, thì điều tất yếu là giá xây dựng phải được tính nhiều lần cóthứ bậc với chức năng và mục đích khác nhau [25 – tr.72,73]
Quản lý nhà nước đối với giá xây dựng
Xác định quy trình
và công nghệ lập, thẩm định phê duyệt, giá
Phân công, phân cấp, thiết lập
cơ chế quản lý giá
Kiểm tra giám sát thực hiện chế độ chính sách, nguyên tắc, phương pháp lập
và QL giá XD
Tổng kết, rút kinh nghiệm, hoàn thiện cơ chế phương pháp
Trang 17Sự hình thành giá xây dựng theo các giai đoạn của quá trình đầu tư xây dựng vàtheo thứ tự các chỉ tiêu biểu thị nó theo sơ đố 1.3 ở dưới
Sơ đồ 1.3: Quá trình hình thành giá xây dựng theo các giai đoạn
Thiết kế kỹ thuậtThiết kế bản vẽ thi
công
Đấu thầu
Xây lắp công trình
Tổng mức đầu tư
Dự toán xây dựng công trình
Kế hoạch đấu thầu
Kết quả đấu thầu
Giá trúng thầu
Giá ký hợp đồng
Nghiệm thu
Công trình hoàn thành Giá thanh toán
Tổng mức đầu tư(sơ bộ)
Trang 18của quá trình đầu tư xây dựng [12 tr.181]
1.1.4 Nội dung cơ bản của giá xây dựng trong các giai đoạn đầu tư
1.1.4.1 Nội dung cơ bản của giá xây dựng trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư
Giá xây dựng công trình ở giai đoạn chuẩn bị đầu tư (gồm thiết kế cơ sở) đó làtổng mức đầu tư của dự án đầu tư XDCT
Tổng mức đầu tư của dự án đầu tư XDCT (sau đây gọi là TMĐT) là toàn bộ chiphí dự tính để đầu tư xây dựng công trình được ghi trong quyết định đầu tư, là cơ sở đểchủ đầu tư lập kế hoạch và quản lý vốn khi thực hiện đầu tư XDCT [10]
TMĐT được tính toán và xác định trong giai đoạn lập dự án đầu tư XDCT phùhợp với nội dung dự án và thiết kế cơ sở; đối với trường hợp chỉ lập báo cáo kinh tế -
kỹ thuật, tổng mức đầu tư đồng thời là dự toán xây dựng công trình được xác định phùhợp với nội dung báo cáo kinh tế - kỹ thuật và thiết kế bản vẽ thi công [19]
Nội dung tổng mức đầu tư [10]
Sơ đồ 1.4: Nội dung tổng mức đầu tư
Tổng mức đầu tư bao gồm: chi phí xây dựng; chi phí thiết bị; chi phí bồithường, hỗ trợ và tái định cư; chi phí quản lý dự án; chi phí tư vấn đầu tư xây dựng;chi phí khác và chi phí dự phòng
* Chi phí xây dựng bao gồm: chi phí phá và tháo dỡ các công trình xây dựng; chi phí
san lấp mặt bằng xây dựng; chi phí xây dựng các công trình, hạng mục công trìnhchính, công trình tạm, công trình phụ trợ phục vụ thi công; chi phí nhà tạm tại hiệntrường để ở và điều hành thi công
Chi phí bồi thường,
Chi phí khác
Chi phí quản
lý dự án
Trang 19* Chi phí thiết bị bao gồm: chi phí mua sắm thiết bị công nghệ (kể cả thiết bị công
nghệ cần sản xuất, gia công); chi phí đào tạo và chuyển giao công nghệ; chi phí lắp đặt
và thí nghiệm, hiệu chỉnh thiết bị; chi phí vận chuyển, bảo hiểm thiết bị; thuế, phí vàcác chi phí có liên quan khác
* Chi phí bồi thường, hỗ trợ và tái định cư bao gồm: chi phí bồi thường nhà cửa, vật
kiến trúc, cây trồng trên đất và các chi phí bồi thường khác; các khoản hỗ trợ khi Nhànước thu hồi đất; chi phí thực hiện tái định cư có liên quan đến bồi thường giải phóngmặt bằng của dự án; chi phí tổ chức bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; chi phí sử dụngđất trong thời gian xây dựng; chi phí chi trả cho phần hạ tầng kỹ thuật đã đầu tư
* Chi phí quản lý dự án: là các chi phí cần thiết cho chủ đầu tư để tổ chức quản lý việc
thực hiện các công việc quản lý dự án từ giai đoạn chuẩn bị dự án, thực hiện dự án đếnkhi hoàn thành nghiệm thu bàn giao, đưa công trình vào khai thác sử dụng, bao gồm:
- Chi phí tổ chức lập báo cáo đầu tư, chi phí tổ chức lập dự án đầu tư hoặc báo
cáo kinh tế - kỹ thuật;
- Chi phí tổ chức thi tuyển, tuyển chọn thiết kế kiến trúc hoặc lựa chọn phương
án thiết kế kiến trúc;
- Chi phí tổ chức thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thuộc trách
nhiệm của chủ đầu tư;
- Chi phí tổ chức thẩm định dự án đầu tư hoặc báo cáo kinh tế - kỹ thuật;
- Chi phí tổ chức lập, thẩm định hoặc thẩm tra, phê duyệt thiết kế kỹ thuật, thiết
kế bản vẽ thi công, dự toán công trình;
- Chi phí tổ chức lựa chọn nhà thầu trong hoạt động xây dựng;
- Chi phí tổ chức quản lý chất lượng, khối lượng, tiến độ, chi phí xây dựng;
- Chi phí tổ chức đảm bảo an toàn, vệ sinh môi trường của công trình;
- Chi phí tổ chức lập định mức, đơn giá xây dựng công trình;
- Chi phí tổ chức kiểm tra chất lượng vật liệu, kiểm định chất lượng công trình
theo yêu cầu của chủ đầu tư;
- Chi phí tổ chức kiểm tra chứng nhận đủ điều kiện bảo đảm an toàn chịu lực và
chứng nhận sự phù hợp về chất lượng công trình;
- Chi phí tổ chức nghiệm thu, thanh toán, quyết toán hợp đồng; thanh toán, quyết
toán vốn đầu tư xây dựng công trình;
- Chi phí tổ chức giám sát, đánh giá dự án đầu tư xây dựng công trình;
Trang 20- Chi phí tổ chức nghiệm thu, bàn giao công trình;
- Chi phí khởi công, khánh thành, tuyên truyền quảng cáo;
- Chi phí tổ chức thực hiện các công việc quản lý khác.
