Nghiên cứu một số yếu tố chất lượng nước sinh hoạt và bệnh liên quan ở 6 xã nông thôn Đông Hưng - Thái Bình. Đánh giá hiệu quả biện pháp can thiệp
Trang 1Bé gi¸o dôc vμ ®μo t¹o Bé quèc phßng
Trang 2Vµo håi 14 giê 00 ngµy 01 th¸ng 7 n¨m 2008
Cã thÓ t×m hiÓu luËn ¸n t¹i:
- Th− viÖn quèc gia
- Th− viÖn - Häc viÖn qu©n y
Trang 3Đặt vấn đề
Nước sạch và vệ sinh môi trường là một nhu cầu cơ bản trong đời sống hàng ngày của con người Hiện nay, vấn đề này đã trở thành một đòi hỏi bức bách trong việc bảo vệ sức khoẻ và cải thiện điều kiện sống của nhân dân, trong sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước
Trong điều kiện hiện nay, sự gia tăng dân số, quá trình đô thị hoá và nền kinh tế mở cửa là những nguy cơ gây gia tăng ô nhiễm môi trường tự nhiên và môi trường nước Điều đó đe doạ nghiêm trọng đến môi trường sống và sức khoẻ con người thông qua những bệnh liên quan đến nước
Đặc biệt, trên thế giới, người ta đã thấy sự ô nhiễm asen trong nước ngầm, gây nên các căn bệnh hiểm nghèo xảy ra ở một số nước như: Mỹ, Chi Lê, Hungari, Mexicô, Thái Lan Bangladesh, ấn Độ là những Quốc gia đã bị nhiễm asen nặng ở Việt Nam, qua khảo sát của UNICEF và các cơ quan chức năng cho biết những vùng nhiễm asen nghiêm trọng như phía Nam thành phố
Hà Nội, Hà Nam, Hà Tây, Hưng Yên, Nam Định và Thái Bình Tất cả những vấn đề này đang đòi hỏi rất nhiều giải pháp để đảm bảo an toàn cho nhân dân
ở Thái Bình đã có một số nghiên cứu về chất lượng nước sinh hoạt Tuy nhiên, nghiên cứu về một số chất trong nước ảnh hưởng lâu dài đến sức khoẻ người dân và những giải pháp cải thiện chất lượng nước chưa thực sự được quan tâm
đầy đủ Chính vì vậy, chúng tôi nghiên cứu đề tài với mục tiêu:
1 Xác định tình trạng nhiễm asen và một số chỉ tiêu hoá học, vi sinh vật trong nước sinh hoạt tại 6 xã nông thôn huyện Đông Hưng tỉnh Thái Bình năm 2005 - 2006
2 Đánh giá nhận thức, thực hành của người dân về sử dụng, bảo quản nước và
tỷ lệ mắc một số bệnh liên quan đến nước tại địa điểm nghiên cứu
3 Đánh giá hiệu quả một số biện pháp can thiệp nâng cao chất lượng nước sinh hoạt
Trang 4Những đóng góp mới của luận án
Luận án đã góp phần xác định thực trạng nhiễm asen ở trong nước ở một
số xã vùng nông thôn của tỉnh Thái Bình, một vấn đề mà hiện nay Thế giới và Việt Nam đang rất quan tâm Trên cơ sở những nghiên cứu ban đầu, luận án đã xây dựng thành công các biện pháp can thiệp tại cộng đồng, dễ thực hiện, do chính người dân cộng đồng Luận án đã đưa ra được các minh chứng cho hiệu quả can thiệp, đặc biệt các biện pháp giảm thiểu asen trong nước
Luận án đã góp phần cải thiện sức khoẻ người dân, nâng cao chất lượng cuộc sống, thông qua việc giúp người dân có được nước sạch trong
ăn uống, sinh hoạt hàng ngày và điều kiện vệ sinh môi trường tốt nhất
bố cục của luận án
Luận án gồm 139 trang: Đặt vấn đề 2 và giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài: 1, tổng quan: 35, đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 21, kết quả nghiên cứu: 41, bàn luận: 34, kết luận: 2, kiến nghị: 1, danh mục các bài báo: 1, bảng: 45, biểu đồ: 15 (không kể phần mục lục, tài liệu tham khảo và phụ lục)
