Luận văn thạc sĩ Đề tài: Giáo dục đại học và thu hút nhân tài ở Singapore Định dạng file word . Mục đích nghiên cứu Đề tài “Giáo dục đại học và thu hút nhân tài ở Singapore” sẽ mang lại cái nhìn cụ thể hơn về hệ thống giáo dục đại học của Singapore, đặc biệt là tầm nhìn đúng đắn của Chính phủ Singapore trong việc đào tạo và thu hút con người. Từ những thành công của Singapore trong việc đào tạo và thu hút nhân tài, chúng tôi sẽ phân tích, đánh giá và so sánh với giáo dục đại học Việt Nam, qua đó có thể học tập những kinh nghiệm, giải pháp phù hợp với điều kiện của nước nhà. 3. Lịch sử vấn đề Thành công kỳ diệu của quốc đảo nhỏ bé cùng nằm trong khu vực Đông Nam Á với chúng ta này đã lôi cuốn sự chú ý và nghiên cứu của nhiều học giả trong và ngoài nươùc như : Trần Khánh, Lý Quang Diệu, Andrew William Lind, Lord Dainton, Viswanathan Selvaratnam nhất là từ góc độ kinh tế, chính trị Rất nhiều báo, tạp chí như : Tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á, Kinh tế Châu Á Thái Bình Dương, Báo Sài gòn giải phóng và mạng Internet cũng đã có rất nhiều bài viết đề cập đến vấn đề này nhưng chỉ là những bài viết nhỏ nhằm giới thiệu, quảng bá về nền giáo dục Singapore. Cho đến thời điểm này, tác giả luận văn nhận thấy hầu như chưa có công trình nghiên cứu nào chuyên sâu về vấn đề này. Vì thế, tác giả hy vọng rằng qúa trình thực hiện đề tài sẽ phác thảo được lịch sử phát triển giáo dục đại học Singapore, những chính sách của Chính phủ đối với giáo dục đại học, các chiến lược thu hút nhân tài của nước này trong những năm qua. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu -Đối tượng nghiên cứu của đề tài gồm các vấn đề liên quan đến hệ thống giáo dục đại học của Singapore: cơ cấu tổ chức, nguồn lực, nguồn tài chính, các chính sách của Chính phủ, chương trình và quy trình đào tạo, những thành tựu và tồn tại, đóng góp của giáo dục đại học đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển của Singapore, thực trạng và những thách thức của giáo dục đại học Singapore trong những năm đầu thế kỷ XXI Từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm tham chiếu cho Việt Nam. -Thời điểm nghiên cứu: từ 1965-đến nay 5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn Luận văn trình bày một cách hệ thống vấn đề nêu ra. Nếu được chấp nhận, sau khi hoàn thành đề tài sẽ là tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên và những ai cần quan tâm. Về ý nghĩa thực tiễn, qua việc nghiên cứu có thể cung cấp tổng quan về chiến lược phát triển giáo dục đại học của Singapore, đánh giá được tầm quan trọng của việc đào tạo và thu hút nhân tài. Làm nổi bật vai trò của Chính phủ Singapore trong việc hoạch định các chính sách giáo dục và đào tạo, những bài học mà các nước phát triển khác có thể học từ câu chuyện thành công của Singapore. Qua đó có thể có được cái nhìn đúng đắn về thực trạng và giải pháp cho đào taïo đại học và thu hút nhân tài ở Việt Nam trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. 6. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu -Luận văn được thực hiện dựa trên phương pháp chủ yếu là phương pháp so sánh, phân tích liên ngành nhằm tổng hợp những tư liệu, taøi liệu có liên quan đến lĩnh vực giáo dục đào tạo của Singapore. -Luận văn được thực hiện chủ yếu dựa vào các tài liệu sau: +Các tác phẩm của Lý Quang Diệu và các nhà lãnh đạo Singapore, các công trình nghiên cứu về Singapore nói chung. + Các loại sách báo viết về nền giáo dục tiên tiến của Singapore. + Các văn bản từ Lãnh sự quán Singapore ở Thành phố Hồ Chí Minh về các chính sách đào tạo và thu hút nhân tài trong các năm gần đây Ngoài ra tác giả luận văn cũng đã nghiên cứu và kế thừa các tác phẩm, luận văn trong và ngoài nước, các số liệu trên mạng Internet Tuy nhiên, mặc dù đã hết sức cố gắng, các số liệu vẫn chưa được cập nhật đầy đủ trong một số năm, đây cũng là mặt hạn chế của đề tài. 7. Bố cục của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, thư mục tài liệu tham khảo và phụ lục. Luận văn gồm 3 chương -Chương 1: Tổng quan về Cộng Hòa Singapore -Chương 2: Đào tạo và thu hút nhân tài -Chương 3: Kinh nghiệm Singapore và những gợi ý cho Việt Nam CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ CỘNG HÒA SINGAPORE I.Đất nước và con người 1.Đất nước THƯ MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO A.TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT *Sách 1. Bộ giáo dục và Đào tạo (2005), Đề án đổi mới Giáo dục Đại học Việt Nam giai đoạn 2006-2020, NXB Hà Nội. 2.Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010 (2002), NXB Giáo Dục, Hà Nội. 3. Chỉ thị 40–CT/TW ngày 15/6/2004 của Ban Bí thư Ban chấp hành TW Đảng Cộng Sản Việt Nam về xây dựng, nâng cao chất lươïng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục. 4. Nghị quyết 14/2005 của Chính phủ về đổi mới cơ bản và toàn diện Giáo dục Đại học Việt Nam giai đoạn 2006-2020 5. Đỗ Huy Thịnh (2003), Văn hóa Giáo dục các nước Đông Nam Á.- NXB VHTT, 96tr. 6.Văn minh tinh thần Xingapo(1997), Lê Quảng Ba, Hoàng Văn Tuấn, Nguyễn Vĩnh Quang, Lê Thu Hà, Bùi Quang Tạo(biên dịch)- NXB Chính trị quốc gia, 328 tr. 7. Lê Thị Thanh Hà (1994), Lựa chọn và sử dụng nhân tài trong lịch sử.- NXB KHXH , 135tr. 8. Lý Quang Diệu (người dịch: Lê Tư Vinh) 1994, Tuyển 40 năm chính luận của Lý Quang Diệu.- NXB CTQG, 296tr. 9. Lý Quang Diệu (Sài gòn Book dịch) 2001, Bí quyết hóa Rồng-lịch sử Singapore 1965-2000.- NXB Trẻ TPHCM, 688tr. 10. Nghiêm Đình Vỳ, Nguyễn Đắc Hưng (2002), Phát triển giáo dục và đào tạo nhân tài.-NXB CTQG, 323tr. 11. Nguyễn Đắc Hưng, Phan Xuân Dũng (2004), Nhân tài trong chiến lược phát triển quốc gia. -NXB Chính trị quốc gia, 223tr. 12. Nguyễn Quốc Lộc- Nguyễn Công Khanh-Đoàn Thanh Hương (2004), Tổng quan về Asean và tiềm năng Thành phố HCM trong tiến trình hội nhập.-NXB Tổng Hợp TP.HCM, 530tr. 13. Nguyễn Thu Mỹ (chủ biên): Phạm Đức Thành, Hoa Hữu Lân, Trần Khánh (2002), Chiến Luợc phát triển của các nước Đông Nam AÙ. –Khoa ĐNÁ học Trường ĐH Mở BC TP.HCM, 421tr. 14. Nguyễn Xuân Tế (2001), Thể chế chính trị các nước Asean.- NXB TP.HCM, 374 tr. 15. Kinh nghiệm phát triển của Singapore (1996), Nguyễn Xuân Thành & nnk (dịch) NXB TPHCM, Viện Kinh tế, 408 tr. 16. Phạm Duy Đức (2006), Những thách thức của văn hóa Việt Nam trong qúa trình hội nhập kinh tế quốc teá, NXB VHTT, 255tr. 17. Một vòng quanh nước Singapore (2005), Trần Vĩnh Bảo (biên dịch), NXB VHTT, 215tr. 18. Trần Khánh (1995), Cộng Hoà Singapore 30 năm xây dựng và Phát triển.- NXB KHXH, 133tr. 19. Trọng Kiên (2007), Những biện pháp lưu giữ nhân tài T2.- NXB LĐXH,162tr. 20. Singapore (2003),Trịnh Huy Hóa (dịch), NXB Trẻ TPHCM, 177tr. 21.Trần Thị Phương Thảo (2006), Luận văn “Tuyên truyền về GDĐH trên báo chí TP.HCM”, ĐH Khoa học xã hội và Nhân văn, 120tr.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 4I Phát triển giáo dục đại học
III Kết qủa thực hiện
501.Giáo dục đại học
Trang 51.Cải cách giáo dục đại học, đầu tư, trợ cấp- hoạt động không thểthiếu 54
2.Tạo được sự cạnh tranh giữa các trường đại học
Trang 7Đó cũng chính là lý do vì sao chính phủ các nước Mỹ, Nhật đều chú trọnghàng đầu đến công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực.