* Chi phí tư vấn đầu tư xây dựng bao gồm:
- Chi phí lập nhiệm vụ khảo sát xây dựng;
- Chi phí khảo sát xây dựng;
- Chi phí lập báo cáo đầu tư, lập dự án hoặc lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật;
- Chi phí thẩm tra tính hiệu quả và tính khả thi của dự án;
- Chi phí thi tuyển, tuyển chọn thiết kế kiến trúc;
- Chi phí thiết kế xây dựng công trình;
- Chi phí thẩm tra thiết kế kỹ thuật, thiết kế bản vẽ thi công, chi phí thẩm tra tổng
mức đầu tư, dự toán công trình;
- Chi phí lập hồ sơ yêu cầu, hồ sơ mời sơ tuyển, hồ sơ mời thầu và chi phí phân
tích đánh giá hồ sơ đề xuất, hồ sơ dự sơ tuyển, hồ sơ dự thầu để lựa chọn nhàthầu trong hoạt động xây dựng;
- Chi phí giám sát khảo sát xây dựng, giám sát thi công xây dựng, giám sát lắp
đặt thiết bị;
- Chi phí lập báo cáo đánh giá tác động môi trường;
- Chi phí lập định mức xây dựng, đơn giá xây dựng công trình;
- Chi phí kiểm soát chi phí đầu tư xây dựng công trình;
- Chi phí quản lý chi phí đầu tư xây dựng: tổng mức đầu tư, dự toán công trình,
định mức xây dựng, đơn giá xây dựng công trình, hợp đồng trong hoạt độngxây dựng,
- Chi phí tư vấn quản lý dự án (trường hợp thuê tư vấn);
- Chi phí thí nghiệm chuyên ngành;
- Chi phí kiểm tra chất lượng vật liệu, kiểm định chất lượng công trình theo yêu
cầu của chủ đầu tư;
- Chi phí kiểm tra chứng nhận đủ điều kiện bảo đảm an toàn chịu lực và chứng
nhận sự phù hợp về chất lượng công trình;
- Chi phí giám sát, đánh giá dự án đầu tư xây dựng công trình (trường hợp thuê
tư vấn);
Trang 21- Chi phí quy đổi chi phí đầu tư xây dựng công trình về thời điểm bàn giao, đưa
vào khai thác sử dụng;
- Chi phí thực hiện các công việc tư vấn khác.
* Chi phí khác: là những chi phí không thuộc nội dung quy định tại các điểm nêu trên
nhưng cần thiết để thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình, bao gồm:
- Chi phí rà phá bom mìn, vật nổ;
- Chi phí bảo hiểm công trình;
- Chi phí di chuyển thiết bị thi công và lực lượng lao động đến công trường;
- Chi phí đăng kiểm chất lượng quốc tế, quan trắc biến dạng công trình;
- Chi phí đảm bảo an toàn giao thông phục vụ thi công các công trình;
- Chi phí hoàn trả hạ tầng kỹ thuật bị ảnh hưởng khi thi công công trình;
- Chi phí kiểm toán, thẩm tra, phê duyệt quyết toán vốn đầu tư;
- Chi phí nghiên cứu khoa học công nghệ liên quan đến dự án; vốn lưu động ban
đầu đối với các dự án đầu tư xây dựng nhằm mục đích kinh doanh, lãi vay trongthời gian xây dựng; chi phí cho quá trình chạy thử không tải và có tải theo quytrình công nghệ trước khi bàn giao trừ giá trị sản phẩm thu hồi được;
- Các khoản phí và lệ phí theo quy định;
- Một số khoản mục chi phí khác.
* Chi phí dự phòng bao gồm: chi phí dự phòng cho yếu tố khối lượng công việc phát
sinh chưa lường trước được khi lập dự án và chi phí dự phòng cho yếu tố trượt giátrong thời gian thực hiện dự án
Chi phí dự phòng cho yếu tố khối lượng công việc phát sinh được tính bằng tỷ
lệ phần trăm (%) trên tổng chi phí xây dựng, chi phí thiết bị, chi phí bồi thường, hỗ trợ
và tái định cư, chi phí quản lý dự án, chi phí tư vấn đầu tư xây dựng và chi phí khác
Chi phí dự phòng cho yếu tố trượt giá được tính theo thời gian thực hiện dự án(tính bằng năm), tiến độ phân bổ vốn hàng năm của dự án và chỉ số giá xây dựng
Chỉ số giá xây dựng dùng để tính chi phí dự phòng cho yếu tố trượt giá trongtổng mức đầu tư được xác định bằng cách tính bình quân các chỉ số giá xây dựng củatối thiểu 3 năm gần nhất, phù hợp với loại công trình, theo khu vực xây dựng và phảitính đến khả năng biến động của các yếu tố chi phí, giá cả trong khu vực và quốc tế
Trang 22Đối với các dự án sử dụng vốn ODA, ngoài các nội dung được tính toán trongtổng mức đầu tư nói trên, còn được bổ sung các khoản mục chi phí cần thiết khác chophù hợp với tính chất, đặc thù của loại dự án đầu tư xây dựng sử dụng nguồn vốn nàytheo các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành có liên quan.
1.1.4.2 Nội dung cơ bản của giá xây dựng trong giai đoạn thực hiện đầu tư
Ở giai đoạn thực hiện dự án đầu tư thì giá xây dựng được gọi tùy theo mỗi chứcnăng và vị trí trong các khâu của quá trình thực hiện đầu tư xây dựng với mỗi đốitượng tham gia, theo đó là dự toán công trình, giá gói thầu, giá dự thầu, giá đề nghịtrúng thầu, giá trúng thầu, giá ký hợp đồng
a Biểu hiện của giá XDCT trong khâu thiết kế kỹ thuật hoặc thiết kế bản vẽ thi công
Dự toán công trình được xác định theo công trình xây dựng cụ thể và “được
lập căn cứ trên cơ sở khối lượng các công việc xác định theo thiết kế kỹ thuật hoặcthiết kế bản vẽ thi công, nhiệm vụ công việc phải thực hiện của công trình và đơn giáxây dựng công trình, chi phí tính theo tỷ lệ phần trăm (%) cần thiết để thực hiện khốilượng, nhiệm vụ công việc đó” [10]
Nội dung dự toán xây dựng công trình [10]
Sơ đồ 1.5: Nội dung dự toán xây dựng công trình
* Chi phí xây dựng
Chi phí xây dựng: được xác định cho công trình, hạng mục công trình, bộ phận,phần việc, công tác của công trình, hạng mục công trình đối với công trình chính, côngtrình phụ trợ, công trình tạm phục vụ thi công, nhà tạm để ở và điều hành thi công
Chi phí quản
Chi phí khác
Chi phí
dự phòngChi phí
thiết bị
Trang 23Chi phí nhà tạm tại hiện trường để ở và điều hành thi công là chi phí để xâydựng nhà tạm tại hiện trường hoặc thuê nhà hoặc chi phí đi lại phục vụ cho việc ở vàđiều hành thi công của nhà thầu trong quá trình thi công xây dựng công trình
Chi phí xây dựng bao gồm: chi phí trực tiếp, chi phí chung, thu nhập chịu thuếtính trước và thuế giá trị gia tăng