chương 1 tổng quan
1.1.Tầm quan trọng của nước và chất lượng nước
1.1.1 Tầm quan trọng và sự tiêu thụ nước
Nước cần thiết để duy trì sự sống của con người và sinh vật Theo Học thuyết Đac-Uyn, cuộc sống của sinh vật bắt nguồn từ nước Người ta có thể nhịn ăn (tuyệt thực) nhiều ngày, nhưng không thể nhịn uống (ngừng uống nước) quá một ngày Nước là thành phần tham gia cấu tạo cơ thể và tham gia vào các quá trình chuyển hoá, phản ứng sinh hoá trong cơ thể Tuy nhiên, nước cũng là yếu tố trung gian của các bệnh truyền nhiễm lây truyền theo đường tiêu hoá và là môi trường hoà tan các chất độc từ nước thải công nghiệp, hoá chất bảo vệ thực vật, chất phóng xạ
Trang 5Theo báo cáo của Trung tâm Nước sạch và VSMT nông thôn (CERWASS) cho biết đến hết năm 2004 có 34.734.000 người dân nông thôn
được hưởng nước sạch, chiếm tỷ lệ 58% Trong đó vùng đồng bằng có 8.489.000 số dân nông thôn (61%) được hưởng nước sạch
1.1.2 Một số chỉ tiêu cơ bản đánh giá chất lượng nước
+ Các chỉ tiêu cảm quan và thành phần vô cơ: Chất hữu cơ, amoni, nitrat, nitrit, natri clorua, sắt, mangan, florua, asen
+ Các chỉ tiêu vi sinh vật: Escherichia coli, Fecal coliform, Coliform, Clostridium khử sunfit
1.1.3 Thực trạng cung cấp và chất lượng nước ở một số vùng tại Việt Nam và trên thế giới
Tính đến những năm 90, có khoảng 60% dân số nông thôn được cấp nước giếng các loại, trong đó khoảng 5 triệu người được dùng nước giếng khoan Theo Tổ chức Y tế Thế giới và Quỹ nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF), tình hình cấp nước sạch và vệ sinh môi trường của Việt Nam so với một số nước khu vực Châu á-Thái Bình Dương, dân số được tiếp cận với nguồn nước sạch ở nước ta thuộc tỷ lệ thấp nhất (24,5%), tương đương với Mianma
Thực trạng ô nhiễm asen trong nước lan rộng đã ảnh hưởng đến sức khoẻ hàng triệu người tại Bangladesh Các cư dân ở Matlab của Bangladesh
đang có nguy cơ bị nhiễm độc asen Kết quả điều tra cho thấy việc thiếu các điều kiện thuận lợi để thực hiện đảm bảo an toàn nước dùng cho ăn uống đã buộc người dân phải tiếp tục sử dụng nguồn nước ô nhiễm asen
Những nghiên cứu gần đây cho thấy, vùng châu thổ sông Hồng có nhiều giếng khoan có hàm lượng asen vượt quá tiêu chuẩn hướng dẫn của
Tổ chức Y tế Thế giới Những vùng bị nhiễm nghiêm trọng nhất là phía Nam Hà Nội, Hà Nam, Hà Tây, Hưng Yên, Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình và Hải Dương ở đồng bằng sông Cửu Long, các nhà khoa học cũng phát hiện nhiều giếng khoan có nồng độ asen cao nằm ở các tỉnh Đồng Tháp, An Giang Khảo sát ngẫu nhiên 12 tỉnh với 12.461 giếng khoan ở các tỉnh Thái Nguyên, Quảng Ninh, Hà Tây, Hải Dương, Hưng Yên, Nam Định,
Hà Nam, Huế, thành phố Hồ Chí Minh, Long An, Đồng Tháp, An Giang
Trang 61.2 Một số bệnh liên quan đến nước
1.2.1 Tác nhân gây bệnh liên quan đến nước
Salmonella typhi, Salmonella paratyphi, Shigella, Vibrio cholerae, Enterovirus, Rotavirus, Giardia lamblia, Cryptosporium, Giun đũa, giun
kim, sán lá gan, sán lá ruột, sán lợn, amíp,…