Đặc biệt, khi nền kinh tế dựa trên tri thức ra đời thì yếu tố con ngườicàng trở nên quyết định hơn bao giờ hết Nền kinh tế tri thức đòi hỏi phải đào
Trang 8tạo ra những con người cĩ tri thức, ham hiểu biết, cĩ năng lực thích nghi,sáng tạo, linh hoạt, cĩ ý thức trách nhiệm cao đối với cộng đồng xã hội…
Singapore là một quốc gia đảo, diện tích nhỏ, dân số ít, là nước lánggiềng của Việt Nam trong vùng Đơng Nam Á Trong một thời gian khơnglâu kể từ khi giành độc lập, từ một đất nước nghèo nàn, Singapore đã nhanh
chĩng vươn lên trở thành một Con Rồng Châu Á Thành cơng của Singapore
được xem như là một kỳ tích trong lịch sử phát triển của thế giới hiện đại.Với ý thức xem con người là “Nguồn quý giá nhất” của đất nước, Chính phủSingapore đã tạo mọi điều kiện và mở rộng cửa thu hút chất xám Để tồn tại
và phát triển, người Singapore hiểu rằng họ phải duy trì và phát triển ưu thếhiện nay, cả nước phải thành một “Đội giỏi nhất” Chiến lược đào tạo, đầu tưvào con người đã và đang tiếp tục được chú trọng nhằm biến Singaporethành một xã hội cĩ học vấn cao với phương châm “giáo dục là chìa khĩacho đời sống cao hơn”
Một đảo quốc xinh đẹp cùng với những chiến luợc phát triển đất nướcđộc đáo, các chính sách ưu đãi về giáo dục đào tạo và thu hút nhân tài … đãthật sự thu hút nhiều người quan tâm, là vấn đề cần nghiên cứu Trên tinhthần đĩ tác giả đã chọn đề tài này cho luận văn tốt nghiệp của mình với mongmuốn được tìm hiểu về con người và đất nước Singapore nĩi chung và vấn
đề đào tạo và thu hút nhân tài của Singapore nĩi riêng
2 Mục đích nghiên cứu
Đề tài “Giáo dục đại học và thu hút nhân tài ở Singapore” sẽ mang
lại cái nhìn cụ thể hơn về hệ thống giáo dục đại học của Singapore, đặc biệt
là tầm nhìn đúng đắn của Chính phủ Singapore trong việc đào tạo và thu hútcon người
Trang 9Từ những thành công của Singapore trong việc đào tạo và thu hútnhân tài, chúng tôi sẽ phân tích, đánh giá và so sánh với giáo dục đại họcViệt Nam, qua đó có thể học tập những kinh nghiệm, giải pháp phù hợp vớiđiều kiện của nước nhà
những bài viết nhỏ nhằm giới thiệu, quảng bá về nền giáo dục Singapore.Cho đến thời điểm này, tác giả luận văn nhận thấy hầu như chưa có côngtrình nghiên cứu nào chuyên sâu về vấn đề này Vì thế, tác giả hy vọng rằngqúa trình thực hiện đề tài sẽ phác thảo được lịch sử phát triển giáo dục đạihọc Singapore, những chính sách của Chính phủ đối với giáo dục đại học,các chiến lược thu hút nhân tài của nước này trong những năm qua
Trang 104 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
-Đối tượng nghiên cứu của đề tài gồm các vấn đề liên quan đến hệthống giáo dục đại học của Singapore: cơ cấu tổ chức, nguồn lực, nguồn tàichính, các chính sách của Chính phủ, chương trình và quy trình đào tạo,những thành tựu và tồn tại, đĩng gĩp của giáo dục đại học đối với sự nghiệpxây dựng và phát triển của Singapore, thực trạng và những thách thức củagiáo dục đại học Singapore trong những năm đầu thế kỷ XXI… Từ đĩ rút ranhững bài học kinh nghiệm tham chiếu cho Việt Nam
-Thời điểm nghiên cứu: từ 1965-đến nay
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Luận văn trình bày một cách hệ thống vấn đề nêu ra Nếu được chấp
nhận, sau khi hồn thành đề tài sẽ là tài liệu tham khảo cho sinh viên, họcviên và những ai cần quan tâm
Về ý nghĩa thực tiễn, qua việc nghiên cứu cĩ thể cung cấp tổng quan
về chiến lược phát triển giáo dục đại học của Singapore, đánh giá được tầmquan trọng của việc đào tạo và thu hút nhân tài Làm nổi bật vai trị củaChính phủ Singapore trong việc hoạch định các chính sách giáo dục và đàotạo, những bài học mà các nước phát triển khác cĩ thể học từ câu chuyệnthành cơng của Singapore Qua đĩ cĩ thể cĩ được cái nhìn đúng đắn về thựctrạng và giải pháp cho đào tạo đại học và thu hút nhân tài ở Việt Nam trongcơng cuộc xây dựng và phát triển đất nước
6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
-Luận văn được thực hiện dựa trên phương pháp chủ yếu là phươngpháp so sánh, phân tích liên ngành nhằm tổng hợp những tư liệu, tài liệu cĩliên quan đến lĩnh vực giáo dục đào tạo của Singapore
Trang 11-Luận văn được thực hiện chủ yếu dựa vào các tài liệu sau:
+Các tác phẩm của Lý Quang Diệu và các nhà lãnh đạo Singapore,các công trình nghiên cứu về Singapore nói chung
+ Các loại sách báo viết về nền giáo dục tiên tiến của Singapore
+ Các văn bản từ Lãnh sự quán Singapore ở Thành phố Hồ Chí Minh
về các chính sách đào tạo và thu hút nhân tài trong các năm gần đây
Ngoài ra tác giả luận văn cũng đã nghiên cứu và kế thừa các tác phẩm,luận văn trong và ngoài nước, các số liệu trên mạng Internet…Tuy nhiên,mặc dù đã hết sức cố gắng, các số liệu vẫn chưa được cập nhật đầy đủ trongmột số năm, đây cũng là mặt hạn chế của đề tài
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, thư mục tài liệu tham khảo và phụ lục.Luận văn gồm 3 chương
-Chương 1: Tổng quan về Cộng Hòa Singapore
-Chương 2: Đào tạo và thu hút nhân tài
-Chương 3: Kinh nghiệm Singapore và những gợi ý cho Việt Nam
CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ CỘNG HÒA SINGAPORE
I.Đất nước và con người
1.Đất nước
Trang 12Singapore là một quốc gia ở Đơng Nam Á Châu Á, nằm ở cực nambán đảo Malacca, giáp với Malaysia về phía Bắc và Indonesia về phía ĐơngNam, điểm trọng yếu chiến lược trên con đường giao lưu buơn bán bằngđường biển giữa phương Đơng và phương Tây Singapore bao gồm đảochính là đảo Singapore, cĩ diện tích 580,6km2 với 150,5km bờ biển vàkhoảng 58 đảo nhỏ trong lãnh hải của mình, bao bọc xung quanh đảo chính.Tổng diện tích của Singapore tính đến năm 2007 là 704km2[56].
Nối liền đảo Singapore với bán đảo Malacca là một đập bê tơng lớndài hơn 1km, chắn ngang qua vịnh Johor, được xây dựng từ thời thuộc địaAnh Đây là hệ thống giao thơng đường bộ duy nhất nối liền đảo với đất liền
và cũng là đường ống dẫn nuớc ngọt từ bán đảo Malaysia cung cấp choSingapore
Địa hình Singapore là bình nguyên xen kẽ gị đống và đầm lầy Consơng lớn nhất của đảo là sơng Xê-li-ta, dài 15km Đất đai kém màu mỡ, tàinguyên thiên nhiên hầu như khơng cĩ gì ngồi nguồn cá biển và muối.Singapore chỉ cĩ một ít than chì và nham thạch pha lẫn đất sét Đất trồng trọthẹp, chiếm 9,5% diện tích đất cả nước, chỉ dành trồng chuối và rau qủa,lương thực, thực phẩm phải nhập tưø bên ngồi
Về khí hậu, Singapore thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gío mùa, cáchxích đạo 120km về phía Bắc, nhiệt độ tương đối ổn định Nhiệt độ trung bìnhtrong ngày là 26,7độ C Nhiệt độ cao nhất vào buổi trưa là 30,8 độ C, thấpnhất vào chiều tối là 23,8 độ C Độ ẩm cao từ 70-80% Luợng mưa trungbình hàng năm khoảng 2.359mm Tuy vậy Singapore vẫn thiếu nước ngọt vìnhu cầu tiêu thụ nước ở Singapore rất cao
Địa chiến lược là mặt then chốt trong lịch sử Singapore Lịch sửSingapore đã tiến triển xung quanh việc chuyển vị trí chiến lược của mình
Trang 13thành lợi nhuận thương mại trong khi vẫn giữ mối quan hệ tốt đẹp với cácnước láng giềng, đây là lợi thế duy nhất của Singapore.
Từ nhiều thế kỷ, Singapore đã là đầu mối quan trọng trên đường biểngiữa Đông và Tây Những nhà buôn người Hoa ghé qua đây để đến Ấn Độ làmột thói quen đã có từ thế kỷ thứ V Từ thế kỷ VII đến thế kỷ XIV, nơi đây
là một phần của đế quốc Srivijaya hùng mạnh, được biết đến với cái tên
Temasek nghĩa là Thành phố Biển Theo truyền thuyết, vào thế kỷ XIV nó được đặt tên SingaPura, nghĩa là Thành phố Sư tử, sau khi hoàng tử Sumatra
đến đây nhìn thấy một con vật mà chàng lầm tưởng là sư tử, đó là một loàivật tượng trưng cho điềm lành.[17, tr.8]
Singapore hiện đại bắt đầu hình thành từ năm 1819, khi Sir StamfordRaffles (một vị toàn quyền người Anh) tuyên bố vùng đất - vốn trước đó chỉ
là một làng đánh cá nhỏ- là cơ sở địa phương của Công ty Đông Ấn Độ (EastIndia Company) Với hải cảng tự nhiên và vị trí thuận lợi, Singapore đã trởthành địa điểm lý tưởng cho việc giao thương giữa người Anh với TrungQuốc, khối Malaya và Ấn Độ Singapore trở nên phồn thịnh vì chính sáchthương mại tự do ở đây đã thu hút các thương gia và cư dân từ khắp nơi trênthế giới
Hòn đảo này trở thành căn cứ phòng ngự chiến lược của người Anh ởvùng Viễn Đông, nhưng sau đó lại rơi vào tay người Nhật năm 1942 Sau khiChiến tranh Thế giới kết thúc vào năm 1945, Singapore trở thành thuộc địacủa Vương quốc Anh Người dân ở đây đã giành được quyền tự trị vào năm
1959 và sau đó là quyền độc lập năm 1963, khi Singapore trở thành mộtphần của nươùc Malaysia mới sáp nhập từ Malaya, Singapore, Sabah vàSarawak Khối liên minh này không tồn tại lâu, và chỉ hai năm sau đó ngày9/8/1965 Singapore đã thành lập được chính quyền riêng với tên gọi là Cộnghòa Singapore
Trang 14Dưới thời thủ tướng Lý Quang Diệu, Singapore tiếp tục lớn mạnh về