- Chi phí trực tiếp bao gồm: chi phí vật liệu (kể cả vật liệu do chủ đầu tư cấp), chiphí nhân công, chi phí máy thi công và chi phí trực tiếp khác Chi phí trực tiếp khác làchi phí cho những công tác cần thiết phục vụ trực tiếp thi công xây dựng công trình nhưchi phí di chuyển lực lượng lao động trong nội bộ công trường, an toàn lao động, bảo vệmôi trường cho người lao động và môi trường xung quanh, thí nghiệm vật liệu của nhàthầu và chi phí bơm nước, vét bùn không thường xuyên và không xác định được khốilượng từ thiết kế
- Chi phí chung bao gồm: chi phí quản lý của doanh nghiệp, chi phí điều hànhsản xuất tại công trường, chi phí phục vụ công nhân, chi phí phục vụ thi công tại côngtrường và một số chi phí khác
- Thu nhập chịu thuế tính trước: là khoản lợi nhuận của doanh nghiệp xây dựngđược dự tính trước trong dự toán xây dựng công trình
- Thuế giá trị gia tăng: là khoản thuế phải nộp theo quy định của Nhà nước vàđược tính trên tổng giá trị các khoản mục chi phí chi phí trực tiếp, chi phí chung, thunhập chịu thuế tính trước nêu trên
* Chi phí thiết bị
Chi phí thiết bị được tính cho công trình, hạng mục công trình bao gồm:
Chi phí mua sắm thiết bị công nghệ (kể cả thiết bị công nghệ cần sản xuất, giacông); chi phí đào tạo và chuyển giao công nghệ; chi phí lắp đặt và thí nghiệm, hiệuchỉnh thiết bị và các chi phí khác có liên quan
Chi phí mua sắm thiết bị bao gồm: giá mua (kể cả chi phí thiết kế và giám sát chếtạo), chi phí vận chuyển từ cảng hoặc nơi mua đến công trình, chi phí lưu kho, lưu bãi,lưu container tại cảng Việt Nam (đối với các thiết bị nhập khẩu), chi phí bảo quản, bảodưỡng tại kho bãi ở hiện trường, thuế và phí bảo hiểm thiết bị công trình
* Chi phí quản lý dự án
Trang 24Chi phí quản lý dự án bao gồm các khoản mục chi phí như chi phí quản lý dự ántrong tổng mức đầu tư.
* Chi phí tư vấn đầu tư xây dựng
Chi phí tư vấn đầu tư xây dựng bao gồm các khoản mục chi phí tư vấn xây dựng trongtổng mức đầu tư
* Chi phí dự phòng
Chi phí dự phòng là khoản chi phí để dự trù cho khối lượng công việc phát sinh
và các yếu tố trượt giá trong thời gian xây dựng công trình
Chi phí dự phòng bao gồm: chi phí dự phòng cho yếu tố khối lượng công việcphát sinh chưa lường trước được và chi phí dự phòng cho yếu tố trượt giá trong thờigian xây dựng công trình
Dự phòng chi phí cho yếu tố khối lượng công việc phát sinh được tính bằng tỷ
lệ % tổng chi phí xây dựng, chi phí thiết bị, chi phí quản lý dự án, chi phí tư vấn đầu tưxây dựng và chi phí khác
Dự phòng chi phí cho yếu tố trượt giá được tính theo chỉ số giá xây dựng củatừng loại công trình xây dựng theo khu vực và thời gian xây dựng
Đối với dự án có nhiều công trình xây dựng, chủ đầu tư có thể xác định tổng dựtoán của dự án để phục vụ cho việc quản lý chi phí Tổng dự toán của dự án được xácđịnh bằng cách cộng các dự toán chi phí của các công trình và các chi phí có liên quanthuộc dự án
Trang 25Đối với các dự án sử dụng vốn ODA, dự toán công trình có thể được xác địnhbằng dự toán các gói thầu đấu thầu quốc tế, dự toán các gói thầu đấu thầu trong nước
và dự toán các phần việc không tổ chức đấu thầu Tuỳ theo yêu cầu và phạm vi đấuthầu, dự toán các gói thầu chỉ bao gồm chi phí xây dựng hoặc bao gồm cả chi phí xâydựng, chi phí thiết bị và chi phí khác phân bổ cho từng gói thầu như nội dung tạikhoản 1, khoản 5 Điều 7, khoản 3 Điều 16, khoản 1 Điều 17 và Phụ lục số 6 của [3]
b Biểu hiện của giá XDCT trong quá trình lựa chọn nhà thầu và thực hiện xây dựng
* Giá gói thầu
Giá gói thầu là giá trị gói thầu được xác định trong kế hoạch đấu thầu Căn cứvào việc phân chia theo tính chất kỹ thuật, trình tự thực hiện, bảo đảm tính đồng bộcủa dự án mà dự án đầu tư xây dựng có thể được chia thành các gói thầu và giá góithầu (bao gồm cả dự phòng tính cho toàn bộ thời gian thực hiện gói thầu), được xácđịnh trên cơ sở tổng mức đầu tư (khi chưa có thiết kế kỹ thuật, thiết kế bản vẽ thi công
dự toán được duyệt), dự toán xây dựng công trình, các quy định về lập và quản lý chiphí dự án đầu tư xây dựng công trình
* Giá trúng thầu
Là giá được phê duyệt trong kết quả lựa chọn nhà thầu làm cơ sở để thươngthảo, hoàn thiện và ký kết hợp đồng
* Giá hợp đồng
Trang 26Giá hợp đồng xây dựng là khoản kinh phí bên giao thầu cam kết trả cho bênnhận thầu để thực hiện khối lượng công việc theo yêu cầu về tiến độ, chất lượng và cácyêu cầu khác quy định trong hợp đồng xây dựng
Giá ký hợp đồng có các hình thức sau:
- Giá hợp đồng trọn gói.
- Giá hợp đồng theo đơn giá cố định.
- Giá hợp đồng theo giá điều chỉnh.
- Giá hợp đồng kết hợp.
Giá hợp đồng được xác định căn cứ vào giá đề nghị trúng thầu được xếp hạng
và kết quả đàm phán hợp đồng
* Giá thanh toán
Giá thanh toán là giá mà chủ đầu tư trả cho bên nhận thầu trên cơ sở khối lượng
các công việc hoàn thành theo các cam kết trong hợp đồng cùng với các quy định cóliên quan và giá hợp đồng
Đối với từng trường hợp cụ thể khi áp dụng hình thức giá hợp đồng nào thì theo
đó là giá thanh toán hợp đồng tương ứng
1.1.4.3 Biểu hiện của giá XDCT trong giai đoạn kết thúc dự án xây dựng đưa công trình vào khai thác sử dụng [25]
Khi bàn giao công trình đưa vào khai thác, sử dụng và kết thúc xây dựng, Chủđầu tư phải lập quyết toán vốn (chi phí) đầu tư công trình hoàn thành, phản ảnh chi tiếttình trạng giá xây dựng thực tế, tài sản cố định và tài sản lưu động đã hình thành, bàngiao đưa vào khai thác, sử dụng để làm căn cứ cho việc tiếp nhận tài sản bàn giao,kiểm toán, lập bảng kê chi tiết tài sản do xây dựng tạo nên và đăng ký giá trị tài sảnmới tăng Chi phí thực tế đã đầu tư của một công trình xây dựng hoàn thành được thểhiện thông qua quyết toán hoàn thành công trình, đó là giá xây dựng thực tế của côngtrình xây dựng hay còn gọi là giá quyết toán công trình hoàn thành
Giai đoạn này giá xây dựng được biểu hiện bằng:
- Giá quyết toán hợp đồng
- Quyết toán vốn đầu tư.