1.2.2 Ô nhiễm nước và một số bệnh liên quan đến nước
Năm 1998, trong cả nước đã có 20.811 ca thương hàn, 93.442 ca lỵ trực khuẩn, 13 ca tả, 234.940 ca sốt xuất huyết
Theo thống kê của Quốc gia Mỹ (1992), cho thấy bệnh liên quan đến nước
đã gây ra 1.702 vụ dịch với 542.018 trường hợp mắc, trong đó tử vong 1.089 trường hợp và đã ghi nhận 13% các vụ dịch là do nước Những năm gần đây, các vụ dịch đường tiêu hoá liên quan đến nước ô nhiễm ngày càng nhiều hơn, chiếm tới 67% tổng số người mắc, trong đó do nước bề mặt chiếm 24% số vụ và 32% số mắc, do nước ngầm tỷ lệ này là 49% và 47%
1.3 Một số kỹ thuật xử lý nước
Hai phương pháp chủ yếu để loại bỏ các chất gây đục trong xử lý nước là
sa lắng và lọc Sa lắng là phương pháp tách chất rắn dạng huyền phù ra khỏi nước do tác dụng của lực hấp dẫn đã được con người sử dụng từ lâu để làm trong nước Lọc là một quá trình làm sạch nước thông qua lớp vật liệu lọc nhằm tách các hạt cặn lơ lửng, các thể keo tụ và ngay cả vi sinh vật trong nước Khử khuẩn nước: Đó là loại bỏ vi sinh vật ra khỏi môi trường nước, giết chết hoặc vô hiệu hoá các chủng loại vi sinh vật gây bệnh
Kỹ thuật giảm thiểu lượng asen trong nguồn nước ngầm như sau: Nước được bơm bằng bơm tay và được trữ trong 24 tiếng có thể giảm 40-70% hàm lượng asen Bể lọc sắt có một lớp cát đã chứng minh có thể giảm mức độ asen trung bình 90% Người ta có thể dùng cát thạch anh và những mảnh vỡ gạch vụn là những vật liệu phổ biến nhất để khử asen
Trang 7chương 2 đối tượng vμ phương pháp nghiên cứu 2.1 Đối tượng nghiên cứu
Nguồn nước giếng khơi và giếng khoan Chủ hộ gia đình (người khác trong gia đình trên 18 tuổi) ở những gia đình có sử dụng nước giếng khoan, giếng khơi Người dân sống trong các cụm dân cư có sử dụng nguồn nước giếng khoan, giếng khơi được khám và phỏng vấn
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: 6 xã huyện Đông Hưng tỉnh Thái Bình
- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 1/2005 – 12/2006
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu
+ Điều tra ban đầu (giai 1): Mô tả cắt ngang có phân tích
+ Đánh giá hiệu quả một số biện pháp can thiệp (giai đoạn 2): Thử nghiệm cộng đồng có đối chứng
+ Quá trình nghiên cứu được tiến hành qua 3 giai đoạn sau:
Giai đoạn 1: Điều tra thực trạng nhiễm asen và một số chỉ tiêu hoá
học, vi sinh vật trong nguồn nước ngầm; xác định các yếu tố liên quan Kiến thức và thực hành của người dân về sử dụng, bảo quản nước và phòng bệnh liên quan đến nước Xác định tỷ lệ hiện mắc một số bệnh có liên quan
đến nước
Giai đoạn 2: Tiến hành thử nghiệm các biện pháp can thiệp: Chọn 2
trong 6 xã đã điều tra cơ bản ở giai đoạn 1 vào nghiên cứu: xã Phú Lương chọn là xã can thiệp, xã Phong Châu được chọn xã đối chứng
Xã can thiệp: áp dụng một số biện pháp can thiệp được thực hiện tại cộng đồng bởi chính cộng đồng đó, gồm có các biện pháp sau: Truyền thông giáo dục sức khoẻ Hướng dẫn sử dụng, cải tạo và xây mới bể lọc nước Biện pháp giảm thiểu asen
Xã đối chứng: Ngoài điều tra cơ bản và điều tra cuối kỳ, không có can thiệp gì của đề tài