cơ sở hạ tầng và nền tảng cơng nghiệp Việc xây dựng nhà ở và những đổimới đơ thị theo kịp đà tăng trưởng về dân số Hoạt động y tế và giáo dục rấtmạnh Những nhà lãnh đạo Singapore cũng thiết lập những qui định rấtnghiêm ngặt về mặt xã hội Mức tăng trưởng cao về kinh tế đã hỗ trợ cho sự
ổn định chính trị ở đây
Ngày nay Singapore là trung tâm hàng đầu của Châu Á về tài chính vàkinh doanh, là trung tâm lọc dầu đứng hàng thứ ba thế giới, một thị trườngnhập cảng và tái nhập cảng, một nền cơng nghiệp hiện đại và một địa điểm
du lịch hấp dẫn
2.Con người
Singapore là một quốc gia đơ thị đa tộc, cĩ gần 20 tộc người hợpthành 3 nhĩm chính: Hoa, Mã lai và Ấn Độ Tổng số dân của Singapore hiệnnay gần 4,68 triệu người
Vào năm 1819, khi Anh xâm chiếm hịn đảo Singapura, nơi đây chỉmới cĩ 150 người sinh sống, gồm 120 người Mã lai và 30 người Hoa [12,tr.381]
Năm 1824, cư dân đã lên đến tới 4,6 ngàn người Mã Lai; 3,6 ngànngười Hoa và 0,8 ngàn người Ấn Nhưng đến giữa thế kỷ XIX, người Hoa
đã tăng lên thành 28 ngàn (chiếm hơn nửa dân số) Đĩ là do việc mở rộngđồn điền trồng cao su và cây cĩ dầu ở Malaya, cũng như sự phát triển cơngnghiệp chế biến các sản phẩm này
Những năm 30 của thế kỷ XIX, sự di trú ào ạt của người Ấn do sự tan
rã của các cơng xã, nơng dân khơng cĩ ruộng đất và thủ cơng nghiệp suythối dẫn đến tình trạng nhân khẩu nơng nghiệp thừa tại Ấn Độ Hàng ngànngười Ấn được ký giao kèo chuyển vào các thuộc địa khác, nơi kinh tế đồnđiền và cơng nghiệp phát triển, nhiều người trong họ đã dừng lại ở
Trang 15Singapore vĩnh viễn Ngoài ra, dân số tại đây tăng lên cũng nhờ vào sự nhập
cư của đại diện các tộc người thuộc nhóm Nam Đảo từ Mã Lai vàIndonesia
Từ năm 1873, cuộc nhập cư ào ạt vào Singapore bị cấm đoán, vì thế
sự tăng trưởng dân số về sau đã diễn ra bằng con đường tăng trưởng tự nhiên
là chính
Do sự sắp đặt của chính quyền thuộc địa Anh, mỗi cộng đồng dân tộcngay từ buổi đầu nhập cư đã có sự phân chia về ranh giới lãnh thổ NgườiHoa chủ yếu tập trung ở các cửa sông, bờ biển chính ở Đông Nam của đảoSingapore, nơi có dải đất bình nguyên và trung tâm thương mại Người MãLai thì sống rải rác khắp đảo, không tập trung thành những cộng đồng nhưngười Hoa Người Ấn thì định cư quy tụ ngay sát cạnh khu phố của ngườiChâu Âu và người Hoa Hiện nay vẫn còn lưu giữ lại các khu phố cổ củangười Hoa tại khu vực Pepole Park, khu phố cổ của người Ấn tại phốSaragoon và khu phố của người Âu xung quanh khu vực North Bridge vàOrchant Suốt hơn một thế kỷ thuộc địa, các chính quyền Anh đã gieo rắc và
áp dụng gượng ép tại Singapore tình trạng biệt lập giữa các nhóm tộc ngườichính Chỉ trong những thập niên độc lập gần đây, do việc xây dựng nhàcưûa mới, tình trạng biệt lập về mặt lãnh thổ của các nhóm tộc người mới bịphá vỡ một cách mạnh mẽ
Singapore là nơi dừng chân của các dòng người nhập cư từ nhiềunguồn gốc khác nhau Một người Singapore thì không phải là một ngườiTrung Quốc, Ấn Độ, Mã Lai, Châu Âu hay Á-Âu, ngay cả khi anh ta trônggiống như một trong những người này Nói đến sự hòa hợp dân tộc ởSingapore, không thể quên vai trò của Chính phủ như một chất keo dính thểhiện trong việc kiên định lập nên một “xã hội đa chủng tộc”
Trang 16Ngày nay, Singapore được coi là một quốc gia trẻ, cĩ nhiều dân tộc.Người Hoa là nhĩm tộc chính, chiếm 78,6% dân số cả nước, phần lớn làngười gốc Phúc Kiến và Triều Châu, một số từ Đài Loan sang Người gốc
Mã Lai bản địa, nhĩm dân tộc thứ hai chiếm 13,9% Người Ấn Độ chiếm7,9%, chủ yếu là gốc miền Nam Ấn Độ và 1,4% là những nhĩm người thiểu
số khác bao gồm người Anh, Đức, Mỹ, Ả Rập, người lai Âu Á, trong đĩđơng nhất là người Anh Cĩ khoảng trên dưới 50 người Việt sinh sốngthường xuyên tại Singapore, phần lớn là phụ nữ lấy chồng người Âu vàngười Hoa [12, tr.385] Mặc dù đa số dân cư là người Hoa, nhưng nhữngngười cầm quyền ở Singapore cĩ ý thức tạo nên một dân tộc Singapore riêngbiệt gồm nhiều dân tộc di dân đến, họ ngăn cản và khơng tán thành việc coi
họ như một “Trung Quốc thứ ba” (sau Bắc Kinh và Đài Loan)
Các nhĩm cộng đồng dân tộc sinh sống tại Singapore hiện nay vẫn giữđược nét đặc trưng văn hĩa và tiếng mẹ đẻ của mình Đại đa số người Hoatheo đạo Phật, thờ cúng tổ tiên, nĩi tiếng địa phương và tiếng Hoa phổ thơng.Người Mã Lai theo đạo Islam, nĩi tiếng Malaya Người Ấn Độ theo đạoHin-đu, nĩi tiếng Tamin Người châu Âu chủ yếu là người Anh, theo đạoThiên Chúa, nĩi tiếng Anh Từ trước đến nay ở Singapore khơng cĩ một tơngiáo, tín ngưỡng nào được nhà nước cơng nhận là quốc giáo
Ngơn ngữ chính thức là tiếng Mã Lai, tiếng Hoa phổ thơng, tiếngTamin và tiếng Anh Tiếng Mã Lai là ngơn ngữ quốc gia, tiếng Anh được sửdụng chính thức trong thương mại, hành chánh và giáo dục Đại bộ phận dânSingapore ngày nay thơng thạo 2 thứ tiếng: tiếng mẹ đẻ và tiếng Anh
II Giáo Dục ở Singapore
1.Cấu trúc và sự phát triển của giáo dục đại học
Singapore thừa hưởng mơ hình giáo dục đại học của Anh Quốc Kể từnăm 1960, mơ hình này đã và đang được thay thế bởi một hệ thống mạnh mẽ,
Trang 17nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng về nhân lực cho một nền kinh tế đang nhanhchóng mở rộng Mục tiêu cơ bản là xây dựng một cộng đồng ngườiSingapore có kiến thức và trình độ để đóng góp vào sự phát triển của đấtnước Nguồn nhân lực này đã được hình thành dựa trên nguyên tắc là việctriển khai ngành kinh tế và công nghệ sẽ phụ thuộc vào năng lực của lựclượng lao động có trình độ và chuyên môn Để đạt được điều này, một hệthống giáo dục 3 cấp đã được phát triển.
Cấp đầu tiên được tạo thành bởi hai trường Đại học công, trường Đại
học Quốc gia Singapore (NUS) và trường Đại học kỹ thuật Nanyang (NTU).Một trường Đại học thứ ba là dạng đại học mở, được thành lập bởi ViệnQuản trị Singapore (SIM) với sự trợ cấp tài chính một lần và cấp đất từChính phủ, đươïc lên kế hoạch thành lập và hoạt động vào năm 1994 như làmột trường tư Quyết định này là một sự chuyển hướng lớn lao trong chínhsách đầu tư cho giáo dục đại học của Chính phủ Singapore
Cấp thứ hai được tạo thành bởi 04 trường cao đẳng: Singapore, Ngee
Ann, Temasek và Nanyang Cấp thứ ba là của các viện đào tạo hướng nghiệp
cấp độ cao và trung bình, cấp này được thành lập bởi các Viện giáo dục kỹthuật (ITE) và những trung tâm đào tạo liên kết được thành lập bởi Chínhphủ Singapore với các công ty nước ngoài cũng như sự kết hợp giữa các viện
và trung tâm được thành lập bởi các bộ, tổ chức chuyên môn và các cơ sở tưnhân Cấp này hiện nay gồm các trường kỹ thuật và dạy nghề, được thành lập
từ 01/4/1992, nâng cấp thành trường đào tạo nghề kỹ thuật và được gọi là cácTrường kỹ thuật (ITE)
Chức năng chính của cấp đầu tiên là để đáp ứng nguồn nhân lực caocấp của đất nước kể cả những yêu cầu chuyên môn, và những nhu cầu nghiêncứu ứng dụng của khu vực tư nhân lẫn nhà nước Cấp thứ hai thực hiện chứcnăng chủ yếu cung cấp những kỹ năng dịch vụ, quản lý kỹ thuật chủ yếu củađất nước ở mức độ trung bình Cấp thứ ba, thực hiện các chương trình đào
Trang 18tạo cũng như đáp ứng nhanh chóng những nhu cầu nâng cao trình độ và bổsung kịp thời lực lượng công nhân hiện tại.
Nói tóm lại, mục tiêu chủ yếu của Chính phủ Singapore lúc bấy giờ làlàm cho các trường đại học và cao đẳng trở thành một chất xúc tác kinh tếhiệu qủa, kết nối giữa đầu ra và nhu cầu thay đổi liên tục của thị trường laođộng Chi tiêu cuûa Chính phủ được sử dụng một cách phù hợp nhằm hỗ trợcho sự phát triển giáo dục đạt được kết qủa tốt nhất thông qua sự cải tiến chấtlượng không ngừng
1.1Cấp độ đầu tiên- các Trường đại học
Nhằm đáp ứng những nhu cầu kinh tế đất nước, sau khi độc lập, cáctrường đại học tập trung vào khoa học và công nghệ Những chuyên ngànhhọc về hóa học ứng dụng, ngư nghiệp, sinh học, quản trị doanh nghiệp, xãhội học, quan hệ công nghiệp và lao động, và Malay học… được bổ sung.Vào năm 1969, để đáp ứng nhu cầu về lực lượng lao động có kỹ năng caocủa “ngành công nghiệp đầu tiên”, khoa Kỹ thuật và Kiến trúc, Trường kếtoán và quản trị doanh nghiệp được boå sung cho bốn khoa hiện hữu là Khoahọc xã hội; nghệ thuật; khoa học; Y học và Luật
-Vào những năm 1970, Đại học Singapore (NUS) đã có sự tăng trưởng
ổn định Số lượng sinh viên nhập học tăng từ con số 4.559 vào năm 1969 lêntới 7.030 vào năm 1979, tăng gần 70% [43, tr.26] Ở các khoa đào tạo nghề
kỹ thuật và quản trị kinh doanh, lượng sinh viên đăng ký lớn hơn nhiều sovới dự tính, phần lớn là do sự tăng trưởng không ngừng của các ngành côngnghiệp và dịch vụ
-Chính phủ Singapore đã hoàn toàn công nhận các bằng cấp của đạihọc Nanyang vào năm 1968 Tuy nhiên, chất lượng giảng dạy và khả năng cóviệc làm của sinh viên tốt nghiệp lại thấp hơn so với sinh viên tốt nghiệp từĐại học Singapore Đại học Nanyang nhận tất cả các thí sinh đăng ký nhậphọc bất kể thành tích học tập của họ và trao bằng tốt nghiệp sau 3 năm học
Trang 19nếu sinh viên đạt được 108 đơn vị học trình Những sinh viên cĩ điểm số nổitrội cĩ thể ở lại học năm thứ tư và sau đĩ được trao bằng danh dự.