Giá quyết toán hợp đồng là mức giá được chuẩn xác lại khi kết thúc hợp đồng
xây dựng mà chủ đầu tư trả cho bên nhận thầu trên cơ sở giá hợp đồng đã ký kết, giá
Trang 27đã thanh toán, giá được thanh toán và các nghĩa vụ khác mà bên giao thầu cần phảithực hiện theo quy định hợp đồng.
Quyết toán vốn đầu tư là trách nhiệm của chủ đầu tư với nhà nước và với cấp trên
“Chủ đầu tư chịu trách nhiệm lập hồ sơ quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành đểtrình người có thẩm quyền phê duyệt” [8, khoản b, mục 14 điều 1]
“Vốn đầu tư được quyết toán là toàn bộ chi phí hợp pháp đã thực hiện cho đầu
tư xây dựng công trình và đưa dự án vào khai thác, sử dụng Chi phí hợp pháp là chiphí được thực hiện trong phạm vi thiết kế, dự toán đã được phê duyệt kể cả phần điềuchỉnh, bổ sung hoặc là chi phí được thực hiện đúng với hợp đồng đã ký kết, phù hợpvới các quy định của pháp luật Đối với các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước thìvốn đầu tư được quyết toán phải nằm trong giới hạn tổng mức đầu tư được cấp cóthẩm quyền phê duyệt." [8, khoản a, mục 14 điều 1]
1.1.5 Hệ thống giá xây dựng công trình
Giá xây dựng tổng hợp (trước khi Nghị định 99/2007/NĐ-CP và Nghị định 112/2009/NĐ-CP ban hành gọi là đơn giá tổng hợp) là chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật bao
gồm toàn bộ chi phí cần thiết để hoàn thành một nhóm loại công tác xây dựng, mộtđơn vị kết cấu, bộ phận của công trình [3, điều 10, mục 3]
Giá xây dựng tổng hợp được lập tương ứng với danh mục và nội dung của khốilượng nhóm loại công tác xây dựng, đơn vị kết cấu, bộ phận của công trình
Trang 28Giá xây dựng tổng hợp có thể là giá không đầy đủ (bao gồm chi phí vật liệu, chiphí nhân công, chi phí máy thi công) hoặc giá đầy đủ (bao gồm chi phí vật liệu, chi phínhân công, chi phí máy thi công, chi phí trực tiếp khác, chi phí chung và thu nhập chịuthuế tính trước) được lập trên cơ sở đơn giá xây dựng công trình
1.1.5.2 Phương pháp lập đơn giá xây dựng công trình trên cơ sở hệ thống định mức dự toán xây dựng của công trình và các yếu tố chi phí có liên quan theo giá thị trường [3]
(1) Cơ sở lập đơn giá xây dựng công trình
Cơ sở lập đơn giá xây dựng công trình:
- Danh mục các công tác xây dựng của công trình cần lập đơn giá;
- Định mức dự toán xây dựng theo danh mục cần lập đơn giá;
- Giá vật liệu (chưa bao gồm thuế giá trị tăng) đến hiện trường công trình;
- Giá nhân công của công trình;
- Giá ca máy và thiết bị thi công của công trình (hoặc giá thuê máy và thiết bịthi công)
(2) Lập đơn giá xây dựng công trình
a Xác định chi phí vật liệu (VL)
Chi phí vật liệu được xác định theo công thức:
nVL= (Di x Gvl) (1 + Kvl) (1.1) i=1
Trường hợp giá vật liệu chưa được tính đến hiện trường công trình thì giá vậtliệu đến hiện trường công trình được xác định theo hướng dẫn tại mục d dưới đây
Trang 29- KVL: hệ số tính chi phí vật liệu khác so với tổng chi phí vật liệu chủ yếu xácđịnh trong định mức dự toán xây dựng công trình
Đối với công trình sử dụng nguồn vốn ODA cần sử dụng những loại vật liệu màthị trường trong nước không có thì giá các loại vật liệu, sản phẩm xây dựng nhập khẩuxác định theo giá thị trường phù hợp với tiêu chuẩn chất lượng và xuất xứ hàng hóa
b Xác định chi phí nhân công (NC)
Chi phí nhân công được xác định theo công thức:
NC = B x gNC (1.2) Trong đó:
- B: lượng hao phí lao động tính bằng ngày công trực tiếp theo cấp bậc bình quâncho một đơn vị khối lượng công tác xây dựng trong định mức dự toán XDCT;
- gNC: đơn giá ngày công của công nhân trực tiếp xây dựng được xác định theomặt bằng thị trường lao động phổ biến của từng khu vực, tỉnh, thành phố
Riêng đối với công trình sử dụng vốn ngân sách nhà nước thực hiện theo phươngthức chỉ định thầu thì có thể sử dụng phương pháp xác định mức đơn giá ngày công củacông nhân trực tiếp xây dựng (gNC)trên cơ sở lương tối thiểu vùng, lương cấp bậc, cáckhoản phụ cấp lương; khoản lương phụ tính bằng 12% lương cơ bản; một số chi phí cóthể khoán trực tiếp cho người lao động tính bằng 4% lương cơ bản; các phụ cấp khác,nếu có
Đối với công trình sử dụng nguồn vốn ODA có những công việc phải sử dụngnhân công nước ngoài (công việc đòi hỏi kỹ thuật đặc biệt hoặc các công việc phải cógiám sát, kiểm tra) đơn giá ngày công được xác định theo tiền lương nhân công cóchức danh tương đương tại các nước trong khu vực hoặc các công trình tương tự đã vàđang thực hiện ở Việt Nam
c Xác định chi phí máy thi công (MTC)
Chi phí máy thi công được xác định bằng công thức sau:
nMTC = (Mi x giMTC) (1 + KMTC) (1.3) i=1
Trong đó:
- Mi: lượng hao phí ca máy của loại máy, thiết bị thi công chính thứ i (i=1÷n)tính cho một đơn vị khối lượng công tác xây dựng trong định mức dự toán XDCT;
Trang 30- giMTC: giá ca máy của loại máy, thiết bị thi công chính thứ i (i÷n) theo bảng giá
ca máy và thiết bị thi công của công trình hoặc giá thuê máy xác định theo hướng dẫncủa Bộ Xây dựng;
- KMTC : hệ số tính chi phí máy khác (nếu có) so với tổng chi phí máy, thiết bị thicông chủ yếu xác định trong định mức dự toán xây dựng công trình
Đối với công trình sử dụng nguồn vốn ODA cần sử dụng những loại máy đặcbiệt mà ở Việt Nam chưa có, cần tạm nhập khẩu để thi công xây dựng công trình thì giá
ca máy xác định theo giá thuê máy trên thị trường khu vực hoặc giá ca máy đã và đangthực hiện có tính chất tương tự ở Việt Nam