Trang 8Giai đoạn 3: Điều tra sau can thiệp với phương pháp và các nội dung
như ở giai đoạn 1 ở cả hai xã can thiệp và xã đối chứng
2.3.2 Chọn mẫu và tính cỡ mẫu
+ Giai đoạn 1: Điều tra cơ bản
- Chọn xã nghiên cứu: Chọn chủ định 6 xã của huyện Đông Hưng
- Chọn mẫu nước xét nghiệm: Kỹ thuật chọn mẫu hệ thống
- Chọn đối tượng để điều tra nhận thức và thực hành của người dân về nước và bệnh liên quan: Lấy chủ hộ các gia đình đã xét nghiệm nước làm
điểm khởi đầu để điều tra mở rộng sang các chủ hộ gia đình bên cạnh theo phương pháp “gate to gate” cho đủ cỡ mẫu đã tính toán
- Chọn đối tượng để khám, điều tra một số bệnh liên quan đến nước: Các thành viên trong các hộ gia đình được lấy mẫu xét nghiệm và sau đó
mở rộng sang hộ bên cạnh cho đủ cỡ mẫu tính toán
+ Giai đoạn 2: giai đoạn can thiệp
- Chọn xã nghiên cứu: Chọn chủ định 2 xã trong 6 xã đã được tiến hành điều tra cơ bản ở giai đoạn 1 vào nghiên cứu
- Chọn mẫu nước xét nghiệm; điều tra yếu tố nguy cơ; kiến thức, thực hành của người dân và bệnh liên quan đến nước giống như giai đoạn 1
+ Cỡ mẫu cho xét nghiệm nước:
2
2 2
2 /
d
SD
n = Ζα ìVới tính toán được cỡ mẫu n=30/ nguồn nước/xã
+ Cỡ mẫu cho điều tra bệnh liên quan đến nước:
2
2 2 /
) ( p
pq n
ì
ì Ζ
=
ε
α
Cỡ mẫu được xác định n = 385 người/xã
Trang 9+ Cỡ mẫu cho điều tra kiến thức và thực hành:
2
2 2 /
1 2
2 / 2 1
)]
1([
]/)1[(
]/)1[(
ư+
ư
ìΖ
=
=
Ln
p p p
p n
n
Theo tính toán n = 200 người/xã
2.3.3 Biến số và chỉ số trong nghiên cứu
Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng nước Các yếu tố liên quan chất lượng nước Kiến thức, thực hành của người dân về sử dụng và bảo quản nước Tỷ lệ hiện mắc một số bệnh liên quan đến nước và vệ sinh môi trường
2.3.4 Một số kỹ thuật áp dụng trong nghiên cứu
+ Phương pháp lấy mẫu nước, bảo quản mẫu và xét nghiệm theo thường quy xét nghiệm của Viện Vệ sinh dịch tễ, Viện Y học lao động &VSMT
+ Điều tra kiến thức, thực hành của người dân bằng phỏng vấn trực tiếp + Xác định tỷ lệ hiện mắc tiêu chảy, tỷ lệ mắc tiêu chảy 2 tuần trước ngày điều tra bằng phương pháp hỏi ghi theo qui định của Chương trình CDD
+ Xác định tỷ lệ hiện mắc bệnh về mắt, da, florua theo phương pháp hỏi, khám lâm sàng trực tiếp các đối tượng bởi các bác sĩ chuyên khoa
2.3.5 Tiêu chuẩn đánh giá
+ Chất lượng nước theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế (08/2005)
+ Hiệu quả can thiệp theo CSHQ
2.4 Phương pháp xử lý số liệu
Các số liệu điều tra được xử lý bằng chương trình EPI-INFO 6.04b
Trang 10Chương 3: kết quả nghiên cứu
3.1 Thực trạng nhiễm asen và một số yếu tố chất lượng nước
3.1.1 Thực trạng nhiễm asen ở các nguồn nước
Bảng 3.1 Tỷ lệ (%) mẫu nước phát hiện thấy asen tại các xã nghiên cứu
XN
Mẫu có asen
Tỷ lệ (%)
Mẫu
XN
Mẫu có asen
Tỷ lệ (%)
Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ (%) mẫu nước không đạt tiêu chuẩn vệ sinh chỉ tiêu asen
Trang 113.1.2 Thực trạng một số yếu tố chất lượng nước giếng khoan và giếng khơi
Bảng 3.3 Tỷ lệ (%) mẫu nước đạt tiêu chuẩn vệ sinh các chỉ tiêu pH, chất
hữu cơ, amoni, nitrit và nitrat