Tuy nhiên, về mặt chất lượng lại ít cĩ sự kiểm sốt thường xuyên BanPrescott 1959 và Ban kiểm sốt Đại học Nanyang- đơn vị xem xét và kiểmtra tất cả những tiêu chuẩn tồn diện của Đại học Nanyang nhận thấy rằngphương pháp tổ chức, quản lý cùng với chất lượng thấp của đội ngũ giảngviên khơng tương xứng với một trường đại học hiện đại Do vậy, năm 1965Ban thẩm tra chương trình học được thành lập, phê phán mạnh mẽ chươngtrình học, các tiêu chuẩn và cách giảng dạy của Trường Ban này đã đưa ramột số đề nghị nhằm thay đổi chương trình học và chuyển hướng sang họcsong ngữ với tiếng Anh (ngơn ngữ làm việc chính của Singapore) và tiếngMadarin, ngơn ngữ trên các phương tiện truyền thơng Mặc dù đã cĩ những
nỗ lực cải tổ Đại học Nanyang, Trường vẫn “đang đi đến hồi kết thúc vớinhững sinh viên yếu kém và thậm chí là số lượng sinh viên ngày càng trở nên
ít đi”[36, tr.1] Thêm vào đĩ là sự căng thẳng dâng trào giữa những ngườiđược đào tạo tiếng Trung và tiếng Anh Theo như nhận định của Bộ trưởng
Bộ giáo dục và đào tạo Singapore vào năm 1980 thì những sinh viên tốtnghiệp từ trường này khơng thể đáp ứng được nhu cầu của thị trường
Do vậy, Chính phủ đã “thuyết phục” Hội đồng quản lý Đại họcNanyang bằng lịng chấp thuận đề nghị của Thủ tướng sáp nhập trường Đạihọc Nanyang với Đại học Singapore thành Đại học quốc gia Singapore
(NUS) vào tháng 8/1980 Việc sáp nhập theo đề nghị trong báo cáo về Giáo dục đại học ở Singapore vào năm 1979 của Ơâng Frederick Dainton, trong
đĩ Ơng nhấn mạnh về nhu cầu phải cĩ một trường đại học vững mạnh tạiSingapore
Mặt khác, để đáp ứng nhu cầu nhân lực cĩ trình độ, Chính phủ, theo đềnghị của CPTE (Council for Professional and Technical Education) đã thực
Trang 20hiện những biện pháp xa hơn để mở rộng những cơ sở đào tạo kỹ thuật vàcơng nghệ ở tất cả các cấp độ Theo đĩ, thay vì mở rộng Khoa kỹ thuật tạiĐại học NUS, năm 1981, Viện cơng nghệ kỹ thuật Nanyang (NTI) đượcthành lập như là một cơ sở đào tạo kỹ thuật độc lập tại khuơn viên trước đâycủa Trường đại học Nanyang Học viện này khởi đầu với 03 trường: Cơngnghệ sản xuất cơ khí; Xây dựng dân dụng cơng trình; Kỹ thuật điện tử vàđiện cơ Sau đĩ, thêm hai trường nữa ra đời: Khoa học ứng dụng; Kế tốnkinh doanh.
Mục đích NTI nhằm tạo ra “nguồn nhân lực cĩ trình độ cao cần thiếtcho những ngành cần nhiều vốn, phức tạp và cĩ giá trị cao mà sẽ đĩng vaitrị chủ đạo trong nền kinh tế Singapore vào những năm 1990” Vai trị chínhcủa NTI là đào tạo những kỹ sư thực hành để bổ sung đầu ra những kỹ sưthiên về lý thuyết của NUS Đối tượng kỹ sư thiên về lý thuyết thì phù hợpcho việc nghiên cứu, phát triển và sự quản lý mang tính hợp tác nhiều hơn làcho việc đáp ứng những nhu cầu về kỹ năng trong khu vực cơng nghiệp đanglớn mạnh khơng ngừng Năm 1987-1988, Trường kế tốn của NUS chuyểnđến NTI để hồn tất việc định hướng xây dựng
Về mặt quản lý tài chính, NTI là độc lập Tuy nhiên, về các vấn đềgiảng dạy, nĩ cĩ chức năng như một phần của NUS, những sinh viên tốtnghiệp từ NTI được cấp bằng NUS Từ khi bắt đầu hoạt động (1981) đếnnăm 1991, NTI cĩ số lượng sinh viên tốt nghiệp ngành kế tốn và kỹ sư là7.200 [43, tr.27]
Tháng 7/1991, theo sự đề nghị của Dainton Report năm 1989 [43, tr.9], NTI trở thành một trường đại học độc lập với tên gọi là Đại học cơng nghệNanyang (NTU) Cơ sở giáo dục và trường Cao Đẳng giáo dục thể chất đượcsáp nhập thành mơät cơ sở đào tạo quốc gia độc lập (NIE) và hợp thành nhưmột phần của NTU Năm 1992, NTU bắt đầu cấp bằng của chính trườngmình cho sinh viên
Trang 21Mục tiêu tổng quát của NTU là nhằm phát triển thành một trường đạihọc tồn diện cĩ chất lượng đào tạo tốt và cĩ tiếng tăm trên tồn thế giới Làmột trươøng đại học tổng hợp (với nhiều chương trình học và thời gian họckhác nhau), trường cung cấp những khĩa học từ nhiều nguyên tắc đa dạngngồi khuơn khổ của NTI trước đây (chỉ cung cấp những khố học liên quanđến cơng nghệ) Ngồi ra, nĩ được khuyến khích để cạnh tranh với NUS.Tính chất tổ chức của NTU là một sự pha trộn Anh-Mỹ, trong đĩ hệ thốngđơn vị học trình đại học Mỹ đã được kết hợp thành một chương trình giảngdạy mang tính chất bắt buộc Triết lý đứng sau sự chuyển hướng này là“ đểNTU mang lại bậc giáo dục đại học và cao đẳng trong các lĩnh vực quantrọng của các chuyên ngành kinh doanh, quản lý khách sạn và viễnthơng”[45, tr.1] Năm 1992, NTU bổ sung thêm hai ngành: Mỹ thuật và thiếtkế; Kiến trúc- là những ngành được xem là quan trọng đối với Singapore.
Chính sách lâu dài của Chính phủ cho rằng, khi phát triển, Singaporekhơng chỉ cần có kỹ sư, bác sĩ và những nhà quản lý cĩ trình độ mà cịn cần
cĩ các nhà văn, nghệ sĩ và nhạc sĩ để làm phong phú đời sống văn hố Đểduy trì sức mạnh và sự phát triển đối với giáo dục đại học, hai trường đại họctrên sẽ phát triển thành những trường đại học đa ngành, được khuyến khích
để cạnh tranh và cung cấp nhiều chương trình học theo yêu cầu của mỗi khutrường Mỗi trường đại học được khuyến khích để phát triển tiềm năng của
nĩ và tạo một vị trí trong các trường đại học quốc tế cĩ liên quan đến việcdạy và nghiên cứu của trường Người ta thấy rằng, sự cạnh tranh của haitrường này sẽ thúc đẩy sự sáng tạo cũng như buột hai trường phải đáp ứngđược những nhu cầu của đất nước và bản thân các sinh viên
-Trường Đại học mở, theo kế hoạch được thành lập vào 02/1994, như
là một trường của tư nhân dưới sự quản lý của SIM (Singapore Institute ofManagement), cung cấp những khố học được đánh giá là đáp ứng nhu cầucủa thị trường Ba chương trình học lấy bằng liên kết đầu tiên với Trường đại
Trang 22học mở (UK) là chương trình ngơn ngữ và văn học Anh (BA); tốn học(BSc); khoa học máy tính (BSc) [45, tr.2] Việc tuyển đầu vào khơng phụthuộc hồn tồn vào hệ thống mở, sinh viên phải cĩ những chứng chỉ nhấtđịnh đảm bảo rằng họ đủ điều kiện lấy bằng tốt nghiệp Khi hồn tất thànhcơng khố học, sinh viên sẽ được cấp bằng đại học mở của Anh quốc Nhữngkhố học này được hy vọng là sẽ tăng cường phát triển nguồn nhân lực củaSingapore cùng sự phát triển cá nhân và triển vọng nghề nghiệp của sinhviên tốt nghiệp Dự tính, Chính phủ sẽ hỗ trợ SIM với khoản tiền một lần là
38 triệu đơ la Singapore kể cả việc cho thuê mảnh đất cĩ diện tích khá lớn,đồng thời Chính phủ cũng đĩng vai trị quản lý về mặt chất lượng đào tạo.Song song với chính sách này, Ủy ban chỉ đạo chương trình cấp bằng đạihọc mở (OUDP) cũng được thành lập dưới sự chỉ đạo của Bộ trưởng Bộ giáodục và đào tạo, Ủy ban này quyết định nội dung giảng dạy và các tiêu chuẩntốt nghiệp, tuyển chọn và giám sát những giáo viên phụ đạo của các chươngtrình học Ngồi ra, Ủy ban chỉ đạo OUDP cịn kết hợp với Đại học Mở Anhquốc về việc phát triển các khố học mới cũng như thay đổi những khố họchiện tại để phù hơïp với nhu cầu của đất nước Sự hợp tác của SIM với Đạihọc Mở Anh quốc là cho giai đoạn 5 năm đầu tiên
Tĩm lại, các trường đại học Singapore đều biết “lắng nghe” những gì
mà xã hội trơng đợi ở các sinh viên tốt nghiệp để từ đĩ điều chỉnh chươngtrình giáo dục của mình Các giảng viên đại học đều cĩ sự hiểu biết tốt vềphương pháp giảng dạy Họ sẽ truyền đạt những tri thức vào nguồn nhân lựccủa đất nước Singapore Các trợ giáo sẽ khơng chỉ phát triển khả năngsáng tạo của sinh viên mà cịn gồm cả tinh thần tập thể, phát triển động lực
để mở rộng nhu cầu và tầm nhìn của họ
1.2 Cấp thứ hai –Các trường cao đẳng
Trang 23Mục tiêu chính của các trường cao đẳng là đáp ứng nhu cầu ngày càngcao cho nguồn nhân lực kỹ thuật cấp độ trung bình trong nhiều lĩnh vực Chođến thời điểm này đã cĩ 04 trường cao đẳng được thành lập
-Năm 1963, trường Cao đẳng Singapore được tổ chức lại và nâng cấpthành Trường cao đẳng cơng nghệ cao, những khố học nghề được chuyểnthành những chương trình kỹ thuật và dạy nghề
-Một trường kỹ thuật độc lập thứ hai, gọi là trường cao đẳng NgeeAnn, được thành lập vào năm 1963 bởi Ngee Ann Kongsi (liên kết) để nhữngngười tốt nghiệp bằng tiếng Trung quốc được tham gia vào nền giáo dục sautrung học theo hướng học nghề Mục tiêu của việc thành lập trường nhằmđiều chỉnh đầu ra của sinh viên tốt nghiệp phù hợp với những nhu cầuthương mại và cơng nghiệp của đất nước Trường đã trở thành trường cơngvào năm 1967, và được nâng cấp vào năm 1982 thành Trường cao đẳng
-Trường cao đẳng thứ ba, Trường Cao đẳng Temasek, được thành lậpvào năm 1990 để bổ sung những chương trình hiện tại cũng như mở rộng khảnăng chọn lựa chương trình học
-Trường thứ tư, trường Cao đẳng Nanyang, được thành lập vào tháng7/1992, tiên phong giảng dạy các ngành khoa học y tế với số lượng đầu vàođầu tiên là 700 sinh viên Trường này được hy vọng là một mũi nhọn trongngành cơng nghệ về y học
Ngồi ra, vào tháng 4/1973, Trường cao đẳng sư phạm (TTC) đượcnâng cấp thành Học viện giáo dục (IE) với trách nhiệm đào tạo giáo viên vànghiên cứu về giáo dục Nĩ cung cấp những khĩa học cho những sinh viên
cĩ trình độ phù hợp để dự thi vào trường Đại học Singapore để lấy bằng Đạihọc, Thạc sĩ và Tiến sĩ Một trường cao đẳng giáo dục thể chất (CPE) cũngđược thành lập vào tháng 7/1984 để đào tạo các giáo viên chuyên ngành mơngiáo dục thể chất cho các trường tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ
Trang 24thơng và trường cao đẳng Như đã nêu ở trên, IE và CPE được kết hợp vàovới NIE và sáp nhập vào NTU.