Đơn giá xây dựng công trình nói trên chỉ bao gồm chi phí vật liệu, chi phí nhâncông, chi phí máy thi công gọi là đơn giá xây dựng công trình không đầy đủ
Đơn giá xây dựng công trình đầy đủ bao gồm chi phí vật liệu, chi phí nhân công,chi phí máy thi công, trực tiếp phí khác, chi phí chung và thu nhập chịu thuế tính trước
d Phương pháp xác định giá vật liệu đến hiện trường công trình (Gvl)
Giá vật liệu đến hiện trường công trình được xác định theo công thức:
Gvl = Gcct + Cht (1.4)Trong đó :
- Gcct: giá vật liệu đến công trình;
- Cht: chi phí tại hiện trường bao gồm: bốc xếp, vận chuyển trong nội bộ côngtrình, hao hụt bảo quản tại kho, bãi
Giá vật liệu đến công trình được xác định bằng công thức:
Gcct = Gg+ Cvc (1.5)Trong đó:
- Gg: giá vật liệu gốc;
- Cvc: chi phí vận chuyển đến công trình (bao gồm cả chi phí trung chuyển,nếu có)
Chi phí vận chuyển đến công trình
Chi phí vận chuyển đến công trình có thể xác định theo phương án, cự ly, loạiphương tiện và giá thuê phương tiện vận chuyển hoặc tính trên cơ sở các định mứcvận chuyển và các phương pháp khác phù hợp với điều kiện thực tế
Trang 31* Chi phí vận chuyển tính theo cước vận chuyển
Chi phí vận chuyển đến công trình theo giá cước vận chuyển được tính theocông thức:
n
Cvc = (Li x fi) + Cctc + Cltk (1.6) i=1
Trong đó :
- Li: cự ly của cung đường thứ i;
- fi: giá cước vận chuyển trên cung đường thứ i;
- Cctc: chi phí trung chuyển (nếu có);
- Cltk: chi phí lưu thông khác
+ Giá cước vận chuyển có thể dựa vào công bố của các địa phương, giá thịtrường, báo giá của đơn vị vận tải đảm bảo được khối lượng, tiến độ của công trình;
+ Chi phí trung chuyển vật liệu được tính khi có thay đổi phương thức hoặcphương tiện vận chuyển, bao gồm chi phí bốc xếp và hao hụt trung chuyển Chi phíhao hụt trung chuyển được tính theo định mức tỉ lệ trên giá vật liệu gốc trên cơ sởđịnh mức vật tư được công bố;
+ Chi phí lưu thông khác: là những chi phí cho việc buộc, kê, che chắn, lệ phícầu đường,
Chi phí vận chuyển đến công trình tính theo cước vận chuyển sử dụng Bảng 1.1
* Chi phí vận chuyển tính trên cơ sở các định mức vận chuyển
Chi phí vận chuyển có thể được tính toán trên cơ sở sử dụng những định mứcvận chuyển phù hợp trong định mức dự toán xây dựng công trình, giá nhân công và camáy công trình , theo công thức sau:
Cvc = (Mi:x giMTC )+ Cttc + Cltk (1.7)
Trong đó:
- Mi: lượng hao phí ca máy của loại máy dùng vận chuyển;
- giMTC: giá ca máy của loại máy dùng vận chuyển;
- Cttc và Cltk: như công thức (1.6)
Nếu một loại vật liệu phải mua ở nhiều nguồn khác nhau thì giá vật liệu đếncông trình bình quân (Gcctbq ) được xác định bằng công thức:
Trang 32Trong đó:
- Gccti: giá vật liệu đến công trình từ nguồn i;
- Ti: khối lượng vật liệu mua từ nguồn i
Chi phí tại hiện trường (C ht )
Chi phí tại hiện trường bao gồm chi phí bốc xếp (Cbx), chi phí vận chuyển trongnội bộ công trình (Cvcht), chi phí hao hụt bảo quản (Chh) và được xác định theo côngthức sau:
Cht = Cbx + Cvcht + Chh (1.9)Chi phí bốc xếp tính trên cơ sở định mức lao động bốc xếp và đơn giá nhâncông công trình; Chi phí vận chuyển bằng phương tiện thô sơ trong nội bộ công trìnhtính bình quân trong phạm vi 300m trên cơ sở định mức lao động vận chuyển vật liệubằng phương tiện thô sơ và đơn giá nhân công xây dựng công trình;
Chi phí hao hụt bảo quản vật liệu tại kho, bãi công trường được tính theo phầntrăm (%) so với giá vật liệu đến hiện trường
Nội dung, trình tự tính toán giá vật liệu đến hiện trường công trình được xácđịnh theo các Bảng 1.1, 1.2 và 1.3 như sau:
Phương tiện vận chuyển
Cự ly của cung đường với cấp đường tương ứng
Giá cước theo cấp đường (đ/T.km)
Chi phí vận chuyển
Cự ly (km)
Cấp đường [1] [2] [3] [4] [5] [6] [7] [8] [9] = ( [6] x [8]) 1
GxT
1
i i
n 1
i i cctibq
Trang 33Stt vật liệuLoại
Đơn vị tính
Giá gốc
Chi phí vận chuyển
Chi phí trung chuyển (nếu có)
Giá vật liệu đến chân công trình
Bốc xếp
Hao hụt trung chuyển Cộng chi
phí trung chuyển
Định mức (%)
Thành tiền [1] [2] [3] [4] [5] [6] [7] [8] =
[4] x [7]
[9] = [6]+[8]
[10] = [4]+[5]+[9] 1
2
…
Ghi chú:
- Cột [5]: lấy theo giá trị cột [9] tại Bảng 1.1;
- Cột [6] = (Định mức lao động bốc xếp) x (Đơn giá nhân công XDCT)
Bảng 1.3: Tính giá vật liệu xây dựng đến hiện trường công trình
Giá vật liệu đến chân công trình
Chi phí tại hiện trường
Giá vật liệu đến hiện trường công trình
Chi phí bốc xếp
Chi phí hao hụt bảo quản
Chi phí vận chuyển trong nội
bộ công trình
Cộng chi phí tại hiện trường
[1] [2] [3] [4] [5]
[6] = [4] x Định mức
tỷ lệ
[7] [5]+[6]+[7][8] = [4]+[8][9] =1
2
3
…
Ghi chú
- Cột [4]: lấy theo kết quả tình toán từ cột [10] tại Bảng 1.2;
- Cột [5] = (Định mức lao động bốc xếp) x (Đơn giá nhân công XDCT);
- Cột [7] = (Định mức lao động vận chuyển trong phạm vi 300m) x (Đơn giánhân công xây dựng công trình)
1.2 GIÁ XÂY DỰNG TỔNG HỢP XDCT GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ
1.2.1 Vai trò, đặc điểm giá xây dựng công trình giao thông
1.2.1.1 Vai trò của giá xây dựng trong quản lý đầu tư XDCT giao thông
Đối với các cơ quan quản lý nhà nước:
Trang 34Là cơ sở để xác định nhu cầu vốn đầu tư trong xây dựng chiến lược, quy hoạchphát triển GTVT từng giai đoạn; là cơ sở để lập kế hoạch và quản lý vốn đầu tư đảmbảo mục tiêu, hiệu quả dự án đầu tư XDCT; là cơ sở để các cơ quan có chức năngnhiệm vụ thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán chi phí đầu tư XDCT.