Giếng khoan (n=180) Giếng khơi (n=180) Chỉ tiêu Mẫu
đạt
Tỷ lệ (%)
Tất cả các mẫu nước giếng khoan và giếng khơi được xét nghiệm
có pH đạt tiêu chuẩn vệ sinh chiếm tỷ lệ cao: giếng khơi là 88,3% và giếng khoan là 92,8% Chất hữu cơ tỷ lệ đạt thấp: Giếng khoan là 36,1%; giếng khơi chỉ có 7,2% Hàm lượng chất hữu cơ trung bình giếng khoan là 3,0±1,9 mgO/l, giếng khơi 7,2±0,3mgO/l Sự khác biệt
có ý nghĩa thống kê (p<0,05) Kết quả cho thấy: nitrat ở các mẫu nước
được xét nghiệm có tỷ lệ đạt 99,4% ở giếng khơi và 100% ở giếng khoan 57,8% mẫu giếng khoan và 31,1% mẫu giếng khơi đạt tiêu chuẩn vệ sinh chỉ tiêu amoni Nguồn nước giếng khơi có số mẫu đạt các chỉ tiêu trên thấp hơn giếng khoan (p<0,05)
Trang 12Bảng 3.4 Tỷ lệ (%) mẫu nước đạt tiêu chuẩn vệ sinh các chỉ tiêu vi sinh vật
Giếng khoan (n=180) Giếng khơi (n=180) Chỉ tiêu Số mẫu
đạt
Tỷ lệ (%)
(vk/10ml) 59 32,8 3±1 9 5,0 8±1 <0,05Bảng 3.4 cho thấy, 46,1% số mẫu giếng khoan và 30,6% số mẫu giếng khơi đạt các chỉ tiêu coliform Đặc biệt, Feacal coliform có tỷ lệ
đạt thấp nhất: 14,4% ở giếng khoan và 3,9% ở giếng khơi Nguồn nước giếng khoan có mức độ ô nhiễm vi sinh vật thấp hơn giếng khơi, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0.05)
Bảng 3.5 Tần suất xuất hiện các yếu tố liên quan đến nguồn
nước giếng khoan (n=180)
Thiếu rãnh thoát nước gây ứ đọng trong phạm vi 2m 65 36,1
Trang 13Bảng 3.5 trình bày tần suất một số yếu tố liên quan đến chất lượng nguồn nước giếng khoan Kết quả cho thấy, yếu tố liên quan thường gặp:
Có nguồn nhiễm bẩn trong phạm vi 10m chiếm 51,7% Hố xí xây dựng không đúng khoảng cách (gần nguồn nước là 31,1%, ở chỗ đất cao hơn chiếm tỷ lệ 44,4%) Hệ thống thoát nước không có là 36,1% và sau đó là
hệ thống bơm nước hỏng 31,7% Điểm trung bình là nguy cơ là 0,36
Bảng 3.6 Tần suất xuất hiện các yếu tố liên quan đến nguồn nước giếng khơi (n=180)
Thiếu rãnh thoát nước gây ứ đọng trong phạm vi 2m 99 55,0
Kết quả cho thấy, yếu tố liên quan có tần suất gặp cao nhất: nguồn nhiễm bẩn ở trong chu vi bảo vệ của giếng chiếm tỷ lệ là 60,6% Rãnh thoát nước hỏng và dụng cụ múc nước không để đúng nơi qui định chiếm 55,6% và 52,2% Sân giếng không đảm bảo tiêu chuẩn là 43,9% Điểm trung bình nguy cơ gây ô nhiễm nguồn nước giếng khơi là 0,43 cao hơn ở giếng khoan Tuy nhiên, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê
Trang 143.2 Kiến thức, thực hành của người dân về sử dụng và bảo quản nước
Bảng 3.7 Kiến thức người dân biết cách bảo vệ nguồn nước của gia đình
và bệnh liên quan đến nước (n=2427)
Nội dung trả lời Số người trả lời Tỷ lệ (%)
Kiến thức của người được hỏi về các biện pháp bảo vệ nguồn nước gia
đình: 66,1% số người được hỏi cho rằng thường xuyên thay rửa bể lọc; 51,3%
khai thông cống rãnh; 48,5% giữ vệ sinh giếng để bảo vệ nguồn nước gia
đình Kết quả bảng này cho thấy, đa số người được hỏi biết bệnh tiêu chảy là
do nước không sạch gây nên chiếm 62,2%; tuy nhiên, chỉ có 28,9% biết bệnh
giun sán liên quan đến nước
Bảng 3.8 Thực hành của người dân để bảo vệ nguồn nước của gia đình (n=2427)
Nội dung điều tra Số người trả lời Tỷ lệ (%)