1.3 Cấp thứ ba- những trung tâm đào tạo nhà nước và tư nhân khác
Các trường thuộc Ban đào tạo kỹ nghệ và dạy nghề (VITB) được nângcấp thành những viện đào tạo kỹ thuật sau trung học phổ thơng (ITE) nhằmđáp ứng tốt hơn nhu cầu của những người tốt nghiệp trung học phổ thơng vànền kinh tế của đất nước Hệ thống mới được nâng cấp gồm 7 ITE trongtương lai sẽ làm cho những học sinh tốt nghiệp trung học phổ thơng sau 10năm học cĩ thể học được những kỹ năng và kiến thức ở cấp độ cao hơn, cĩnhiều sự lựa chọn hơn và nhiều cơ hội để tiếp tục học tập và được đào tạo ởcấp độ cao hơn
Ủy ban phát triển kinh tế (EDB), với hệ thống đào tạo hợp tác với cácChính phủ và cơng ty nước ngồi, đã thành lập các trường phát triển nhân lực
kỹ thuật, đĩ là: Trường Đức-Singapore (GSI); Trường Pháp-Singapore (ESI);Trường kỹ thuật Nhật Bản-Singapore (JSTI); Trường kỹ thuật chính xác(PEI); Trung tâm đào tạo chính Philips-Chính phu û(PGTC); Trường viễnthơng thơng tin của Singapore (ICIS) ở Telecoms; Tổ chức cơng nghệMatsushita-EDB surface Mount (SMT) và Ban năng suất quốc gia (NPB).Những trường này được hoạt động theo nhu cầu và việc đào tạo theo nhu cầucủa các nhà máy Do đĩ, chúng tập trung vào việc đáp ứng những thị trườnglao động cụ thể ở cấp độ bằng cử nhân và chứng chỉ trong ngành điện tử, tựđộng hố, cơng nghệ sản xuất cao và cơ điện tử Để tổ chức tốt hơn và thúcđẩy giáo dục kỹ thuật ở cấp độ quốc gia, các trường FSI, GSI và JSTI phảichịu dưới sự quản lý của Trường cao đẳng Nanyang mới thành lập Ngồi ra,những trường này sẽ là trung tâm của chương trình kỹ thuật bách khoa PEI
và PGTC đào tạo thủ cơng và kỹ thuật viên ở cấp độ chứng chỉ, hiện đangđược quản lý bởi ITE
Trang 25Ngồi SIM, các tổ chức chuyên mơn đã và đang thành lập nhiềutrường nữa, trong số đĩ cĩ trường Ngân hàng và tài chính (IBF), TrườngMaketing của Singapore (MIS), Trường Maketing xuất khẩu Những trườngnày hoạt động độc lập, phi lợi nhuận và tự quản lý tài chính mà mục tiêu là
để phát triển những kỹ năng trong các lĩnh vực của mình để tăng cường pháttriển sự nghiệp cho các thành viên
2.Sự mở rộng hệ thống và tuyển đầu vào
Việc tuyển sinh vào các trường đại học và cao đẳng dựa trên cơ sởtuyển chọn những thí sinh xuất sắc nhất, việc tiêu cực trong thi cử luơn đượcgiám sát chặt chẽ bởi đội ngũ lãnh đạo Singapore Các tiêu chuẩn tuyểnsinh được thiết lập ở mức cĩ thể so sánh được với tiêu chuẩn của nhữngtrường đại học “ red-brick” danh tiếng ở Anh quốc Do đĩ, giáo dục đại họcđược hình thành trên một hệ thống tuyển chọn người xuất sắc và cĩ tính cạnhtranh cao Những sinh viên cĩ khả năng kém sẽ nhận thấy rất khĩ để cạnhtranh trong qúa trình học với những sinh viên cĩ nền tảng tốt hơn, và nhữngsinh viên kém này nĩi chung sẽ tác động một cách tiêu cực tới những sinhviên giỏi Đồng thời, những sinh viên tốt nghiệp cĩ trình độ kém sẽ khơng cĩ
đủ kiến thức và kỹ năng để thực hiện tốt cơng việc, và khĩ cĩ cơng việc ổnđịnh nhất là trong một nơi làm việc được chi phối bởi cơng nghệ….và ngàycàng cĩ nhiều sinh viên thất nghiệp Do đĩ, mục tiêu chính là để xây dựngmột lực lượng người Singapore dựa trên nhu cầu cĩ trình độ và kỹ năng phùhợp, chứ khơng phải là dựa trên cung và một hệ thống đại học mở rộng
Chính sách tuyển đầu vào mang tính cạnh tranh cao này khơng làmgiảm số lượng sinh viên mà số lượng đầu vào ngày càng tăng trưởng bởi: sựdân chủ hĩa của giáo dục ở trường phổ thơng; hệ thống trường tiểu học vàtrung học cơ sở chất lượng cao; học bổng cho sinh viên cao; và thu nhập giađình tăng làm cho ngày càng nhiều gia đình trung lưu cĩ thể cho con theo
Trang 26học đại học Kết qủa là ngày nay số lượng sinh viên thuộc nhĩm kinh tế xãhội ngày càng nhiều do việc đào tạo phù hợp với nhu cầu thị trường.
Ở cấp độ đầu tiên (Degree), số lượng sinh viên tăng từ 3.502 vào năm
1960 lên tới 9.200 vào năm 1980 và sau đĩ tăng lên gấp rưỡi lên tới 25.307sinh viên vào năm 1990, tăng gấp 7 lần trong 30 năm Do đĩ, ở cấp độ thứhai (Diploma), lượng sinh viên nhập học tăng từ 4.669 sinh viên vào năm
1960 lên tới 13.433 sinh viên vào năm 1990 [43, tr.3] Việc tăng số lượngsinh viên nghiêng về ngành khoa học và cơng nghệ, kế tốn và quản trị kinhdoanh Điều này phù hợp với nhu cầu nhân lực của Singapore để phát triển
về các ngành sản xuất cơng nghệ cao, thương mại và dịch vụ
Đặc biệt, sự gia tăng ổn định về số lượng đầu vào của sinh viên nữ làmột trong những thành tựu quan trọng nhất của Singapore Tuy vậy, trongkhi khoảng cách đầu vào giữa sinh viên nam và nữ đã được rút ngắn, vẫncịn cĩ sự thiếu cân bằng về giới tính trong việc nhập học trong các lĩnh vựcchuyên mơn, chẳng hạn như: y học, kỹ thuật, luật tỷ lệ nam sinh viên vẫnchiếm đa số
Mặc dù áp lực trong nước rất mạnh đối với việc các trường đại họcchỉ dành riêng cho người Singapore, chính phủ Singapore vẫn dành khoảng15% đến 17% vị trí ở các trường đại học và từ 5% đến 7% ở các trường caođẳng dành cho sinh viên nước ngồi Chính sách cĩ sinh viên nươùc ngồi đểđảm bảo rằng các trường đại học và cao đẳng ở Singapore khơng suy thối
thành một cộng đồng khép kín Nĩ được sử dụng như là phương tiện để thu
hút và sử dụng các nhân tài để hỗ trợ và tăng cường nhân lực tài năng đanglớn mạnh và những nhu cầu về nhân lực cĩ chuyên mơn Ngồi ra, một sốsinh viên nước ngồi sau khi học tập trở về nước, cĩ xu hướng trở thànhnhững nhà lãnh đạo chính trị và kinh doanh ở đất nước của mình Do đĩ, nhờ
Trang 27vào mối quan hệ cá nhân giữa các sinh viên trong và ngoài nước với nhau cóthể đem lại lợi ích cho Singapore về lâu dài.