Đối với chủ đầu tư (Nhà nước)
Là cơ sở để lập dự toán, tổng mức đầu tư, tổ chức đấu thầu (hoặc chỉ định thầu),xét chọn nhà thầu, thanh quyết toán và quản lý vốn đầu tư từ giai đoạn chuẩn bị đầu tưđến khi kết thúc xây dựng đưa công trình vào khai thác, sử dụng
Đối với nhà thầu
Là cơ sở để lập DT, TMĐT, lập giá thầu; là cơ sở để ký kết và thanh quyết toánhợp đồng XD với chủ đầu tư; hạch toán, quản lý sản xuất kinh doanh trong đơn vị
1.2.1.2 Đặc điểm của sản phẩm xây dựng giao thông [13]
Sản phẩm xây dựng giao thông là một bộ phận quan trọng trong toàn bộ cơ sởvật chất kỹ thuật của nền kinh tế quốc dân bao gồm: các tuyến đường, các cây cầu, nhà
ga, bến cảng…và có một số đặc điểm sau:
- Sản phẩm mang tính đơn chiếc: trong khi sản phẩm của các ngành công
nghiệp và các ngành khác được sản xuất hàng loạt trong điều kiện ổn định, trong nhàxưởng, về chủng loại, về kích thước, mẫu mã kỹ thuật và công nghệ được tiêu chuẩnhoá thì sản phẩm giao thông thường được sản xuất theo đơn đặt hàng đơn chiếc, đượcsản xuất ở những địa điểm, điều kiện khác nhau nên chi phí cũng thường khác nhauvới cùng một loại hình sản phẩm
- Sản phẩm được sản xuất tại nơi sẽ tiêu thụ nó: các công trình xây dựng giao
thông đều được sản xuất (thi công) tại một địa điểm mà nơi đó gắn liền với việc tiêuthụ và thực hiện giá trị sử dụng (tiêu dùng) của sản phẩm Địa điểm tiêu thụ sản phẩm
sẽ do chủ sở hữu quyết định Vì vậy, nếu xác định được nơi tiêu thụ thì đồng thời cũng
sẽ xác định được nơi sản xuất ra sản phẩm
- Sản phẩm xây dựng giao thông chịu ảnh hưởng của các điều kiện địa lý, tự nhiên, kinh tế – xã hội tại nơi tiêu thụ: sản phẩm xây dựng giao thông bao giờ cũng
gắn liền với một địa điểm, địa phương nhất định, vì vậy phải phù hợp với đặc điểm,điều kiện của địa phương đó bao gồm: điều kiện địa lý, khí hậu, thời tiết, môi trường,
Trang 35phong tục tập quán của địa phương… Các đặc điểm đó sẽ chi phối đến các hoạt độngsản xuất kinh doanh có liên quan như: khảo sát, thiết kế, lựa chọn phương án thi công,kết cấu công trình, điều kiện mặt bằng thi công…
- Cùng một loại sản phẩm nhưng chúng vẫn khác nhau trên các mặt kinh tế, kỹthuật khi thực hiện sản phẩm, khi một trong các điều kiện trên có sự khác biệt Cùngvới những điều kiện về địa lý, văn hóa xã hội, còn có hàng loạt các điều kiện kháctrong thực tiễn ảnh hưởng đến sản phẩm xây dựng giao thông như: vấn đề chủ sở hữucông trình, vấn đề đất xây dựng, vấn đề quy hoạch của địa phương, các vấn đề về môitrường cảnh quan…
- Thời gian sử dụng dài, khối lượng lớn, yêu cầu về trình độ kỹ thuật và mỹ thuật cao: khác với những sản phẩm thông thường, yêu cầu về độ bền vững, thời gian
sử dụng của sản phẩm giao thông thường rất lớn (có thể tới hàng trăm năm hoặc lâuhơn nữa) Do đặc thù của sản phẩm xây dựng giao thông khi tạo ra không chỉ nhằmmục đích phục vụ cho nhu cầu trước mắt mà chủ yếu phục vụ cho nhu cầu ngày càngtăng lên trong những năm tương lai, cho nên trước khi tiến hành sản xuất sản phẩmphải dự đoán được những vấn đề có liên quan đến quá trình khai thác sản phẩm saunày Chính vì vậy mà nhu cầu xây dựng thường có xu hướng vĩnh cửu khi điều kiệncho phép Mặt khác một sản phẩm xây dựng giao thông sau khi đưa vào sử dụng còn
có tác dụng tô điểm thêm vẻ đẹp của đất nước đồng thời cũng là một trong những cơ
sở quan trọng để đánh giá về trình độ phát triển kinh tế - khoa học – công nghệ củaquốc gia đó trong con mắt bạn bè quốc tế Do đó yêu cầu về kỹ thuật, mỹ thuật của cáccông trình giao thông đòi hỏi rất cao và cần phải được kết hợp một cách hài hoà giữatính cổ truyền của dân tộc với tính hiện đại, phù hợp với cảnh quan môi trường xungquanh trong hiện tại cũng như trong tương lai lâu dài
- Chi phí sản xuất sản phẩm lớn và khác biệt theo từng công trình: giá trị của
sản phẩm xây dựng giao thông thường lớn hơn rất nhiều so với sản phẩm hàng hóathông thường Chi phí đầu tư cho công trình thường trải ra trong một thời kỳ dài.Trong phương thức đấu thầu, người nhận thầu nhiều khi phải có một lượng vốn đủ lớn
để đưa ra hoạt động trong thời gian đợi vốn của chủ đầu tư
- Tính chất đơn chiếc và chịu ảnh hưởng của nơi xây dựng làm cho chi phí của từng sản phẩm xây dựng giao thông rất khác nhau Ngay cùng một sản phẩm có kết
cấu kiến trúc giống nhau thì cũng có sự khác nhau về chi phí sản xuất Vì thế việc xác
Trang 36định chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây dựng giao thông phải được tiến hànhriêng biệt đối với từng sản phẩm Khả năng xây dựng các định mức chi phí cho sảnphẩm xây dựng giao thông cũng gặp nhiều khó khăn.
1.2.1.3 Đặc điểm của sản xuất xây dựng giao thông [13]
- Sản xuất chỉ được tiến hành khi có đơn đặt hàng (hợp đồng xây dựng) của người mua sản phẩm, nó không thể sản xuất khi chưa có người đặt hàng Sau khi sản
phẩm hoàn thành thì không cần thiết phải tìm thị trường để bán sản phẩm Sản xuấtxây dựng chỉ tiến hành khi đã được chủ đầu tư chấp nhận và ký hợp đồng giao nhậnthầu Điều đó có ý nghĩa là: chỉ khi nào có hợp đồng trong tay thì nhà thầu mới tiếnhành xây dựng Trong quá trình thi công công trình được thực hiện với sự tham giagiám sát kỹ thuật của người mua
- Quá trình sản xuất luôn di động, hệ số biến động lớn: do đặc điểm sản phẩm
gắn liền với nơi tiêu thụ nên địa điểm sản xuất không ổn định thậm chí trải dài theotuyến qua nhiều địa phương dẫn đến việc phải di chuyển lực lượng lao động và cácphương tiện vật chất từ công trình này đến công trình khác; nhiều khi trong cùng mộtcông trình sự di chuyển cũng diễn ra liên tục Các phưong án tổ chức thi công côngtrình ở các địa điểm khác nhau luôn phải thay đổi tùy thuộc vào điều kiện cụ thể nơixây dựng và phù hợp với giai đoạn xây dựng Điều đó gây khó khăn cho việc tổ chứcthi công, việc bố trí các công trình tạm, việc phối hợp giữa các phương tiện máy mócthi công gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng đến sinh hoạt và đời sống của người lao động
Do đó đòi hỏi phải tăng tính cơ động cho doanh nghiệp về mặt trang bị tài sản cố định,lựa chọn hình thức tổ chức quản lý và chỉ đạo các kế hoạch tác nghiệp hợp lý, lựa chọnkho trung chuyển vật tư hợp lý khi thi công nhiều công trình
- Thời gian xây dựng công trình kéo dài: đặc diểm này dẫn đến tình trạng ứ
đọng vốn sản xuất trong các khối lượng thi công dở dang của các doanh nghiệp xâydựng, đòi hỏi phải tổ chức quản lý sản xuất của doanh nghiệp phải chặt chẽ, hợp lý,lựa chọn trình tự thi công phù hợp cho từng công trình và phối hợp thi công nhiềucông trình để đảm bảo có khối lượng công tác gối đầu, phân chia các giai đoạn thicông từng công trình nhằm tạo khả năng sử dụng và điều phối năng lực sản xuất hợp
lý, áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ trong thi công xây lắp để rút ngắn thời gianxây dựng sớm đưa công trình vào khai thác sử dụng đồng thời chủ động trong khâuthanh toán
Trang 37- Sản xuất được tiến hành ngoài trời nên chịu ảnh hưởng điều kiên thiên nhiên
đến các hoạt động của công nhân và quá trình thực hiện công tác xây lắp Đặc điểmnày làm cho các doanh nghiệp không thể lường trước được những khó khăn phát sinhbởi các điều kiện khí hậu, thời tiết, môi trường tự nhiên Từ đó dẫn đến làm giảm hiệuquả sản xuất lao động, một số giai đoạn của quá trình bị gián đoạn, ảnh hưởng đến tiến
độ thi công và giá thành công trình Vì vậy, các doanh nghiệp cần phải có biện phápthi công hợp lý, phối hợp các công việc thi công trong nhà và ngoài trời nhằm khắcphục những ảnh hưởng của thời tiết khí hậu; kịp thời điều chỉnh tiến độ bằng cácphương pháp kỹ thuật hiện đại, cải thiện điều kiện làm việc ngoài trời cho người laođộng, hạn chế tối đa mức lãng phí về lao động, vật liệu do thời tiết gây ra
- Kỹ thuật thi công phức tạp, trang bị kỹ thuật tốn kém: kỹ thuật thi công phức
tạp đòi hỏi những máy móc kỹ thuật phức tạp, hiện đại đắt tiền Trong trường hợp nhưvậy có hai phương án lựa chọ cho doanh nghiệp xây dựng giao thông: một là doanhnghiệp bỏ ra một số vốn lớn để đầu tư mua sắm máy móc thiết bị thi công, hai là đithuê của đơn vị khác về sử dung Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải có sự tính toán
cụ thể và so sánh lựa chọn phương án để đảm bảo máy móc thiết bị phục vụ kịp thờđầy đủ Mặt khác phải đảm bảo hiệu quả kinh doanh
1.2.1.4 Đặc điểm của giá xây dựng công trình giao thông
Giá xây dựng công trình giao thông đều có đặc điểm của giá xây dựng đó là:[22]
- Mang đặc trưng đơn chiếc: do đặc điểm sản phẩm xây dựng công trình giao
thông là tính chất đơn chiếc và chịu ảnh hưởng của các điều kiện tự nhiên về khí hậu,địa chất, thủy văn… , điều kiện kinh tế - xã hội nơi xây dựng làm cho giá xây dựngcủa từng sản phẩm xây dựng giao thông rất khác nhau Do đó đối với công trình giaothông không thể định giá giống như cách định giá của sản phẩm công nghiệp (theochủng loại, quy cách, chát lượng từng lô hàng) mà chỉ có thể tính giá đơn chiếc Giáxây dựng công trình giao thông không thể có giá thống nhất do Nhà nước hoặc nhàthầu quy định, mà chỉ có thể xác định giá xây dựng thong qua một rình tự đặc biệt, phùhợp với từng giai đoạn của quá trình đầu tư
- Được tính nhiều lần có thứ bậc: quá trình đầu tư xây dựng thường khá dài,
phải chia thành giai đoạn để tiến hành từng bước, từ nông đến sâu, từ tổng thể đến chitiết, nhiều phần, bộ phận, kết cấu bị ràng buộc bởi trình tự (không thể thực hiện song
Trang 38song) Để thích ứng với việc thiết lập quan hệ kinh tế giữa các bên phù hợp với yêucầu quản lý giá xây dựng theo các giai đoạn của quá trình đầu tư, thì tất yếu là giá xâydựng phải tính nhiều lần theo các giai đoạn đó, có thứ bậc với chức năng và mục đíchkhác nhau từ tổng mức đầu tư, dự toán xây dựng công trình, giá gói thầu, giá dự thầu,giá đề nghị trung thầu rồi đến giá thanh toán và quyết toán công trình hoàn thành (như
nêu tại sơ đồ 1.3 ở trên)
- Được tính tổ hợp từ từng thành phần, kết cấu bộ phận hình thành, và những công tác, công việc phục vụ chung kèm theo: Giá trị của công trình là hợp thành giá trị