3.Giáo dục cho sinh viên ở nước ngoài
Chính phủ Singapore chọn lưïa những trường đại học hàng đầu ởnhững nước phát triển nói tiếng Anh để đào tạo những sinh viên xuất sắcnhất của Singapore Chính phủ tài trợ cho những sinh viên này thông quamột số học bổng danh tiếng và mang tính cạnh tranh cao Mục đích của việcnày là: cho sinh viên tiếp xúc và thể hiện mình trong hệ thống ý tưởng, kiếnthức, văn hóa ở những nước công nghiệp hóa; trang bị cho sinh viên nồngcốt, tư duy đầy đủ về thông tin những vấn đề toàn cầu hóa, về neàn kinh tế và
sự cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt mà Singapore đang phải đối mặt;đào tạo nhân lực cho những vị trí lãnh đạo chính trị, hành chính cấp bậc thứhai Mục đích là để tạo ra những con người với sự năng động, linh hoạt cầnthiết để đối mặt với những thử thách và thay đổi mà Singapore luôn đối mặt,duy trì sự cạnh tranh trong hệ thống thị trường toàn cầu
Ngoài ra Chính phủ và các Bộ khác gửi sinh viên học ở nước ngoài đểđược đào tạo về các ngành chuyên môn mà trong nước không có Lượng sinhviên được tài trợ cũng như sinh viên du học tự túc ngày càng tăng mạnh.Tổng số sinh viên này từ khoảng 2000-3000 hàng năm Người ta dự tính rằngvào những năm 1990, có khoảng 15.300 sinh viên học ở nước ngoài và 75%trong số đó là theo học các khoá để lấy học vị trên đại học (M.A, MBS…,Ph.D) [43, tr.26] Họ đại diện cho nhu cầu nhân sự của đất nước Singaporehơn là nhu cầu xã hội
Tuy vậy, du học đã và đang bị một số người chỉ trích, chủ yếu là vì nó
đã hút hết các suất học bổng hấp dẫn và những sinh viên giỏi nhất củaSingapore Nó làm cho các trường trong nước và bản thân sinh viên khôngđược tiếp xúc với những sinh viên giỏi nhất của chính nước mình Việc học ở
Trang 28nước ngồi cũng gĩp phần vào việc làm chảy máu chất xám, và tác động mộtcách tiêu cực đối với Singapore về nhu cầu nhân lực trong nhưõng lĩnh vựcquan trọng như khoa học và cơng nghệ.
4 Việc dạy và học
Việc giảng dạy chương trình đại học được thực hiện thơng qua các bàigiảng, các hội nghị chuyên đề và các lớp phụ đạo trong hai học kỳ của niênhọc Bài giảng của các khĩa học được thiết kế cụ thể theo qui định của khĩahọc Các hội nghị chuyên đề và các buổi phụ đạo được tổ chức hai lần mộttuần trong phạm vi đề cương khố học để giúp sinh viên chuẩn bị cho kỳ thicuối khĩa Tất cả sinh viên đều phải viết một số bài luận bắt buộc trong suốtkhố học của mình
Việc giám sát chất lượng học sinh cịn được tăng cường bằng cáchnâng cao tiêu chuẩn giảng dạy của đội ngũ giảng viên Do đĩ, cĩ một sự tậptrung cao độ trong việc đạt được mức độ tuyệt vời trong việc dạy và học Đểđạt được điều này, các trường nỗ lực hết sức để thúc đẩy phát triển chuyênmơn của đội ngũ giảng dạy Trong qúa trình tuyển chọn đội ngũ giảng viên,khơng chỉ chú trọng vào phẩm chất khả năng, mà cịn chú trọng vào những
kỹ năng cơ bản trong việc dạy và kỹ năng sư phạm
Kể từ năm 1981, rất nhiều nỗ lực được phối hợp nhằm cải thiện việcgiảng dạy ở nhiều trường đại học Tất cả những giáo viên mới được tuyểndụng ở NUS và NTU đều phải làm quen với một chương trình giáo học ngắnhạn Trong chương trình này, tập trung vào các phương pháp dạy và học,đánh giá khĩa học và việc sử dụng những phương tiện giảng dạy Nhữnggiáo viên tốt được khuyến khích thơng qua việc điều chỉnh lương, thăngchức Điều này đã và đang được tăng cường sâu hơn thơng qua những giảithưởng đặc biệt cho thành tích tuyệt vời trong việc dạy ở cấp khoa hoặc cấptrường Từ năm 1993, NTU cĩ kế hoạch giới thiệu những chương trình giảng
Trang 29dạy đặc biệt cho những giảng viên mới Những chương trình này được chínhthức hĩa và khuyến khích áp dụng cho việc dạy ngày càng tốt hơn.
Ngồi ra, những hội nghị chuyên đề về phương pháp giảng dạy đuợcthực hiện bởi những giảng viên chính thức và giảng viên thỉnh giảng cĩ thâmniên để nâng cao và cải tiến kỹ năng giảng dạy Đội ngũ giáo viên trường
NUS cĩ thể tiếp cận với Sách chỉ nam về việc dạy rất hữu ích NUS và NTU
cĩ một trung tâm cho cơng nghệ đào tạo và một trung tâm phát triển đào tạo
để cải tiến việc dạy và học Chức năng chủ yếu là để đem lại sự trợ giúp về
kỹ thuật và tư vấn cho đội ngũ giáo viên nhằm tăng cường kỹ năng chuyênmơn trong việc dạy và học
Cĩ một sự khác biệt về cơ cấu tổ chức của các hoạt động dạy và họcgiữa các trường Ngày càng cĩ nhiều sự tập trung vào việc nâng cao chấtlượng kỹ năng cuả sinh viên trong cách suy nghĩ, sáng tạo, kỹ năng làm việctheo nhĩm và trong các mối quan hệ xã hội Các sinh viên được khuyếnkhích tự học bằng cách bổ sung việc học trên lớp với việc học trên máy tính,mục tiêu là để tăng cường việc tự học của sinh viên Nĩ cũng giúp cho nhữngsinh viên giỏi hơn thử thách khám phá với những vấn đề ngoài chương trìnhhọc yêu cầu, mặt khác đào tạo cho sinh viên trong việc sử dụng những cơ sở
dữ liệu khác nhau về chương trình học và những phần mềm tập trung vàoviệc tăng cường hiệu qủa học và kiến thức cho sinh viên
Bên cạnh đĩ, việc cải thiện chất lượng và các tiêu chuẩn là mục tiêutrung tâm cuả các trường đại học và cao đẳng Chẳng hạn như, NUS đã vàđang tập trung vào việc đưa trường trở thành một trong những trường đại họctốt nhất trên thế giới và được cơng nhận là trường dẫn đầu trên thế giới trongcác lĩnh vực chăm sĩc y tế và cơng nghệ sinh học, ứng dụng cơng nghệ thơngtin, các hệ thống trí tuệ nhân tạo, cơng nghệ tự động hĩa và vi điện tử, cơngnghệ xây dựng, cấy mơ động vật và cơng nghệ hĩa sinh [41, tr.2] Các bằngcấp chuyên mơn của NUS và NTU được cơng nhận ở những nước khác nhau
Trang 30như Anh, Úc và những tổ chức ở các nước công nghiệp hóa Tất cả các bằngcấp NUS và NTU đều được chấp nhận bởi hầu hết những trường đại học cácnước nói tiếng Anh để học sau đại học.
Để các trường đạt được những mục tiêu này trở thành những nơi đàotạo theo tiêu chuẩn quốc teá, đầu vào liên quan đến sinh viên được tuyểnchọn và các cơ sở vật chất được duy trì ở chất lượng cao Chính sách khôngnhận sinh viên mà không có kết qủa trên mức “O” và “A” và sự thông thạotiếng Anh là nhân tố tích cực trong việc tăng cường chất lượng Các sinhviên phải vượt qua các kỳ thi học kỳ vào cuối mỗi năm học Để được tham
dự kỳ thi học kỳ, một sinh viên phải tham gia các bài giảng và trợ giảng ở tất
cả các khóa học cuõng như hoàn thành các bài luận bắt buộc trong mỗi kỳ
Tuy nhiên, vẫn có những điểm yếu trong hệ thống này Một kỳ thi cuối năm như một phương pháp đánh giá, không đủ để đem lại một sự đánh giá tốt về khả năng nắm bắt của sinh viên đối với môn học đó cũng như khả năng chung Vì điểm thi là yếu tố duy nhất đánh giá khả năng của sinh viên, các sinh viên có xu hướng học thuộc lòng những gì học được để áp dụng vào
kỳ thi Hệ thống này cũng gây ra sự lo lắng và căng thẳng qúa mức đối với
sinh viên
Để duy trì chất lượng và tiêu chuẩn cho các chương trình dạy và học,
cả NUS và NTU đều đã và đang áp dụng hệ thống người chấm thi từ bênngoài cho các chương trình học Tất cả những người chấm thi từ bên ngoài lànhững giảng viên từ trường đại học ở nước ngoài Việc người chấm thi làngười bên ngoài được xem là một cơ chế hữu ích nhất để giám sát các tiêuchuẩn học và dạy và khẳng định có thể so sánh với những trường đại họcquốc tế khác, đánh giá những điểm mạnh và điểm yếu của nội dung khóahọc và chất lượng trong các kỳ thi NUS và NTU đã và đang mở một hệthống ban tư vấn bao gồm những người đang hành nghề, các nhà tư bản côngnghiệp và những đại diện của khu vực nhà nước từ những lĩnh vực tương ứng
Trang 31để giám sát và cung cấp nguồn vào nhằm chỉ dẫn về cấu trúc chương trìnhhọc và nội dung khĩa học để làm cho chúng phù hợp với nền kinh tế đấtnước Nĩi cách khác là để tạo ra một chương trình học đáp ứng nhu cầu củakhách hàng, chứ khơng phải là bản thân trường Các sinh viên (thơng qua cácbảng câu hỏi điều tra) cung cấp các thơng tin phản hồi về đội ngũ giảng dạy
đã và đang được áp dụng ở tất cả các trường đại học và cao đẳng Mục tiêu là
để đem lại một nguồn bổ sung để cải thiện việc dạy, chương trình và cấu trúckhĩa học và do đĩ tăng cường chất lượng và tính phù hợp của các khĩa học.Các trường cao đẳng cũng cĩ những cơ chế đảm bảo chất lượng, gọi là kiểmtra và kiểm sốt khĩa học
III.Giáo dục và bản sắc Singapore
1 Nhu cầu về giáo dục đại học
Như hầu hết ở các nước khác, nhu cầu học đại học ở Singapore là rấtlớn Số lượng sinh viên tuyển vào đại học từ 5000 vào năm 1965 đã tăng đến25.000 vào năm 1994, tỷ lệ tăng hàng năm là 20% Ngồi ra cịn cĩ khoảng8.000 sinh viên khác đang học tập tại các trường đại học ở nước ngồi Tổngcộng cĩ khoảng 20% trong số 40.000 người thuộc các nhĩm tuổi đang theo
Trang 32Nói chung, sinh viên Singapore có đầu óc thực dụng Họ lựa chọnngành học dựa trên cơ sở triển vọng về việc làm sau này Chính vì lý do này
mà trong số 10% học sinh xuất sắc nhất nhóm nộp đơn theo học kỹ sư chiếm
tỷ lệ cao nhất Phương thức lựa chọn thực dụng trên đã chứng tỏ khả năngđáp ứng nhu cầu nhân lực lớn trong các ngành kinh doanh và kỹ thuật Cácsinh viên ngành kỹ thuật sau khi tốt nghiệp có thể dễ dàng kiếm được mộtviệc làm có thu nhập khá và họ cũng là bộ phận không thể thiếu của nguồnnhân lực quan trọng trong ngành công nghiệp
2.Tương lai của giáo dục đại học Singapore.
Hệ thống giáo dục đại học được tổ chức chặt chẽ và do nhà nước quản
lý, với những chính sách và chiến lược thực hiện hiệu quả, đã giúp choSingapore tạo nên được những người Singapore có chuyên môn tốt chonhững nhu cầu phát triển của đất nước Điều này mang lại sự thành côngthông qua việc hoạch định chi tiết một hệ thống giáo dục đại học mà đấtnước đang cần trong thời gian trung hạn và dài hạn là dạy cái gì, dạy cho ai
và chi phí là bao nhiêu
Chiến lược của Singapore đã và đang đem lại những bài học thực tiễncho những người hoạch định chính sách giáo dục đại học ở những nước pháttriển Những thực tiễn có thể xem là những bài học hữu ích là: sự liên kếtthành công và được duy trì liên tục giữa giáo dục, thị trường lao động và sựphát triển kinh tế; chính sách tiếp nhận sinh viên thông qua thành tích; việcvận dụng các cơ chế để có được nguồn chất lượng cao; chiến lược duy trì chiphí một cách hiệu qủa trong hoạch định chương trình và nghiên cứu; đa dạnghóa các nguồn và giảm sự trợ cấp của Chính phủ mà không làm giảm chấtlượng…
Tuy nhiên, hệ thống giáo dục đại học ở Singapore phải đối mặt vớimột số vấn đề phát sinh như: sự canh tranh ngày càng lớn của các tổ chức tưnhân có nhu cầu nghiên cứu và đào tạo; sự tăng học phí và chi phí sinh hoạt
Trang 33hàng năm của các sinh viên cĩ gia đình thu nhập thấp; sự chênh lệch giữanền kinh tế bị chi phối bởi cơng nghệ cao dựa trên kiến thức của quốc gia và
sự nâng cao kỹ năng thơng qua chương trình giáo dục liên tục mang tính linhhoạt và thống nhất; những kết qủa chưa thuyết phục của những sinh viên nữtrong các lĩnh vực chuyên mơn như y học, kỹ thuật và luật; sự phản khángngày càng tăng đối với chính sách của Chính phủ về việc phân lớp theo nănglực sinh viên ở những trường đại học …
Singapore đã và đang tập trung vào việc nuơi dưỡng và cũng cố nhữngkhả năng mấu chốt của nguồn nhân lực để đáp ứng những nhu cầu của đấtnước trong tương lai Tầm nhìn hiện tại là đạt được trạng thái và những đặctính của nước phát triển nhất trong vịng 30 đến 40 năm tới Do đĩ, mục tiêucủa các trường đại học và cao đẳng là: theo kịp sự tiếp thu đang ngày càngphát triển của Singapore; các trường đại học và cao đẳng là nguồn cung cấpnhân lực cho cơ cấu cơng nghiệp đang thay đổi nhanh chĩng; tối đa hĩa các
cơ hội cho những người Singapore muốn học đại học Để đạt được nhữngmục tiêu và khơng lãng phí tài năng tiềm tàng của thế hệ trẻ đất nước,Singapore lên kế hoạch chuyển hướng sang một hệ thống giáo dục hàng loạtvào năm 2000, đem lại 20% học sinh tiểu học cơ hội học đại học và 40%học cao đẳng Nĩi cách khác, vào năm 2000, 60% những người tốt nghiệptrung học cơ sở ở Singapore cĩ thể học ở các trường đại học và cao đẳng[43, tr.8]
TIỂU KẾT
Hệ thống giáo dục đại học thành cơng ở Singapore thật độc đáo ởnhiều phương diện (về những điều kiện chính trị và xã hội) Nĩ cho thấy khảnăng tuyệt vời của một hịn đảo nhỏ để phát triển một hệ thống giáo dục đạihọc được quản lý, kiểm sốt và tài trợ bởi Chính phủ, được kết hợp chặt chẽvới sự phát triển kinh tế và thị trường lao động trong nước Thực tiễn củaSingapore cịn cho thấy một điều rằng, đối với bất kỳ nước nào gia nhập vào
Trang 34hệ thống thị trường toàn cầu để đạt được một sự tăng trưởng kinh tế nhanhthì nước đó phải được hỗ trợ bởi chiến lược kinh tế theo hướng công nghệcao và phải không ngừng cập nhật kiến thức và nâng cao kỹ năng Chínhsách can thiệp mạnh mẽ của Chính phủ được thực hiện hiệu qủa đã và đang
có những tác động tích cực đối với hệ thống giáo dục quốc gia để tránh xaqua niệm hẹp hòi truyền thống của Anh quốc về giáo dục đại học đối với một
hệ thống các trường đại học bị chi phối bởi thị trường lao động phân tầng và
đa chức năng Giờ đây sự thử thách trọng tâm là dần dần chuyển hướng về sựcan thiệp gián tiếp nhiều hơn của Chính phủ theo nhu cầu phát triển cũngnhư sự đáp lại của các trường đại học với những nhu cầu này đã và đangngày càng phức tạp và đa dạng
CHƯƠNG II
ĐÀO TẠO VÀ THU HÚT NHÂN TÀI
I Phát triển giáo dục đại học
1.Vai trò của các trường đại học
Vai trò trung tâm của các trường đại học và cao đẳng là để cung cấp vàphát triển khả năng khoa học, công nghệ và tài chính, kể cả quản lý nhân lựccủa Singapore Việc sử dụng tiếng Anh như là một ngôn ngữ giảng dạychính được xem như là một cách thực tế để nắm vững kiến thức và do đótăng cường vị thế cạnh tranh của Singapore ở thị trường toàn cầu
Singapore nhận thấy rằng cách duy nhất để đạt được một vị thế cạnhtranh trong thị trường toàn cầu thì nguồn vốn con người là quan trọng nhất
Trang 35đặc biệt là khi nền kinh tế tri thức ra đời thì yếu tố con người càng trở nênquyết định hơn bao giờ hết Nền kinh tế tri thức ra đời địi hỏi phải tạo ranhững con người cĩ tri thức, ham hiểu biết, cĩ năng lực thích nghi, sáng tạolinh hoạt, cĩ ý thức trách nhiệm cao đối với cộng đồng xã hội…để đạt đượccác mục tiêu đã đề ra Chính phủ Singapore đã thực sự coi giáo dục là “quốcsách hàng đầu”.
Do đĩ, các trường đại học luơn nỗ lực trong việc cải thiện chất lượng
và các tiêu chuẩn, đĩ cũng là mục tiêu trung tâm của các trường đại học.Thơng qua những chiến lược tuyển dụng hấp dẫn trong nước và quốc tế songhành với một mơi trường giảng dạy được trang bị tốt, các trường đại học đã
cĩ được một đội ngũ giảng viên cĩ trình độ cao và đầy tài năng
Để tăng cường danh tiếng và duy trì những tiêu chuẩn quốc tế đã đượccơng nhận, các trường đại học cơng bố và phổ biến các cơng trình nghiêncứu Chiến lược nghiên cứu được hỗ trợ và khuyến khích nghiên cứu các vấn
đề thực tiễn trong cuộc sống, phù hợp với sự phát triển kinh tế đất nước Vớitinh thần này, các trường đại học được yêu cầu thơng qua Báo cáo của Ủyban kinh tế năm 1986 nhằm thúc đẩy việc nghiên cứu và đào tạo của mình.Các mục tiêu chủ yếu là: tăng cường một mơi trường nghiên cứu đầy hàohứng trong các trường đại học; đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng đối với cácnhà khoa học và kỹ sư nghiên cứu cĩ trình độ cao
Chính sách R&D của Chính phủ (đầu tư cho nghiên cứu và triển khaivào hướng sáng tạo mới) được thiết lập nhấn mạnh vào mối liên kết của cácngành cơng nghiệp - các trường đại học thơng qua sự tư vấn và các dự án
R&D Điều này được tăng cường mạnh hơn bởi Kế hoạch cơng nghệ quốc gia 1991 Theo kế hoạch này, tăng cường hoạt động R&D đạt mục tiêu năm
1995: tỉ lệ số nhà khoa học kỹ sư là 40% trong lực lượng lao động
Để hợp tác và hỗ trợ các hoạt động R&D, Ủy ban khoa học Singaporevào năm 1991 được nâng cấp thành Bộ cơng nghệ và khoa học quốc gia
Trang 36(NSTB), mà cũng là Cơng viên khoa học nước ngồi, với nhiệm vụ cụ thể làphát triển Singapore thành một trung tâm chuyên về những lĩnh vực chọn lọccủa cơng nghệ nhằm tăng cường tính cạnh tranh của Singapore trong các lĩnhvực cơng nghiệp và dịch vụ Kế hoạch hiện tại là để phát triển NSTB thànhmột “trung tâm cơng nghệ non-stop” bao gồm tồn bộ chu kỳ của R&D đượcđiều tiết bởi ngành cơng nghiệp Mối quan hệ mật thiết giữa Cơng viên khoahọc với NUS và NTU đã và đang được tăng cường nhằm thực hiện những dự
án R&D
2 Mối quan hệ Chính phủ- các trường đại học
Vì các trường đại học hầu hết được Chính phủ hỗ trợ kinh phí, Chínhphủ duy trì một sự kiểm sốt mạnh mẽ đối với hoạt động cũng như chínhsách của trường Thơng qua hàng loạt chính sách can thiệp, Chính phủ đã vàđang kiểm sốt sự tự quản đại học và đặc biệt là định hướng các trườngnhằm thích nghi với những thay đổi và nhu cầu chính của xã hội Sự kiểmsốt, giám sát và quản lý của nhà nước đối với các trường đại học ngày cànggắt gao thơng qua hàng loạt các cuộc đối thoại giữa Chính phủ và các trườngđại học
Luận điểm của Chính phủ là các trường cịn thiếu sự nhiệt huyết trongviệc giải quyết các vấn đề hiện tại của đất nước Sự nhìn nhận của Chính phủnhư một địn bẩy khuyến khích vai trị chủ chốt của các trường đại học trongcác vấn đề phát triển Singapore Chính phủ kiểm sốt các trường đại họctrong phạm vi tồn quốc một cách trực tiếp trên nguyên tắc quản lý chứkhơng phải là nguyên tắc học thuật, do vậy hầu như khơng tác động đếnchính sách giảng dạy và học thuật