những hạng mục của công trình ấy Giá xây dựng công trình có đặc điểm là thườngđược tính toán tổ hợp từ từng kết cấu bộ phận tạo thành công trình (như phần nền,móng, mặt đường…), sau đó tổng hợp lại từng nội dung khoản mục chi phí theo cơcấu của vốn đầu tư
- Chịu ảnh hưởng lớn và trực tiếp bới các chính sách vĩ mô của Nhà nước, nhậy cảm với các biến động của tình hình kinh tế, chính trị, xã hội: quy mô đầu tư và giá trị
dự án xây dựng công trình giao thông lớn nên một sự thay đổi nào cung gây nên mộthiệu ứng kinh tế lớn Các chính sách kinh tế vĩ mô hoặc những quy định quản lý đềutrực tiếp hoặc gián tiếp tác động đến giá xây dựng công trình (như lương, chính sách
xã hội, thuế…), ảnh hưởng qua sự thay đổi của những yếu tố đầu vào của giá xây dựng(ví dụ giá vật liêu,…) Tùy mức độ khác nhau song bất kỳ một sự biến đổi nào trongnền kinh tế cũng sẽ phản ánh vào giá xây dựng Ví dụ giá năng lượng thay đổi, thuế tàinguyên…
- Chịu ảnh hưởng của biến động giá cả thị trường và sự thay đổi cơ chế chính sách của Nhà nước : công trình giao thông có thời gian xây dựng kéo dài (thường trên 1năm)
vì vậy giá sản phẩm xây dựng công trình giao thông chịu ảnh hưởng của biến động giá cả thịtrường và sự thay đổi cơ chế chính sách của Nhà nước Do đó trong một công trình có nhiều
sự điều chỉnh giá qua các giai đoạn, gây khó khăn cho việc lập dự toán và thanh quyết toánvốn đầu tư
1.2.2 Khái niệm, vai trò của giá xây dựng tổng hợp XDCT giao thông đường bộ
1.2.2.1 Khái niệm
Giá xây dựng tổng hợp xây dựng công trình giao thông đường bộ là một chỉ tiêu
kinh tế - kỹ thuật trong nội dung bao gồm các chi phí trực tiếp (chi phí vật liệu, nhân
Trang 39công, máy thi công, chi phí trực tiếp khác); chi phí chung; thu nhập chịu thuế tínhtrước để xây dựng mới 1km đường bộ (gồm phần nền đường và mặt đường)
Trong giá xây dựng tổng hợp xây dựng xây dựng công trình giao thông đường
bộ chưa tính đến các yếu tố chi phí biến động phụ thuộc vào địa hình, vị trí địa lý, điềukiện tự nhiên như: hệ thống điện chiếu sáng, biển báo, cầu, cống trên đường, tườngchắn đất, kè gia cố ta luy trên đường
1.2.2.2 Vai trò của giá xây dựng tổng hợp XDCT giao thông đường bộ
- Giá xây dựng tổng hợp xây dựng công trình giao thông đường bộ có vai trò
quan trọng trong việc phục vụ tính toán nhanh nhu cầu vốn đầu tư (hoặc tổng mức đầutư) xây dựng đường bộ trong xây dựng chiến lược, quy hoạch và trong giai đoạn chuẩn
bị đầu tư
Cụ thể nhu cầu vốn đầu tư xây dựng công trình giao thông đường bộ được xácđịnh trên cơ sở giá xây dựng tổng hợp xây dựng nền, mặt đường và bổ sung các chiphí biến động phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hôi tại địa điểm xây dựng:biển báo, cầu, cống trên đường, tường chắn đất, kè gia cố ta luy trên đường, điện chiếusáng (nếu có); chi phí bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, chi phí quản lý dự án, chi phí
tư vấn đầu tư xây dựng, chi phí khác (chi phí rà phá bom mìn, vật nổ, chi phí bảo hiểmcông trình, chi phí di chuyển thiết bị thi công và lực lượng lao động đến công trường ),Chi phí dự phòng
- Đơn giá xây dựng tổng hợp sử dụng để xác định giá xây dựng cho các giảipháp thiết kế khác nhau, nó cho phép nhanh chóng tìm ra được mức chênh lệch chi phígiữa các giải pháp thiết kế, qua đó chủ đầu tư cũng nắm được mức vốn cần thiết chocông trình trước khi thiết kế bản vẽ thi công công trình
- Là cơ sở để các cơ quan quản lý nhà nước của ngành GTVT, chủ đầu tư lập kếhoạch và quản lý vốn khi thực hiện đầu tư xây dựng công trình phù hợp với điều kiện
tự nhiên, kinh tế - xã hội của từng vùng miền
- Là cơ sở để nhà thầu tham khảo xác định nhanh giá dự thầu, đấu thầu và hạchtoán, quản lý chi phí trong xây dựng công trình giao thông đường bộ
1.2.3 Nguyên tắc, căn cứ xác lập giá xây dựng tổng hợp
1.2.3.1 Nguyên tắc xác lập giá xây dựng tổng hợp
Trang 40- Bảo đảm tính chất bình quân khi xác định các chi phí cần thiết để hoàn thành
một đơn vị khối lượng công tác hoặc kết cấu xây lắp từng loại công trình xâydựng trong phạm vi một công trình hoặc trong phạm vi một khu vực
- Bảo đảm tính toán được đầy đủ các yếu tố chi phí sản xuất trên cơ sở các chế
độ, chính sách, tiêu chuẩn, định mức, quy trình, quy phạm kỹ thuật, giá cả, giácước vận tải của Nhà nước và phù hợp với điều kiện thực tế khách quan xâydựng công trình
- Phải có tính mở, dễ điều chỉnh cho phù hợp với biến động của nền kinh tế thị
trường
- Bảo đảm thuận tiện cho việc lập và quản lý vốn đầu tư xây dựng công trình.
- Công khai, minh bạch, hợp lý
1.2.3.2 Căn cứ xác lập giá xây dựng tổng hợp
Giá xây dựng tổng hợp XDCT giao thông được lập dựa vào các căn cứ sau:
- Nhóm danh mục công tác, đơn vị kết cấu, bộ phận hoặc đơn vị công năng của
công trình
- Đơn giá xây dựng công trình ứng với nhóm danh mục công tác, đơn vị kết cấu,
bộ phận hoặc đơn vị công năng của công trình
- Các căn cứ khác có liên quan: văn bản của Nhà nước quy định về thuế GTGT,
chi phí chung, thu nhập chịu thuế tính trước đối với xây dựng giao thông
1.2.4 Cấu trúc giá xây dựng tổng hợp
Giá xây dựng tổng hợp bao gồm các thành phần chi phí sau: chi phí trực tiếp,chi phí chung, thu nhập chịu thuế tính trước và thuế giá trị gia tăng Sau đây nghiêncứu nội dung các thành phần chi phí đó
- Chi phí nhân công bao gồm tiền lương cơ bản, một số khoản phụ cấp có tínhchất ổn định, một số khoản lương phụ (bằng 12% so với lương cơ bản), và một số chi