Trên tinh thần giáo dục là sự nghiệp chung của tồn xã hội, giáo dụcphải phục vụ trực tiếp cho nhu cầu phát triển của đất nước Vì thế, ngay từ
những năm 80 ở Singapore Kế hoạch phát triển giáo dục khơng phải do Bộ giáo dục soạn thảo mà là do Bộ cơng nghiệp và Thương mại soạn thảo
Trang 37nhằm cân đối nguồn nhân lực theo nhu cầu của đất nước, đây là điểm khácbiệt quan trọng so vơiù thực tiễn thường thấy ở nước khác Trong lĩnh vựcgiáo dục đại học, Chính phủ thơng báo mục tiêu thu hút 10 trường đại họcdẫn đầu trên thế giới mở phân hiệu tại Singapore, giúp Singapore đào tạonguồn nhân lực, tăng cường tiềm lực trí tuệ Chính phủ cho phép các trườngđại học trong nước hợp tác với các trường đại học nước ngồi ở Anh, Mỹ và
Úc liên kết trong đào tạo Vì thế chất lượng giáo dục ở các trường đại họcSingapore rất cao và trở thành trung tâm đào tạo quốc tế Chính phủ cịnkhuyến khích học sinh đi du học bằng kinh phí nhà nước và tự túc hoặc bằngcác nguồn tài trợ của nước ngồi
Ở Singapore hiện cĩ 3 trường đại học cơng lập (NUS, NTU, SMU), 5trường đại học bán cơng và cĩ tới 400 trường đại học tư thục mà phần lớnlưu học sinh các nước đến học tại các trường này [30, tr.57] Cục phát triển
kinh tế và Hiệp hội Người tiêu dùng Singapore đã đưa ra “Kế hoạch bảo hộ lợi ích của học sinh” nhằm tăng cường các qui chế trong hoạt động quản lý
tại các trường tư thục
Về chất lượng giáo dục, Singapore cĩ chế độ giám sát chất lượngSQC(Singapore Quality Class) Đây là nghị định mang tính pháp lý tronglĩnh vực giáo dục Những trường cĩ chứng nhận SQC mới được nhận sự bảo
hộ của Chính phủ trong giáo dục quốc tế Khơng những thế, chất lượng giáodục của từng trường được sự chứng nhận của các nước qua qúa trình làmviệc của Bộ giáo dục Singapore và đại sứ quán của các nước ở nước này.Khi đã được chứng nhận thì việc thu lợi đối với các trường là rất lớn Ngồichất lượng giáo dục, Singapore cịn quan tâm rất chặt chẽ đến chất lượngphục vụ
3 Các chính sách đối với giáo dục đại học
3.1 Việc phân bố nguồn kinh phí
Trang 38Vì sự phát triển kinh tế dài hạn của Singapore phụ thuộc rất nhiều vàongười cĩ trình độ chuyên mơn, Singapore đã lựa chọn giáo dục đại học nhưmột mục chính trong chương trình chi tiêu nhà nước Vào năm 1985, tổngchi phí cho giáo dục lên tới 5.1% GDP song giảm xuống cịn dưới 4% kể từkhi cĩ suy thối kinh tế vào năm 1985-1986 Sau đĩ Singapore cĩ kế hoạchtăng lên tới mức 6% Tuy nhiên, tỷ lệ này tăng từ 13% vào năm 1970 lên tới16% vào năm 1980, đến năm 1990, giáo dục đại học đã chiếm một tỷ lệ đáng
kể và ngày càng tăng trong tổng ngân sách giáo dục đến 26%, [43, tr.6] Sựtăng tỷ lệ này song hành với việc tăng số lượng sinh viên và chi phí để duytrì và nâng cao chất lượng cũng như tiếp tục trợ cấp cho sinh viên Chính phủSingapore cho rằng phải trả tiền lương cao để cĩ chất lượng tốt nhất và sựtrợ cấp cho sinh viên là yếu tố quyết định để tạo sự cơng bằng về cơ hội cũngnhư thu hút những người tài theo học đại học, nhất là những ngành học quantrọng đối với nền kinh tế
Tuy nhiên, kể từ sau sự suy thối vào giữa những năm 1980 thì sự tàitrợ của Chính phủ cho sinh viên bị cắt giảm và mức học phí lại cao hơn để
bù đắp vào phần chi phí trước đây, làm giảm sự lệ thuộc qúa mức của cáctrường đại học cơng vào sự tài trợ của Chính phủ Chính phủ sẽ cung cấp tàichính cho các trường đại học khoảng 60% ngân sách của họ, 40% cịn lại cáctrường tự tạo ra từ học phí, phí sử dụng và những nguồn phi chính phủ khác.Tuy nhiên, Chính phủ vẫn tiếp tài trợ những khoản chi tiêu quan trọng
Điều này đã buộc các trường đại học phải đa dạng hĩa các nguồndoanh thu của mình Học phí sinh viên tăng dần từ năm 1986 và tăng đáng kểvào năm 1989 Ngồi ra các trường đại học đã và đang thành lập những qũyủng hộ bằng cách thu hút những nguồn phi Chính phủ, nguồn thu cĩ được
từ quỹ này được sử dụng để hổ trợ những dự án đặc biệt và các sáng kiếncũng như để phát triển những chương trình nghiên cứu và sản phẩm trí tuệ
Trang 393.2 Các khoản cho vay, học bổng cho sinh viên
Những khoản vay đặc biệt khác nhau luơn sẵn sàng để hổ trợ nhữngsinh viên cĩ hồn cảnh khĩ khăn được vào học ở các trường đại học do nhànước tài trợ Tuy nhiên, khi học phí tăng lên một cách đáng kể vào năm 1989thì một chiến lược cho vay để trả tiền học phí (TLS) được thiết lập nhằm tạođiều kiện cho các sinh viên giỏi, khĩ khăn về tài chính được vào học ở cáctrường đại học
Tất cả các sinh viên được vào học chương trình đại học hoặc cao đẳngtồn thời gian ở một hoặc hai trường đại học, bất kể thu nhập của cha mẹ họ
là bao nhiêu, đều cĩ thể vay tới 65% số tiền học phí, trong khi sinh viên caođẳng chỉ cĩ thể vay 50% tiền học phí Khoản vay sẽ khơng tính lãi trong qúatrình học, tuy nhiên khi tốt nghiệp, khoản vay sẽ được tính lãi theo mức tínhtrung bình của 4 ngân hàng lớn Cần phải cĩ một người bảo lãnh tuổi từ 21đến 60 và đối với sinh viên nước ngồi người bảo lãnh khơng phải là ngườiSingapore cũng được chấp nhận
Để tiếp tục nhận được các khoản vay, sinh viên phải đạt được thànhtích tốt trong qúa trình học Các khoản vay bởi các sinh viên đại học phảiđược trả trong khoảng thời gian là 20 năm và việc thanh tốn phải bắt đầusau khi tốt nghiệp 2 năm, trong khi những sinh viên cao đẳng phải bắt đầu trả
nợ sau khi tốt nghiệp một năm hoặc đối với sinh viên nam thì 1 năm sau khiphục vụ nhà nước Nếu một sinh viên về nước, thì khoản vay phải được trảhết trước khi về, và các sinh viên bỏ học giữa chừng phải trả lại khoản vayngay lập tức Ngồi ra, Ủy ban dịch vụ nhà nước còn tặng thưởng một sốhọc bổng cho sinh viên Những phần thưởng này mang tính cạnh tranh rấtcao và được trao cho những sinh viên cĩ tiềm năng về học vấn và lãnh đạo
Trong những năm cuối của thế kỷ XX, Chính phủ Singapore đã đề ramục tiêu là đến thế kỷ XXI, cơng dân Singapore đều phải nắm vững tri thức
cơ bản về điện tử và sử dụng tốt kỹ thuật đĩa mềm điện tử để nối mạng đi
Trang 40khắp thế giới Đồng thời đưa kỹ thuật này vào ứng dụng trong tất cả cácngành kinh tế quan trọng Từ năm 2005, Singapore đang thực hiện kế hoạchkhá đặc biệt, kế hoạch “ Vườn trường tồn cầu” với hy vọng thơng qua kếhoạch này Singapore sẽ trở thành một trung tâm giáo dục đứng hàng đầu thếgiới vừa đào tạo người tài vừa nhằm thu hút nhân tài về đây học tập, nghiêncứu và ở lại (nếu muốn) để phục vụ trực tiếp cho chiến lược phát triển kinh
tế tri thức của Singapore
II Chiến lược thu hút nhân tài
1.Cơ sở và thực trạng nguồn nhân lực
Đối với một đất nước nghèo tài nguyên thiên nhiên như Singapore,cộng với 2 triệu dân ở thời điểm độc lập năm 1965 thì nhân tài là yếu tố rấtquan trọng Người Hoa ở đây đa phần là những người xuất thân từ nhữngnơng dân ở các tỉnh miền Nam Trung Quốc Nhiều người làm những cơngviệc lao động chân tay như khuân vác, bốc xếp hàng hố và kéo xe lơi Họđược những người thầu nhân cơng đưa đến đây để làm cơng nhân học nghề.Những di dân Ấn trước đây cũng đến làm cơng nhân học nghề, làm việc trêncác đồn điền cao su, xây dựng đường sá, cầu cống Hầu hết đều xuất thân từtầng lớp thấp, cũng cĩ những nhĩm nhỏ thương gia và nhân viên văn phịngngười Ấn Những người cĩ khả năng nhất là thương gia người Sindhi vàngười Hindu Brahmin, đặc biệt là những vị giám mục Hậu duệ của họ lànhững người cĩ tài Theo lệ thường, người Malay giỏi về nghệ thuật hơnkhoa học
Dưới thời thuộc địa Anh, Singapore là trung tâm giáo dục trong khuvực với những trường học tốt, là nơi đào tạo các giáo viên như trường đạihọc Y King Edward VII Medical và đại học Raffles (dạy nghệ thuật và khoahọc) Cả hai trường đại học chất lượng cao này về sau được sáp nhập thànhĐại học Malaya ở Singapore Những sinh viên giỏi nhất trong số sinh viênhọc tiếng Anh ở Malaya và đảo Borneo được vào học tại các học viện